XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG

Thứ Ba, 1 tháng 1, 2019

TRUNG QUỐC THÔNG SỬ - 01.01. BÀN CỔ KHAI THIÊN LẬP ĐỊA

 Vũ trụ đã được ra đời như thế nào? Con người bắt nguồn từ đâu? Con người ngay từ thời cổ đã đầy những thắc mắc về các vấn đề này, rất muốn lý giải cho rõ ràng. Rất nhiều dân tộc trên thế giới đều có thần thoại Sáng thế ký, người ta tưởng tượng một vị thần có sức mạnh vô biên khai thiên lập địa, sáng tạo nên muôn vật. Những thần thoại loại này đều biểu hiện “thời đại ấu thơ” của loài người giải thích hồn nhiên hiện tượng tự nhiên, đời sống xã hội và hướng về cái đẹp.
Trong rất nhiều dân tộc ở  Trung Quốc, lưu truyền rộng rãi thần thoại Bàn Cổ khai thiên lập địa. Theo đó, vào lúc trời đất còn chưa hình thành, tất cả đều là một khối hỗn độn, chưa có trên dưới, phải trái, đông tây nam bắc, không có ánh sáng cũng chẳng có thanh âm, tất cả chỉ là một không gian hoàn toàn không có sự sống. Ở trung tâm của khối hỗn độn đó là thủy tổ của loài người chúng ta: Bàn Cổ.
Qua 18.000 năm thai nghén, cuối cùng Bàn Cổ cũng sinh đẻ. Ngài cảm thấy không gian này vô cùng chật chội, liền dùng một cái rìu phá tan khối hỗn độn. Khối hỗn độn ấy mở ra, chia làm hai phần: phần nhẹ mà trong mỗi ngày đều bay lên cao, vì thế hình thành bầu trời; phần nặng mà đục mỗi ngày đều rơi xuống thấp, vì thế hình thành mặt đất. Giữa Trời và Đất, Bàn Cổ cũng mỗi ngày lớn lên một trượng. Ngài càng lớn càng cao, trở thành đầu đội trời, chân đạp đất, một người cao lớn không ai sánh nổi.
Từ khi bắt đầu đến khi Trời Đất hình thành trải qua 18.000 năm. Lúc này giữa Trời và Đất chỉ có một con người là Bàn Cổ, mọi nỗi buồn vui của Bàn Cổ đều ảnh hưởng trực tiếp đến tự nhiên. Khi Ngài vui vẻ, bầu trời trong xanh; khi Ngài tức giận, trời sinh u ám; khi Ngài khóc, nước mắt thành mưa và tuyết; khi Ngài thở dài, thành gió và mây.
Bàn Cổ sống 18.000 tuổi. Khi Ngài chết. mắt trái biến thành mặt trời, mắt phải biến thành mặt trăng, máu biến thành sông, thịt biến thành đất đai, tóc biến thành tinh tú, da biến thành cây cỏ, xương cốt và răng biến thành vàng đá, tinh túy biến thành châu ngọc, mồ hôi biến thành mưa. Đầu Ngài biến thành Đông Nhạc Thái Sơn, hai chân biến thành Tây Nhạc Hoa Sơn, ngực và bụng biến thành Trung Nhạc Tùng Sơn, vai trái biến thành Nam Nhạc Hoành Sơn, tay phải biến thành Bắc Nhạc Hằng Sơn.
Đây chính là thần thoại khai thiên lập địa.
 Vậy con người từ đâu mà có? Một thần thoại khác trả lời câu hỏi này.
 Sau khi Bàn Cổ chết, giữa Trời và Đất hoàn toàn trống trải. Về sau không biết bao nhiêu năm, lại xuất hiện Nữ Oa. Nữ Oa là một người sống giữa Trời Đất, cảm thấy quá vắng vẻ mới nghĩ tới việc tạo ra một số người để sống cùng với Bà. Bà dùng nước và đất sét vàng nặn thành người. Bà nặn một người đàn ông, rồi nặn một người đàn bà. Thật là kỳ lạ, bà nặn xong một người, thổi một hơi vào người đất, người đất đã biến thành một người biết nói biết cười. Những người này thành từng bầy sống quanh Nữ Oa, nhảy múa, gào thét. Gọi Nữ Oa là mẹ. Đây chính là thần thoại “Nữ Oa tạo người”.
Những thần thoại này rất hoang  đường , nhưng chúng ta cũng đọc được  một số thông tin. Thần thoại Bàn Cổ khai thiên lập địa nói rõ tổ tiên chúng ta tin rằng sức mạnh của con người là vĩ đại, con người có thể dùng lao động để cải tạo tự nhiên. Thần thoại Nữ Oa tạo người đã phản ánh cuộc sống của con người buổi đầu. Hiện tại chúng ta biết, lịch sử loài người còn tồn tại thời đại thị tộc mẫu hệ, lúc ấy, người phụ nữ giữ vai trò quan trọng trong sản xuất và đời sống, con cái chỉ có thể nhận được mẹ của mình, không biết ai là cha. Thần thoại Nữ Oa có phải ảnh hưởng của xã hội mẫu hệ?
Người dịch: Dương Đình Giao

TRUNG QUỐC THÔNG SỬ-01. VIỄN CỔ

TRUNG QUỐC THÔNG SỬ
(2 tập)
Tác giả: Nhậm Khiết  Chi
Nhà xuất bản Kinh Hoa – Bắc Kinh. 2003
Người dịch: Dương Đình Giao      
Chú ý: Số thứ tự chỉ có tác dụng sắp xếp các bài viết. Bố cục của sách xin theo dõi qua từng bài                                              
VIỄN CỔ 
(8.000.000 năm trước Công nguyên – khoảng thế kỷ 21 trước Công nguyên)
      Lưu vực sông Hoàng Hà và sông Trường Giang là nơi phát tích chủ yếu của nền văn minh nhân loại. Khảo cổ học đã phát hiện, khoảng 8.000.000 năm trước Công nguyên ở Trung Quốc đã có những dấu hiệu của cuộc sống loài người. Khoảng 170 vạn năm đến 8 vạn năm trước Công nguyên có người Lam Điền ở Thiểm Tây. 50 vạn năm trước Công nguyên có người vượn Bắc Kinh ở Chu Khẩu Điếm, Bắc Kinh. 10 vạn năm trước Công nguyên có người Đại Lệ ở Hứa Gia Đào, giữ lại nhiều di tích trong quá trình tiến hóa của nhân loại, họ đã có thể sử dụng đồ đá làm công cụ, tiên shanhf hoạt động các hoạt động săn bắt và hái lượm thuộc thời đại văn hóa đồ đá cũ.
Khoảng 1 vạn năm đến 5.500 năm trước Công nguyên, con người đã có thể mài giũa một số đồ đá nhỏ, đây là một tiến bộ trong lịch sử. Một số nông cụ đã đào được ở Hoài Nhân, Sơn Tây thẻ hiện giai đoạn quá độ từ cuộc sống hái lượm và săn bắt lên giai đoạn trồng trọt và chăn thả.
Thời đại đồ đá mới từ khoảng 6.000 năm đến 4.000 năm trước Công nguyên, tiêu biểu là văn hóa Ngưỡng Thiều và văn hóa Long Sơn. Văn hóa Ngưỡng Thiều phía đông đến Hà Nam, phía tây đến Cam Túc, Thanh Hải, nam đến Hồ Bắc, bắc đến khu vực Hà Sáo. Khảo cổ cũng khai quật được những đồ gốm bằng đất sét và    rất tinh tế, trên có vẽ cây cỏ, động vật và các hình kỷ hà. Gốm đen là đặc trưng cho văn hóa Long Sơn ở vùng Sơn Đông và Giang Tô, gốm Đản Xác trên mặt có những hoa văn tinh xảo thể hiện trình độ cao của văn minh.
Cơ sở tảo kỳ của văn minh Trung Hoa đã được đặt nền móng từ thời kỳ đồ đá mới trong xã hội thị tộc mẫu hệ. Quy tắc kết cấu nhà ở, phương pháp nghi thức mộ tang, hồn người chết, manh nha tôn giáo nguyên thủy trong thờ cúng tổ tiên và sinh thực khí, chế tọa các loại công cụ dần dần phác họa những đường nét ban đầu của văn minh Trung Hoa.
Về thời đại này có rất nhiều thần thoại, truyền thuyết được lưu truyền như Bàn Cổ khai thiên lập địa, Nữ Oa tạo người, Thần Nông làm rất bách thảo, Hoàng Đế diệt Xuy Vưu, Nghiêu Thuấn nhường ngôi, … có một số truyền thuyết tuy rất hoang đường nhưng chúng ta có thể từ đó có một số hiểu biết trung thực và xã hội loài người buổi đầu.
BẢNG THẾ HỆ ĐẾ VƯƠNG
Hoàng Đế
Chuyên Húc
Đế Khốc
Nghiêu Đế
Thuấn Đế.
NIÊN BIỂU SỰ KIỆN LỚN
 Khoảng 8.000.000 năm trước CN – 7.000.000 năm Trước CN: loài vượn cổ sống ở vùng giáp ranh Mật Lâm biết sử dụng công cụ tự nhiên, đây là tổ tiên trực hệ của loài người.
 Khoảng 1.700.000 năm Trước CN xuất hiện người cổ sớm nhất của thế giới có thể đứng thẳng để di chuyển, bắt đầu dùng lửa và chế tạo đồ đá giản đơn.
 Khoảng 1.000.000 năm – 650.000 năm Trước CN: ở Lam Điền, Thiểm Tây xuất hiện người đứng thẳng, bước vào thời kỳ sớm của  thời đại đồ đá cũ.
 Khoảng 700.000 năm – 200.000 năm Trước CN: người Bắc Kinh xuất hiện, có cuộc sống quần cư, nắm vững kỹ thuật dùng lửa, chứng minh sự tiến hóa từ vượn thành người.
 Khoảng 200.000 năm – 100.000 năm Trước CN: người Sơn Đỉnh Động xuất hiện ở Chu Khẩu Điếm, Bắc Kinh, bước vào thời kỳ cuối của thời đại đồ đá.
 Khoảng 170.000 năm – 100.000 năm Trước CN: người Tả Trấn ở phía nam Đài Loan. Đến nay ở Đài Loan đã phát hiện hóa thạch con người sớm nhất.
 Khoảng 8.000 năm – 5.000 năm Trước CN: Di chỉ Nga Mao Khẩu, Hoài Nhân, Sơn Tây phát hiện nông cụ sớm nhất ở Trung Quốc.
 Khoảng 7.000 năm – 6.000 năm trước CN: xuất hiện 7 âm giai.
 Khoảng 6.000 năm – 3.000 năm trước CN : ở lưu vực sông Hoàng Hà và Trường Giang xuất hiện văn hóa Bùi Lý Cương, văn hóa Ngưỡng Thiều, văn hóa Mã Gia Dao, văn hóa Đại Vân Khẩu, văn hóa Hà Mẫu Độ. Tiến hành nông nghiệp trồng trọt, đồ gốm màu, dệt, có tín ngưỡng tôn giáo.
 Khoảng 3.500 năm – 2.000 năm trước CN: thời kỳ Tam Hoàng Ngũ Đế trong truyền thuyết. Hoàng Đế đánh Xuy Vưu, Đại Vũ trị thủy phát sinh trong thời kỳ này. 
Người dịch: Dương Đình Giao

Xem chi tiết:

























06.20. «  Nhà đầu tư » Lã Bất Vy 
08. Tây Hán 
09. Đông Hán 
10. Tam Quốc 
12. Đông Tấn 
13.00. Nam Bắc Triều 
14.00. Triều Tùy 
15.00. Triều Đường 
16.00. Ngũ đại thập quốc 
17.00. Tống – Liêu - Kim - Tây Hạ 
17.26. « Kim Qua thiết mã » thân khí tật 
18.00. Triều Nguyên 
19.00. Triều Minh 
20.00. Triều Thanh