XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong thuỷ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong thuỷ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2026

LỜI THẬT CỦA NGƯỜI XEM PHONG THỦY


Bốn mươi năm gió bụi đời,
La bàn cầm vững, ngược xuôi bao miền.
Núi cao, đồng rộng, sông hiền,
Biệt thự từng bước, mộ huyền từng qua.
Người đời gọi tiếng bán tiên,
Cho rằng đoán việc như in chẳng nhòa.
Nhưng nay tóc đã sương pha,
Muốn đem sự thật nói ra một lần.
Phong thủy chẳng phải thần nhân,
Cũng không đổi được tâm phần bên trong.
Nếu vài vật đặt trong phòng,
Mà thành phú quý thì không lẽ thường.
Người giàu nhất cõi thế gian,
Ắt là thầy số, thầy đoan vận đời.
Nào đâu lặn lội ngược xuôi,
Dầm mưa dãi nắng kiếm lời mưu sinh.
Năm xưa gặp một gia đình,
Tiền tài như nước, nổi danh một vùng.
Tổ tiên cải táng long cung,
Đất vàng thế đẹp vô cùng ai khen.
Biệt thự rực sáng đèn đêm,
Nhưng trong góc tối mẹ hiền nằm co.
Phòng không cửa sổ héo hon,
Mùi thuốc, mùi mốc héo mòn tuổi xuân.
Người con bạc tỷ vô ngần,
Để cho mẹ sống âm thầm quạnh hiu.
Tôi nhìn mà thấy đìu hiu,
Lạnh từ xương tủy, lạnh nhiều hơn đông.
Tôi rằng một tiếng thật lòng:
“Long mạch ngoài núi cũng không cứu người.
Bồ Tát sống bị bỏ rơi,
Phong thủy nào giữ được thời tài danh.”
Ba năm sóng gió tan tành,
Cơ đồ sụp đổ, công thành hóa không.
Vợ mang tiền bạc bỏ chồng,
Cuối cùng ông chọn hư không cuối đời.
Người ta trách đất không lành,
Riêng tôi hiểu rõ ngọn ngành từ tâm.
Bất hiếu gốc đã âm thầm,
Thì cây phúc đức khó đâm trái vàng.
Đạo đầu xin nhớ rõ ràng:
Kính cha trọng mẹ mới mang phúc dày.
Cầu thần lạy Phật đêm ngày,
Mà lòng bất hiếu cũng hoài công thôi.
Lại nghe một chuyện trong đời,
Một bà góa phụ nghèo nơi xóm nghèo.
Nhà nằm thế đất cheo leo,
Phong thủy ai cũng bảo theo họa sầu.
Chồng mất từ thuở ban đầu,
Con trai tật nguyền, cơ cầu quanh năm.
Thế mà gương mặt âm thầm,
Vẫn luôn nở nụ cười đằm hậu nhân.
Tôi khuyên sửa lại phong phần,
Dựng bia, đặt đá để ngăn vận cùng.
Bà cười hiền hậu ung dung:
“Tiền này tôi để chữa cùng cho con.
Chỉ cần sống thẳng sống tròn,
Ông trời chẳng nỡ dập dồn mẹ con.”
Nghe câu giản dị vuông tròn,
Mà như tiếng sét đánh còn trong tim.
Mười năm trở lại đi tìm,
Nhà xưa nay đã nổi lên chợ phường.
Con trai thành đạt phi thường,
Gia đình hạnh phúc, phố đường mến yêu.
Bà đâu đổi thế đất nhiều,
Mà đổi tâm tính sớm chiều bên trong.
Tâm lành mở lối thênh thang,
Tâm hẹp cung điện cũng thành ngõ sâu.
Gia đình hạnh phúc dài lâu,
Chẳng do cửa bếp hay màu tường vôi.
Điều làm nhà cửa rã rời,
Là lời cay đắng, là lời hơn thua.
Vợ chồng nếu biết nhường nhau,
Nhà tranh vẫn hóa ngọc châu giữa đời.
Nếu còn lạnh nhạt xa xôi,
Lầu son gác tía cũng rồi héo hon.
Ngẫm xem đạo lý vuông tròn,
Ngàn xưa tổ phụ đã còn dạy ta:
“Tích điều thiện, hưởng phúc nhà;
Tích điều ác, họa chẳng xa bao giờ.”
Tôi tìm được đất như mơ,
Nhưng không tìm nổi lòng người thiện lương.
Trấn yên cửa ngõ, sân vườn,
Chứ không hóa giải được cơn oán hờn.
Nay tôi rửa sạch bụi trần,
Về quê cuốc đất, chuyên cần sớm hôm.
Nuôi gà, trồng lúa, chăm vườn,
An vui tuổi xế bên nguồn quê hương.
Trước khi gửi chút tâm can,
Xin người ghi nhớ đôi hàng đơn sơ:
Bao lâu chưa nấu bữa cơm,
Cho cha cho mẹ đợi hôm cuối đời?
Bao lâu chưa nói một lời,
Ấm lòng người bạn chung thời gió sương?
Bao lâu chưa mở tình thương,
Giúp người vô điều kiện, chẳng vương đáp đền?
Bớt đi oán trách ưu phiền,
Thêm lòng biết ơn, thêm thiện, thêm lành.
Sống cho tử tế chân thành,
Tự nhiên vận số chuyển mình đổi thay.
Phong thủy cao nhất xưa nay,
Không nằm đất tốt, chẳng ngoài non sông.
Mà là giữ một tấm lòng,
Sáng như ngọn lửa giữa dòng nhân gian.
Bốn mươi năm trải cơ hàn,
Tôi nhìn hư ảo, thấy ngàn chân tâm.
Xin đem lời thật tri âm,
Gửi người hữu duyên giữa cõi thăng trầm

Thứ Ba, 26 tháng 9, 2023

Địa Thế Phong Thủy Thành Nhà Hồ






Phong Thủy Thành Nhà Hồ – Chuyện xây thành, thiên đô chắc chắn phải là đại sự quốc gia, sẽ là tập trung tất cả tinh túy về phong thủy của nhiều bộ óc uyên thâm. Không thể một vài câu mà nói cho hết được.

Bàn về Phong thủy của việc xây thành, là một việc khó khăn, học giả xưa nay ít người dám nhắc đến. Nhưng dù sao, thực tế thì không thể phủ nhận, bởi vì ngoài yếu tố Phong thủy, sẽ còn nhiều lý do khác để người ta không đi được đến đích. Một trong những lý do đó, chính là sự bảo thủ, chuyên quyền và độc đoán của Hồ Quý Ly.

Nhân thể vừa qua có chuyến giao lưu với chi nhánh CLB Phong thủy Thăng Long trong Thanh Hóa, tôi viết bài này lạm bàn đôi lời. Cũng chỉ là vài lời khoác lác che mắt thành nhân vậy thôi, mục đích để giúp mua vui bên bàn trà cho khách hữu duyên.

Thành nhà Hồ, một công trình kiến trúc được xây dựng làm kinh đô của Việt nam trong thời kỳ Hồ Quý Ly làm vua, còn được gọi là Tây đô (để phân biệt với Đông Đô – Thăng Long).

Sau khi lên ngôi, Hồ Quý Ly quyết định dời đô vào Thanh Hóa, đã cho xây thành Tây Đô. Mặc dù đã có rất nhiều lời can gián, nhưng Hồ Quý Ly vẫn nhất quyết thiên đô. Vì ông cho rằng mảnh đất này có thế “Long Xà tương ngộ, Thạch bàn tác ấn”, có thể ở được đến “lục thập niên” tức là 60 năm.

Tuy nhiên, thực tế thì nhà hồ chỉ tồn tại được có 7 năm (Từ năm 1400 đến năm 1407).

Năm Đinh Sửu (1397) quyết định khởi công xây thành. Theo sử liệu, thì thành chỉ xây trong thời gian rất ngắn, khoảng 3 tháng là xong. Bắt đầu từ tháng Giêng năm Đinh Sửu đến tháng 3 năm Đinh Sửu thì hoàn thành. Về cơ bản, đây là con số kỷ lục về xây thành đá và vẫn còn nhiều nghi vấn, sau khi xây xong thành, thì các công trình kiến trúc khác bên trong thành còn tiếp tục được hoàn thiện đến năm 1402.

Kiến trúc, thành có 2 vòng là Thành Ngoại và Thành Nội. Thành ngoại đắp bằng đất trồng tre gai, có hào sâu bên ngoài rộng đến 50m, trên bố trí các vọng canh để phòng thủ. Thành Nội bằng đá, “chu vi vuông cạnh 424 tầm, cao 1 trượng 2 thước” (theo Vĩnh Lộc huyện chí).

Về phong Thủy, theo nhìn nhận của chính bản thân Hồ Quý Ly cho rằng đất này là nơi có “Sơn phong bát diện, lưỡng thủy hội đường”. Tức là bốn phương có núi non bao bọc, hai dòng hước hội tụ tại minh đường. Nhưng thực tế thì sau khi dời đô về đây, nhà Hồ chỉ tồn tại được có 7 năm. Và có một kết thúc khá bi thảm. Vậy thì thực sự là tòa thành đá mới xây đó, có được như lời mô tả của Hồ Quý Ly hay không?

Xem xét tổng thể khu đất này, cho thấy vị trí xây thành cũng là một đại địa, thế long hùng dũng đổ xuống từ Vân Nam, qua Sơn La theo dòng sông Mã dẫn mạch về đến khu núi Tượng thì dừng lại, mở ra một khu bình nguyên rộng lớn. Khí mạch rất hùng dũng, tại đây dòng sông Mã chuyển mình uốn khúc trước khi hội với sông Bưởi để chảy tiếp về hướng Đông Nam. Hai dòng nước hợp nhau như hai tà áo khép lại. Cũng chính vì khí thế hùng dũng như thế, cho nên nó đã trở thành kinh đô, được Hồ Quý Ly chọn làm đất xây thành.

Đại cục thì như thế, tuy nhiên, xem xét phong thủy không chỉ có thế. Quan sát khí mạch khi nhập huyệt trường, ta sẽ thấy khi về đến đồng bằng, long mạch mở rộng phân tán, các sống núi tản mát chia thành các nhánh hướng thẳng về khu vực thành. Địa hình này trong địa lý gọi “Kiếp Long”, là hung địa. Tất cả các dày núi trái phải đều chạy thẳng xuống, xuyên thẳng vào trung tâm huyệt trường, sát khí rất lớn. Do vậy, dẫu cho có khí thế hùng mạnh cũng không thể lâu bền. Chỉ hợp với chiến tranh, làm thành lũy phòng thủ, mà không thể là đất đế đô muôn đời.

Chẳng thế mà Khu mật chủ sự Nguyễn Nhữ Thuyết trong thư can Hồ Quý Ly về việc chọn đất xây thành đã viết: “Ngày xưa, nhà Chu, nhà Ngụy dời kinh đô đều gặp điều chẳng lành. Nay đất Long Đỗ (tức Thăng Long) có núi Tản Viên, có sông Lô, Nhị, núi cao sông sâu, đất bằng phẳng rộng rãi. Từ xưa các bậc đế vương mở nền dựng nước, không đời nào không lấy đất ấy làm nơi sâu gốc bền rễ (…). Xin nghĩ lại điều đó, để làm thế vững vàng cho nhà nước. An Tôn đất đai chật hẹp, hẻo lánh, ở nơi đầu non cuối nước, hợp với loạn mà không hợp với trị”.

Với cái nhìn của Nguyễn Như Thuyết, thì thế đất mà Hồ Quý Ly chọn, chỉ là nơi “đầu non cuối nước”, không phải là cát địa, chỉ thích hợp với chiến địa. Xem trong lịch sử thì đúng như vậy, ngay sau khi thiên đô, thì họa chiến tranh đã ập đến. Hồ Hán Thương (con trai của Hồ Quý Ly) là một người rất am tường địa lý, cũng can gián rằng “Tuy là thạch bàn long xà, nhưng thễ đất còn non lắm, chỉ là long xà ẩm thủy, không quá lục niên”. Theo nhìn nhận của Hồ Hán Thương, thì thế đất này chỉ là đất “Long Xà ẩm thủy” không quá được 6 năm. Quả nhiên, từ khi dời đô về đây, 6 năm sau thì thành thất thủ, nhà Hồ diệt vong.

Khi chọn vị trí xây thành, Hồ Quý Ly đã chọn núi Đốn Sơn làm án (địa phương gọi là núi Đún). Núi Đún sơn nằm chính diện cửa Ngọ Môn, cách khoàng 2,5km. Hồ Quý Ly đã cho đắp 1 con đường chạy thẳng từ chính diện cửa Ngọ Môn lên Đốn Sơn, và trên núi đặt đàn tế Nam Giao. Tuy nhiên, núi Đốn sơn thế vốn nằm dọc, như một mũi tên nhọn chiếu thằng vào cửa Ngọ Môn. Trong địa lý, kỵ nhất là “thương sa, trực lộ”, tức là sa sơn như mũi thương đâm thẳng vào, đường đi xuyên thẳng vào trung tâm. Cả 2 điều đó Hồ Quý Ly đều vấp phải. Điều này tạo nên một thế xung sát rất mạnh, nguyên nhân của đại họa diệt vong sau này.

         Về thủy, đây là chỗ hợp lưu của 2 con sông : Sông Mã và Sông Bưởi. Sông Mã bắt nguồn từ hệ thống chi lưu ở khu vực Vân Nam, hợp nhau tại bên Lào rồi đổ vào đất Việt từ địa phận tỉnh Sơn La. Sông Bưởi bắt nguồn từ khu vực Cao Phong Hòa Bình, hai dòng sông hộ tống thủy này khí thế đều mạnh mẽ, sông Mã nổi tiếng với khí thế hung hãn, nhiều vực sâu thác lớn. Khi về đến khu vực thành thì uốn lượn, bồi đắp nên một vùng đồng bằng trù phú.

         Hồ Quý Ly cho rằng như thế mới có khí thế hùng mạnh. Nhưng trong địa lý, thì Thủy quý ở chỗ thanh kỳ khuất khúc mà hiền hòa chậm rãi, còn nếu quá cương mãnh thì mang hung khí đến, không phải cát địa. Và căn cứ vào vị trí hợp lưu của sông Mã và Sông Bưởi, Hồ Quý Ly cho rằng đó là nơi hợp thủy, khí mạch ắt sẽ tụ lại, và chọn đất ấy đặt thành là hợp cách.

Tuy nhiên, trên địa hình thực tế, dòng sông Mã tại đây 2 lần chuyển mình, lần thứ nhất tại khúc sông phía trên thành, chỗ đầu núi Voi. Sau khi chuyển mình, do khí thế còn quá sung mãn, nên tiếp tục lao xuống và chuyển mình uốn khúc lần thứ hai tại khu vực thị trấn Vĩnh Lộc ngày nay, đó là phía dưới chỗ đặt thành, và thành nằm giữa hai đoạn uốn khúc này. Như vậy, xét về mặt địa lý, thì vị trí đặt thành chưa phải là nơi đắc địa. Bởi lẽ, chỗ đặt thành hiện tại, khí mạch vẫn chưa dừng, chưa đáp ứng được yêu cầu “long đình, khí chỉ”, tức là thành vẫn nằm trên “hành long”. Nếu vậy, vị trí mà Hồ Quý Ly chọn thuộc thế Kỵ Long, là đất không thể định đô, vì thế Kỵ Long vốn là kỳ địa, rất hiếm khi ổn định, chỉ thích hợp với việc xây đền miếu, mà không thích hợp cho việc làm đô thị dương cơ.

         Về sa, thì sa sơn ở đây tản mát, long hổ không chầu, không bao bọc được cho trung tâm. Quan sơn (trước huyệt trường) thì thấp nhỏ, mà Quỷ sơn (sau huyệt trường) thì lại cao lớn và quá nhiều sát khí.

Một vị trí mà thế mạch vốn dĩ đã khẩn yếu, lại thuộc thế Kỵ Long, sa sơn đã tản mát mà lại hung hãn lao vào chính huyệt, án sơn là núi Đốn cũng thấp nhỏ, hình thế như mũi thương lao thẳng vào Đoan môn. Cho nên, có thể kết luận một điều rằng, đất này không thể là cát địa, lại càng không thể là nơi đế đô muôn đời được. Lịch sử đã chứng minh, triều Hồ diệt vong chỉ trong vòng 7 năm sau khi lên ngôi và thiên đô vào đất này.

Một nhầm lẫn lớn trong cách nhìn nhận của Hồ Quý Ly về thế đất nơi đây. Đó là ông cho rằng vị trí hợp lưu của 2 con sông sẽ là nơi khí mạch tụ lại, bất chấp lời can gián của các học giả, thậm chí bỏ ngoài tai cả lời nhận xét của con trai mình. Thực tế thì cho thấy, khí mạch của nơi đây vốn phát tích từ Vân Nam, nếu cho rằng dòng sông Mã dẫn khí mạch xa ngàn dặm về, đóng vai trò hộ tống thủy thì đúng. Nhưng còn dòng sông Bưởi, là dòng sông nhỏ, chạy bên đất Hòa Bình đổ xuống, bản thân nó chỉ là một chi lưu cuối nguồn của sông Mã, mà nhất định không phải là hộ tống thủy. Bởi vậy, Nguyễn Nhữ Thuyết, Hồ Hán Thương đều là những người am tường địa lý mới nhận xét rằng đó chỉ là nơi “đầu non cuối nước”, không phải nơi thịnh vượng.

Đối với môn địa lý, khí mạch tạo nên đất đế đô, không nhất thiết phải là hợp lưu. Quan trọng phải là tìm nơi “thủy bão loan hoàn, long đình khí chỉ”. Dòng sông Mã tại khu vực này vẫn đang trên đà dẫn mạch xuống đồng bằng, và phải đến tận thành phố Thanh Hóa khí mạch mới dừng, và nơi đó chính là thành Vĩnh Hồ và là thành phố Thanh Hóa ngày nay. Còn tại vị trí thành nhà Hồ bây giờ, chưa phải là nơi khí mạch dừng hẳn, chỉ là một khúc chuyển mình thôi.

         Về Thủy pháp, Cửa Ngọ Môn của thành ở chính cung Tỵ, mà chỗ xuất thủy đi cũng từ chính cung Tỵ chảy thẳng đi, nước đó là nước vô tình, là bại cục chi địa. Hình cục của Thủy thành ở đây thuộc Kim Cục. Dòng sông Mã chảy vào từ cung Càn, vòng sang phải đổ ra cung Tỵ. Dòng sông Bưởi chảy vào từ cung Cấn chảy vòng sang bên phải và đổ ra cung Tỵ. Cả thuận nghịch cục thì cung Tỵ đều là cung Sinh – Vượng, nước đi ra từ cung này sẽ là Bại cục vì theo nguyên tắc “thu minh sinh, phóng ám tử”, nước phải thu sinh vượng mà chảy đi từ nơi Tử Tuyệt mới là cát thủy, sinh thủy, còn trong trường hợp này, nước mang khí tử tuyệt đến, và mang khí sinh vượng đi thì không thể dùng. Như vậy là cách lập hướng thủy pháp cũng bộc lộ vấn đề.

          Về vận khí, theo sử sách, thành bắt đầu xây tháng giêng năm Đinh Sửu (1397) đến tháng 3 thì hoàn thành. Như vậy thành xây trong vận 4. Trong các tài liệu đều nói rằng các cửa thành đúng hướng Đông Tây Nam Bắc, nhưng trên thực tế, thì cửa Nam thành vào khoảng giữa 149-150 độ. Thành tọa Hợi hướng Tỵ, lập chính hướng. Theo vận này, thì Tọa tinh phạm Phục ngâm, Ngũ hoàng của Tọa nhập trung cung, vận tinh Tam Bích đáo hướng, Vận tinh Ngũ Hoàng đáo Tọa. Đều là những hung sát tinh chủ về tai kiếp chiến tranh, giặc giã. Hơn nữa, vận 4, chính thần tại Đông Nam đây cũng là phương của thủy khứ, là cách rất hung.

          Một chút chấm phá bằng con mắt trần tục hẹp hòi của mình, tôi không dám đi sâu vào bàn luận cách chọn đất xây thành của cổ nhân. Chắc hẳn bên trong còn nhiều điều bí ẩn mà chúng ta chưa thể nhận ra.

Thay lời kết

Lịch sử đã qua, tất cả rồi cũng trở thành cát bụi. Cho dù là thành quách nào cũng sẽ có lúc phải sụp đổ dù phong thủy có đẹp đến đâu cũng không thể tồn tại mãi mãi với trời đất.

Chỉ có một tòa thành duy nhất, chẳng cần đến phong thủy, chẳng cần đến núi non, sông suối mà mãi mãi vẫn bền vững, có thể che chở bảo vệ cho bất cứ vương triều nào, trước bất cứ giặc ngoại xâm nào. Đó chính là Tòa thành trong LÒNG DÂN.

Điều mà Hồ Quý Ly đã đánh mất trước khi xây thành đá, cho nên dù đúng phong thủy, hay sai phong thủy, thì tòa thành đó cũng đã sụp đổ ngay trước khi nó được xây, khi mà ngay con trai Hồ Quý Ly là Hồ Nguyên Trừng cũng phải nói “đánh thì thần không ngại, chỉ sợ lòng dân không theo”.

Bài của - Trúc Phong Ẩn Sĩ

Thứ Ba, 28 tháng 12, 2021

CÂU CHUYỆN VỀ BÁT NƯỚC KHIẾN THẦY PHONG THUỶ CÒN PHẢI NỂ PHỤC

Có một thầy phong thủy thường giúp người ta chọn nơi ở sao cho may mắn nhất. Ông luôn tin rằng một ngôi nhà đặt ở chỗ đắc địa mới có thể thay đổi vận mệnh con người theo hướng tốt lên.

Một ngày nọ trên đường đi xa, trời nắng gắt và lạc vào nơi hoang vu, thầy phong thủy đã uống hết nước mang đi, đường dài vô tận, khiến ông mệt mỏi và khát khô cổ. Ông cố lê bước trên đường hy vọng tìm được nơi có thể xin nước uống và tạm nghỉ. May mắn thay một lát sau thầy phong thủy nhìn thấy 1 ngôi nhà chắc của nông dân nào đó nằm một mình ở nơi hoang vu này. Ông dừng lại và vào đó xin nước uống. Một phụ nữ từ trong ngôi nhà bước ra, thấy có người nhìn mệt mỏi, xin nước uống, vội mời vào ngồi nghỉ. Tiếp đó bà nói: Mời ông chờ lát, tôi sẽ mang nước ra ngay”. Tuy nhiên thầy phong thủy ngồi mãi mà chưa thấy nữ chủ nhà bước ra với bát nước cho ông giải khát. Ông bắt đầu băn khoăn không hiểu có chuyện gì.

Mãi lúc sau bà chủ nhà mới trở lại, tay cầm bát nước lớn. Khi thầy phong thủy trong cơn khát cháy họng vội cầm lấy nước để uống thì bà chủ nhà lại giữ lại chiếc bát rồi nói: “Xin ông chờ chút”, rồi bà lại biến mất vào trong nhà, sau đó bước ra với một nắm hạt đậu. Bà chủ bỏ hạt đậu vào bát nước rồi đưa cho thầy phong thủy.

Khi ấy ông cảm thấy rất tức giận và nghĩ: “Thật là một người đàn bà xấu xa. Ta khát thế này chỉ xin một bát nước thôi mà bà ta để chờ rất lâu mới mang ra. Đến lúc mang ra còn bỏ mấy cái hạt lổn nhổn này vào khiến mãi mới uống được”.

Sau khi uống xong bát nước và chuẩn bị tiếp tục hành trình, thầy phong thủy trên đường chợt nhìn thấy một mảnh đất mà theo kiến thức nhà nghề của ông, đó là mảnh đất rất xấu. Ai sống trên đó đều gặp vận rủi. Nghĩ lại vụ bực mình vừa rồi, thầy phong thủy tìm cách trả thù. Ông ta quay lại ngôi nhà nhỏ kia và nói với bà chủ nhà: “Tôi vừa tìm thấy một mảnh đất rất tốt, tụ hợp linh khí giúp chủ nhân vượng tài, bình an, may mắn. Để báo đáp sự hiếu khách của bà, tôi sẽ chỉ cho bà xem”.

Rồi ông đưa bà chủ qua đó xem mảnh đất xấu vừa thấy. “Bà nên xây nhà rồi ra đây ở, chắc chắn sẽ rất vượng và may mắn”, thầy phong thủy khuyên bà chủ nhà. Nghe vậy bà chủ nhà vui mừng đáp: “Chúng tôi cũng đang tính xây nhà mới rộng hơn, xin cám ơn ông đã tư vấn, chúng tôi sẽ làm theo lời khuyên của ông”.

Thầy phong thủy nghe xong đắc thắng chào bà chủ rồi lên đường. Vài năm sau ông quay lại đúng con đường mình từng suýt chết khát và gặp được bà chủ khó hiểu với bát nước đầy hạt. Nhưng ông lại nhìn thấy ngôi nhà lớn trên ngọn đồi có mảnh đất dữ về phong thủy mà ông từng tư vấn cho người phụ nữ khiến ông tức giận. Điều đáng ngạc nhiên là ngôi nhà đó nhìn khang trang, xung quanh là đồng cỏ xanh mướt với nhiều gia súc, gia cầm đang ở trên đó. Ông nhìn kỹ lại và tự hỏi “sao mảnh đất dữ này người ta có thể xây nhà to đẹp và vượng thế nhỉ?”.

Rồi người phụ nữ năm nào bước ra và nhìn thấy ông, bà vội chạy tới, chào hỏi và cám ơn: “Cám ơn ông đã chỉ cho chúng tôi mảnh đất này, ở nơi cao ráo lại rất thoáng mát. Chúng tôi đã xây nhà ở đây, toàn gặp điều may mắn thôi”.

Thầy phong thủy khi ấy vô cùng bất ngờ và bối rối, cuối cùng ông thú nhận: “Thực chất tôi không phải muốn giúp nhà bà. Tôi chỉ cho bà mảnh đất này vì theo phong thủy nó là đất dữ. Đó là bởi tôi khó chịu với cách bà mang nước cho tôi uống, bà xử quá tệ với tôi”

Người phụ nữ nghe vậy vô cùng ngạc nhiên và hỏi: ‘Tôi xử tệ với ông khi nào?”

Thầy phong thủy đáp: “Tôi đang khát thế mà bà lừng khừng mãi mới mang bát nước ra, mang ra còn bỏ hạt đậu vào để tôi mãi mới uống xong, đó chẳng phải xử tệ là gì?”.

Nghe vậy bà chủ hiểu ra và trả lời: “Tôi xin lỗi nhưng tôi không hề muốn xử tệ với ông. Vì tôi thấy ông đi dưới trời nắng gắt lại ra nhiều mồ hôi thế, nếu vội uống nước lạnh ông dễ bị cảm. Cho nên tôi đã cố tình cho ông chờ một lát, rồi cho hạt đậu vào để ông uống từ từ, tránh bị cảm đột ngột”.

Nghe xong thầy phong thủy vô cùng bất ngờ và hối hận. Lúc đó ông mới hiểu rằng mình đã hiểu nhầm một người tốt. Bà rất chu đáo chứ không phải xử tệ với ông, vì lo lắng cho sức khỏe người dưng như ông. Chính vì thế mà mảnh đất dữ thế nào theo phong thủy cũng không hại được bà ấy, đơn giản bởi bà là người sống có Đức và được phù hộ. Số phận một con người được quyết định bởi đức của người đó chứ không phải bày bố phong thủy sao cho hoàn hảo. Cho dù có ở nơi tệ nhất về phong thủy nhưng nếu là người có đức, họ vẫn được phúc báo và ngược lại.

Nguồn và ảnh: Sưu tầm

Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2020

Trạng Trình với những sấm truyền lịch sử


Cho đến nay ở Việt Nam chưa có ai sánh được danh tiếng về tài tiên tri và những sấm ký lưu truyền theo dòng lịch sử của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Ông giúp đỡ không chỉ riêng chúa Nguyễn dựng nghiệp lớn với 9 đời chúa, 13 đời vua, mà vạch đường cho chúa Trịnh biết cách “thờ Phật ăn oản”, cho nhà Mạc chạy về “ẩn tại Cao Bằng”. Từ đâu Trạng Trình tiên đoán về thế sự và các vùng đất “ẩn long” hoặc sẽ “vạn đại dung thân” chính xác như thế?

Nhà tiên tri bên sông Tuyết Hàn
Có thể nói, ngoài tài năng thiên phú “bất khả tư nghì” ra, ông còn được “đề dẫn” từ lúc trẻ bởi hai nhân vật lớn trong đời ông: người mẹ và người thầy của ông.
Về người mẹ, thân mẫu của Trạng là bà Nhữ Thị Thục (con gái của quan thượng thư Nhữ Văn Lan) là người tinh thông về khoa chiêm tinh và dịch lý, đã tự chấm lấy lá số tương lai và biết mình sẽ sinh quý tử. Nhưng muốn vậy, bà cần phải kết duyên với một người nào đó có cung mệnh tương ứng nên đợi chờ mãi đến ngưỡng cửa của tuổi 30 vẫn chưa lấy ai.
Cuối cùng bà quyết định tự tìm đến ông đồ nho nhà nghèo Nguyễn Văn Định để kết duyên, vì bà đã nhìn ra nơi ông đồ ở chốn thôn dã này là người sẽ cùng bà sinh ra một nhân tài. Tương truyền trong đêm hợp hôn có trăng sáng, bà ra ngoài trời lấy một cây trúc cắm giữa sân và dặn ông Văn Định khi nào ánh trăng chiếu xuống không còn thấy bóng dưới gốc trúc nữa mới được vào phòng hoa chúc.
Nhưng ông Văn Định không đợi được, đã vội vào ăn nằm với bà khi dưới gốc trúc vẫn còn một chút bóng soi, nên bà trách chồng và bảo nôn nóng như thế chỉ sinh được người con đỗ Trạng, chứ không gầy nên nghiệp đế. Người con đó là Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm 1491, đỗ Trạng nguyên năm 1535 thời Mạc, làm quan đến Thượng thư Bộ Lại, Thái phó, là thầy dạy học của thái tử Mạc Phúc Hải, được phong tước Trình Tuyền hầu, Trình Quốc công, nên người đời thường gọi Trạng Trình và những tiên tri của ông được tập hợp với tựa: Trình Quốc công sấm ký…
Về người thầy, Nguyễn Bỉnh Khiêm theo học với Bảng nhãn Lương Đắc Bằng – là một vị quan lớn thanh liêm, chính trực, từ quan rời kinh đô Thăng Long về quê nhà Thanh Hóa mở trường dạy học, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng theo thầy về xứ Thanh. Thầy Lương Đắc Bằng nắm giữ bộThái ất thần kinh và đã truyền cho Nguyễn Bỉnh Khiêm yếu chỉ của bộ sách đó, cùng những ứng dụng trong lĩnh vực chiêm tinh và tiên đoán liên quan đến khoa địa lý và phong thủy.
Sau này, khi biết trước sự nhiễu nhương của thời cuộc bên ngoài và đầu mối suy sụp trong nội tình nhà Mạc, Trạng Trình đã dâng sớ xin chém 18 kẻ lộng hành nhưng vua Mạc không chấp thuận, ông treo mũ từ quan về quê, dựng am Bạch Vân bên bờ sông Tuyết Hàn.
Chính ở đó, về sau các vua Mạc, chúa Trịnh và cả chúa Nguyễn đều lần lượt phái sứ giả đến yết kiến để xin cố vấn về các giải pháp trước mắt, hoặc tiên tri chỉ dẫn về những điều hệ trọng liên quan đến sự sống còn của họ trong tương lai…
                   Cảnh sinh hoạt của một nhóm người Đàng Trong
Vùng đất vương gia như sấm truyền
Nguyễn Hoàng là con trai của Nguyễn Kim. Nguyễn Kim là người có công lớn đã tập hợp quân tướng khởi nghĩa chống nhà Mạc cướp ngôi và giúp nhà Lê giành được đất Thanh Hóa, Nghệ An – lập nên triều Lê trung hưng.
Sau Nguyễn Kim bị tướng nhà Mạc đầu độc chết, quyền hành về tay con rể là Trịnh Kiểm. Trịnh Kiểm lo sợ các con trai của Nguyễn Kim (là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng) tranh mất quyền của mình nên đã tìm cách ám hại Nguyễn Uông trước. Thấy vậy Nguyễn Hoàng rất lo sợ, xem mình như chim cá trong lồng son, có ngày sẽ bị ám hại như anh mình (Nguyễn Uông). Vì thế Nguyễn Hoàng đã bí mật sai sứ giả tìm cách lặn lội ra ngoài Bắc, đến yết kiến Trạng Trình xin sấm giải. Trạng Trình dạy: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”.
Vâng theo lời ấy, Nguyễn Hoàng nhờ chị ruột là Nguyễn Thị Ngọc Bảo (vợ Trịnh Kiểm) xin với Trịnh Kiểm cho mình vượt Hoành sơn vào trấn thủ vùng Thuận Hóa để tránh xa “dao thớt” của người anh rể họTrịnh.
Linh dang trong Lính Đàng Trong
Được Trịnh Kiểm đồng ý và vua Lê cho phép, Nguyễn Hoàng đem gia quyến rời Thanh Hóa năm 34 tuổi (Mậu Ngọ 1558) và cùng tùy tướng của mình chỉ huy hàng nghìn quân bản bộ vượt biển để lại dải Hoành sơn phía sau, tiến về phương Nam ở phía trước, vào thẳng cửa Yên Việt, đóng dinh ở gò Phù Sa, xã Ái Tử, huyện Vũ Xương, thuộc địa phận tỉnh Quảng Trị ngày nay.
Những thập niên đầu trên vùng đất mới, Nguyễn Hoàng ra sức khai hoang lập ấp, ổn định dân tình, giữ quan hệ thuận thảo với vua Lê, chúa Trịnh ngoài Bắc, được vua Lê sắc phong làm Thái phó và giao toàn quyền quyết định mọi việc ở vùng Thuận Hóa, định lệ nộp thuế 400 cân vàng bạc và 500 tấn lúa hằng năm.
Nguyễn Hoàng mất năm Quý Sửu 1613, thọ 89 tuổi, trấn thủ đất Thuận Hóa – Quảng Nam trong 56 năm (được truy tôn: Thái tổ Gia dụ hoàng đế), có 10 người con trai, trước khi mất dặn lại con cháu phải hết sức giữ gìn đất Thuận Quảng.
Vì đó là nơi phía Bắc có Hoành Sơn với thế núi chắn ngang che chở, phía Nam có Hải Vân hùng vĩ là yết hầu đưa sinh khí vào “vùng đất vương gia” (tức kinh thành Phú Xuân- Huế sau này). Có giữ vững Thuận Quảng mới mong dựng nên cơ nghiệp muôn đời như sấm ký của Trạng Trình truyền lại “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”.
Theo các nhà viết sử có uy tín như Trần Trọng Kim “núi Hoành sơn tức núi Đèo Ngang ở Quảng Bình” vốn là một nhánh của dãy Trường Sơn đột nhiên kéo đâm ra sát biển. Đứng từ đỉnh cao nhất của Hoành Sơn (khoảng 250m) nhìn bao quát sẽ thấy hiện lên dưới tầm mắt màu xanh ngút ngàn của rừng núi phía Tây, biển rộng mênh mông trải dài như tấm thảm xanh về phía Đông, thấp thoáng những hòn đảo nhỏ nhô lên mặt nước như đang chầu về “sơn lâm”.
Con đường xuyên Đèo Ngang thời trước nằm trên đường thiên lý, cách Đồng Hới khoảng 80 cây số, chạy ngoằn ngoèo qua các sườn đồi cheo leo, men theo vực sâu, đưa người hành trình theo chiều dọc từ hướng Bắc vào Nam. Nhìn dưới góc độ phong thủy, Hoành Sơn đi vào các tài liệu nghiên cứu về địa lý xưa và cả thời nay.
Ngay các tác giả người nước ngoài như học giả Léopold Cadière, chủ bút tạp chí Bulletin des Amis du Vieux Hue, khi luận về các chi tiết phong thủy ứng dụng xây kinh thành Huế đã nhắc đến “Hoành Sơn che chở” từ xa đối với nhà Nguyễn. Những nhà sử học, địa lý học khi viết đến lịch sử triều Nguyễn đều nhắc “Hoành Sơn” thời khởi nghiệp.

                Cảnh sinh hoạt vui chơi (đá cầu) tại một làng Đàng Trong
Nhà phong thủy học Cao Trung khi luận về long mạch trong Tả Ao địa lý toàn thư đã đưa “Hoành Sơn” vào nội dung phân tích và nêu rõ hai phần trong khoa địa lý gồm: Loan đầu và Lý khí. Phần Loan đầu  là những gì mắt ta nhìn thấy trên đất đai của toàn thể một cuộc đất kết, hoặc một dòng nước thuận nghịch, một thế núi quanh co.
Nếu cơ nghiệp chúa Trịnh mở đầu với mối liên hệ về một cuộc đất thuộc vùng “thủy” (nước), thì cơ nghiệp chúa Nguyễn mở đầu với mối liên hệ thuộc vùng “sơn” (núi). Nói về “sơn”, cụ Tả Ao diễn giải nếu thấy núi hình thành theo dạng “một vòng bọc lại” (nhất trùng bão khóa)  rồi “một vòng mở ra” (nhất trùng khai) thì ở đó có đất  công hầu. Nếu lại thấy một dạng núi “vòng ôm” (nhất sơn loan bão) rồi “ngoảnh lại” (nhất sơn cố) là ở đó có đất công khanh.
Trong tập Địa lý gia truyền, cụ Tả Ao cũng chỉ rõ nếu thấy núi cao bao quanh một vùng thì hãy tìm huyệt ở chỗ thấp (chúng sơn cao tầm đê) – còn chung quanh đều thấp thì hãy tầm huyệt ở chỗ cao (chúng sơn đê tầm cao).
Đối chiếu và liên tưởng tới trường hợp “Hoành Sơn”, những chỉ dẫn phong thủy và địa lý nêu tổng quát ở trên cũng cho ta thấy qua phần “loan đầu” (có thể nhìn trực tiếp bằng mắt để đoán định), sau đó đến phần “lý khí” (liên quan đến lý học, thiên văn) chắc hẳn những gì nêu trongThái ất thần kinh đã được vận dụng bởi nhà văn hóa, nhà tiên tri lừng danh nhất trong lịch sử Việt Nam: Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nhờ vậy, cộng với khả năng thiên phú, Trạng Trình đã chỉ đúng con đường phải đi cho chúa Nguyễn.
Theo: Duyên dáng Việt Nam

Thực hư con sông làm đứt mạch đế vương


Các tài liệu chép về phong thủy ngôi huyệt đế vương nhà Trần có đề cập tới một con sông bí ẩn. Tương truyền rằng, vì đào con sông này mà long mạch nơi đây bị phạm, dẫn đến sự sụp đổ của nhà Trần.
Hiện nay, có ý kiến tranh cãi rằng, con sông này là do Hồ Quý Ly thực hiện để phá long mạch. Một ý kiến nữa lại cho rằng, việc này là do thầy phong thủy trả thù. Vậy thực hư câu chuyện này ra sao?


Cổng lớn đi vào khu lăng mộ các vua Trần ngày nay

Đi tìm con sông làm đứt mạch đế vương

Con sông bí ẩn trên được nhắc đến trong sách Công Dư Tiệp Ký tiền biên của cụ Vũ Phương Đề. Sách chép rằng, khi thầy phong thủy đặt đất cho nhà Trần xong, thầy phong thủy làm một bản giao ước với Trần Hấp hứa hẹn với nhau rằng, nếu sau này nhà Trần được nước thì con cháu thầy phong thủy sẽ đời đời được hưởng phúc ấm.

Tuy nhiên, sợ sau này nhà Trần đối xử không tốt với con cháu mình nên thầy phong thủy đã làm hai bản sấm thư để lại cho con cháu và dặn: “Nếu sau này họ Trần vẫn đối đãi tử tế, thì bảo thực cho họ cách tiếp nối long mạch để nhà Trần tiếp tục thống trị thiên hạ. Nếu họ bội ước thì cứ theo sấm thư mà làm như vậy”. Sau khi căn dặn con cháu như vậy, thầy phong thủy tiếp tục căn dặn Trần Hấp rằng: “Tôi đã để lại một phép, có thể làm cho nhà ông trị vì được lâu dài hơn. Phép ấy là gì, sau này có biến thì hãy cử người đến gặp con cháu tôi. Bí quyết tôi đã để lại sẵn và lúc ấy sẽ bảo nhà ông cho biết”.

Sau mấy chục năm được ngôi huyệt đế vương đó, nhà Trần quả nhiên được nước từ nhà Lý. Vua Lý Chiêu Hoàng (vị vua cuối cùng của nhà Lý) nhường ngôi cho Trần Cảnh. Đối chiếu với câu sấm “Phấn đại dương giao chiếu/Liên hoa, dĩ sắc đắc thiên hạ” thì quả là nhà Trần được nước nhờ người con gái đẹp, tài sắc. Nhà Trần nhớ ơn tới công lao của thầy phong thủy năm nào nên đối xử với con cháu họ rất hậu. Những đời vua đầu, con cháu thầy phong thủy được cấp đất, chu cấp tiền và cho làm quan. Tuy nhiên, càng về sau thì các vua Trần càng thờ ơ, đối xử lạnh nhạt với con cháu thầy phong thủy nên khiến họ phật lòng. Thực tế, nhà Trần càng về sau càng suy nên đã cho người đến xin bản sấm thư mà thầy phong thủy xưa để lại.

Vua Trần xem sấm thư thấy nói: “Ngôi mộ phát tích ở Thái Đường nay sắp hết thịnh, cần phải khơi thông thủy đạo thì mới giữ được lâu dài”. Vua Trần tin lời nói ấy, bèn chiểu theo họa đồ ở sấm thư đào một thủy đạo từ sông Cái (tức sông Hồng) xã Phú Xuân (không rõ ngày nay thuộc xã nào ở Hưng Hà) đi vào, quanh đến xã Thái Đường. Không ngờ đào đứt long mạch, họ Trần suy rồi bị Hồ Quý Ly thoán đoạt. Hiện nay, danh tính con sông này không còn ai biết tới. Tuy nhiên, ở Thái Đường hiện nay vẫn tồn tại một con sông có tên là sông Thái Sư. Tương truyền rằng, con sông này được đào vào thời cuối nhà Trần và do thái sư Hồ Quý Ly thực hiện.

Ông Cao Thanh Bốn – Phó trưởng ban quản lý khu di tích đền Trần kể rằng: “Thái Đường hiện nay quả có con sông tên là Thái Sư. Con sông này được đào từ rất lâu rồi. Tương truyền nó được đào bởi thái sư Hồ Quý Ly vào cuối đời Trần. Mục đích đào con sông này là để trị thủy, phục vụ tưới tiêu cho người dân trong vùng chứ không nghe thấy bảo là làm đứt long mạch. Tuy nhiên, nếu tra thời gian đào sông và năm nhà Trần bị diệt thì khoảng cách không lớn”.

Ông Bốn cũng cho biết: “Con sông Thái Sư ngày nay được bắt nguồn từ xã Tân Lễ, huyện Hưng Hà, chạy vòng qua khu tông miếu nhà Trần và đổ ra cửa sông gần đó”. Cứ xét theo lời miêu tả của ông Bốn thì con sông này có điểm tương đồng khá lớn với con sông làm đứt long mạch trong truyền thuyết. Tuy nhiên, hiện nay chưa có đủ cứ liệu để chứng minh con sông trong truyền thuyết chính là con sông Thái Sư ngày nay.

Đây chỉ là một giả thuyết

Chia sẻ thêm về vấn đề này, chuyên gia phong thủy Phạm Cương – cho biết: “Phong thủy là khoa học nghiên cứu về mối quan hệ giữa con người và môi trường sống như hướng gió, mạch khí, mạch nước, cấu trúc sông núi… nên khi một trong những yếu tố này thay đổi sẽ ảnh hưởng ít nhiều cục diện phong thủy của cả một khu vực. Khoa học phong thủy về phong âm phần cho rằng, người chết có ảnh hưởng tới dòng họ, tới con cháu còn sống trên dương gian. Với kinh nghiệm của tôi điều đó có cơ sở. Còn chuyện phát phúc đến đâu, phát đế vương hay phát công hầu, khanh tướng thì việc đó cần phải bàn thêm”.

Cũng theo chuyên gia phong thủy Phạm Cương thì sự phát đạt của một dòng tộc, vương triều phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố phong thủy. “Trong phong thủy còn có câu “tiên tích đức hậu tầm long”. Tức là một dòng họ muốn kết phát thì trước nhất phải lấy đức làm đầu, sau đó mới tính tới chuyện tìm phong thủy. Nếu dòng họ có đức độ thì mới phát huy hết được yếu tố cát lành của huyệt mộ phát kết. Còn khi mạt phúc, hết đức thì huyệt tốt cũng như không.

                      Chuyên gia Phong thủy Phạm Cương

Cứ theo câu chuyện ở trên, thì ngôi mả phát đế vương ban đầu dành cho Nguyễn Cố nhưng người cuối cùng được huyêt tốt lại là Trần Hấp. Thế mới biết, đức của dòng họ Trần thật lớn vậy. Nếu cứ đặt một giả thiết là Nguyễn Cố được ngôi mả đó, nhưng nếu không có phúc thì kiểu gì ngôi mả đó cũng bị xâm phạm, dần dần mà kém đi thôi”, chuyên gia Phạm Cương cho biết thêm.

Theo nhiều chuyên gia về phong thủy thì những ngôi huyệt phát đế vương bao giờ cũng là ngôi huyệt kết hợp được tất cả những gì tinh túy nhất, tuyệt vời nhất và trường hợp như vậy cũng phải hàng trăm năm mới có một lần. Bởi vậy, những mảnh đất phát đế vương thường là do khí thiêng sông núi hun đúc tạo nên khí sắc thanh tú, mượt mà. Chính vì thế mà ngôi huyệt quý này được nhắc tới không chỉ ở dã sử mà còn trong chính sử nữa.

Trong khi đó, TS Trần Thuận – Khoa Lịch sử, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM lại cho biết: “Việc sụp đổ của một triều đại không thể chỉ do một yếu tố đơn lẻ. Cho đến giờ, những nguyên nhân khiến cho nhà Trần sụp đổ cũng được rất nhiều công trình nghiên cứu lịch sử giải thích, phân tích. Điều này là quá hiển nhiên rồi. Tuy nhiên, nghi vấn nhà Trần do đào sông mà làm mất vượng khí cũng chỉ là một giả thuyết trong dân gian, không có chứng cứ xác thực về lịch sử. Dẫu vậy, nó cũng là một giả thuyết mà đến nay, chưa ai chứng minh được nó là bịa đặt.

Thực chất, mỗi vương triều xuất hiện trong dòng chảy lịch sử và thay thế vương triều trước đó vì nó có những điểm tiến bộ hơn, phù hợp với sự phát triển của lịch sử. Nhà Trần hình thành và sụp đổ cũng không nằm ngoài nguyên nhân đó. Vì thế, bảo nhà Trần sụp đổ là do đứt long mạch thì tôi cho rằng không thực tế và chỉ mang tính giai thoại mà thôi”.

TS. Trần Thuận còn cho rằng, phong thủy là một bộ phận trong văn hóa người Việt và dùng nó để giải thích thịnh suy của một dòng họ là lẽ thường. Không chỉ có riêng nhà Trần mà còn rất nhiều những vương triều, dòng họ khác trong dòng chảy lịch sử mấy nghìn năm của dân tộc cũng đều lấy phong thủy ra làm nguyên nhân thất bại của mình. Đây được coi là một nguyên nhân trong nhiều nguyên nhân khiến cho một triều đại suy tàn và diệt vong. Tuy nhiên, đừng nên coi đó là nguyên nhân chính mà chỉ nên xem xét nó như một cách lý giải mang đậm màu sắc huyền thoại hơn là dựa vào đó như một cứ liệu lịch sử.

Đứt long mạch thường được dùng để lý giải sự sụp đổ của một vương triều
Chuyên gia phong thủy Nguyễn Cung Hà cho biết thêm: “Sự sụp đổ của một vương triều bên cạnh những nguyên nhân lịch sử cụ thể thì thường được lý giải ở phương diện tâm linh. Trong đó, phổ biến nhất là chuyện động long mạch hoặc bị phá long mạch. Tuy nhiên, theo tôi thì đó chỉ là thêu dệt về sau này, khi mà vương triều đó đã sụp đổ rồi. Nó mang tính tổng kết về khoa học tâm linh hơn là những giá trị chúng ta có thể tin vào.

Theo Lao động

Thực hư dòng họ khoa bảng bậc nhất Việt Nam được thầy địa lý trấn yểm


Ngôi mộ Thám hoa Nguyễn Văn Huy mà cụ Phả Uyên đã phục táng.
Ngoài những nguyên nhân về cả dương cơ và âm phần thì việc phát phúc của một dòng tộc còn phụ thuộc nhiều vào đức lớn của tổ tiên và họ Nguyễn làng Viềng cũng vậy. Cho đến ngày nay, dòng họ vẫn lưu truyền nhiều câu chuyện thú vị xung quanh sự kiện này.
Từ câu chuyện người Tàu báo ơn
Sau nhiều lần hỏi thăm, cuối cùng chúng tôi cũng tìm được vào nhà cụ Nguyễn Đình Quát (78 tuổi), hậu duệ đời thứ 14 dòng họ Nguyễn làng Viềng để tìm hiểu rõ thêm sự việc. Cụ Quát kể cho chúng tôi nghe câu chuyện rất thú vị về người Tàu trả ơn. Cụ Phúc Sơn vốn là tổ họ Nguyễn tại làng Viềng, nhà nghèo nhưng lại có tinh thần phóng khoáng, thường xuyên làm việc thiện giúp đời. Sau này cụ rời làng Viềng đi mở hàng nước tại làng Đông Lâu (nay là Đồng Thôn, huyện Yên Phong, Bắc Ninh) để sinh sống.
Tục truyền rằng vào một đêm mưa to gió lớn, cây đa đại thụ bên cạnh quán nước bị gió giật đổ bật gốc. Sớm hôm sau cụ ra xem thì nhìn thấy dưới gốc đa bị bật gốc đó lộ ra ba chĩnh vàng, thấy vậy cụ bèn đưa vào nhà cất giữ. Hai-ba năm sau, có một người Trung Quốc đến gốc đa đó ra chiều tìm kiếm một thứ gì mà mãi không thấy.
Người này hỏi những người sống ở khu vực lân cận thì có nghe loáng thoáng câu chuyện cụ Phúc Sơn bắt được vàng nên tìm đến nhà tự giới thiệu và đưa ra một bản sấm cũ, đồng thời nói rằng: “Tiền nhân chúng tôi có để lại một ít của cải cho con cháu, nay vì nghèo túng nên không quản ngàn dặm đường xa đến để đào lên, ngờ đâu đã bị người khác lấy mất”. Người này nói xong rồi khóc lớn.
Sau khi hỏi han kỹ càng, cụ Phúc Sơn bèn nói: “Số vàng này chính là tôi bắt được, nhưng cứ để nguyên cất đi, không hề lấy một chút nào ra tiêu dùng. Vậy số vàng này vốn là di sản của nhà ông, thì tôi xin hoàn lại ông tất cả”. Người khách thấy vậy nói: “Đúng là số vàng kia của nhà tôi, nhưng trời đã có ý cho ngài, xin ngài giữ lấy mà dùng, tôi chỉ xin một chút đủ dùng trên đường trở lại quê quán mà thôi”.
Cụ Phúc Sơn không đồng ý nói: “Nay vật về chủ cũ là lẽ đương nhiên” và kiên quyết trả lại. Người khách thấy cụ xuất phát từ lòng chân thành nên biếu cụ mười lạng, còn đâu xin mang về.
Sau khi về nước, người khách đem việc ấy kể cho mọi người cùng nghe. Một thầy địa lý nổi tiếng nghe vậy bèn nói rằng: “Không ngờ người nước Nam lại tốt bụng đến vậy, nay ta già rồi, giá ta còn trẻ thế nào ta cũng sang An Nam tìm cho nhà ấy một ngôi đất tốt để đền ơn”.
Người khách thấy vậy khẩn khoản nhờ thầy giúp. Thầy địa lý nói: “Ta có hai học trò có thể làm được việc này”, nói đoạn quay bảo hai người học trò: “Con người ấy vốn có âm đức, trời ắt cho được nhiều điều hay. Ta nay tuổi già không đi được, hai người đi giúp ta một chuyến”. Hai người học trò đều là những thầy địa lý nổi tiếng vui vẻ nhận lời.
Khi người khách Tàu cùng hai người học trò đó sang An Nam, tìm đến nơi cụ Phúc Sơn ở để trả ơn thì cụ đã mất trước đó mấy năm rồi. Gia đình cũng chuyển về làng Vĩnh Kiều (làng Viềng) sinh sống. Người khách sắm một lễ phúng đem đến nhà cụ Phúc Sơn ở làng Viềng để cúng tế. Cúng xong ra đi, không biết đi đâu.
Hơn hai tháng sau, người khách lại bảo với phu nhân cụ Phúc Sơn rằng: “Ngày xưa tôi chịu ân sâu mà chưa báo được đức, nay tìm được minh sư tìm được ngôi đất quý để khỏi phụ ân đức người. Nay hai thầy địa lý tìm được hai huyệt tốt, một ngôi phát đế vương nhưng chỉ một đời, một ngôi phát bảy đời làm rể vua, tùy người lựa chọn”. Cụ bà thấy vậy mong muốn có một huyệt để cho con cháu phát đời khoa cử. Không hiểu thực hư ra sao, quả đúng từ đó về sau, con cháu họ Nguyễn làng Viềng nối nhau đỗ đại khoa và làm quan to trong triều.
Đến chuyện hàn long mạch
Con cháu dòng họ Nguyễn làng Viềng nối nhau đỗ đại khoa với nhiều người  giữ những chức vụ quan trọng trong triều đình. Cứ như vậy cho đến hết đời thứ 4 thì không còn người đỗ đại khoa nữa và sự hưng thịnh của dòng họ có chiều hướng đi xuống. Theo gia phả còn ghi chép lại được thì đời thứ 5 của dòng họ chỉ có duy nhất một người đỗ trung khoa là cụ Phả Uyên, đỗ nho sinh trúng thức, làm quan tới chức tri phủ mà thôi.

                       Cụ Nguyễn Đình Quát.
Tuy nhiên cụ Phả Uyên lại có may mắn  được hộ tống một đoàn ngoại giao của nước ta sang sứ bên Tàu. Khi sang sứ, cụ Phả Uyên có gặp một thầy địa lý Tàu nổi tiếng xin ý kiến về việc phục táng tổ tiên để con cháu tiếp tục được hưởng phúc ấm và có thêm nhiều người đỗ đạt. Thầy địa lý thấy thế liền nói: “Lấy cùng dòng khí huyết phụ táng bằng nối cánh tay vào, cái cũ đã tiêu nát, sửa thành cái mới, sao lại không nên làm”.
Khi về Việt Nam, cụ Phả Uyên liền đem hài cốt của cụ tổ Nguyễn Văn Huy táng lại theo chỉ dẫn của thầy địa lý Tàu đã mách nước. Không hiểu sao ngay đời con cụ Phả Uyên là cụ Nguyễn Danh Nho đỗ tiến sĩ khoa Canh Tuất 1670, thời Lê Huyền Tông. Đặc biệt hơn là có cụ Nguyễn Nhân Nguyên đỗ cử nhân dưới thời Hậu Lê, làm quan tới chức Hộ Bộ lang trung. Cụ có 7 người con trong đó có 3 người đỗ tiến sĩ là Nguyễn Quốc Ích, Nguyễn Đức Đôn, Nguyễn Công Viên.
Điều đặc biệt là dù tám cha con không đỗ hết tiến sĩ, nhưng tất cả đều làm quan to cho một triều. Đây quả là một thành tích không phải gia đình khoa bảng nào cũng có thể thực hiện được. Cũng từ đó con cháu họ Nguyễn làng Viềng đều có người đỗ đạt, làm quan. Tuy nhiên số người đỗ đại khoa và giữ những chức vụ quan trọng trong triều đình không nhiều như 4 đời đầu của dòng họ.
Đến đây chúng tôi có hỏi cụ Nguyễn Đình Quát về thực hư chuyện hàn long mạch trong gia phả chép như thế nào, cụ Quát cho biết: “Gia phả các cụ truyền lại cho còn cháu như thế nào thì chúng tôi chỉ biết có vậy. Còn thực hư ra sao tôi cũng không được rõ. Tuy nhiên có một thực tế là mấy đời đầu, các cụ đều giữ những chức vụ rất to trong triều mà con cháu về sau rất ít người vươn tới”.
Không thỏa mãn với câu trả lời, chúng tôi đã tìm gặp chuyên gia phong thủy Phạm Cương và nhận được câu trả lời thấu đáo hơn. Chuyên gia Phạm Cương cho biết: “Phong thủy là khoa nghiên cứu về môi trường sống với con người như hướng nắng, hướng gió, tới mạch khí, mạch nước, cấu trúc sông núi… nên khi một trong những yếu tố này thay đổi sẽ ảnh hưởng ít nhiều cục diện phong thủy của cả một khu vực. Trong phong thủy dương cơ (liên quan đến nhà cửa) và âm phần (liên quan tới mồ mả) có quan hệ rất mật thiết với nhau. Riêng phong thủy âm phần ảnh hưởng sâu đến con cháu của dòng họ đó. Mỗi khi long mạch bị tổn thương do xây dựng đào xới… thì cần thiết phải hàn long mạch.
Đối với chuyện hàn long mạch như truyền thuyết dòng họ Nguyễn làng Viềng  thì chuyên gia Phạm Cương nhận xét: “Hàn long mạch là chuyện có thực, tuy nhiên áp vào trường hợp này thì rất khó nói do chưa có điều kiện tìm hiểu thực tế cũng như lịch sử dòng họ nên tất cả chỉ là võ đoán mà thôi… Thông thường thì việc hàn lại long mạch có xảy ra thì khu đất khó vượng khí như lúc đầu (tỉ lệ này chiếm khoảng 90%). Đối với 10% còn lại là thì việc hàn long mạch lại là chuyện tốt hơn ban đầu, điều này tùy thuộc cấu trúc khu đất đó”.
Chuyên gia phong thủy Phạm Cương cho biết: “Đối với những dòng họ khoa bảng có con cháu nối đời làm quan thì có nhiều nguyên nhân, theo tôi một phần liên quan đến phong thủy, tất nhiên còn có rất nhiều yếu tố khác nữa như phúc trạch tổ tiên hay sự cố gắng cá nhân của mỗi thành viên dòng tộc. Có nhiều mảnh đất thường xuyên nảy sinh ra những nhân tài. Đó là những mảnh đất do khí thiêng sông núi hun đúc nên khí sắc thanh tú, mượt mà thì dễ tạo ra những văn nhân tài tử”.

Đế vương xuất hiện trên đất bị phương Bắc trấn yểm


Thực hư Cao Biền trấn yểm thành Đại La
Theo tư liệu lịch sử và phong thủy, Cao Biền khi sang xâm lấn nước ta đã tiến chiếm thành Đại La và cho đắp lớn thành này cao đến 2 trượng 6 thước, chu vi hơn 1982 trượng, trên thành xây 55 vọng gác, với nhiều điểm phòng vệ quân sự. Để làm rào chắn cho thành Đại La, Cao Biền đã tập trung các hộ ở vây quanh với bốn vạn căn nhà. Là người giỏi về thuật phong thủy, xem địa lý, đoán cát hung, nên Cao Biền đã dò xét rất kỹ vị trí để xây thành Đại La (mà sau này vua Lý Thái Tổ khi dời đô về Thăng Long đã cho xây mới lại) và dò tìm đầu mối long mạch nước ta.
Nhắc đến vua Lý Thái Tổ (tức Lý Công Uẩn), nhắc đến thành Đại La và kinh đô Thăng Long, vì đều liên quan đến việc Cao Biền sử dụng những thuật lạ của phong thủy để trấn yểm và tiêu hủy khí tượng đế vương ở nước ta thời ấy theo lệnh của vua Đường Ý tông (860 – 873). Tài liệu ghi, khi Đường Ý tông quyết định cử Cao Biền sang nước ta, đã ngầm bảo: “Trẫm nghe An Nam có nhiều ngôi đất thiên tử, ngươi tinh thâm về địa lý, nên hết sức yểm đi và vẽ hình thế đất ấy đem về cho trẫm xem”.
Vâng lời vua Đường, Cao Biền đến nước ta bỏ công đi khắp nơi, xem xét núi non, rừng biển, sông hồ, chỗ nào địa thế tốt, có khí địa linh, thì đều yểm cả. Riêng núi Tản Viên là Cao Biền không dám đụng tới vì cho rằng đó là chỗ thiêng liêng của chư thần thường ngự, không thể yểm được.
Trong những nơi mà Biền nhắm đến có một điểm khá quan trọng, đó là làng Cổ Pháp – nơi sẽ sinh ra bậc đế vương của trời Nam. Vì thế, sau nhiều ngày chú tâm xem xét về cuộc đất toàn vùng, Cao Biền cùng các thầy pháp và thầy địa lý của Trung Quốc đã ra tay “cắt đứt long mạch” bằng cách đục đứt sông Điềm và 19 điểm ở Phù Chấn để yểm.

La Quý nối chỗ đứt long mạch

Nhưng mưu thâm độc của vua Đường và Cao Biền trong việc phá hủy thế phong thủy và làm tan khí tượng đế vương ở nước ta đã bị một thiền sư thời ấy là ngài La Quý phá tan.

Ngài La Quý là trưởng lão tu ở chùa Song Lâm, thuở nhỏ du phương tham vấn khắp nơi, sau đến gặp pháp hội của thiền sư Thông Thiện liền khai ngộ. Khi đắc pháp, ngài La Quý tùy phương diễn hóa, nói ra lời nào đều là lời sấm truyền. Ngài rất thông tuệ, nhìn xuyên sông núi, biết rõ nguồn gốc phong thủy, biết quá khứ và tiên đoán được tương lai.
Trước khi mất, vào năm 85 tuổi (năm 936), ngài gọi đệ tử truyền pháp là Thiền Ông đến căn dặn: “Ngày trước, Cao Biền đã xây thành bên sông Tô Lịch, dùng phép phong thủy, biết vùng đất Cổ Pháp của ta có khí tượng đế vương, nên đã nhẫn tâm đào đứt sông Điềm và khuấy động 19 chỗ trấn yểm ở Phù Chẩn. Nay ta đã chủ trì lắp lại những chỗ bị đào đứt được lành lặn như xưa”.
“Trước khi ta mất, ta có trồng tại chùa Châu Minh một cây bông gạo. Cây bông gạo này không phải là cây bông gạo bình thường, mà là vật để trấn an và nối liền những chỗ đứt trong long mạch, mục đích để đời sau sẽ có một vị hoàng đế ra đời và vị này sẽ phò dựng chính pháp của chư Phật”.
Vị hoàng đế mà ngài La Quý báo trước là Lý Công Uẩn. Lý Công Uẩn mồ côi từ nhỏ, được sư Khánh Vân đem về chùa nuôi, lớn lên Lý Công Uẩn được thiền sư Vạn Hạnh nuôi dạy và sau này lên ngôi tức vua Lý Thái Tổ, mở ra thời đại hộ pháp hưng thịnh trong lịch sử Việt Nam… Như vậy, thuật phong thủy với khí tượng đế vương của các vùng đất đã liên quan nhiều đến lịch sử Việt Nam từ xa xưa.
Đến đời Lê, có ngài Nguyễn Đức Huyên sinh tại làng Tả Ao, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tỉnh, là người lặn lội học khoa địa lý phong thủy tận nơi khai sáng của khoa này trên đất Trung Hoa và cũng là người Việt Nam đầu tiên viết sách địa lý lưu truyền đến nay. Ngài là danh nhân có tên gọi quen thuộc không những trong dân gian mà cả giới nghiên cứu nữa: Tả Ao.
Tả Ao đã phân tích, nêu rõ hình các cuộc đất kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, cũng như việc tìm long mạch ra sao. Xin nêu ra đây đoạn nhỏ trong sách “Tả Ao địa lý toàn thư” do Cao Trung biên dịch, đại ý nêu hai mạch: Mạch dương cơ và Mạch âm phần. Mạch dương cơ nếu nhỏ thì dùng làm nhà, nếu lớn hơn làm doanh trại, hoặc rộng và tốt có thể dùng làm thị trấn, xây kinh đô. Còn Mạch âm phần dùng chôn cất.

                     Bệ trang trí vũ công thời Lý
Đại cương là vậy, về chi tiết còn có nhiều loại mạch khác, như Mạch mã tích tức mạch chạy như vết chân ngựa, lúc cạn lúc sâu; Mạch hạc tất tức mạch ở giữa nhỏ, hai đầu to ra dần, như gối của con hạc; Mạch phong yếu tức mạch nhỏ nhắn, phình ra to dần như lưng con ong; Mạch qua đằng tức mạch không chạy thẳng mà ngoằn ngoèo như các thân cây bí cây bầu, có khả năng kết được bên trái hoặc bên phải đường đi của mạch nên được xem là loại mạch quý. Đất kết có hai loại: một loại dùng chôn xương người chết và một loại để người sống ở đều tốt.
Riêng đất để người sống ở, sách Tả Ao địa lý toàn thư đã đề cập đến đất dương cơ liên quan tới lịch sử nước ta: Trừ nhà Hùng Vương được đất quá lớn ra, thì sau đó, nhà Đinh và tiền Lê trở về trước, những triều đại thịnh trị thật ngắn ngủi, không được tới ba đời, nên quốc sư Vạn Hạnh phải tìm một đại địa khác làm kinh đô. Đó là Thăng Long hay Hà Nội. Lý Công Uẩn nghe theo, dời kinh đô về Thăng Long nên nhà Lý làm vua được tám đời; và sau đó nhà Trần và hậu Lê (Lê Lợi) cũng nhờ có đại địa đó làm kinh đô, nên bền vững lâu dài hơn”.
(Nguồn: Duyên dáng Việt Nam)