XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhà Hồ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhà Hồ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 23 tháng 5, 2024

THÀNH NHÀ HỒ, ĐỌC BÀI THƠ TRÊN VÁCH THÀNH CỔNG TÂY

Thành Nhà Hồ do Hồ Quý Ly chủ trương xây dựng và đích thân chỉ huy công trình vào năm 1397. Ba năm sau đó, Hồ Quý Ly đoạt ngôi nhà Trần lúc ấy đã suy tàn đáng phải thay thế, lập ra triều đại nhà Hồ, đặt tên nước là Đại Ngu. Chữ "Ngu" (虞) trong quốc hiệu "Đại Ngu" (大虞) của nhà Hồ có nghĩa là "sự yên vui, hòa bình", không phải chữ "Ngu" (愚) mang nghĩa là "ngu ngốc". "Đại Ngu" có thể hiểu là ước vọng về một sự bình yên rộng lớn trên khắp cõi giang sơn.

Đây là tòa thành kiên cố với kiến trúc độc đáo bằng đá có quy mô lớn hiếm hoi ở Việt Nam, có giá trị và độc đáo nhất, duy nhất còn lại ở tại Đông Nam Á và là một trong rất ít những thành lũy bằng đá còn lại trên thế giới. Có tài liệu chép thành được xây dựng trong thời gian chỉ khoảng 3 tháng (từ tháng Giêng đến tháng 3 năm 1397). Trải hơn 6 thế kỷ, một số đoạn của tòa thành này còn lại tương đối nguyên vẹn.

Thành Nhà Hồ được xây trong thời gian ngắn, nhân công được huy động rất đông, lao động không kể ngày đêm, nhiều người đã bị ốm đau, thương tật hoặc chết ở chân thành. Chuyện kể rằng vào cuối mỗi ngày, người ta thu gom được vài rổ (giành, sọt) những đầu ngón tay bị đứt rời của những người thợ ở đây trong quá trình lao động xây thành.

Có một điều, tuy thành Nhà Hồ kỳ vĩ và kiên cố như vậy, mà không một mũi tên nào được bắn ra từ mặt thành và không một tên giặc Minh nào bỏ mạng dưới chân thành.

Trải 600 năm qua, nhiều nho sỹ, thi nhân đã đến thăm thành, cảm tác thơ văn, phần lớn đều lên án Hồ Quý Ly tàn bạo, xây thành vắt kiệt sức dân. Có hai bài thơ được khắc trực tiếp vào thành ở cổng Tây, đến nay vẫn còn.

Có một điều băn khoăn: Đoàn đến cổng Tây của Thành Nhà Hồ, thấy bài thơ khắc trên đá của cổng. Khi hỏi sao không giới thiệu, thì hướng dẫn viên xin phép không giới thiệu, vì trên nói nội dung này không hay nên không được giới thiệu.

Dưới đây, xin giới thiệu bài 1:

Bài thơ thứ nhất


胡城古跡

興亡陳跡古今來

石砌胡城此舊堆

愁築樓臺多少力

弓山石路誌蒼苔

HỒ THÀNH CỔ TÍCH

Hưng vong Trần tích cổ kim lai

Thạch thiết Hồ thành thử cựu đôi

Sầu trúc lâu đài đa thiểu lực

Cung sơn thạch lộ chí thương đài.

(Bảo Đại ngũ niên Hạ.

Hồng lô tự khanh lĩnh Thủ Quảng Hóa phủ Trần Đình Khuyến đề).

Dịch nghĩa:

DẤU CŨ THÀNH NHÀ HỒ

Dấu tích thịnh suy của nhà Trần xưa kia còn để lại đến nay.

Bây giờ còn lại là những đống đá ghép của Thành Nhà Hồ

Buồn thấy bỏ ra bao công sức của nhân dân để xây cất lâu đài

Nay chỉ còn lại dấu rêu xanh trên núi hình cung (*) và con đường đá (**).

(Mùa hạ niên hiệu Bảo Đại thứ 5 (1930)

Hồng lô tự khanh, chịu trách nhiệm giữ phủ Quảng Hóa Trần Đình Khuyến đề).

(*) Núi Đốn hay Cung Sơn (núi hình cung), cách cổng Tiền Thành Nhà Hồ khoảng 2 km. (**) Con đường lát đá hoa từ cổng Tiền đến núi Đốn có tên Hoa Nhai.

Dịch thơ:

Dấu Trần hưng thịnh vẫn còn đây

Mấy bức thành hoang đá ghép xây

Buồn dựng lâu đài hao kiệt sức

Hoa Nhai, núi Đốn phủ rêu dày.

Bản phiên âm, dịch nghĩa và chú thích bài thơ được trích từ sách “Những Bút tích Hán Nôm hiện còn ở các hang động vách núi Xứ Thanh”, Võ Hồng Phi – Hương Nao, Nxb. Thanh Hóa, 2018, trang 278-280.

Nguồn Tễu Blog

Bài thơ thứ 2

Tại cửa tây thành nhà Hồ, có khắc bài thơ của tác giả Nguyễn Dao người xã Dũng Quyết huyện Ý Yên tỉnh Nam Định, đỗ cử nhân khoa Quý Mão đời Thành Thái( 1903).Nội dung bài thơ như sau:

  保 大 癸 酉 春

 西 都 营 築 竭 民 脂

 何 事 蒲 黄 僭 設 爲

 七 里 頹 城 風 瑟 瑟

 數 堆 故 趾 黍 蓠 蓠

 忠 臣 雖 死 留 花 路

 烈 女 如 生 凜 石 碑

 一 世 奸 雄 今 安 在

 有 灵 应 自 認 前 非

  阮 瑤 恭 誌

Phiên âm

Bảo Đại Quí Dậu xuân

 Tây Đô doanh trúc kiệt dân chi

Hà sự Bồ Hoàng tiếm thiết vi

Thất lý đồi thành phong sắt sắt

Sổ đôi cố chỉ thử li li

Trung thần tuy tử lưu hoa lộ

Liệt nữ như sinh lẫm thạch bi

Nhất thế gian hùng kim án tại

Hữu linh ứng tự nhận tiền phi.

Nguyễn Dao cung chí.

Dịch nghĩa:

Xây đắp doanh trại thành Tây Đô kiệt hết sức lực dân

Cớ gì áo vàng lại làm việc chiếm ngôi

Bảy dặm ngoài thành chỉ còn thấy gió hiu hắt

Trong nội nay hai bên lúa vàng lô nhô

Người trung thần tuy mất vẫn còn thờ ở đền Cái Hoa

Người liệt nữ vẫn còn in dấu sống động nơi tảng đá

Một kiếp gian hùng nay ở đâu?

Có khôn thiêng thì về mà nhận lỗi lầm khi trước.

Bảo Đại xuân Quí Dậu (1933)

Nguyễn Dao kính ghi lại

  (chưa có bản dịch thơ .Tôi mạo dịch, mời huynh hữu tham gia nhuận sắc cho vui)

Dịch thơ: THÀNH TÂY ĐÔ

Tây Đô kiến tạo của người thưa

Hà cớ Bồ Hoàng nỡ truất vua

Bảy dặm  thành hư nồm buốt buốt

Hai gò nội nát lúa lua tua

Trung thần tuy mất đường Hoa nhớ

Liệt nữ vẫn còn tảng đá đưa

Một kiếp gian hùng nay khuất nẻo

Hồn thiêng hãy nhận lỗi lầm xưa.

     Vĩnh Lộc

Huy Mien Nguyen

Thứ Tư, 15 tháng 5, 2024

Vùng đất Vĩnh Ninh và những liên quan đến Thành Nhà Hồ



1 - Sơ lược về Thành Nhà Hồ

        Vào những thập niên cuối thế kỷ XIV, vương triều Trần rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, toàn diện, chính quyền trung ương tập quyền suy yếu, khởi nghĩa nông dân diễn ra khắp nơi, nguy cơ bị ngoại bang xâm lược trở thành hiện hữu… Trong hoàn cảnh lịch sử đó, Hồ Quý Ly với trọng trách là đại thần nắm quyền lực thực quyền tối cao trong vương triều Trần lúc này, đã có kế hoạch rời kinh đô từ Thăng Long về Thanh Hóa, đồng thời lập ra một triều đại mới với mục đích đưa đất nước trở lại cường thịnh, độc lập. Công việc xây thành (1397) và dời đô (1398) đã biến vùng đất An Tôn trở thành kinh đô của đất nước những năm cuối vương triều Trần và Hồ (1398 – 1407). Kinh thành Tây Đô với kiến trúc trung tâm là tòa Hoàng Thành bằng đá có tọa độ 20004’06-20005’01N và 105026’23-105037’00E. Thành An Tôn được Hồ Quý Ly chỉ đạo xây dựng trong thời gian “ba tháng”.

     Tòa Hoàng Thành của kinh thành Tây Đô hiện còn nguyên vẹn với bốn bức tường và cổng thành với 6 vòm cuốn. Thành được xây dựng bằng những khối đá lớn có kích thước trung bình 2,20m x 1,50m x 1,20m, nặng khoảng 10 tấn, có viên dài 7m, cao 1,50m, nặng 16 tấn, viên lớn nhất nặng tới 26,70 tấn [1; tr 74]. Đây là thành tựu của kĩ thuật xây dựng đá lớn mà chưa kinh thành nào ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á cùng thời kỳ có được.

2 - Khái quát về vùng đất Vĩnh Ninh

     Vĩnh Ninh là một trong 8 xã và 01 thị trấn thuộc vùng đệm di sản thế giới Thành Nhà Hồ (bao gồm Vĩnh Ninh, Vĩnh Thành, Vĩnh Phúc, Vĩnh Tiến, Vĩnh Khang, Vĩnh Long, Vĩnh Yên, Vĩnh Quang và thị trấn Vĩnh Lộc), nằm cách huyện lỵ Vĩnh Lộc 2km về phía Tây Nam, cách Thành Nhà Hồ 5km về phía Nam, cách thành phố Thanh Hóa 40km về phía Tây Bắc, gồm có 4 làng là: Thọ Vực, Kỳ Ngãi, Yên Lạc, Phi Bình.

     Xã Vĩnh Ninh có vị trí địa lý khá đặc biệt, là điểm nối phía Đông Nam của huyện Vĩnh Lộc (huyện trung du) với huyện Yên Định (đồng bằng); Ba mặt của xã giáp với sông Mã, mặt còn lại dựa núi. Cùng với khu vực xã Vĩnh Khang (trước đây thuộc Vĩnh Ninh), đây là vùng đất “tụ thủy”, nơi hợp lưu giữa sông Mã và sông Bưởi trước khi chảy về phía Ngã Ba Bông. Trong đánh giá của Trung tâm Di sản thế giới (WHC) đối với hồ sơ khoa học Thành Nhà Hồ đề cử UNESCO, đây là vùng “tiền án” trong cảnh quan cổ của kinh thành Tây Đô cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV.

     Xã Vĩnh Ninh có diện tích tự nhiên 186,16ha. Phía Đông giáp xã Vĩnh Khang và xã Vĩnh Thành, với địa giới 2,2km. Phía Tây, phía Nam và phía Bắc đều giáp sông Mã với chiều dài hơn 5km. Điểm cực Bắc của xã Vĩnh Ninh nằm ở bến Cát, làng Thọ Vực, điểm cực Nam nằm ở bến đò Dọi của làng Phi Bình, điểm cực Đông nằm trên đê sông Mã giáp hai làng Thọ Vực và (xã Vĩnh Ninh) và làng Hà Lương (xã Vĩnh Thành), điểm cực Tây nằm ở bến đò Long Vân thuộc làng Yên Lạc.

     Với những lợi thế được thiên nhiên ưu đãi, Vĩnh Ninh có một vị trí đặc biệt quan trọng, là cửa ngõ phía Nam của huyện Vĩnh Lộc, cửa ngõ của kinh thành Tây Đô bằng cả đường bộ và đường thủy. Từ đây có thể ngược lên phía Bắc thành Tây Đô qua Eo Lê đến Cửa Hà (Cẩm Thủy) có thể ngược đến vùng núi phía Tây của xứ Thanh. Đây đường thượng đạo duy nhất trong nhiều thế kỷ thời trung đại.

     Từ đây, ngược lên Thạch Thành, qua con đường thượng đạo, qua miền núi Thanh Hóa có thể ra Thăng Long, hoặc ngược sông Mã có thể lên miền núi phía Tây, xuôi sông Mã xuống các huyện miền xuôi: Yên Định, Thiệu Hóa, Đông Sơn…

     Xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa là vùng đất cổ, nơi phát hiện ra trống đồng Đông Sơn, đỉnh cao nền văn minh Đông Sơn của người Việt cổ, có niên đại cách ngày nay hơn 2.000 đến 2.500 năm.

     Theo các tài liệu nghiên cứu, từ trong lịch sử vùng đất Vĩnh Ninh luôn thuộc huyện Vĩnh Lộc. Theo tiến trình lịch sử, huyện Vĩnh Lộc đã nhiều lần thay đổi tên địa danh: Thời Hùng Vương, Vĩnh Lộc thuộc bộ Cửu Chân; thời Tần thuộc Tượng Quận; thời Triệu thuộc quận Cửu Chân; thời Hán – Đường thuộc huyện Tư Phố, quận Cửu Chân; đời nhà Tùy thuộc huyện Nhật Nam, châu Ái; thời Lý – Trần vùng đất này mang tên Vĩnh Ninh thuộc phủ (trại, lộ, trấn) Thanh Hóa, Thanh Đô (từ 1397 – 1407); thời thuộc Minh vẫn theo như thế và thuộc phủ Thanh Hóa; đời Lê Quang Thuận (1460-1470) thuộc phủ Thiệu Thiên; đời Lê Trung Hưng vì tránh tên húy vua Lê Trang Tông (1533 – 1548) nên đổi tên Vĩnh Ninh thành Vĩnh Phúc; thời Tây Sơn đổi thành Vĩnh Lộc [2; tr 224 – 232].

    Thời Gia Long năm 1802, huyện Vĩnh Lộc thuộc phủ Thiệu Hóa. Năm Minh Mệnh thứ 16 (1835) lấy 4 huyện Vĩnh Lộc, Cẩm Thủy, Thạch Thành, Quảng Địa lập ra phủ Quảng Hóa (đến đời vua Tự Đức phủ Quảng Hóa mở rộng thêm châu Quan Hóa, nhưng về sau còn lại 3 huyện cũ là Vĩnh Lộc, Thạch Thành, Cẩm Thủy và thêm Yên Định).

     Vào thời nhà Nguyễn (đầu thế kỷ XIX) tổ chức bộ máy hành chính rất chặt chẽ, dưới huyện có các tổng, dưới tổng có các thôn, trang, vạn (sau đổi là xã, có lúc là thôn). Đến đời vua Minh Mệnh (1820 – 1840), đơn vị hành chính huyện Vĩnh Lộc có 7 tổng: Nam Cai, Cao Mật, Ngọ Xá, Hoàng xá, Biện Thượng, Sóc Sơn, Bỉnh Bút. Trong đó tổng Nam Cai có 5 xã: Nam Cai, Hữu Cơ, Thiên Vực, Kỳ Thù, Bất Một. Đến đời vua Đồng Khánh (1886 – 1888) tổng Hoàng Xá được đổi tên thành tổng Thanh Xá. Xã Thiên Vực đổi thành Thọ Vực, xã Hữu Cơ đổi thành xã Hữu Chấp.

     Đầu thế kỷ XX, xã Nam Cai đổi tên thành xã Hồ Nam, xã Bất Một đổi tên thành Phi Bình, xã Kỳ Thù đổi thành xã Kỳ Ngãi, tổng Nam Cai đổi thành tổng Hồ Nam. Do đó các làng Thọ Vực, Kỳ Ngãi, Phi Bình, Hồ Nam, Hữu Chấp đều thuộc tổng Hồ Nam. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, chính quyền cách mạng đã giải thể các tổng và lập ra 15 đơn vị hành chính xã. Trong đó các làng ở tổng Hồ Nam được lập ra 2 xã: xã Quốc Tuấn (gồm các làng Thọ Vực, Kỳ Ngãi, Phi Bình, Yên Lạc), xã Hạnh Phúc (gồm toàn bộ làng Hồ Nam).

     Năm 1947, xã Hạnh Phúc và xã Quốc Tuấn nhập lại thành xã mới có tên là Vĩnh Ninh (xã Vĩnh Ninh có tên từ đó). Năm 1954, xã Vĩnh Ninh lại chia ra hai xã là Vĩnh Ninh và Vĩnh Khang. Xã Vĩnh Ninh mới gồm các làng Thọ Vực, làng Yên Lạc, làng Phi Bình, làng Kỳ Ngãi. Xã Vĩnh Khang gồm làng Hồ Nam.

3 - Vai trò địa hình địa mạo và phong thuỷ của vùng đất Vĩnh Ninh đối với kinh thành Tây Đô

     Về mặt địa hình, vùng đất An Tôn (Vĩnh Lộc) là khu vực chuyển tiếp từ miền núi xuống đồng bằng với các núi đá vôi khá điệp trùng ở phía Tây Bắc, phân bố thưa dần về phía Nam, xen kẽ là các đồi núi thấp, các đồng bằng phù sa cổ được bồi đắp bởi sông Bưởi và sông Mã. Trong địa hình đa dạng đó, nổi lên một vùng đất đồng bằng rộng hàng nghìn ha nằm giữa 2 con sông, ba bề bốn bên đều có núi non tạo nên một vị thế và phong cảnh tuyệt đẹp, đắc địa cho việc chọn đất dựng đô theo quan niệm của thuật phong thủy cổ truyền phương Đông.

     Cùng với khu vực xã Vĩnh Khang (trước đây thuộc Vĩnh Ninh) thì đây là vùng đất “tụ thủy”. Trong đánh giá của Trung tâm Di sản thế giới (WHC) đối với hồ sơ khoa học Thành Nhà Hồ đề cử UNESCO thì đây là vùng cảnh quan môi trường cổ của kinh thành Tây Đô cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV. Là một trong những yếu tố quan trọng trong việc xác định các giá trị nổi bật toàn cầu của di sản thế giới Thành Nhà Hồ.

     Giá trị đó được cụ thể bằng Tiêu chí ii của UNESCO xét công nhận di sản Thành Nhà Hồ: “Thành thể hiện những bước phát triển mới trong phong cách kiến trúc trên phương diện kỹ thuật và qui hoạch đô thị trong môi trường Đông Á và Đông Nam Á, tận dụng triệt để điều kiện thiên nhiên xung quanh và đưa thêm vào các công trình và cảnh quan đô thị của mình những yếu tố riêng biệt của Việt Nam và Đông Nam Á,… một biểu tượng vương quyền tập trung ở thời kỳ cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV” [3].

     Hồ Quý Ly chọn mảnh đất này thay thế cho Thăng Long bởi đây là vùng đất: “Thạch bàn – Long xà” nghĩa là thế đất như bàn đá, có rồng chầu sông Mã, rắn cuốn sông Bưởi. Đây là thế đất đẹp có vị trí bền vững dài lâu.

     Phía Nam Thành Nhà Hồ là nơi hội tụ của dòng sông Mã được ví như “Rồng chầu” từ phía Tây chảy về và sông Bưởi từ phía Đông chảy tới. Sông Mã và sông Bưởi bao quanh rồi tụ thủy ở phía Nam Đốn Sơn làm Minh Đường (sông Mã và sông Bưởi hợp lưu tại xã Vĩnh Khang ngày nay – trước đây là địa phận xã Vĩnh Ninh).

     Sử gia Phan Huy Chú ghi trong Lịch triều Hiến chương loại chí như sau: “Cuối đời Trần, Hồ Quý Ly dời kinh đô đến động An Tôn, huyện Vĩnh Phúc gọi là Tây Đô, đắp thành đào hào, nền móng bền vững. Bên tả bên hữu thành, gần sát núi đá, sông Mã, sông Lương họp lại chảy về phía trước” [4; tr 48].

     Địa thế tự nhiên đã được người xưa lợi dụng và kết hợp với các công trình xây dựng để tạo nên một cảnh quan địa – văn hóa hài hòa với thiên nhiên và đem lại nhiều ích lợi về công năng. Vì thế các yếu tố tự nhiên trong khu vực là một thành phần không thể thiếu của khu di tích.

     Thành Nhà Hồ được xây dựng trên vùng đồng bằng thuộc lưu vực sông Mã (Lỗi Giang) ở phía Tây – Nam và sông Bưởi ở phía Đông – Bắc. Có độ cao trung bình 12,5m so với mực nước biển, dốc dần từ phía Nam lên phía Bắc. Các dãy Xuân Đài, Trác Phong, Nhà Rồng, Tiến Sĩ (xã Vĩnh Ninh)… tạo thành những ngọn núi riêng lẻ hoặc thành dãy có nhiều ngọn trùng điệp án ngữ ở phía Nam tạo thành những bức bình phong bảo vệ từ xa cho trung tâm kinh đô (Tây Đô), đồng thời đảm bảo yếu tố cảnh quan môi trường cho kinh thành.

     Khi khảo sát vùng đất vùng núi Vĩnh Ninh chuyên gia ICOMOS (Trung tâm tư vấn chuyên môn cho Ủy ban Di sản thế giới WHC) đánh giá rất cao vai trò cảnh quan cổ của khu vực này đối với Thành Nhà Hồ. Ở các phía khác: Phía Bắc có những dãy núi đá điệp trùng, ngọn cao nhất là núi Voi (Tượng sơn); phía Đông có núi Chó Đen (Hắc Khuyển); phía Tây được bao bọc bởi dãy núi An Tôn. Phía Tây Nam ven sông mã có dãy núi đất cao là Ngưu Ngoạ (Làng đồn) và dãy Phú Sơn (Làng Phú Lĩnh) Vòng ngoài cùng là dòng sông Mã và sông Bưởi chạy bao quanh bao bọc lấy vùng đất trung tâm của kinh đô xưa.

     Những điều kiện tự nhiên đã mang lại cho vùng đất Vĩnh Ninh một vị trí quan trọng đối với việc thiết kế cảnh quan môi trường của kinh thành Tây Đô, khác biệt với các kinh thành khác cùng thời kỳ ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV. Đúng như đánh giá của sử gia Đặng Xuân Bảng thế kỷ XIX: “Nói về mặt đô hội Thanh Hóa không rộng rãi bằng Thăng Long, còn nói về mặt hình thế thì Thăng Long không hiểm cố bằng Thanh Hóa. Cho nên lập đô dựng nước ngoài Thăng Long không đâu hợp hơn Thanh Hóa” [5, tr 286 – 287].

4 - Vĩnh Ninh cung cấp nguyên liệu đá xây dựng kinh thành Tây Đô

     Đánh giá về kỹ thuật xây dựng đá lớn ở Thành Nhà Hồ, học giả người Pháp L.Bezacier khẳng định: “Ngôi thành này là một trong những mẫu mực độc nhất về việc sử dụng những khối đá vôi to lớn...” [6; tr 84].

     Trước khi Thành Nhà Hồ được UNESCO ghi vào danh mục di sản văn hóa thế giới, đã có rất nhiều ý kiến và giả thuyết về công trường khai thác đá xây dựng Thành Nhà Hồ. Tuy nhiên, tất cả các ý kiến của các nhà nghiên cứu vẫn chỉ ở dạng đoán định, chưa có bằng chứng thực tiễn để chứng minh cho các giả thuyết đều chưa có… Trong đó, đáng chú ý có nhận định của L.Bezacier rằng “Tất cả các khối đá được sử dụng để xây dựng lên di tích tráng lệ này lấy từ một công trường đá cách phía Nam thành vài cây số” [6; tr 83].

     Mặc dù có nhiều ý kiến khẳng định toàn bộ đá xây dựng được lấy từ các núi đá quanh thành, nhưng một vấn đề quan trọng chưa được lý giải chính xác và còn nhiều ý kiến chưa xác định cụ thể, lấy từ núi đá nào gần thành, vì xung quanh thành hiện vẫn còn nhiều dãy núi đá [7; tr 103].

     Tháng 11/2011, trong quá trình nghiên cứu, khảo sát tại khu vực phía Nam và Đông Nam Thành Nhà Hồ, các nhà nghiên cứu đã phát hiện tại núi Xuân Đài, Hí Mã, Nhà Rồng… hàng chục phiến đá đã được khai thác, chế tác tương tự như khu vực núi An Tôn. Các phiến đá này trung bình có kích thước 1,5m x 1,2m, đặc biệt có những phiến dài 2,2m x rộng 1,5m x cao 0,8m. Các phiến đá chủ yếu nằm dưới khu vực sườn núi, hoặc chân núi (đã bị đất vùi lấp, khó phát hiện). Một điều dễ nhận biết là tại các khu vực khảo sát thấy nhiều phiến đá bị bỏ lại dưới sườn hoặc chân núi thì độ cao của núi đã bị thấp đi rất nhiều, các thớ đá xếp theo lớp không còn nhiều, các dấu hiệu của việc bóc tách các khối đá vẫn còn nhiều (các con kê bằng đá vẫn còn kê trên các khối đá đã bóc tách, hoặc ở khe các lớp, thớ đá đang có ý định bóc tách…).

     Theo các thợ đá ở đây thì việc chuyển đá từ trên núi xuống hoàn toàn làm thủ công. Người thợ đẩy khối đá khai thác từ mỏ đá trên núi xuống. Những khối đá lớn có thể được đẩy vỡ thành các khối đá nhỏ hơn. Người ta có thể sử dụng dốc đất theo triền núi để chuyển hoặc tận dụng các cây gỗ lớn để chuyển đá.

     Việc phát hiện được nhiều khối đá đã được chế tác hoàn chỉnh nhưng không rõ vì lí do nào đó mà chúng chưa được vận chuyển đi, điều đó chứng tỏ núi Xuân Đài không chỉ là nơi khai thác mà còn là công trường khai thác đá tương đối hoàn chỉnh để xây dựng Thành Nhà Hồ. Qua các đoạn tường thành bị đổ, có thể quan sát được đất nhồi bên trong tường đá cũng có rất nhiều dăm đá cổ. Trong đợt khai quật di tích chân tường thành phía Nam (tháng 5/2015) cũng tìm được các loại đục bằng sắt để gia công chế tác đá. Điều này cho thấy, mặc dù những khối đá đã được chế tác tương đối hoàn chỉnh từ các công trường khai thác đá và được vận chuyển về đến tòa thành, thì chúng vẫn được gọt đẽo để phù hợp với vị trí mà nó đặt vào. Không ít trường hợp ở tường thành đã có những khối đá được cắt khấc để khớp với những viên đá nối tiếp với nó. Tuy nhiên, việc chế tác hoàn chỉnh hoặc tương đối hoàn chỉnh những khối đá to sẽ giảm bớt trọng lượng không cần thiết khi vận chuyển.

5 – Vĩnh Ninh địa danh có khả năng Khai thác du lịch đối với di sản văn hóa thế giới Thành Nhà Hồ

     Với vị trí địa lý thuận lợi: Là cửa ngõ phía Nam của huyện Vĩnh Lộc trên tuyến đường Quốc lộ 45 (qua cầu Kiểu), đồng thời có sông Mã chảy uốn quanh địa hình, với kho tàng các giá trị vật thể và phi vật thể phong phú, vùng đất Vĩnh Ninh có điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế du lịch gắn liền với di sản thế giới Thành Nhà Hồ. Về đường sông có thể mở tour du lịch từ Vĩnh Ninh dọc theo sông Mã qua xã Vĩnh Thành tham quan các di tích lịch sử văn hóa và làng chài trên sông, rồi đến Vĩnh Tiến tham quan Bến Ngự, chùa Linh Giang rồi lên Vĩnh Yên, Vĩnh Quang thăm các di sản nơi đây. Về đường bộ, có thể mở tour du lịch từ di sản Thành Nhà Hồ, xuống tham quan động Hồ Công, chùa Du Anh, công trường khai thác đá cổ ở núi Xuân Đài – núi Tiến Sĩ… Đây là kế hoạch khả thi và đã được xác định trong quy hoạch tổng thể về phát triển du lịch di sản Thành Nhà Hồ và các di tích phụ cận đã trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt.

     Vĩnh Ninh là xã có diện tích trung bình của huyện Vĩnh Lộc, nằm trong vùng đệm của di sản thế giới Thành Nhà Hồ với 4 làng (thôn), nhưng đã tập trung nhiều di tích, danh lam thắng cảnh đẹp, gắn liền với quá trình phát triển của lịch sử dân tộc, trong đó phải kể đến cụm di tích lịch sử văn hóa Quốc gia chùa Thông – động Hồ Công: Chùa Thông được xây dựng từ thời Trần đang bảo tồn được những hiện vật có giá trị lịch sử văn hóa đặc biệt; Danh thắng động Hồ Công tạo lạc trên núi Xuân Đài, là một trong những động đẹp nhất Việt Nam. Động Hồ Công cách Thành Nhà Hồ khoảng 4,5km về hướng Đông Nam, có chiều dài 45m, rộng 23m, được tạo hóa hình thành kỳ công bởi những tấm đá xanh, vuông xếp chồng lên nhau thành nhiều hình dáng đem đến cho động một vẻ đẹp kỳ bí.

     Hiện trong động đang lưu giữ được hơn 20 bài thơ bằng chữ Hán Nôm khắc trên vách đá của các bậc vua, chúa, danh nhân, tao nhân mặc khách ca ngợi con người, lịch sử và cảnh đẹp của vùng đất Tây Đô (như các bài thơ của: Lê Thánh Tông, Lê Nhân Tông, Trịnh Sâm…).

     Ngoài ra, Vĩnh Ninh là một trong những địa phương trong vùng đệm di sản thế giới Thành Nhà Hồ có kho tàng phi vật thể đa dạng phong phú, tạo nên vẻ đẹp của làng quê thuần nông, giàu truyền thống, một thời từng là vùng trung tâm kinh đô của cả nước. Các phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng, lễ hội truyền thống, sản vật địa phương… vừa có nét chung của các làng quê khác, lại vừa có nét đặc trưng riêng có ở vùng đất Vĩnh Ninh yên bình, thơ mộng êm ả bên dòng Mã giang đã đi vào thi ca dân tộc. Đây là những điều kiện quan trọng để phát triển du lịch của huyện Vĩnh Lộc theo hướng lấy Thành Nhà Hồ làm trung tâm.

   Xã Vĩnh Ninh thuộc vùng đệm của di sản Thành Nhà Hồ, chứa đựng tất cả các giá trị văn hóa, lịch sử, cảnh quan, sông hồ, hang động, kiến trúc liên quan đến triều đại và di sản Thành Nhà Hồ. Với những lợi thế về vị trí, cảnh quan, được thiên nhiên ưu đãi, Vĩnh Ninh có vị trí quan trọng đối với kinh đô Tây Đô trước đây và di sản thế giới Thành Nhà Hồ ngày nay. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vị trí, cảnh quan của vùng đất An Tôn (Vĩnh Lộc ngày nay) đối với việc hình thành kinh đô nhà Hồ và vương triều Hồ trong lịch sử, tuy nhiên, về vùng đất Vĩnh Ninh với Kinh thành Tây Đô, thì cho đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu chuyên biệt. Bài viết này sẽ bổ sung những tư liệu có ý nghĩa quan trọng đối với công tác quy hoạch, quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa thế giới Thành Nhà Hồ.

Nguồn nghiên cứu lịch sử thành Nhà Hồ

Thứ Sáu, 26 tháng 1, 2024

Nhà Lê Trung hưng không dùng Thành nhà Hồ là nơi đóng đô hay đóng quân đồn trú

Sa thương trực lộ

Cuối nước đầu non


TẠI SAO NAM TRIỀU NGUYỄN KIM – TRỊNH KIỂM LẬP HÀNH CUNG CHỐNG NHÀ MẠC Ở LÀO 13 NĂM Ở THANH HOÁ 47 NĂM NHƯNG KHÔNG CHỌN ĐÓNG ĐÔ Ở THÀNH NHÀ HỒ MÀ LẠI ĐÓNG ĐÔ Ở SÁCH VẠN LẠI THỌ XUÂN – PHẢI CHĂNG LÀ DO PHONG THUỶ:

Nhà Lê Sau khi bị nhà Mạc cướp ngôi có Nguyễn Kim. Viên cựu thần triều Lê quê ở trang Gia Miêu ngoại, huyện Tống Sơn (Thanh Hoá). Năm 1530 Ông đã chọn vùng Sầm Châu (Ai Lao) làm căn cứ để tập hợp và gây dựng lực lượng, tôn phò Lê Duy Ninh lên ngôi ở Ai Lao vào năm 1533. Từ năm 1533 – 1545 Nhà Lê Nam Triều đóng đô ở Lào; Năm 1546 dời đô về Sách Vạn Lại – Thọ Xuân – Thanh Hoá, đến năm 1592 đánh đổ Nhà Nạc chiếm Lại Thăng Long; Trong suốt 60 năm chiến tranh với Nhà Mạc nhà Lê Trung Hưng đóng đô ở Thanh Hoá 47 nhưng tuyệt nhiên không đóng đô ở Thành Nhà Hồ có lẽ vì lý do phong thuỷ được người đời trước và sau triều Hồ Nhìn nhận:

+ Địa giới: Nằm trên địa phận xã Vĩnh Long, Vĩnh Tiến (Trước đây là đất của Động An Tôn) huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá, thành nhà Hồ là chứng tích về sự tồn tại của kinh đô nước Đại Ngu – quốc hiệu Việt Nam thời nhà Hồ. Xung quanh tòa thành này có một giai thoại phong thủy được dân gian lưu truyền bấy lâu nay.

Theo sách "Thành nhà Hồ và những câu chuyện xây thành đắp lũy", khi chọn đất đóng đô, Hồ Quý Ly đã cho các thầy phong thủy tìm long mạch rất cẩn thận. Xem khắp các vùng trong nước, sau cùng ông lựa chọn động An Tôn làm nơi xây đô thành cho triều đại của mình.

Theo tính toán của Hồ Quý Ly, đất này là một vùng đất tốt có hình như quả ấn của trời, lại có long mạch dài hàng ngàn cây số là con sông Mã. Xung quanh lại có nhiều “tiểu long”chầu vào long mạch chủ.

Thực vậy, từ trên thành nhà Hồ mà ngắm nhìn phong cảnh xung quanh cũng dễ dàng nhận ra cảnh quan hùng vĩ, địa thế hiểm trở của vùng này. Bên ngoài có nhiều dãy núi vòng cung bao bọc vây kín bốn phương tám hướng.

Vòng trong có sông Mã, sông Bưởi lượn tròn như những chiến hào tự nhiên vây quanh. Ở trong cùng, một khu đất nổi lên như cái ấn của Trời đặt ở đó. Bên trên là vòm trời xanh được ví như chiếc lọng che cho cái ấn thật huyền

Sông Mã được xem như long mạch của thế đất này bắt nguồn từ vùng biên giới Việt - Lào. Uốn lượn như rồng, dòng sông này chảy qua địa phận tỉnh Sơn La rồi chảy sang nước bạn Lào và trở lại đất Việt ở Thanh Hóa.

Con sông này lại có nhiều chi giang đổ vào như sông Luồng, sông Lò, sông Âm, sông Chu, sông Bưởi… Mỗi chi giang này được xem như một chi long mạch hợp vào long tổ.

Hồ Quý Ly khi cho xây thành ở đất này đã rất tâm đắc, ông nói với các con mình rằng: "Đất này là đất Thạch bàn long xà lục thập niên ký". Nghĩa là “thế đất rồng chầu, rắn cuốn vững như bàn thạch có thể trụ được 60 năm”.

Tuy nhiên, con trai thứ của Hồ Quý Ly là Hồ Hán Thương lại có ý kiến khác. Tương truyền, lúc đó Hán Thương tuy còn trẻ tuổi nhưng đã khá am tường môn phong thủy, khi xem thế đất chọn xây thành đã nhận ra điều không ổn.

Hồ Hán Thương đã tâu với vua cha rằng: Quỹ đất này đúng là đất rồng chầu, rắn cuốn nhưng đất còn non nên chỉ gọi là “Long, xà ẩm thủy - Lục niên ký chủ”, nghĩa là “Nơi rồng rắn hút nước, ở được trên dưới 6 năm”.

Có lời kể rằng Khu mật chủ sự Nguyễn Nhữ Thuyết cũng dâng thư can vua: “An Tôn là vùng đất hẻo lánh, cuối nước đầu non chỉ hợp với loạn mà không hợp với trị”. (Đầu Non là Tượng Sơn (Núi Voi ở phía Bắc Thành); Cuối nước là nơi hợp lưu sông Bưởi và sông Mã tại địa phận làng Hồ Nam xã Vĩnh Khang)

+ Về Sơn: Hồ Quý Ly đã phớt lờ tất cả những lời can gián. Cuối cùng, sự tồn tại ngắn ngủi của vương triều Hồ từ năm 1400–1407 đã ứng với lời “tiên tri” của Hồ Hán Thương và Nguyễn Nhữ Thuyết...

Khi chọn vị trí xây thành, Hồ Quý Ly đã chọn núi Đốn Sơn làm án (địa phương gọi là núi Đún). Núi Đún sơn nằm chính diện cửa Ngọ Môn, cách khoàng 2,5km. Hồ Quý Ly đã cho đắp 1 con đường chạy thẳng từ chính diện cửa Ngọ Môn lên Đốn Sơn, và trên núi đặt đàn tế Nam Giao. Tuy nhiên, núi Đốn sơn thế vốn nằm dọc, như một mũi tên nhọn chiếu thằng vào cửa Ngọ Môn. Trong địa lý, kỵ nhất là “thương sa, trực lộ”, tức là sa sơn như mũi thương đâm thẳng vào, đường đi xuyên thẳng vào trung tâm. Cả 2 điều đó Hồ Quý Ly đều vấp phải. Điều này tạo nên một thế xung sát rất mạnh, nguyên nhân của đại họa diệt vong sau này.

+ Về thủy, đây là chỗ hợp lưu của 2 con sông : Sông Mã và Sông Bưởi. Sông Mã bắt nguồn từ hệ thống chi lưu ở khu vực Vân Nam, hợp nhau tại bên Lào rồi đổ vào đất Việt từ địa phận tỉnh Sơn La. Sông Bưởi bắt nguồn từ khu vực Cao Phong Hòa Bình, hai dòng sông hộ tống thủy này khí thế đều mạnh mẽ, sông Mã nổi tiếng với khí thế hung hãn, nhiều vực sâu thác lớn. Khi về đến khu vực thành thì uốn lượn, bồi đắp nên một vùng đồng bằng trù phú.

Hồ Quý Ly cho rằng như thế mới có khí thế hùng mạnh. Nhưng trong địa lý, thì Thủy quý ở chỗ thanh kỳ khuất khúc mà hiền hòa chậm rãi, còn nếu quá cương mãnh thì mang hung khí đến, không phải cát địa. Và căn cứ vào vị trí hợp lưu của sông Mã và Sông Bưởi, Hồ Quý Ly cho rằng đó là nơi hợp thủy, khí mạch ắt sẽ tụ lại, và chọn đất ấy đặt thành là hợp cách.

Tuy nhiên, trên địa hình thực tế, dòng sông Mã tại đây 2 lần chuyển mình, lần thứ nhất tại khúc sông phía trên thành, chỗ đầu núi Voi. Sau khi chuyển mình, do khí thế còn quá sung mãn, nên tiếp tục lao xuống và chuyển mình uốn khúc lần thứ hai tại khu vực thị trấn Vĩnh Lộc ngày nay, đó là phía dưới chỗ đặt thành, và thành nằm giữa hai đoạn uốn khúc này. Như vậy, xét về mặt địa lý, thì vị trí đặt thành chưa phải là nơi đắc địa. Bởi lẽ, chỗ đặt thành hiện tại, khí mạch vẫn chưa dừng, chưa đáp ứng được yêu cầu “long đình, khí chỉ”, tức là thành vẫn nằm trên “hành long”. Nếu vậy, vị trí mà Hồ Quý Ly chọn thuộc thế Kỵ Long, là đất không thể định đô, vì thế Kỵ Long vốn là kỳ địa, rất hiếm khi ổn định, chỉ thích hợp với việc xây đền miếu, mà không thích hợp cho việc làm đô thị dương cơ.

+ Về sa, thì sa sơn ở đây tản mát, long hổ không chầu, không bao bọc được cho trung tâm. Quan sơn (trước huyệt trường) thì thấp nhỏ, mà Quỷ sơn (sau huyệt trường) thì lại cao lớn và quá nhiều sát khí.

Một vị trí mà thế mạch vốn dĩ đã khẩn yếu, lại thuộc thế Kỵ Long, sa sơn đã tản mát mà lại hung hãn lao vào chính huyệt, án sơn là núi Đốn cũng thấp nhỏ, hình thế như mũi thương lao thẳng vào Đoan môn. Cho nên, có thể kết luận một điều rằng, đất này không thể là cát địa, lại càng không thể là nơi đế đô muôn đời được. Lịch sử đã chứng minh, triều Hồ diệt vong chỉ trong vòng 7 năm sau khi lên ngôi và thiên đô vào đất này.

Một nhầm lẫn lớn trong cách nhìn nhận của Hồ Quý Ly về thế đất nơi đây. Đó là ông cho rằng vị trí hợp lưu của 2 con sông sẽ là nơi khí mạch tụ lại, bất chấp lời can gián của các học giả, thậm chí bỏ ngoài tai cả lời nhận xét của con trai mình. Thực tế thì cho thấy, khí mạch của nơi đây vốn phát tích từ Vân Nam, nếu cho rằng dòng sông Mã dẫn khí mạch xa ngàn dặm về, đóng vai trò hộ tống thủy thì đúng. Nhưng còn dòng sông Bưởi, là dòng sông nhỏ, chạy bên đất Hòa Bình đổ xuống, bản thân nó chỉ là một chi lưu cuối nguồn của sông Mã, mà nhất định không phải là hộ tống thủy. Bởi vậy, Nguyễn Nhữ Thuyết, Hồ Hán Thương đều là những người am tường địa lý mới nhận xét rằng đó chỉ là nơi “đầu non cuối nước”, không phải nơi thịnh vượng.

Sưu Tầm từ nhiều nguồn sử liệu

Thứ Sáu, 27 tháng 10, 2023

Quân Minh chuẩn bị xâm lăng Đại Việt 1406: Lịch Sử Việt Nam Thời Tự Chủ- Bài 55

Quân Minh chuẩn bị xâm lăng: Kế hoạch tổng quát.

Hồ Bạch Thảo

Minh Thái Tông xua quân xâm lăng, với dã tâm vĩnh viễn đặt nước ta dưới ách cai trị; nên cử rất nhiều quan lại, như bọn Tham chính Vương Bình đi kèm với đoàn quân Chu Năng; liệu tính chiếm cứ được chỗ nào thì sẵn sàng cai trị chỗ đó:

“Ngày 18 tháng 7 năm Vĩnh Lạc thứ 4 [1/8/1406]. Sai bọn Tham chính Phúc Kiến Vương Bình theo Thành quốc công Chu Năng đến An Nam làm việc. Từ nay, phàm những nhân tài có thể đảm nhiệm được chức vụ được lần lượt sai đi.” (Minh Thực Lục Quan hệ Trung Quốc Việt Nam, tập 1, trang 230 ) 

Với nhu cầu đòi hỏi nhiều nhân lực, nhà Vua ra lệnh các quan văn võ có tội, cho phép đi theo đoàn viễn chinh để lập công chuộc tội:

“Ngày 12 tháng 5 năm Vĩnh Lạc thứ 4 [29/5/1406]. Ðô chỉ huy Từ Chính Hà Nam có tội, bị biếm trích tòng chinh An Nam để lập công chuộc tội.” (Minh Thực Lục Quan hệ Trung Quốc Việt Nam, tập 1, trang 221)

“Ngày 13 tháng 5 năm Vĩnh Lạc thứ 4 [ 30/5/ 1406 ]. Phục chức Tả Tham chính Trử Ngẩu, Tả Tham chính Tô Cung thuộc ty Bố chánh Giao Chỉ.Trước đây hai người phạm tội; Ngẩu bị giáng xuống Tả Tham nghị, Cung giáng làm Viên Ngoại lang bộ Hộ. Nay dùng binh tại An Nam, cần cung cấp nhiều quân nhu, Quảng Tây tâu rằng bọn Ngẩu lo việc này, nên cho trở lại chức cũ.” (Minh Thực Lục Quan hệ Trung Quốc Việt Nam, tập 1, trang 221)

Kẻ đào thoát nhà Hồ, như Bùi Bá Kỳ, được ban áo mũ, theo đại quân trở về nước:

“Ngày 18 tháng 5 năm Vĩnh Lạc thứ 4 [4/6/1406]. Ban cho Bùi Bá Kỳ người An Nam mũ và dây đai. Mệnh theo đại quân Nam chinh.” ( Minh Thực Lục Quan hệ Trung Quốc Việt Nam, tập 1, trang 222)

Nhắm mua chuộc người nước ta trong bước đầu cai trị, Minh Thái Tông ra lệnh không giết những người ra hàng, và tha những tù nhân bị nhà Hồ bắt:

“Ngày 25 tháng 7 năm Vĩnh Lạc thứ 4 [8/8/1406]. Sắc dụ quan Tổng binh chinh phạt An Nam Thành quốc công Chu Năng 

 ‘ Sau khi quân khắc phục An Nam, phàm những người trong nước trước đó bị giặc họ Lê bắt đều được thả cho về.” (Minh Thực Lục Quan hệ Trung Quốc Việt Nam, tập 1, trang 230)

“Ngày 16 tháng 9 năm Vĩnh Lạc thứ 4 [27/10/1406]. Sắc dụ bọn Chinh thảo An Nam quan Tổng binh Thành quốc công Chu Năng rằng việc trong quân đã có sắc dụ dự liệu đầy đủ, các ngươi nên cân nhắc kỹ mà thi hành. Khi lâm địch, nếu bọn chúng cầm quân chống cự thì giết không tha; nếu đầu hàng, xin qui phục cùng trốn tránh thì đừng giết, thể theo lòng thương người của ta.” (Minh Thực Lục Quan hệ Trung Quốc Việt Nam, tập 1, trang 235)

Ngày 2 tháng 7 nhuần năm Vĩnh Lạc thứ 4 [15/8/1406] Minh Thái Tông ban sắc dụ cho Thành quốc công Chu Năng, về cách xử trí đối với thư tịch, bản đồ tịch thu tại An Nam, như sau:

“Sắc dụ chinh thảo An Nam quan Tổng binh Thành quốc công Chu Năng:

‘Quân vào An Nam đánh chiếm các quận ấp, phàm tịch thu được thư tịch, bản đồ, đều không được hủy.” (Minh Thực Lục Quan hệ Trung Quốc Việt Nam, tập 1, trang 231)

Về việc tịch thu sách, một số nhà nghiên cứu trong nước, dùng sử liệu từ sách Việt Kiệu Thư [越峤书] của Lý Văn Phượng thời Gia Tĩnh triều Minh, trưng một sắc dụ khác cho là của Minh Thành Tổ [tức Minh Thái Tông được suy tôn là Thành Tổ thời Gia Tĩnh] đề ngày 8 tháng 7 nhuần năm Vĩnh Lạc thứ 4 [21/8/1406], nguyên văn như sau:

兵 入 。除 釋 道 經 板 經 文 不 燬 。外 一 切 書 板 文 字 以 至 俚 俗 童 蒙 所 習 。如 上 大 人 丘 乙 已 之 類 。片 紙 隻 字 悉 皆 燬 之 。其 境 內 中 國 所 立 碑 刻 則 存 之 。 但 是 安 南 所 立 者 悉 壞 之 。 一 字 不 存.

(Khi quân vào, trừ các kinh sách Thích, Đạo thì không hủy; ngoài ra mọi thư tịch văn tự cho đến những câu nhà quê, sách dạy trẻ, như loại văn “Thượng đại nhân, Khâu ất dĩ” (1); thì một tờ giấy, một chữ đều hủy. Trong nước có bia do Trung Quốc lập thì lưu giữ, nhưng do An Nam lập thì hủy hoại, một chữ cũng không giữ.).

Hai sử liệu nêu trên, nội dung tương phản với nhau, bởi vậy nhà nghiên cứu cần dùng phương pháp khoa học để chứng minh sử liệu nào đáng tin cậy hơn. Phương pháp chúng tôi sử dụng, trước tiên đánh giá nguồn sử liệu, theo mẫu tự A,B,C,D; kế đến cân nhắc giá trị của sử liệu theo số thứ tự 1,2,3,4.

Về đánh giá nguồn sử liệu; hãy xét đến sử liệu thứ nhất, xuất xứ từ Minh Thực Lục, sách này được biên soạn bởi những nguồn tài liệu sau đây : 

Khởi Cư Chú (起 居 注) tức nhật ký ghi lại việc làm cùng lúc nghỉ ngơi của nhà vua. Truyền thống này bắt nguồn từ thời nhà Chu [-1100-221], do quan Tả sử chép lời, Hữu sử chép việc; nhiệm vụ ghi lại lời nói và việc làm của nhà vua trong triều.

Nhật lịch (日 曆) ghi chép sự việc hàng ngày theo trình tự thời gian.

Các văn kiện chính thức được thu thập từ chiếu dụ của Vua; cùng tấu, biểu của các quan và các nước chư hầu.

Sau khi vị Vua đương nhiệm mất, Sử quan có nhiệm vụ tổng hợp tài liệu để hoàn thành Thực Lục cho đời Vua này; việc làm được giám sát bởi quan Trung Thư tỉnh và Ngự sử. Bộ sử lúc làm xong chỉ chép thành hai bản; một bản dành cho Vua, để trong nội cung ; bản thứ hai dành cho các quan Đại thần cất tại nội các, dùng để tham khảo. Qua những điều đã trình bày, khẳng định Minh Thực Lục là chánh sử, độ tin cậy cao, đáng xếp vào loại A.

Nguồn cung cấp cho sử liệu thứ hai là Việt Kiệu Thư; trang mạng Bách Khoa của Trung Quốc [baike.com] giới thiệu sách này và thân thế tác giả Lý Văn Phượng như sau:

《越峤书》明李文凤撰。文凤字廷仪,宜山人。嘉靖壬辰进士,官至云南按察司佥事。是书皆记安南事迹,朱彝尊《曝书亭集》有《越峤书跋》,称为有伦有要,於彼国山川、郡邑、风俗、制度、物产,以及书诏、制敕、移文、表奏之属,无不备载。而建置兴废之故,亦皆编次详明。然大致以黎崱《安南志略》为蓝本,益以洪武至嘉靖事耳。

(Sách Việt Kiệu Thư do Lý Văn Phượng đời Minh soạn. Văn Phượng tự là Đình Nghi, người đất Nghi Sơn, đậu Tiến sĩ năm Nhâm Thìn đời Gia Tĩnh [1532], làm quan đến chức Án sát ty thiêm sự tỉnh Vân Nam. Sách này đều chép sự tích về An Nam. Chu Di Tôn trong sách Bao Thư Đình Tập có ghi lời bạt sách Việt Kiệu Thư;cho rằng sách có trình tự, chép điều quan yếu về sông núi, quận ấp, phong tục, chế độ, sản vật; cùng chiếu thư, chế sắc, di văn, biểu tấu các loại đều ghi đầy đủ; còn nguyên nhân kiến trí hưng phê cũng biên rành rẽ. Tuy nhiên phần lớn sách dùng An Nam Chí Lược của Lê Trắc làm lam bản [bản gốc làm căn cứ]; cộng thêm sự việc từ thời Hồng Vũ [Minh Thái Tổ] đến thời Gia Tĩnh [Minh Thế Tổ].)

Qua những lời giới thiệu sách, thấy rằng Việt Kiệu Thư là dã sử do tư nhân làm ra, tư liệu thu thập từ dân chúng, chứ không phải từ Khởi Cư Chú, Nhật Lịch, là nguồn phát xuất ra sắc dụ; tác giả sống cách xa lúc xãy ra sự việc, đến khoảng 130 năm. Với những yếu tố này, đáng đánh giá nguồn sử liệu của tư liệu trong sách Việt Kiệu Thư vào loại B.

Công việc thứ hai là tìm hiểu giá trị của sử liệu. Sắc dụ trong Minh Thực Lục  ra lệnh “tịch thu được thư tịch, bản đồ, đều không được hủy”; xin nêu lên một vài bằng cứ chứng minh một số tư liệu xưa, chưa hủy:

– Trong sắc dụ thành lập các phủ, huyện vào ngày 1 tháng 6 năm Vĩnh Lạc thứ 5 [5/7/1407], nhà Minh đã dựa vào địa lý chí An Nam thời Trần Hồ, đổi 38 địa danh hàm ý độc lập tự chủ, như phủ Long Hưng đổi thành Trấn Man; ngoài ra vẫn giữ nguyên tên 15 phủ và hàng trăm huỷện. Làm được việc này, họ phài có tư liệu về địa lý chí thời Trần Hồ trong tay; đó là bằng cứ thư tịch không hủy. Chính Học giả Đào Duy Anh đã tham khảo tư liệu này để soạn địa lý chí thời Trần Hồ trong sách Đất Nước Việt Nam Qua Các Đời.

-Lại cần phải nói thêm, bộ Việt Sử Lược [越史略] hoàn thành tại nước ta vào cuối đời Trần vẫn được Tứ Khố Toàn Thư Trung Quốc lưu giữ. Thực tế tại trong nước, các bia đá thời Lý, Trần còn lưu lại không ít. 

Những bằng chứng đã trình bày, có thể xếp giá trị sử liệu về ” thư tịch, bản đồ, đều không được hủy” vào loại 1.

Với những bằng chứng nêu trên, đương nhiên phủ nhận sứ liệu “mọi thư tịch văn tự cho đến những câu nhà quê, sách dạy trẻ, như loại văn “Thượng đại nhân, Khâu ất dĩ”; thì một tờ giấy, một chữ đều hủy.” ghi trong Việt Kiệu Thư là không có cơ sở. 

Đáng buồn cho Lý Văn Phượng, một khoa bảng triều Minh, nhưng không hiểu rõ lịch sử về triều đại này. Về mặt tàn ác, Minh Thái Tông vượt cả Tần Thủy Hoàng; về việc giết người, nhà Tần chỉ mới tru di đến 7 họ; riêng Minh Thái Tông chiếm kỷ lục tru di đến 10 họ; trang mạng wikipedia.org/wiki/族誅 chép như sau:

史上唯一一次“诛十族”的记载发生于中国明朝。明成祖朱棣誅方孝孺十族事件:燕王朱棣發動靖難之變,奪其侄子明惠帝的天子寶座,入主金陵。朱棣登基,命忠於皇室的方孝孺起草即位詔書。方孝孺不但寧死不從,更予以辱罵,於詔書上寫上「燕賊篡位」四字。朱棣怒以誅九族威嚇之。方孝孺卻訕笑似地說:「便十族奈我何!」朱棣便把其門生朋友歸入第十族,連同原來九族一併誅殺。最終共誅殺八百七十三人,

(Lịch sử Trung Quốc chỉ ghi 1 lần tru di thập tộc [giết 10 họ]; sự việc xãy ra dưới triều Minh; đó là sự kiện Minh Thành Tổ Chu Lệ tru di 10 họ Phương Hiếu Nhụ. Bấy giờ Yên vương Chu Lệ phát động binh biến đoạt ngôi Vua của cháu là Huệ Đế, vào làm chủ Kim Lăng. Khi Chu Lệ giữ ngai vàng, bèn sai trung thần Phương Hiếu Nhụ soạn chiếu thư lên ngôi. Phương Hiếu Nhụ không những chịu chết không tuân, lại còn nhục mạ bằng cách viết lên chiếu thư 4 chữ “Giặc Yên soán ngôi”. Chu Lệ giận, doạ tru di 9 họ; Phương Hiếu Nhụ bèn cười ngạo rằng:

‘Giết 10 họ cũng chẳng ăn nhằm gì!’

Chu Lệ bèn nghĩ ra cách, lấy bạn bè cuả học trò làm họ thứ 10; cộng thêm nguyên lai 9 họ; đều đem ra giết. Tổng kết tru giết 873 người.) 

Một ông Vua hiếu sát như vậy, một khi ra lệnh, trên dưới đều phải răm rắp tuân theo. Ngay cả Tổng binh Trương Phụ, người chiếm công đầu trong chiến tranh An Nam; nhận lệnh Thái Tông, 4 lần lặn lội từ hai nước Hoa, Việt; đi về đường xa xôi vạn dặm, mà không dám có một lời than thở. Thế mà trong Việt Kiệu Thư sắc chỉ đề ngày 10 tháng 5 năm Vĩnh Lạc thứ 5 (15 – 6 – 1407), lại có hiện tượng “Nay nghe trong quân tìm được văn tự, mà không ra lệnh quân lính đốt hủy” (今 聞 軍 中 所 得 文 字 不 即 令 軍 人 焚 毀). Rồi nhà Vua lại ôn tồn bảo phải hủy đi “Các ngươi ngày nay nên làm như sắc dụ trước; lệnh trong quân tại xứ đó nếu bắt gặp thư tịch văn tự thì lập tức hủy, không được lưu giữ ” (爾 今 宜 一 如 前 敕 。號 令 軍 中 但 遇 彼 處 所 有 一 應 文 字 即 便 焚 毀 。 毋 得 存 留).

Thử hỏi Minh Thái Tông nỗi tiếng độc tài, có lẽ nào năm Vĩnh Lạc thứ 4 [1406] ra lệnh hủy sách,mà đến năm thứ 5 [1407] kẻ dưới quyền vẫn chưa chịu hủy? Sau khi biết không chịu hủy, lại để yên, không trừng phạt tru di 10 họ như đã làm, thì lại càng lạ hơn!

Qua phân tích, thấy được giá trị sử liệu về việc đốt sách ghi trong Việt Kiệu Thư chỉ nên xếp vào loại 3 thôi. Tổng kết nguồn tư liệu trong Minh Thực Lục được đánh giá A1, tư liệu trong Việt Kiệu Thư chỉ đánh giá B3; nhà nghiên cứu chỉ biết dựa vào khoa học mà chọn lựa!

Cũng cần nói thêm, việc tịch thu, giữ kín thư tịch văn hóa nước ta, là điều thâm hiểm muôn đời. Đòi hỏi các nhà nghiên cứu yêu nước, cần rà soát các thư viện, viện bảo tàng khắp thế giới, lần lượt tìm tòi cho ra; vì không chỉ thư tịch dấu tại Trung Quốc, trong thời Bát quốc liên quân vào chiếm Bắc Kinh, cũng đã mang một số lượng không nhỏ ra nước ngoài. 

Trở lại vấn đề, cuộc hành quân xâm lăng An Nam, Minh Thái Tông đã hoạch định sẵn nhật kỳ; thượng tuần tháng 10 vào biên giới, thượng tuần tháng 11 tổng tấn công phía bắc sông Hồng. Nhắm hoàn thành kế hoạch, Thái Tông ân cần dặn dò Tây bình hầu Mộc Thạnh luôn luôn giữ hòa khí với chủ tướng, báo cáo rõ ràng để tránh hiểu lầm:

“Ngày 6 tháng 7 năm Vĩnh Lạc thứ 4[20/7/1406]. Sắc dụ Phó Tướng quân chinh thảo An Nam Tây Bình hầu Mộc Thạnh:

‘Cổ nhân dạy rằng quân thắng nhờ nội bộ hòa, bởi vậy quân môn được gọi là hòa môn. Ngươi giữ chức Phó Tổng Chỉ huy, tùy cơ nghi, xét tình thế, không trở ngại thì có quyền điều động. Nếu quan Tổng binh mưu tính từ xa, vô tình gây trở ngại cho cánh quân của ngươi, hoặc giả bọn ngươi đang giao tranh với giặc, hay đường sá tắc nghẽn thế không đến được, thì phải báo cáo rõ ràng, không được cố tình vi phạm để đến nỗi tổn thương hòa khí. Tướng soái bất hòa là con đường dẫn đến thất bại, ngươi nên cẩn thận!” (Minh Thực Lục Quan hệ Trung Quốc Việt Nam, tập 1, trang 227)

Về phía chủ tướng Thành quốc công Chu Năng, Thái Tông dặn phải hết sức cẩn thận, lúc chưa phối hợp được với đạo quân Vân Nam: chớ mắc mưu, thọc sâu nguy hiểm; hoặc nghe lời dụ dỗ nạp cống, rồi lơ là bị địch đánh úp:

“ Ngày 10 tháng 7 năm Vĩnh Lạc thứ 4 [24/7/1406].Dụ  bọn chinh thảo An Nam  quan Tổng binh bọn Thành quốc công Chu Năng rằng:

‘ Nay quân của ngươi từ Quảng Tây, cùng với quân của Tả Tướng quân Mộc Thạnh từ Vân Nam vào đánh, hai quân cần phải hợp lực để bình định cho xong. Nếu giặc thừa lúc hai đạo quân chưa gộp lại được, tìm cách ngăn trở bằng cách dùng lợi nhỏ để dụ, quân ta tự thị dõng mạnh lại tham, để quân đơn độc thọc sâu, đó là con đường nguy hiểm! Hoặc bọn giặc làm bộ qui phục xin nạp khoản (2) để làm giải đãi lòng quân; nhưng bí mật đặt mưu riêng như đánh úp, cậy hiểm đặt quân mai phục; nhắm vào chổ ta không liệu tính được; hoặc bỏ thuốc độc vào thực phẩm nước uống đợi lúc quân ta đói khát. Mưu giặc quỉ quyệt ngàn phương vạn lối, không thể không cẩn thận. Tuy nói rằng quân Vương giả điếu dân phạt tội hành động chính đáng; nhưng đừng như Tống Tương công [đời Đông Chu] tự cho mình là nhân nghĩa, nước khác không thể dùng chước lạ mà đánh được, rốt cuộc bị bại vong. Bọn các ngươi hãy thận trọng, tùy cơ ứng biến, chọn điều lợi mà làm, ta không xen vào để ngăn cản. Sắc cho Tả Tướng quân Tây bình hầu Mộc Thạnh cùng biết.” (Minh Thực Lục quan hệ Trung Quốc Việt Nam, tập 1, trang 227)

Thái Tông lại căn dặn Tây bình hầu Mộc Thạnh tìm cách liên lạc với đạo quân Quảng Tây, để tiến cùng nhịp độ; lúc chưa phối hợp được với lực lượng bạn, quân cô cần tránh giao tranh:            

“Ngày 16 tháng 7 năm Vĩnh Lạc thứ 4 [30/7/1406]

Sắc dụ chinh thảo An Nam Tả Phó Tướng quân Tây bình hầu Mộc Thạnh rằng:

‘Ngày hôm nay đạo quân của Tổng binh Thành quốc công Chu Năng đã khởi hành; định vào thượng tuần tháng mười từ Bằng Tường (3) Quảng Tây tiến quân vào ải Pha Lủy (4) , Kê Lăng; thượng tuần tháng 11 vượt sông Phú Lương [Hồng Hà]. Xem bản đồ tình hình giặc, quân ngươi gần với Tây Đô (5) của giặc hơn, sợ thừa cơ thuận tiện chúng đánh quân ngươi trước, nên phải liệu khi quân của Thành quốc công gần, mới tiến theo nhịp độ nhanh chậm, yểm trợ lẫn nhau, hoặc do đường khác đến ngay phía bắc sông Phú Lương, rồi hai quân gộp lại cũng là một cách; nhưng phải tiên liệu hành trình, ước tính kỳ hẹn rồi báo trước cho Thành quốc công hay. Nếu gặp chổ hiểm yếu, giặc dùng khinh binh khiêu chiến, thì cứ án binh bất động; trường hợp quân ta bất đắc dĩ phải đối địch với binh lực lớn của giặc, thì phải cảnh giác cẩn thận, nhắm bảo toàn lực lượng.” (Minh Thực Lục quan hệ Trung Quốc Việt Nam, tập 1, trang 229)

Trái với các cuộc chiến tranh xâm lược từ thời Minh trở về trước, quân Trung Quốc có khuynh hướng dồn nỗ lực tại Bắc Ninh, vượt sông, đánh kinh thành Thăng Long. Lần này Minh Thái Tông chủ trương đem quân nhỏ đánh nhử tại Gia Lâm, dùng nỗ lực chính tập trung 2 đạo quân Quảng Tây, Vân Nam đánh dứt điểm thành Đa Bang tại tỉnh Sơn Tây:

“Ngày 1 tháng 8 năm Vĩnh Lạc thứ 4 [12/9/1406]. Sắc dụ chinh thảo An Nam  bọn quan Tổng Binh Thành quốc công Chu Năng:

“An Nam là chốn cùng tịch nơi góc biển, xưa là quận huyện của Trung Quốc; từ đời Ngũ Quí trở về sau Trung Quốc lắm việc nên không chế ngự được. Đến đời Tống, Nguyên, chúng thường bội nghịch; đã dùng binh thôn tính, nhưng không thành công. Nay giặc họ Lê nghịch mệnh; Trẫm ra lệnh các ngươi mang binh thảo phạt, hãy định ngày thành công. Sở dĩ Tống, Nguyên trước kia vô công vì tướng kiêu, lính lười, tham của, hiếu sắc; các ngươi phải lấy đó làm răn.

Sông Phú Lương [Hồng Hà] gần thành Đông Đô của giặc, chúng ắt phải cố thủ; quân ta vào sâu lòng địch khó có thể dùng lối đánh dằng dai; nếu đến Gia Lâm (6) muốn vượt sông cần có đủ thuyền bè, lại phải giao tranh suốt ngày không khỏi mệt quân lính. Chi bằng lúc đại binh chưa tới, cho kỵ binh du kích đột kích Gia Lâm, đối ngạn với giặc; bắt đầu có thể dùng khoảng 100 tên, trong ngày tăng lên đến hàng ngàn, đêm đốt lửa bắn pháo chế ngự và lừa giặc. Còn đại quân hướng về thượng lưu sông Phú Lương, chọn nơi nước cạn cùng với quân Tây bình hầu Mộc Thạnh họp lại cùng vượt sông, nhắm yếu tố bất ngờ nên dễ thành công. Ý Trẫm như vậy, nhưng từ xa xôi khó tính toán chính xác; các ngươi cần tự mình lập mưu, vì từ xưa đến nay kẻ dùng binh giỏi, đều nhân nhược điểm của địch mà chế thắng.” (Minh Thực Lục quan hệ Trung Quốc Việt Nam, tập 1, trang 232)

Sử Việt Nam, Toàn Thư chép vào tháng 6 năm Khải Đại thứ 4 [16/6-14/7/1406], nhà Hồ ra lệnh cho dân tại phía bắc sông Hồng, thực hiện vườn không nhà trống, chuẩn bị di cư sang phía nam sông, khi quân Minh đến:

“Khi quân Minh mới vào cõi, ra lệnh cho nhân dân đều phá bỏ hết lúa má; các xứ Lạng Châu, Vũ Ninh, Bắc Giang, Gia Lâm, Tam Đái, đều nghiêm chỉnh làm vườn không nhà trống. Quân Minh rút đi, nhân dân lại phục nghiệp như cũ” Toàn Thư, Chính biên, quyển 8.

Kế đó vào tháng sau, Vua nhà Hồ ra lệnh đóng cọc gỗ phòng thủ tại phía nam sông Hồng và vùng Lạng Sơn đến hạ lưu sông Thương:

“Mùa thu, tháng 7 [15/7-13/8/1406], Hán Thương ra lệnh cho các lộ đóng cọc gỗ ở bờ phía nam sông Cái, từ thành Đa Bang đến Lỗ Giang và từ Lạng Châu đến Trú Giang (7) để làm kế phòng thủ. Hán Thương hạ lệnh cho dân Tam Đái và Bắc Giang tích trữ lương thực, vượt sông sang làm nhà cửa ở chỗ đất hoang, chuẩn bị di cư đến đó.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 8.

Chú thích:

1. Theo trang mạng Bách Khoa [baike.com] giải thích Thượng đại nhân, Khâu Ất Dĩ ghi trong bộ bài giải trí, có các quân, mỗi quân có hình vẽ, biểu tượng như sau: “上大人,丘乙己,化三千,七十贤,八九子,佳作美,尔小生,可知礼” (Thượng đại nhân, Khâu Ất Dĩ, hoá tam thiên, thất thập hiền, bát cửu tử, giai tác mỹ, nhĩ tiểu sinh, khả tri lễ).

2. Trò chơi này ý chỉ: Khổng Tử thưa cha Thượng đại nhân, con là Khâu Ất Dĩ, dạy được 3000 học trò, trong đó có 72 người hiền, có 8, 9 trẻ (chỉ thập triết) , đều là tốt; các ngươi trẻ nhỏ, có thể biết lễ nghĩa.

Nạp khoản: nước nhỏ nạp cống cho nước lớn để xin qui phục gọi là nạp khoản.

3. Bằng Tường: nay thuộc huyện Bằng Tường, tỉnh Quảng Tây, gần sát ải Nam Quan.

4. Pha Lủy: tức ải Nam Quan.

5. Tây Đô: tại Thanh Hóa.

6. Gia Lâm: Thời Trần Hồ, Gia Lâm là một huyện thuộc lộ Bắc Giang, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh.

7. Trú Giang: Toàn Thư chú thích rằng có lẽ thuộc hạ lưu sông Thương.


NGUỒN BÀI ĐĂNG