XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nho giáo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nho giáo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 2 tháng 3, 2022

Nho Giáo còn hợp với thời nay không?


            Nguyễn Văn Nghệ

Trong các sách và tài liệu của Nhà nước cộng sản Trung Quốc cũng như ở Việt Nam trước đây, khi đề cập đến Nho giáo đều lên án Nho giáo là “bảo thủ, lỗi thời và kiềm hãm sự phát triển của xã hội” và cần phải “Quét sạch nó đi!”. Gần đây trong mối giao lưu và hội nhập ngày càng được đẩy mạnh giữa các quốc gia, nhiều học giả đã “phản tư” (suy nghĩ lại) với việc đánh giá vai trò của Nho giáo trong thời hiện đại. Liệu Nho giáo còn hợp với thời nay không?[*]

Ở Nhật Bản

Ngày 6/4/1868 Minh Trị Thiên Hoàng long trọng tuyên bố cai trị theo ý nguyện của dân và đề ra cương lĩnh hành động trong đó có điểm mấu chốt: “Học tập nước ngoài để xây dựng đất nước”. Phong trào Âu hóa đất nước phát triển rầm rộ vào những năm đầu thời Minh Trị. Nhà nước Nhật Bản đã tiếp thu mạnh mẽ những thành tựu của phương Tây, đã muốn giáo dục con em họ theo nội dung đạo đức Châu Âu. Họ say mê tân học bài xích cựu học. Nhưng đến giữa thập niên 80 của thế kỷ XIX chủ nghĩa Âu hóa lại bị dân chúng phê phán vì không phù hợp với xã hội Nhật Bản. Họ đòi phục hồi lại những giá trị truyền thống của Nhật Bản – giáo dục theo Nho giáo, lấy Nhân – Nghĩa –Trung – Hiếu làm nòng cốt.

Nguyên Điều Vĩnh Phù- một nhà giáo dục nổi tiếng Nhật Bản thời đó viết: “Điều quan trọng của giáo dục là phải minh xác các điều Nhân – Nghĩa – Trung – Hiếu, phải nghiên cứu hiểu biết các tri thức, nghề nghiệp, phải thực hiện đầy đủ đạo làm người, đó là phương châm lớn từ trước đến nay của đất nước ta, tồn tại từ trên xuống dưới ở khắp mọi người.Nhưng có thể nêu ra tình hình là gần đây lại có thói tôn sùng tri thức nghề nghiệp, rơi vào chỗ sau chót của sự văn minh khai hóa, làm tổn hại nhiều đến phẩm hạnh, phong tục. Có thể nêu lên rằng những người đi hàng đầu muốn phá vỡ tập quán vốn có từ xưa mở rộng tri thức ra toàn thế giới, nhất thời tiếp thu chỗ mạnh của phương Tây, đặt Nhân – Nghĩa – Trung – Hiếu ở sau, phải đặt nó trên cơ sở giáo huấn kinh điển của tổ tiên, phải xác định rõ ràng việc học trung hiếu đạo đức, lấy Khổng Tử, lấy việc mọi người phải tôn sùng sự thành thực, phẩm hạnh làm điều trọng yếu…” (Giáo học thánh chỉ) [l].

Trong lúc tân học bài xích cựu học thì nhờ có Minh Trị Thiên Hoàng là bậc minh quân cương quyết đã điều hòa giải quyết gìn giữ tinh thần đạo đức cổ truyền mà lại nghiên cứu văn minh khoa học đã đưa nước.Nhật yếu kém, chỉ trong vòng mươi năm vượt lên đứng ngang hàng với các nước Âu Mỹ. Ngày 30/10/1890 trong chỉ dụ Minh Trị Thiên Hoàng đã tỏ rõ lập trường cải cách của mình: “Các tiên đế đã sáng lập nước trên nền tảng rộng rãi chắc chắn, nền tảng ấy là nhân đức mà các đấng muốn cho ăn sâu rễ vào tâm hồn quốc dân, thần dân ta nhất tề trung hiếu từ đời này sang đời khác đã chứng tỏ việc các đấng tiên đế là mỹ hảo và đó là vinh dự của nước ta. Nguồn mạch giáo dục của giống nòi cũng do cái đức trung hiếu mà phát khởi. Hỡi các thần dân, đối với cha mẹ, các ngươi hãy hiếu thảo, đối với anh chị em, các ngươi yêu thương, trong gia đình hãy hoà hợp, trong sự giao du với bạn bè, các ngươi hãy trung thành. Hãy ăn ở cho nhã nhặn tiết độ, hãy hảo tâm thiện chí với một người, hãy luyện tập các khoa học và nghệ thuật, hãy tiến triển các khả năng tri thức. Hãy phát huy các lực lượng luân lý. Hãy quan tâm đến công lợi, công ích, hãy kính trọng hiến pháp, hãy giữ gìn luật lệ khi cần thiết hãy đưa vai gánh vác giang sơn, hãy ân cần bảo vệ nền thịnh vượng của quốc gia. Làm như vậy các ngươi sẽ là những công dân tốt và giúp vào việc duy trì nền văn minh thịnh vượng khiến cho dân tộc Đại Nhật hãnh diện với các nước văn minh” [2].

Để hưởng ứng ý nguyện canh tân của nhà vua, thân sĩ và nhân dân Nhật đều phấn khởi chung lo việc nước. Toàn quốc thành lập nhiều hội Tư Văn để đào tạo tư cách con người. Ai nấy đều lo tự tỉnh tự cường, giữ gìn tinh thần đạo đức cổ truyền lại tiếp thu văn minh khoa học Âu – Mỹ.

Ở Trung Hoa

Bây giờ chúng ta quay lại Trung Hoa cội nguồn phát sinh ra học thuyết Nho giáo để nghiên cứu sự thăng trầm của Nho giáo trong thời cận, hiện đại. Sau khi cách mạng Tân Hợi thành công (1911), chế độ phong kiến tồn tại hàng mấy ngàn năm bị lật đổ, Trung Hoa Dân quốc được thành lập Thái Nguyên Bồi nhận chức Tổng trưởng Giáo dục. Do thấy trong tôn chỉ giáo dục đời Thanh có hai điều là: “Trung quân và tôn Khổng”, mà trung quân thì không hợp với chính thể cộng hòa, tôn Khổng thì trái ngược với tự do tín ngưỡng nên xóa việc tôn thờ Đức Khổng Tử. Mùa thu năm Dân Quốc thứ năm (1916), Khang Hữu Vi đệ thư lên cho Lê Nguyên Hồng và Đoàn Kỳ Thụy yêu cầu lấy Khổng giáo làm quốc giáo, đưa vào hiến pháp. Bởi những việc đó gây cản trở cho phong trào dân chủ nên dẫn tới sự chống đối của Trần Độc Tú. Trần Độc Tú cho rằng Khổng giáo không dung hòa được với chế độ lập hiến, do vậy đạo Khổng đi ngược với cuộc sống hiện đại. Lý lẽ đó hợp với tâm lý ghét chế độ đế chế của thanh niên và trí thức đương thời dẫn đến sự công kích toàn diện truyền thống Nho giáo [3]. Do vậy, họ bỏ học thuyết duy lý nhã nhặn, kín đáo của Khổng Tử, đi theo học thuyết duy lý máy móc của phương Tây. Vả lại đạo Khổng bảo thủ, dung hòa được sự hăng hái của tuổi trẻ và sự thận trọng của tuổi già. Cách mạng chỉ biết có tuổi trẻ, và mỉm cười trước lời khuyên này của Khổng Tử “Người nào cho những bờ đê cũ là vô ích và phá bỏ đi thì một ngày kia sẽ bị tai hại của nạn lụt lội” [4].

Khi phong trào chống Nho gia đạt đến cao trao thì Lương Thấu Minh là người mở đầu cuộc cách mạng tư tưởng, dựng ngọn cờ Nho giáo bắt đầu đề xướng Khổng học. Năm Dân Quốc thứ bảy(1918), Lương Thấu Minh mở một cuộc “Hội thảo triết học Khổng Tử” ở sở Nghiên cứu triết học. Ông đã nói lên quan điểm lập trường của ông khi mở cuộc hội thảo triết học ấy “…ở Trung Quốc ngày nay có người đề xướng Tây học, có người đề xướng Phật học, chỉ về Khổng Tử là ngượng mồm không ai dám nói đến. Sự thật về Khổng Tử nếu tôi không đề xướng thì chẳng ai đề xướng? Đó là duyên cớ bức tôi tự mình đến sống ở nhà họ Khổng” [5].

Trong thời kỳ Nhật chiếm đóng Trung Quốc, để đoàn kết nhân tâm cùng nhau chống Nhật, chủ nghĩa dân tộc được hình thành. Nhà nước cũng nêu cao tinh thần dân tộc, khôi phục đạo đức vốn có. Quốc Dân Đảng thúc đẩy phong trào đời sống mới, việc đó được xây dựng trên luân lý truyền thống. Chính trong không khí chân hưng luân lý truyền thống này, năm Dân Quốc thứ 23(1934) khôi phục lại ngày lễ kỷ niệm Thánh Đản của Đức Khổng Tử đã bị Thái Nguyên Bồi bãi bỏ từ năm đầu Dân Quốc(1912).Trong lễ kỷ niệm nay người được mời nói về học thuyết của Khổng Tử chính là Lương Thấu Minh – người đầu tiên nêu ngọn cờ phục hưng truyền thống Nho giáo [6].

Thời kỳ Tưởng Giới Thạch làm Hiệu trưởng Trường Quân sự Hoàng Phố, ông thường căn dặn học viên: “Chương I sách Đại học chỉ có hơn 200 chữ, nói một cách hết sức ngắn gọn, súc tích lý lẽ làm người, làm việc cho tới tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Ông đòi hỏi học viên phải tu thân theo đạo đức trong sáng, hoàn thành sứ mệnh trị quốc, bình thiên hạ [7].

Trong gia đình, Tưởng Giới Thạch luôn giáo dục con cái theo văn hóa Nho gia. Tưởng Kinh Quốc nhớ lại: “Cha tôi cho rằng học nửa bộ Luận ngữ thì có thể trị vì được thiên hạ, trong sách cổ có hướng dẫn để Người xử lý công việc” [8]. Lúc Tưởng Kinh Quốc đang còn học tiểu học, Tưởng Giới Thạch có lần viết thư căn dặn: “Sách Mạnh tử phải học thuộc lòng, thuộc rồi vẫn phải đọc đi đọc lại. Sách Luận ngữ phải nhờ Vương tiên sinh giảng giải cho một lần, rồi con phải tự học, phải hiểu cạn ý trong sách mới thôi. Nếu con hiểu hết được nghĩa trong bộ Tứ thư và học thuộc sách Tả Mạnh Trang tao tình hoa thì sau đó có thể tự viết văn được rồi. Mỗi tập phải đọc 300 lần như vậy sẽ không quên” [9].

Khi chính phủ Quốc dân đảng ở Nam Kinh vửa được thành lập, Tưởng Giới Thạch lập tức ra lệnh các trường học phải “đảng hóa giáo dục”, nhằm rèn luyện đạo đức tổ tiên cho thanh thiếu niên. Thời kỳ chiến tranh chống Nhật, chính phủ Dân quốc buộc các trường trung học, đại học phải trau dồi cho học sinh quan niệm đạo đức “trung dũng là cốt lõi của lòng yêu nước, hiếu để là cốt lõi của sự tề gia”, yêu cầu các thầy giáo, giáo dục truyền thống, đặc biệt là phải phân tích cho học sinh hiểu rõ nền văn hóa cổ kính của Trung Quốc.

Sau khi chạy sang Đài Loan, Tưởng Giới Thạch vẫn kêu gào phục hưng văn hóa, buộc các học sinh trung học phải đọc sách Luận ngữ, Mạnh tử [10]

Trong các thập niên 50, 60, 70 của thế kỷ XX ở Trung Quốc lục địa vẫn tiếp tục phê phán Nho giáo, nhưng vì nghiên cứu theo định hướng trước nên thiếu phần khách quan trong phân tích và nhận định không có sức thuyết phục. Trong thời kỳ này người ta biến phê phán học thuật thành phê phán chính trị, người ta gắn “phê phán” Khổng Tử với phê phán các nhà chính trị, quân sự đương đại của Trung Quốc. Họ phủ nhận sạch trơn Nho học, Nho giáo theo chủ nghĩa hư vô, thậm chí oán ghét quá khứ, đập phá quá khứ [11]. Tượng Khổng tử bị dán khẩu hiệu với dòng chữ Hán (phiên âm): “Đầu hiệu đại hỗn đản” (Tên đầu sỏ đại lưu manh).Theo hồi ức của Lưu Á Vĩ vào ngày 15/11/1966 “trước cửa chính của Khổng phủ, có dán chữ ‘Đại hội triệt để phá tan Khổng gia điếm’. Bia đá nằm trước Khổng phủ, từ năm 1962 được Quốc vụ viện ghi chữ ‘Văn vật trọng điểm toàn quốc được bảo hộ’ bị đập tan. Sau đó Hồng vệ binh chia nhau đi Khổng miếu, Khổng lâm, Chu công miếu để đập bia, giật biển, đập hủy tượng thờ” [12].

Sau cải cách mở cửa, Chính phủ Trung Quốc lặng lẽ cho phép phục hồi dần Khổng tử dưới cái tên nghiên cứu Quốc học, tức nghiên cứu phục hồi văn hóa truyền thống Trung Quốc mà Nho giáo là cốt lõi. Từ đó cơn sốt Khổng tử bắt đầu nóng dần.

Năm 1988, Quỹ Khổng tử Trung Quốc và UNESCO tổ chức Hội thảo kỷ niệm 2540 năm sinh Khổng tử, có đại biểu 25 nước tới dự, không có đại diện chính quyền

Tháng 10/1994, nhân 2545 năm sinh Khổng tử, Trung Quốc tổ chức lễ thành lập Hội Nho học quốc tế và Hội thảo quốc tế về Khổng tử. Lý Thụy Hoàn- Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị ĐCSTQ, kiêm Chủ tịch Ủy ban Toàn quốc Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc (gọi tắt là Chính Hiệp) toàn quốc đến dự và phát biểu. Sau đó cứ 5 năm một lần, Hội này lại tổ chức kỷ niệm Khổng tử, lãnh đạo cao nhất đến dự chỉ là Chủ tịch Chính Hiệp.

Tại kỳ họp Quốc hội Trung Quốc tháng 3/2005, có đại biểu đề nghị phục hồi đạo đức Nhân- Nghĩa- Lễ- Trí- Tín, đưa Tứ thư, Ngũ kinh vào chương trình trung- tiểu học và thi công chức.

Từ tháng 10/2006 bà Vu Đan thuyết trình nhiều buổi trên truyền hình về “Thu hoạch đọc Luận ngữ”, “Thu hoạch đọc Trang tử”, được dân hoan nghênh. Hai cuốn sách cùng tên của bà in lần đầu 4 triệu bản bán hết ngay.

Tháng 9/2008 Bộ Văn hóa Trung Quốc và chính quyền tỉnh Sơn Đông lần đầu tổ chức Đại hội Nho học thế giới tại Khúc Phụ quê hương Khổng tử.

Cơn sốt Khổng tử từng bước tăng nhiệt. Tuy vậy trên vấn đề đánh giá Nho giáo, giới học giả Trung Quốc vẫn chia hai phái chống đối nhau: phái tự do và phái bảo thủ văn hóa, chủ yếu đả kích nhau về lý luận. Điển hình là cuốn Chó không nhà- Tôi đọc Luận ngữ của Lý Linh (5/2007)- gáo nước lạnh dội lên những cái đầu đang sốt Khổng tử. Lý Linh chứng minh Khổng tử không phải là thánh nhân, Ngài có cống hiến chính về mặt giáo dục và đạo đức; Đức Khổng ngày nay ta biết chỉ là Khổng tử “nhân tạo”, được tâng bốc tới mức không thể giả tạo hơn[13].

Năm 2010 Trung tướng Lưu Á Châu, Chính ủy Đại học Quốc phòng Trung Quốc nói Nho giáo có tội với Trung Quốc: “Nếu như Nho học là tôn giáo, thì đó là ‘ngụy tôn giáo’, nếu là tín ngưỡng, thì đó là ‘ngụy tín ngưỡng; còn nếu là triết học, thì đó là triết học của xã hội bị ‘quan trường hóa’. Xét từ ý nghĩa này, Nho học là có tội đối với người Trung Quốc. Trung Quốc không có tư tưởng gia mà chỉ có chiến lược gia. Xã hội Trung Quốc là một xã hội binh pháp. Dân tộc của chúng ta chỉ tôn sùng chiến lược gia” [14]. Lưu Hiểu Ba[15] nhận xét các lời dạy của đức Khổng chỉ là trí thông minh nhỏ, không chứa đựng trí tuệ lớn.

Năm 2010, ông Hồ Cẩm Đào bắt đầu dè dặt sử dụng một số lời Khổng tử như xã hội hài hòa, dĩ nhân vi bản…Tuy vậy đa số dân Trung Quốc chưa ủng hộ phục hồi Khổng tử. Điển hình là Viện Bảo tàng Quốc gia Trung Quốc dựng pho tượng lớn đức Khổng tử bằng đồng đen trên quảng trường Thiên An Môn (1/2011) bị dư luận phản đối tới mức hơn ba tháng sau phải lặng lẽ cất tượng vào trong Viện [16]. Việc này chính quyền Trung Quốc không nói gì, điều đó cho thấy ‘cơn sốt Khổng tử’ đang hạ nhiệt dần.

Trong khoảng hai thập niên qua, giới học thuật Trung Quốc đã có Tạp chí nghiên cứu riêng về Khổng tử. Hàng trăm đầu sách nghiên cứu về Nho học- Nho giáo ở Bắc Kinh, Thượng Hải và các tỉnh được xuất bản. Các học giả nổi tiếng như Lý Trạch Hậu, Trương Đại Niên, Thái Thượng Tư, Trương Lập Văn, Thang Nhất Giới, Phương Lập Thiên…đều lên tiếng “phản tư” (suy nghĩ lại). Họ khẳng định những giá trị xã hội của Khổng tử, Mạnh tử, đồng thời chỉ ra những nhân tố hợp lý và những nhân tố còn hạn chế của Nho giáo [17]

Viện Khổng tử

Trung Quốc cho thành lập Viện Khổng tử có trụ sở đặt tại Bắc Kinh. Viện Khổng tử ở nước ngoài bắt đầu được thành lập từ năm 2004 và viện đầu tiên mở ở Seoul, Hàn Quốc trong cùng năm. Theo báo China Daily, tính đến cuối năm 2018, có tổng cộng 548 Viện Khổng tử, 1193 lớp học Khổng tử tại các trường tiểu học, trung học và 5665 địa điểm dạy học liên quan được lập ra ở 154 quốc gia và vùng lãnh thổ. Các Viện Khổng tử được tài trợ phân nửa bởi nước khách, phân nửa bởi Trung Quốc. Tại các nước đang phát triển như ở Việt Nam được hoàn toàn trợ cấp bởi chính quyền Trung Quốc [18].

Ngày 27/12/2014 Trường Đại học Hà Nội tổ chức lễ gắn biển “Viện Khổng tử” tại trường. Nhiều người nghi ngại cho rằng: Tư tưởng bành trướng Đại Hán cắm giữa thủ đô Việt Nam [19]. Ông Ngô Nhân Dụng, một nhà bình luận trong giới truyền thông ở hải ngoại nhận định: “Viện Khổng tử chính nó không nguy hiểm, nhưng sẽ tác hại cho nước Việt Nam nếu chúng được sử dụng cho mục đích tuyên truyền cho chế độ cộng sản Trung Quốc”[20]

Đầu tháng 11/2014 hai trường đại học tại Mỹ- Đại học Chicago và Đại học Pennsylvania- ra tuyên bố ngưng hợp tác và đóng cửa Viện Khổng tử [21].

Năm 2005 Viện Khổng tử đầu tiên ở Châu Âu được đặt tại Stockholm, Thụy Điển. Báo The Times cho biết là ngày 21/4/2020 Thụy Điển đã đóng cửa lớp học cuối cùng của Viện Khổng tử và trở thành quốc gia đầu tiên ở Châu Âu chấm dứt các chương trình giáo dục do nhà nước Trung Quốc tài trợ [22]

Tính đến ngày 26/8/2020 trên nước Mỹ tổng cộng có 67 Viện Khổng tử. Đầu tháng 9/2020 Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo cáo buộc các Viện Khổng tử đang tuyển “gián điệp và cộng tác viên” và ông hy vọng tất cả các Viện Khổng tử ở Mỹ sẽ đóng cửa vào trước cuối năm nay [23].

Một giáo sư kinh tế học và là nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng của Trung Quốc, ông Hạ Nghiệp Lương, người bị sa thải khỏi Đại học Bắc Kinh, cảnh báo rằng: “Nhiều trao đổi học thuật của Trung Quốc chứa đựng các rủi ro bị che giấu, chẳng hạn các học giả thỉnh giảng lại có thể là các nhân viên tình báo được cử đi” [24]. Hiện nay nhiều nước trên thế giới, nhận thấy Viện Khổng tử hoạt động không đúng tôn chỉ mục đích đã đề ra, nên đã cho đóng cửa Viện Khổng tử [25].

Giải Khổng tử Hòa Bình

Năm 2010 ông Lưu Hiểu Ba được trao giải Nobel Hòa Bình, nhân dịp đó ở Trung Quốc doanh nhân Lui Zhiqin đề xuất lập giải Khổng tử Hòa Bình vào ngày 17/11/2010. Giải này được Trung Quốc kỳ vọng là sẽ cạnh tranh với giải Nobel Hòa Bình.

Chính phủ Trung Quốc cho biết là không có liên hệ gì cả với giải này. Tuy nhiên, Orville Schell, một chuyên gia về Trung Quốc nói: Không có một tổ chức Trung Quốc nào dám mượn tên của Khổng tử để phát một giải thưởng nếu không có sự đồng ý của Bắc Kinh [26]

Các quốc gia chịu ảnh hưởng của Nho giáo

Nho học – Nho giáo là thành tố văn hóa truyền thống của nhiều nước Đông Á. Ở Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc cũng đã có nhiều cuộc thảo luận về Nho học Nho giáo. Các học giả nghiên cứu Nho học – Nho giáo ở Đài Loan như Dư Thời Anh, Phó Bội Vinh, Thẩm Thanh Tùng, ở Nhật Bản như Morishima Michio, Hoàng Sơn Mẫn Thu, ở Hàn Quốc như Lý Hữu Thành, Di Ngư Thuần đều có những công trình nghiên cứu sâu sắc về Nho giáo, đều nêu lên những ưu điểm nổi trội của Nho giáo như về các vấn đề gia đình, đất nước về học thuyết Nhân và Lễ. Ở Pháp giáo sư Léon Vandermeerch cũng khẳng định tác dụng tích cực của Nho giáo ở các nước Đông Á. Rõ ràng gần đây có cái “nhiệt Nho giáo” trong nghiên cứu khoa học xã hội hiện đại ở nhiều nước [27].

Ở Nhật Bản và “bốn con rồng Châu Á” nhiều tác giả và các Nhà quản lý lại cho rằng, Nho giáo có nhiều yếu tố tích cực giúp cho các nước này tăng trưởng và phát triển.

Singapore là một xã hội đa nguyên, đa dân tộc, đa tôn giáo, người Hoa chiếm đa số. Tháng 2/1982 các nhà đương cục về giáo dục Singapore tuyên bố đưa các môn luân lý học và nho giáo vào các khóa trình tôn giáo để các học sinh năm thứ 3 và thứ 4 trung học lựa chọn. Tháng 6/1982 phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Giáo dục Ngô Khánh Thụy cầm đầu một phái đoàn sang Hoa Kỳ bàn với các học giả Nho giáo người Mỹ gốc Hoa về những nguyên tắc và kế hoạch thúc đẩy việc thực hiện luân lý Nho giáo. Tháng 7/1982 có 8 vị học giả từ Mỹ đến Singapore để tìm hiểu tình hình, giúp các học giả Singapore thực hiện việc đó. Các nhà lãnh đao Singapore là Lý Quang Điệu và Ngô Khánh Thụy đã phát biểu ý kiến nhấn mạnh tầm quan trọng của luân lý Nho giáo và mối quan hệ sâu sắc giữa tư tưởng Nho giáo với xã hội người Hoa. Năm 1987 các học giả Singapore và Trung Quốc tổ chức một cuộc hội thảo quốc tế lớn về Nho học ở Khúc Phụ quê hương Đức Khổng [28].

Tại Hội nghị khoa học quốc tế về nghiên cứu Khổng Tử và Đại hội thành lập liên hiệp Nho học quốc tế nhân kỷ niệm 2.545 năm sinh Khổng Tử tháng 10/1994 ở Bắc Kinh, Lý Quang Diệu – nguyên Thủ tướng Singapore đã nói lên mối quan hệ xã hội Singapore và Nho giáo. Ông cho rằng, nội dung giáo dục con người hiện nay ở nước ông là phát huy các giá trị quan và quy phạm luân lý Nho gia: “76% nhân khẩu Singapore là người Hoa. Văn hóa dân tộc Hoa chú trọng ngũ luân, cũng tức cha – con có tình thân, vua – quan thì có nghĩa, chồng – vợ có khác biệt, trưởng – ấu có thứ tự, bạn – bè có điều tin. Họ xem lợỉ ích xã hội cao hơn lợi ích cá nhân, do đó không tiếp thu chủ nghĩa cá nhân vô hạn độ của Mỹ” [29].

Ông Lý Quang Diệu nêu rõ một số ý kiến về kết quả thực tế về giá trị quan Nho giáo đưa lại: “Từ kinh nghiệm quản lý nước Singapore, đặc biệt là trong những ngày gian khổ từ năm 1959-1969 khiến tôi tin tưởng sâu sắc rằng, nếu không phải là đại bộ phận nhân dân Singapore, đặc biệt là trong đại bộ phận nhân dân Singapore được hun đúc giá trị quan của Nho học thì chúng tôi không có cách gì có thể khắc phục được những khó khăn và trở ngại đã vấp phải” [30]. Năm 2005 ông Vũ Khiêu của Việt Nam lại khẳng định: “…ngày nay, khi nền văn hóa phương Đông buộc phải giao thoa với nền văn hóa phương Tây, những quốc gia nào cứ khư khư ôm lấy Khổng giáo thì tất sẽ rơi vào thế bị động, thậm chí suy thoái”[31]. Không biết ông Vũ Khiêu dựa vào nghiên cứu nào mà có kết luận như vậy?

Cũng tại hội nghị trên ông Cốc Mục, Hội trưởng Hội nghiên cứu Khổng học Trung Quốc cũng đã nói triển vọng của Nho học – Nho giáo trong phạm vi quốc tế: “Nho học, văn hóa truyền thống cổ xưa của phương Đông này có khả năng thu hút được giá trị mới, gây được ảnh hương tích cực trong sự phát triển mới của xã hội loài người trên thế giới ở một khu vực rộng lớn” [32].

Năm 1995, Hội nghị quốc tế về Nho giáo tổ chức tại Bắc Kinh đã bầu ông Lý Quang Diệu làm Chủ tịch Hội Khổng học thế giới.

Vấn đề nghiên cứu Nho giáo ở Việt Nam

Còn ở Việt Nam vấn đề nghiên cứu Nho giáo như thế nào? Trước đây dưới thời Pháp thuộc, đã từng có những đợt nghiên cứu và đánh giá lại Nho giáo với các học giả tên tuổi như Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh, Đào Duy Anh…

Sau đó năm 1954 nước Việt Nam được chia thành hai miền và theo hai thể chế khác nhau. Ở miền Nam, vào năm 1958, Tổng thống Ngô Đình Diệm ra lệnh thành lập Hội Khổng học trên tất cả các tỉnh thành để tiếp tục duy trì, quảng bá đạo đức cương thường của tổ tiên. Nhân dịp này ông Trần Đình Tân (1893-1979)- Cử nhân khoa Ất Mão (1915), quê Tuy Phước, Bình Định- có sáng tác bài thơ Đường luật với nhan đề “Tôn chỉ mục đích Hội Khổng học”: “Thế tục nhơn tình ngắm đã suy/ Lập nên Khổng hội để duy trì/ Căn nguyên đạo đức tô bồi lại/ Nền tảng luân thường tiếp tục xây/ Nương gậy thánh hiền cho vững gối/ Mài gươm nhân nghĩa sẳn cầm tay/ Dùng khoa giáo huấn thay kiềm kẹp/ Viện lẽ càn khôn dạy hợp bầy”.Triết lý giáo dục của miền Nam dựa trên ba nền tảng: Nhân bản- Tự do- Khai phóng.

Ở miền Bắc “những gì được xem như gắn với ‘tư tưởng phong kiến’ đều bị coi là lạc hậu, cần tránh xa, cần chống lại”. Khẩu hiệu “Tiên học lễ hậu học văn” cũng không dám nhắc đến “Năm 1973, nhà giáo Nguyễn Lân (1906-2003) viết bài “Có nên vận dụng phương châm ‘Tiên học lễ hậu học văn’ trong việc giáo dục thế hệ trẻ của ta ngày nay không?” (đăng tạp chí “Văn hóa Nghệ thuật” ở Hà Nội, số 31 tháng 7/1973)…Ngay sau khi bài báo này xuất hiện, trên báo “Tiền phong” của T.Ư. Đoàn (số 2351 ra ngày 16/8/1973) có bài báo dài của tác giả Thanh Bình nhan đề “Quét sạch những tàn dư tệ hại của Khổng giáo” với những kết luận chém đinh chặt sắt: “…chúng ta không thể dung hòa được với Khổng giáo cùng với hệ tư tưởng phản động và bảo thủ của nó”,… “chúng ta phải kiên trì đấu tranh để quét sạch nó ra khỏi mọi lãnh vực của đời sống xã hội như quét sạch những đống rác bẩn vậy”.

Tiếp theo bài này, báo “Tiền phong” còn định ra cả một loạt bài khác nữa để công kích sự đề xuất kể trên của nhà giáo Nguyễn Lân, nhưng Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã can thiệp dừng lại [33]

Gần đây ở Việt Nam việc nghiên cứu Nho giáo lại có chiều hướng mở rộng với các học giả Trần Văn Giàu, Nguyễn Khắc Viện, Vũ Khiêu, Nguyễn Tài Thư, Quang Đạm, Lê Sĩ Thắng… riêng giáo sư Nguyễn Tài Thư thuộc Viện Triết học là thành viên tham dự Hội thảo quốc tế về Khổng Tử tại Bắc Kinh năm 1994.

Ý kiến của các nhà nghiên cứu Việt Nam nói trên có điểm không thống nhất ngay từng học giả riêng biệt cũng không nhất quán, hiện tại không giống trước kia. Bài viết “GS Vũ Khiêu- Học chữ để làm người” đăng trên chuyên mục Trò chuyện cuối tháng báo An ninh Thế giới số tháng 9/2005 do Hồng Thanh Quang thực hiện. Trong bài viết này, GS Vũ Khiêu vẫn còn mang nặng não trạng “xã hội chủ nghĩa” nên ở phần đầu bài viết ông đã khẳng định chắc chắn như đinh đóng cột: “Tư tưởng Khổng tử thực sự là một tư tưởng bảo thủ”.Cuối bài viết ông kết luận “Nhưng ngay cả tới hôm nay không phải mọi ý tưởng của Khổng giáo đều là lỗi thời. Vấn đề quan trọng là tiếp thu cái gì và tiếp thu như thế nào”. Sao lại có chuyện “tiền hậu bất nhất” như vậy?

Tuy tuyên bố “Tư tưởng Khổng tử thực sự là một tư tưởng bảo thủ” nhưng ông Vũ Khiêu lại đánh giá cao hai pho sách: “Các pho sách Tứ thư, Ngũ kinh đều dạy người ta cách sống hợp với tư tưởng Khổng Mạnh. Đó cũng là những pho đạo đức học”[34]

Năm 2016 GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm phát biểu: “Nho giáo và chữ Lễ trói buộc con người, không cho sáng tạo thì rất rõ. Không sáng tạo thì làm sao phát triển” [35]. Ngày 21/11/2021 tại Hội thảo giáo dục chủ đề “Văn hóa học đường trong bối cảnh đổi mới giáo dục-đào tạo” do Ủy ban Văn hóa giáo dục của Quốc hội tổ chức, ông Trần Ngọc Thêm đã đề nghị “Cần chấm dứt sử dụng khẩu hiệu “Tiên học lễ hậu học văn” để khai mở tư duy phản biện, giải phóng sức sáng tạo”. Do đâu mà ông có đề nghị trên? Theo ông: “Bởi vì khẩu hiệu “Tiên học lễ hậu học văn” là sản phẩm của nền giáo dục Nho giáo…” [36].

Đại đa số người Việt Nam suy nghĩ “Bỏ ‘Tiên học lễ’ sẽ đào tạo ra những cỗ máy vô tri” [37].

Đề xuất bỏ khẩu hiệu “Tiên học lễ hậu học văn” của ông Trần Ngọc Thêm không phải là đầu tiên. Năm 2012 ông Lại Nguyên Ân cũng đã có đề xuất ấy rồi, nhưng đề xuất ấy không gây tiếng vang, chắc là do ông Lại Nguyên Ân không có học hàm học vị!!! Lý do tại sao ông Lại Nguyên Ân đề xuất bỏ câu khẩu hiệu ấy? Theo ông Lại Nguyên Ân: “Vì nó lời lẽ bằng ngôn từ Hán Việt, không phải lời lẽ thuần Việt(…)Vì nó ngày càng bộc lộ yếu tố vay mượn ngoại lai” hoặc “ Khẩu hiệu ‘Tiên học lễ hậu học văn”- vốn có xuất xứ từ Khổng tử- càng nên được chúng ta sớm chấm dứt sử dụng trong hiện tại”[38]

Nói chung các nhà nghiên cứu chỉ tập trung phân tích sâu sắc ảnh hưởng tích cực và những hạn chế của Nho giáo ở Việt Nam. Nội dung nghiên cứu của Nho học và Nho giáo trong gần thập niên 90 của thế kỷ trước chủ yếu là tìm hiểu hệ thống giá trị của Nho giáo, sự bất lực của nó đối với xã hội trong thời gian khoảng hơn thế kỷ vừa qua. Trên thực tế các nhà nghiên cửu Việt Nam chưa đề cập nhiều đến vấn đề lịch sử phát triển của Nho giáo ở Việt Nam và đặc điểm Nho giáo Việt Nam giống và khác với Trung Quốc ở điểm nào [39].

Giữa các quốc gia dân tộc trên thế giới đều có sự giao thoa văn hóa, cho nên chúng ta không nên cực đoan, bảo thủ, kỳ thị cho rằng “vốn có xuất xứ từ Khổng tử” hoặc “sản phẩm của nền giáo dục Nho giáo” hoặc “lời lẽ bằng ngôn từ Hán Việt, không phải lời lẽ thuần Việt” hoặc “bộc lộ yếu tố vay mượn ngoại lai”… Những gì là tinh hoa thì ta tiếp nhận, những gì là lạc hậu, lỗi thời thì ta loại bỏ. Theo ông Nguyễn Thông: “Khi Nho giáo xâm nhập vào nước ta, nội dung ban đầu của Lễ có thể như ông Thêm nói. Nhưng ông và các đồng chí của ông cần hiểu rằng bộ lọc của dân tộc đã gạn đục khơi trong, giữ những phần tốt đẹp, bồi bổ tạo dựng nên những giá trị mới từ món “hàng” nhập. Lễ cũng như nhiều thứ khác đều qua cuộc thanh lọc ấy, nói theo cách của mấy ông bà bây giờ là “áp dụng sáng tạo vào hoàn cảnh Việt Nam”, “đã đổi mới về chất” [40]

Kế thừa tinh hoa Nho học – Nho giáo hoàn toàn không có nghĩa là quay trở lại với xã hội Nho học – Nho giáo ngày xưa. Xã hội phong kiến đã qua không bao giờ trở lại nhưng những tinh hoa của Nho giáo vẫn là công cụ hữu ích cho quá trình phát triển xã hội ngày nay. Ví dụ để trở thành một cán bộ có năng lực được dân tin yêu  phải tuân thủ “bát điều mục” của Nho giáo. Đó là: “Chính tâm- Thành ý- Cách vật- Trí tri- Tu  thân- Tề gia- Trị quốc- Bình thiên hạ”. Will Durant có lời khuyên: “Ngày nay cũng như ngày xưa, cho thanh niên hấp thụ nhiều tư tưởng Khổng học, là phương thức tốt nhất cho những dân tộc nào bị nhiễm cái hại của một nền giáo dục thiên về trí dục, luân lý duy đồi, từ cá nhân đến toàn thể dân tộc đều kém tư cách”[41]

Để kết thúc tôi xin mượn lời của Will Durant nhận xét về học thuyết tư tưởng Khổng Tử: “Không nên trách Khổng Tử về tất cả những nhược điểm ấy. Không ai lại đòi một triết gia phải suy tư cho hai chục thế kỷ. Trong một đời người làm sao có thể tìm được con đường đưa tới tri thức cho hết thảy các đời sau. Mà rất ít người làm nhiệm vụ ấy một cách đầy đủ như Khổng Tử. Càng hiểu rõ ông, chúng ta càng ngạc nhiên rằng chỉ có một phần nhỏ trong đạo của ông là không hợp với khoa học, với những sự biến đổi do thời gian. Khi ta nhận thấy rằng ngay ở thời đại chúng ta, ông vẫn còn là người chỉ đường chắc chắn cho chúng ta thì chúng ta quên những lời đôi khi hơi nhàm của ông và đức độ quá hoàn toàn của ông làm cho ta có lúc chịu không nổi”[42].

Chú thích:

[*]- Bài viết này đã được đăng trên Tạp chí XƯA&NAY số 225, tháng 12/2004, trang 29-31. Nay có sửa chữa và bổ sung.

[1]- Vũ Khiêu, Nho giáo và phát triển ở Việt Nam, Nxb KHXH, 1997, tr.56 – 57 (Vũ Khiêu dẫn lại từ bài “Việc giáo dục đạo đức và Nho giáo ở Nhật Bản” của Hoàng Sơn Mẫn Thu trong cuốn Nho học quốc tế thảo luận hội văn tập Tề Lỗ Thư Điếm, 1987. tr. 1299 – Trung Văn).

[2]-Tài liệu của linh mục Hoàng Văn Đoàn đăng trên tập san Cổ học tinh hoa số đặc biệt của tỉnh Quảng Nam xuất bản năm 1962.

[3][5][6]- Vi Chính Thông, Nho gia với Trung Quốc ngày nay (Nguyễn Huy Quý dịch), Nxb CTQG, Hà Nội, 1996, tr.282; 311; 313

[4]- Will Durant, Lịch sử văn minh Trung Hoa (Nguyễn Hiến Lê dịch), Nxb VHTT, tr.342)

[7][8][9][10] - Vương Hiểu Minh, Bí mật về tám vị Tổng thống Trung Quốc tập II (Trần Khang dịch), Nxb CTQG Hà Nội 1998, tr.333; 332; 333; 333. Câu nói: “học nửa bộ Luận ngữ thì có thể trị vì thiên hạ” có nguyên văn là “Bán bộ Luận ngữ trị thiên hạ”, chính là câu nói của Triệu Phổ (921-991) thời đầu nhà Tống.

[11][17][27][30][32][39] - Phan Đại Doãn (chủ biên), Một số vấn đề Nho giáo Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội, 1998, tr.272; 8; 8-9; 273; 273; 11

[12]-trithucvn.org/trung-quoc/canh-mo-cua-gia-quyen-khong-tu-bi-dao-trong-thoi-gian-cách-mang-van-hoa.html

[13]-nghiencuuquocte.org/2016/04/23/tai-sao-tap-can-binh-muon-phuc-hoi-khong-tu/

[14]-nghiencuuquocte.org/forums/topic/bai-dien-thuyet-khien-ca-trung-quoc-chan-dong/

[15]-Lưu Hiểu Ba (28/12/1955-13/7/2017) được trao giải Nobel Hòa Bình năm 2010

[16]-minhduc7.blogspot.com/2011/01/tuong-khong-tu-va-cach-mang-van-hoa.html

[18][23]-tuoitre.vn/my-se-dong-cua-tat-ca-vien-khong-tu-cua-trung-quoc-20200907214224772.htm

[19]- basam.vet/2020/08/15/1251-vien-khong-tu-o-ha-noi-tu-tuong-banh-truong-dai-han-cam-giua-thu-do-viet-nam/

[20][24]- vi.wikipedia.org/wiki/Học_Viện_Khổng_Tử

[21]-tuoitre.vn/vi-sao-giang-duong-my-canada-dong-cua-vien-khong-tu-667849.htm

[22]-dkn.tv/the-gioi/thuy-dien-dong-cua-toan-bo-hoc-vien-khong-tu.html

[25]- youtube.com/watch?v=7cXxmAsg3CA  (Châu Âu gióng hồi chuông báo tử các Viện Khổng tử của Trung Quốc?)

[26]- vi.wikipedia.org/wiki/Giải_Hòa_bình_Khổng_Tử

[28]-Vũ Khiêu, Sđd, tr.78 – 79.

[29]- Phan Đại Doãn, sđd, tr.272 -273 (Gs Phan Đại Doãn trích lại tài Liệu của GS. Nguyễn Tài Thư, Viện Triết học, thành viên tham gia Hội thảo quốc tế về Khổng Tử tại Bắc Kinh năm 1994).

[31][34]-tapchisonghuong.com.vn/tap-chi/c90/n358/Xin-than-trong-khi-danh-gia-Khong-Tu.html

[33][38]-vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=19002 (Về khẩu hiệu “Tiên học lễ hậu học văn”)

[35]- https://laodong.vn/archived/gstskh-tran-ngoc-them-giao-duc-hong-chinh-la-do-triet-ly-giao-duc-sai-lam-712932.Ido

[36]-mangxahoi.net/kien-nghi-bo-khau-hieu-tien-hoc-le-hau-hoc-van-giao-su-tran-ngoc-them-noi-gi/

[37]-dantri.com.vn/giao-duc-huong-nghiep/ban-tre-phan-ung-de-xuat-bo-tien-hoc-le-hau-hoc-van-khong-the-bac-bo-20211126081611003

[40]- https://baotiengdan.com/2021/12/05/van-hoa-phan-2/

[41][42]-Will Durant, Lịch sử văn minh Trung Hoa, Nxb VHTT, tr.88; 92.

NGUỒN BÀI ĐĂNG

Thứ Hai, 10 tháng 1, 2022

TỐNG NHO

CHU HY
Trình Di
 

TỐNG NHO ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆT NAM

Nguyễn Thị Thúy Hạnh: Ảnh hưởng của đạo học - triết học Tống Nho đến tư tưởng nho sỹ Việt Nam thời trung đại

          Đạo học – tức Nho giáo đời Tống, một trong những tông chi của Nho giáo. Tống Nho còn xưng là Đạo học, Tống học. Trước đấy, trong tư tưởng Nho giáo nguyên thủy của Khổng Tử đã xuất hiện chữ Đạo (“Chí ư đạo”, “Quân tử học dĩ trí kỳ đạo” - Luận ngữ; “Tu đạo chi vị giáo” - Trung Dung…) nhưng danh từ “Đạo học” chưa thấy xuất hiện trong Tứ thư, Ngũ kinh. Từ khi Hàn Dũ làm bài luận về “Nguyên Đạo”, đề xướng thuyết “đạo Khổng Mạnh”, gây nên phong trào “Vệ đạo”, “Vận Đạo” hết sức rộng lớn vào thời nhà Tống thì danh từ Đạo học mới bắt đầu thông dụng ở Trung Hoa.

          Về nguyên lai của Tống học, các nhà nghiên cứu ở Trung Quốc và trên thế giới hầu hết đều thống nhất nhận định: Nho giáo trước đời Tống nhìn chung không có vũ trụ luận. Nho giáo nguyên thuỷ từ thời Khổng Tử nặng về phần hình nhi hạ, chỉ có những yếu tố vũ trụ quan đơn giản. Thời Hán, Đường, tuy Nho giáo được tôn làm quốc giáo nhưng do tính chất trọng thực tế, luân lý xã hội nên vẫn chưa xây dựng được một vũ trụ luận để hệ toàn nền triết học của mình. Đến đời Tống, các danh Nho như Trình Di, Trình Hạo, Chu Hi (1) mới chú ý đến phần hình nhi thượng, bằng cách thâu thái những phạm trù triết học của Đạo học và Phật học. Vì vậy, triết học Tống Nho được các nhà triết học sử Trung Quốc gọi là Tân Nho giáo (néo – confucianisme), là Đạo học hoặc Lý học. Chữ “lý” thường thấy trong Kinh Dịch: “Dị giản nhi thiên hạ chi lý đắc”, “Quân tử hoàng trung thông lý”…Đến đời Tống, các học giả dùng chữ “lý” theo một nghĩa rất rộng: về vũ trụ luận thì nói “lý khí”, về tâm thể luận thì nói “tính tức lý”, về phương pháp luận thì nói “tồn lý khử dục”.

          Nho giáo đời Tống không chỉ ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng và văn hóa Trung Hoa mà còn lan rộng đến các nước Đông Á. Ở Triều Tiên, Tống Nho ảnh hưởng đến thể chế chính trị và tư tưởng văn hoá hơn năm trăm năm (thời kỳ 1392 - 1910), thậm chí đến cả thời Cận đại. Ở Nhật Bản, Tống Nho có tác động to lớn đối với chính trị, xã hội, văn hoá của nước này, đặc biệt thời đại Đức Xuyên (1600-1868). Còn ở Việt Nam, Tống Nho có ảnh hưởng đến thời đại Hậu Lê (1428-1784) và thời nhà Nguyễn (1802-1945), tạo ra thời kỳ hưng thịnh của Nho học Việt Nam. Nhìn chung, từ sau thế kỷ XV, Tống Nho đã có ảnh hưởng to lớn đối với cả Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam. Bản thân Tống Nho cũng có ý nghĩa quan trọng tạo nên truyền thống của ba nước.

          Ở Việt Nam, sự ảnh hưởng của Nho giáo diễn ra ở cả hai dạng thức: cưỡng bức và tự nguyện. Thời kỳ đầu Bắc thuộc, Hán Nho đã được các quan lại Trung Hoa như Tích Quang, Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp ra sức truyền bá. Tuy nhiên, vì đây là thứ văn hóa do kẻ xâm lược áp đặt nên suốt giai đoạn chống Bắc thuộc, Nho giáo chưa thực sự chỗ đứng trong xã hội Việt Nam. Đến năm 1070, với sự kiện Lý Thánh Tông cho lập Văn Miếu thờ Chu Công, Khổng Tử, Nho giáo mới được tiếp nhận chính thức. Chính vì vậy mà Nho giáo ở Việt Nam chủ yếu là Tống Nho chứ không phải Hán Nho, Đường Nho hay Minh Nho, Thanh Nho.

          Thời nhà Hồ, giặc Minh xâm lược nước ta đem Tống Nho vào truyền bá. Từ đây Tống Nho ngày càng phổ biến. Đến khi nhà Lê giành được độc lập, Tống Nho dần dần chiếm địa vị độc tôn trong thượng tầng kiến trúc của xã hội phong kiến. Sau khi đánh đuổi hết quân Minh, giải phóng đất nước, vương triều Lê chính thức được kiến lập (1428) và bắt đầu công việc xây dựng, phát triển nền văn hóa độc lập dân tộc. Lê Thái Tông lên ngôi năm Giáp Dần (1434). Nhà vua đã họp triều đình bàn định việc mở khoa thi Tiến sĩ và đưa ra điều lệ thi Hương, thi Hội cùng phép thi ở các kỳ. Nhưng phải tới tháng 3 năm Nhâm Tuất (1442), thời Lê Nhân Tông, triều Lê mới chính thức cho thi đối sách ở sân điện để lấy Tiến sĩ và cũng bắt đầu cho dựng bia khắc văn nói về việc mở khoa thi Tiến sĩ, khắc tên những người đỗ đầu. Khoa thi Tiến sĩ năm Nhâm Tuất là cái mốc quan trọng xác lập vị trí độc tôn của Nho học ở Việt Nam hồi thế kỷ XV.

          Vậy trong bối cảnh văn hoá Việt Nam thời trung đại, Tống Nho đã tồn tại như thế nào? Theo GS. Phan Ngọc: “Lấy năm 1075, năm mở khoa thi đầu tiên để chọn người “minh kinh bác học” làm quan, mở bước đầu cho Nho giáo, thì lúc ấy ở Trung Quốc là thời kỳ Bắc thuộc (960 – 1279). Tiếp thu văn hoá nói chung là tiếp thu văn hoá đương thời…Ngay từ đầu, ta đã tiếp thu Tống Nho. Đến đời Trần, Chu Văn An soạn bộ Tứ thư thuyết ước, Tứ thư xuất phát từ Chu Hy (1130 – 1200), học giả lớn nhất thời Nam tống (1127 – 1279). Chu Hy là người đầu tiên chọn một trong số 120 bộ sách đồ sộ 4 quyển mà ông gọi là Tứ thư gồm Luận ngữ, Mạnh Tử, Trung dung, Đại học, là sách then chốt của Nho giáo. Trước đó, không có khái niệm Tứ thư. Như vậy, suốt lịch sử tiếp thu Nho giáo, Việt Nam hầu như chỉ tiếp thu Tống Nho, sau đó việc tiếp thu càng chặt chẽ hơn dưới thời Lê Thánh Tông thế kỷ XVI, nhất là vào thế kỷ XIX nhà Nguyễn (56,7)

          Thực chất của Tống Nho là một học thuyết hình thức Khổng giáo, phương pháp lý luận là Phật giáo và những khái niệm cơ bản là Đạo giáo.

        Mặc dù trái ngược với Khổng học như vậy, Tống Nho đã chiếm ưu thế ở Trung Hoa và Việt Nam, vì thực tế nó cấp cho Nho giáo một cách lý giải nhất quán bao gồm từ vũ trụ đến chính trị, sinh hoạt, gia đình, các quan hệ xã hội. Với những nhược điểm (chết cứng không chấp nhận khoa học thực nghiệm, giáo điều cực đoan và xa thực tế), phải nói nó có mặt biểu hiện văn hoá của quan điểm đời Tống, giai đoạn văn hoá Trung Quốc thống lĩnh thế giới.

          Xã hội Việt Nam từ xưa đến nay vẫn được nhìn nhận là một xã hội mang màu sắc Nho giáo. Nhưng phải đến thời kì nhà Minh thì nước ta mới thực sự bị Nho giáo hoá. Nhà Minh kế nối, trọng thị các tư tưởng về Nho học đời Tống, cho in khắc nhiều kinh điển Nho giáo. Theo ghi chép của Đại Việt sử ký toàn thư thì sách chuyển đến Việt Nam: kinh điển gồm có: Tứ thư, Ngũ kinh, Tính lý đại toàn, Hiếu thuận sự thực…Đặc biệt, Tính lý đại toàn là một bộ sách do một nhóm nhà Nho thời Minh phụng chỉ biên soạn, in ấn xong năm Vĩnh Lạc 13 (1415) gồm 70 quyển. Sách này khai thác quan điểm của 120 nhà Tống Nho, 26 quyển đầu bao gồm 9 loại: Thái cực đồ thuyết, Thông thư của Chu Đôn Di, Tây Minh, Chính Mông của Trương Tải, Hoàng cực kinh thế của Thiệu Ung; Dịch học khải mông, Gia Lễ của Chu Hy, Luật lã tân thư của Thái Năng Địch, Hồng phạm hoàng cực nội thiên của Thái Thẩm. Từ quyển 27 trở đi là chuyên luận về các vấn đề trích từ lời nói của các nhà mà soạn thành, bao gồm 13 loại: Lý Khí, Quỷ thần, Tính lý, Đạo thống, Thiền, Chư nho, Học, Chư Tử, Lịch đại, Quân đạo, Trị đạo, Thi, Văn. Sách còn tập hợp các lời bàn nổi tiếng từ các tác phẩm Lý học của người thời Tống, cung cấp những tư tưởng quan trọng cho việc nghiên cứu Lý học thời Tống. Qua đó, có thể thấy, các nội dung và tôn giáo cơ bản của triết học Tống Nho đã được chuyển tải vào Việt Nam, chủ yếu thông qua bộ sách này. Kể từ đây, tư tưởng Tống Nho mới thực sự được các nhà Nho Việt Nam học tập và vận dụng. Đối với dân chúng, nhà Minh cũng đã áp dụng một số biện pháp giáo huấn để đưa các giáo điều của Nho giáo vào trong dân. Tuy chỉ kéo dài 20 năm, song nỗ lực của chính quyền nhà Minh cũng đã thu được những kết quả nhất định - đó là việc đặt nền móng cho quá trình truyền bá sâu rộng tư tưởng Tống Nho vào Việt Nam và sự lớn mạnh của tầng lớp Nho sĩ mang tư tưởng Tống Nho.

Dòng chảy Đạo học trong thơ ca trung đại Việt Nam đã được khai thông từ những thế kỷ trước. Một số tác phẩm văn chương có nội dung Đạo học đều trực tiếp hay gián tiếp đề cập đến vấn đề bản thể của thế giới. Chẳng hạn, Văn bia pháp Sùng Thiện Diên Linh do Nguyễn Côn Bạt (? - ?) dựng (28/8/1121) nêu ý thức về sự khó khăn khi đi tìm khởi nguyên của thế giới. Căn cứ vào tư liệu hiện còn và được công bố trong các tập Thơ văn Lý Trần tập I và Tổng tập văn học Việt Nam tập I, cũng có thể thấy các tác giả thời Lý cũng ảnh hưởng từ học thuyết Tống Nho khi bàn về khởi nguyên của thế giới. Chẳng hạn:

Phan Trường Nguyên (1110 – 1165) thế hệ thứ mười dòng thiền Quang Bích có những câu thơ luận về Đạo:

Đạo ở khắp mọi nơi, sáng tạo tất cả, trường tồn cùng vạn vật

 

Ở trong ánh sáng, ở trong hạt bụi

 

Nhưng lại không phải là ánh sáng, cũng không phải là hạt bụi

 

Như tượng thì trong suốt, không thân với vật nào cả

 

Là bản thể của giới tự nhiên

 

ứng nhiên vào tất cả các vật, không trừ vật nào

 

Là ông thợ khéo sáng tạo ra trời đất

 

Nhào nặn nhân luân

 

Sinh ra vạn vật

 

Và trường tồn cùng vạn vật

 

(như) cô vũ nữ bằng sắt nhảy múa

 

(và như) thằng người gỗ đánh trống

 

Trong Văn bia chùa Linh Xứng (làng Ngọc Xá, huyện Hà Trung, Thanh Hoá viết trước năm 1001, khắc năm 1126 nói về Đạo biểu hiện qua hai phạm trù “một” và “muôn”.

 

Phạm Thường Chiến (? – 1203), thuộc thế hệ thứ 12, dòng Thiền Quang Bích, làm quan thời Lý Cao Tông nói về Đạo: “Đạo bản vô nhan sắc”.

 

Đàm Cứu Chu (? - ?) sống vào thời Lý, đã viết một mệnh đề ngắn gọn ẩn trong một đoạn văn dài về tư tưởng triết học: “Thế giới đều là biến hoá” - nêu lên mệnh đề cơ bản của phép biện chứng.

 

Đến thời Trần, các Nho sĩ đã biểu đạt những tư tưởng triết học qua việc vận dụng Kinh Dịch và đặc biệt là thuyết Âm dương Nho học vào thực tế Việt Nam, có thể kể đến như: Trần Nhân Tông, Trần Nhật Duật, Trần Minh Tông, Trần Thái Tông…

 

Trong Cư trần lạc đạo phú của Trần Nhân Tông viết: “Sách Dịch xem chơi, Yêu tính sáng yêu hơn châu báu”.

 

Thời nhà Hồ, Hồ Quý Ly đả kích các nhà Tống Nho, gọi là “bọn học trò mặt trắng”, “vô tích sự” nhưng lại rất coi trọng Đạo gia.

 

Trong Bài phú Kiếm chém rắn, Sử Hy Nhan viết: “Thanh kiếm này, hợp đức tinh chính của hào Lục quẻ Khôn, đủ khí kiên cường của hào cửu, quẻ càn”.

          Lê Văn Hưu với hai quẻ bĩ, thái trong Kinh Dịch đã cắt nghĩa sự chìm nổi của dân tộc trên con đường phát triển.

         Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi nhắc đến hai quẻ quan trọng nhất của Kinh Dịch “Càn khôn bĩ mà lại thái, nhật nguyệt hối mà lại minh”.

Việc bói toán theo Kinh Dịch trong xã hội Việt Nam đã được nhà sử học Ngô Sĩ Liên chép lại trong Đại Việt sử ký toàn thư (tr75)

          Phạm Sư Mạnh nói: “tra xét Âm, Dương, bọc thành triết ? hiếm thay cùng vận số” (Thơ văn Lý Trần, tập III), nói lên sự giao cảm vận chuyển của âm dương, sự sinh sôi nảy nở của muôn vật.

          Đào Sư Tích trong bài thơ Sao Cảnh Tinh dùng âm dương để giải thích sự sinh thành con người, sự nối tiếp và phát triển của xã hội…

 

Theo dòng khảo luận văn học trung đại Việt Nam, mặc dù trong phạm vi nhỏ, biểu hiện cũng chỉ rải rác ở góc độ từ ngữ, hình tượng của văn bản, nhưng cũng cho thấy ảnh hưởng rõ nét của Tống Nho đến thơ văn trung đại.

          Nhắc đến các nhà Nho am hiểu sâu sắc Đạo học, bên cạnh Nguyễn Bỉnh Khiêm, các nhà nghiên cứu thường nhắc đến Chu Văn An, Ngô Thì Nhậm, Trịnh Tuệ, Lê Quý Đôn. Thế kỷ XVII, tác giả Ngô Thì Nhậm không đem phần vũ trụ luận của Phật, Lão, Trung Dung hợp thành các phạm trù của mình, trang bị cho mình như các học giả đời Tống đã làm. Ông chỉ sử dụng các phạm trù mà Tống Nho đã tạo dựng như Tâm, Tính, Lý, Đạo để giải thích trở lại các quan điểm triết học của Phật giáo. Điểm này Ngô Thì Nhậm có chỗ thuận lợi vì chính các bản thể, các phạm trù vừa nêu đã được học giả đời Tống kiến lập trên cơ sở vay mượn mô thức tư duy và các quan điểm triết học của Phật giáo. Tống Nho đã đem quan niệm về Phật tính trừu tượng để khái quát và trừu tượng hoá về nhân tính. GS. Trần Đình Hượu rất có lý khi cho rằng cách làm của Ngô Thì Nhậm không vượt ra ngoài quỹ đạo của Chu Hy. Tuy nhiên, đây là một cố gắng dung hợp tôn giáo ở tầng thứ nhận thức bản thể.

          Trịnh Tuệ cũng sử dụng các phạm trù của Tống Nho để chứng minh tương đồng tôn giáo. Ông hướng tới quán thông các con đường tu dưỡng và thể hiện đạo của thế giới trong một chữ Lý của Nho gia. “Giữ tâm nuôi tính rồi suy ra mà dựng đặt những cương lĩnh lớn, giúp đỡ nền hoá dục lớn, đó là tính của Nho. Tỏ rõ tâm tính rồi đi đến phổ độ chúng sinh, thoát ly bể khổ, đó là Lý của nhà Phật. Sửa mình luyện tính rồi đi đến chỗ vượt ra ngoài sự vật, đứng ra ngoài cõi trần, đó là lý của Đạo gia” (Tôn giáo nhất nguyên thuyết)

          Thực tế lịch sử ở nước ta, khi tầng lớp sĩ hình thành, trở thành tầng lớp xã hội quan trọng thì tư tưởng Tống Nho, văn chương Bát đại gia đã trở thành điển phạm, việc đi học, đi thi đều lấy đó làm chuẩn. Loại người nửa triết gia, nửa thi nhân thành mẫu người trí thức. GS. Trần Đình Hượu nhận định: Triết gia là với ý nghĩa phân biệt với làm khoa học, học thuật chứ không phải với ý nghĩa người sáng tạo tư tưởng. Người trí thức đó thực ra là thi nhân nhiều hơn triết gia. Nguyễn Bỉnh Khiêm tiêu biểu cho người trí thức như vậy.

         Theo Phan Huy Chú (Lịch triều hiến chương loại chí): Lịch sử Việt Nam - đời Trần có Chu Văn An giỏi về Đạo học. Thế kỷ XVI có Nguyễn Bỉnh Khiêm. Sang thế kỷ XVIII có Lê Quý Đôn, La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp cùng dòng phái học thuật. Theo các tài liệu chúng tôi tổng hợp được, trong các danh Nho của thế kỷ XVIII, nhiều người theo tư tưởng Đạo gia, Đạo giáo nhưng hỗn dung cả Nho – Phật - Đạo như Ngô Thì Sĩ, Trịnh Tuệ, Lê Quý Đôn, Phan Huy Tích, Lê Hữu Kiều (theo Đạo nhưng sau thờ Phật), Lê Huy Oánh, La Sơn phu Tử Nguyễn Thiếp từng dụng công luyện đan…Về Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Thiếp thì có thể nói chắc rằng, họ cùng nghiên cứu Lý học đời Tống. Tuy nhiên, giữa hai phương diện lý khí và tâm tính thì có vẻ Nguyễn Thiếp chú trọng nhiều về tâm tính, tức là việc thực hành luân lý, đạo đức. Trái lại, Nguyễn Bỉnh Khiêm khai triển tư tưởng theo hướng lý khí, đi vào các vấn đề hình nhi thượng của triết học, như khởi nguyên của trời đất, những thuộc tính mâu thuẫn, đối lập hằng thường của sự vật, nguyên lý lưu động, chuyển hoá của vạn vật…Tất nhiên, khi nhìn vào con người và bản tính của nó, nhiều chỗ ông cũng nhắc lại những quan niệm “thiên chân”, “thiên tính”, “thiên lý nhân dục”…

         Ở Việt Nam, người được coi là am hiểu thực sự về Tống Nho, Đạo học ở thế kỷ XX cho đến nay chỉ có GS. Cao Xuân Huy. Trong công trình nghiên cứu để lại Tư tưởng phương Đông – gợi những điểm nhìn tham chiếu, ông trình bày khách quan về triết học Tống Nho, ảnh hưởng của Tống Nho đến Lê Quý Đôn…mà không thể hiện thái độ khen hoặc chê. Trong khi đó, một số nhà nghiên cứu của Việt Nam khi tìm hiểu tư tưởng Tống Nho của Nguyễn Bỉnh Khiêm cho rằng: Tống Nho so với Nho giáo những thời kỳ trước thực ra là một bước thụt lùi, bởi nó đi vào siêu hình học bằng cách vay mượn những phạm trù Phật, Lão mà không đóng góp được gì thêm về mặt tư tưởng. Thực ra, đặt Tống Nho vào quá trình phát triển logic của triết học Trung Quốc, chúng ta thấy không hoàn toàn như vậy. Trên thực tế, Nho học mà chúng ta nói ở đây không phải nhất thành bất biến. Nó là một thứ kết cấu động thái, một hệ thống mở. Nó tùy theo tình hình cụ thể của các thời kỳ lịch sử khác nhau mà không ngừng phát triển, biến hóa và tự hoàn thiện. Trung Quốc ở thời Xuân thu – Chiến quốc (770 – 221TCN) là thời kì phát triển rực rỡ nhất của triết học, thời kỳ phồn vinh “Bách gia tranh minh”, trăm hoa đua nở. Thời điểm này đã xuất hiện các cuộc luận chiến của các hệ thống triết học độc đáo như Nho gia, Mặc gia, Pháp gia, Âm Dương gia…Nội dung tranh biện chủ yếu thông qua mệnh đề: giữa “trời với người”, “danh và thực”…Đời Hán, nhờ công lao của Đổng Trọng Thư nên Nho học độc tôn. Đến thời Nguỵ Tấn, khi huyền học thịnh hành, mới bắt đầu xuất hiện cục diện chân vạc Nho, Phật, Đạo. Phật, Đạo có phần lấn át tầm ảnh hưởng của Nho gia. Do đó, đến thời Tuỳ Đường, các Nho sĩ tìm cách tác động và hợp lưu Nho, Phật, Đạo. Điều này đã gây ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển triết học. Phật học ngày càng bị dung hoá đi, còn Nho gia thì hấp thu được phần sinh khí mới. Các danh sĩ Tống Nho rút kinh nghiệm từ Hàn Dũ, quá phê phán Phật Lão, còn Lý Cao lại thâu thái quá nhiều thuật ngữ Phật giáo khi nghị luận về triết học. Cách làm này của Tống Nho, về mặt triết học toàn thể nói chung, thì đúng là chưa phát triển thêm gì mới. Quan trọng là nó đã hệ toàn được diện mạo Nho học, từ đây, Nho học có thêm phần hình nhi thượng bên cạnh hình nhi hạ tồn tại đơn độc suốt mấy nghìn năm.

          Đối với xã hội Việt Nam thời kỳ Trung đại, ảnh hưởng của Nho giáo đã được lịch sử chứng minh, nhất là đối với tầng lớp Nho sĩ. Có thể khẳng định, Nho giáo đã tạo ra cho các nhà tư tưởng phong kiến Việt Nam một thế giới quan, cách nhìn nhận và tư duy trong suốt thời kỳ trung đại. Từ trước đến nay, ở nước ta, Nho giáo nói chung, trong đó có Tống Nho chủ yếu được nghiên cứu ở các khía cạnh chính trị - xă hội, đạo đức, mà ít được xét ở góc độ nhận thức luận. Vì vậy, nghiên cứu ảnh hưởng của nhận thức luận Tống Nho tới các nhà Nho ở Việt Nam vẫn còn là một vấn đề mở cần nhiều nhà khoa học quan tâm.

 

Chú thích

(1). Chu Hi (朱熹) tự là Nguyên Hối, hiệu là Hối Am, sinh ngày 18 tháng 10, 1130 tại Vưu Khê, Phúc Kiến,Trung Quốc – mất ngày 23 tháng 4, 1200. Ông là người đã phát triển học thuyết lí - khí của Trình Hạo và Trình Di, đã đưa lí học lên thành một hệ thống duy tâm khách quan hoàn chỉnh, được gọi là Trình Chu lí học.

 

Tư liệu tham khảo:

1. Nguyễn Huệ Chi (chủ biên), Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hội đồng lịch sử Hải Phòng, Viện Văn học Việt Nam, NXB Hải Phòng 2001

2. Nguyễn Huệ Chi (chủ biên), Thơ văn Lý Trần(1989), tập II, Quyển thượng, NXB KHXH, Hà Nội

3. Nhiều tác giả, Thơ văn Lý Trần, tập I, NXB KHXH, Hà Nội, 1977

4. Nhiều tác giả, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Về tác gia và tác phẩm, NXB GD, 2003

5. Nhiều tác giả, Nho giáo ở Việt Nam, Viện nghiên cứu Hán Nôm (Việt Nam), Viện Harvard – Yending (Hoa Kỳ), NXB KHXH, Hà Nội 2006

6. Phùng Hữu Lan, Lịch sử triết học Trung Quốc, Nd: Lê Anh Minh, quyển I. Thời đại Tử học, NXB KHXH, 2006

7. Phan Ngọc, Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, NXB Thanh Niên, 2007

8. Mộng Bồi Nguyên, Hệ thống phạm trù Lý học triết học phương Đông, ND: Tạ Phú Chinh, Nguyễn Văn Đức, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998

9. Bùi Văn Nguyên, Thơ ca Việt Nam, hình thức và thể loại, Bùi Văn Nguyên, NXB Khoa học xã hội, HN 1971

10. Nguyễn Tôn Nhan, Nho giáo Trung Quốc, NXB Văn hoá thông tin, 2005.

 

Nguồn: Tạp chí Văn.

 

Chủ Nhật, 28 tháng 11, 2021

ĐỔNG TRỌNG THƯ VỚI NHO GIÁO

CHỮ LỄ TRONG NHO GIÁO KHỔNG TỬ (NHO GIÁO TIỀN TẦN) VÀ CHỮ LỄ TRONG NHO GIÁO ĐỔNG TRỌNG THƯ (HÁN NHO,….HỦ NHO…) MỘT BÊN PHỤC VỤ XÃ HỘI, NHÂN SINH MỘT BÊN PHỤC VỤ VƯƠNG QUYỀN VÀ CAI TRỊ [Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống bảo vệ chế độ phong kiến Trung Hoa trong suốt hai ngàn năm. Điểm khác biệt so với Nho giáo nguyên thủy là Hán Nho đề cao quyền lực của giai cấp thống trị, Thiên Tử là con trời, dùng "lễ trị" để che đậy "pháp trị".]

ĐỔNG TRỌNG THƯ VỚI NHO GIÁO

(董仲舒)

I.- Sơ lược tiểu sử

      Đổng Trọng Thư người Quảng Xuyên (thuộc huyện Táo Cường tỉnh Hà Bắc hiện nay), sinh năm 179 TCN. Ông xuất thân trong một gia đình đại địa chủ, thuở nhỏ đã khổ công học tập, nổi tiếng là "ba năm không ngó tới điền viên" nhằm dốc lòng nghiên cứu “Công dương Xuân Thu truyện”. Thời Hán Cảnh Đế (156 TCN - 141 TCN) đã nhậm chức Bác sĩ (quan chuyên giảng dạy về kinh điển của Nho gia). Lúc Hán Vũ Đế (140 TCN -87 TCN) chọn người hiền lương có học vấn, ông lần lượt vâng chiếu ba lần trả lời đối sách, dâng vua bài Thiên nhân tam sách nổi tiếng. Vũ Đế đánh giá cao kiến nghị "bãi bỏ bách gia, độc tôn Nho học", rất mau chóng tiếp nhận ý kiến này, lại bổ nhiệm ông làm Tướng quốc cho Dịch vương ở Giang Đô. Ông trở thành chuyên gia tư tưởng của Hán Vũ Đế (Han Wudi).

Trung tâm tư tưởng là học thuyết Nho giáo, có pha lẫn với thuyết âm dương ngũ hành. Xây dựng nên hệ thống thần học phong kiến, trong đó thần quyền, quân quyền, phụ quyền, phu quyền liên kết chặt chẽ với nhau.Sau này do ca ngợi những biến cố tai dị (sự trừng phạt của thiên nhiên đối với con người), khuyên giải Vũ Đế vì đã giết hại đại thần thân cận, làm cho Vũ Đế phẫn nộ, ông bị cách chức và bị nhốt vào ngục. Sau khi được thả ra, ông giữ chức Tướng quốc của Giao Tây vương. Về già, ông xin cáo quan về nhà, không lưu tâm đến sản nghiệp, chỉ chăm lo viết sách và lập “học thuyết”.

Ông mất năm 104 TCN, thọ 75 tuổi. Tác phẩm gồm "Xuân thu phồn lộ", "Đổng Tử văn tập", "Cử hiền lương đối sách".

II.- Học thuyết, trường phái

Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành nên Nho giáo nguyên thủy, còn gọi là Nho giáo tiền Tần (trước đời Tần), Khổng giáo hay "tư tưởng Khổng-Mạnh". Từ đây mới hình thành hai khái niệm, Nho giáo và Nho gia. Nho gia mang tính học thuật, nội dung của nó còn được gọi là Nho học; còn Nho giáo mang tính tôn giáo.

Ở Nho giáo, Văn Miếu trở thành thánh đường và Khổng Tử trở thành giáo chủ, giáo lý chính là các tín điều mà các nhà Nho cần phải thực hành.

Đến đời Hán, Hán Vũ Đế theo ba đề nghị của Đổng Trọng Thư là:

1.- Đưa Nho giáo lên hàng quốc giáo và dùng nó làm công cụ thống nhất đất nước về tư tưởng.

2.- Xây cất trường học, dạy nhiều học trò, dùng kẻ sĩ để dạy tập tục tốt đẹp cho nhân dân.

3.- Đặt nặng vấn đề thi cử để chọn nhân tài, các địa phương có thể đề cử hiền tài ra giúp nước.

         Hán Vũ Đế đã sử dụng học thuyết của Đổng Trọng Thư, coi là hệ tư tưởng chính thống, là khuôn mẫu của đạo đức xã hội. Đổng Trọng Thư, tự cho mình là người tiếp tục tư tưởng của phái Nho gia, nhưng thực tế ông đã xuyên tạc, tiếp thu và khuếch trương những yếu tố duy tâm trong triết học của của Khổng Tử, Mạnh Tử, của phái “Âm dương - Ngũ hành” và các trường phái khác nhau để nhào nặn nên thứ học thuyết mới, một học thuyết mang đậm màu sắc chính trị duy tâm thần bí và khắc nghiệt. Do sự biến dạng cơ bản của nó nên sau này người ta gọi Nho gia do Đổng Trọng Thư khởi xướng lập nên là Hán nho.

Từ đó, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống bảo vệ chế độ phong kiến Trung Hoa trong suốt hai ngàn năm. Điểm khác biệt so với Nho giáo nguyên thủy là Hán Nho đề cao quyền lực của giai cấp thống trị, Thiên Tử là con trời, dùng "lễ trị" để che đậy "pháp trị".

Về tư tưởng triết học và chính trị: Hai mệnh đề quan trọng nhất trong học thuyết của Đổng Trọng Thư là “Trời trao chính quyền” và “Trời và người có thể thông quan, hiểu biết lẫn nhau” (thiên nhân tương dữ).

Ông ra sức đẩy đến mặt cực đoan, mặt duy tâm trong tư tưởng “Mệnh trời” của Khổng Tử, mọi hiện tượng tự nhiên xã hội và trật tự của nó đều được xuất phát và sắp đặt theo ý “trời”, thân thể và ý thức của con người đều do thựơng đế ban cho. Ông cho rằng mọi hoạt động tốt hay xấu của giai cấp thống trị ở dưới trần thế đều gây nên những “cảm xúc” vui hay giận của trời, biểu hiện ra những hình thức “ban ơn” hay “trừng phạt” của trời như được mùa, mưa thuận, gió hòa. . .

         Đổng Trọng Thư cũng sử dụng học thuyết “Âm dương - Ngũ hành” để xây dựng học thuyết duy tâm tôn giáo của mình, vận dụng vào xã hội. Ông đề ra lý luận xã hội có tính chất thần học cho rằng: trật tự và quy luật vận động của xã hội là do ý chí của Thượng đế xếp đặt và chi phối, giai cấp thống trị phải nắm được quy luật ấy để mà cai trị, mọi người phải biết mà tuân theo cho hợp với ý trời.

         Ông đưa ra lý luận “dương thiện, âm ác”, “dương tôn, âm ti” khẳng định giai cấp thống trị, người quân tử biểu hiện thế lực “dương”, là sáng suốt, là người lãnh đạo... còn giai cấp bị trị, kẻ tiểu nhân là biểu hiện của thế lực “âm” là ngu đần, bị động, phục vụ cho thế lực “dương”; trật tự của tự nhiên “âm dương” không thể thay đổi được, do vậy trật tự của xã hội hiện hành là hợp ý trời, là hợp lý vĩnh hằng.

        Ông dùng cặp phạm trù “khí” “âm dương” “ngũ hành” để giải thích quy luật vận động phát triển của thế giới và khẳng định quy luật ấy do trời chi phối và chỉ có thiên tử “con trời-vua” được “Trời trao cho chính quyền” mới nắm được “Thiên thống” để cai trị dân cho hợp ý trời.

         Như vậy chúng ta thấy tư tưởng triết học của Đổng Trọng Thư trong quan niệm về tự nhiên và chính trị xã hội là duy tâm tôn giáo, mang màu sắc mục đích luận rõ nét, ông mưu toan kết hợp thần quyền và vương quyền vào một cá nhân vua, người đứng đầu xã hội, được mệnh danh là “Thiên tử”.

        Về lý luận đạo đức xã hội: Đổng Trọng Thư xây dựng một hệ thống các phạm trù “tam cương”, “ngũ luân”, “ngũ thường” làm khuôn mẫu cho mọi hành vi cư xử, giao tiếp, giáo dục, tự trau dồi cá nhân của mội giai tầng trong xã hội.

         Thuyết “Tam cương” của ông cho rằng, trong quan hệ giữa người với người trong xã hội có ba mối quan hệ là: vua - bề tôi; cha – con; vợ - chồng. Sau mở rộng ra hai mối quan hệ nữa là: anh - em; bạn bè thành “ngũ luân”. Thực ra đây là mối quan hệ đã được Khổng Tử, Mạnh Tử đề cập đến rồi, như Đổng Trọng Thư đã tước đi một số yếu tố có tính nhân đạo, tiến bộ mà đưa vào quan niệm một chiều khắt khe.

         Đặc biệt là với “Tam cương” ông đưa ra thứ quy tắc đạo đức phi lí, phi nhân bản: “vua xử tội chết thần phải chết nếu không mắc tội bất trung, cha bảo con chết, con phải chết, nếu không là mắc tội bất hiếu, chồng bảo vợ phải tuyệt đối tuân theo”. Ông đã dùng thuyết “âm dương” nhưng bỏ mặt duy vật, nên ông cho rằng đó là  quy luật của tự nhiên và viện đến ý “trời”để biện minh cho học thuyết đạo đức của mình: “Vua là tượng của “trời”, nên có đức che chở, hướng dẫn; bề tôi là tượng của “đất”, nên có đức tính chuyên chở, tuân theo; chồng là khí “dương” nên có đức sinh, dẫn đầu, vợ là thuộc khí “âm” nên có đức phụ trợ, tuân theo; cha là thuộc “mùa xuân” nên có đức sinh, con là thuộc “mùa hạ” nên có đức dưỡng, tuân theo”  và tất cả là “do trời định đoạt”.

      Thuyết “Ngũ thường” (năm cái thường lý, thường tình của con người) là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Về mặt tên gọi và nội dung của nó là “chép lại” của Khổng Tử. Nhưng Đổng Trọng Thư đã giải thích và vận dụng nó theo mục đích của mình. Ông cho rằng con người phải có đủ “Ngũ luân” để thực hiện đạo “Tam cương”, và con người mới có đạo “Cương-Thường”.

        Thực ra học thuyết về luân lý đạo đức của Đổng Trọng Thư nhằm mục đích cao nhất là “trung quân”, trung thành tuyệt đối với nhà vua. Bởi vì mối quan hệ vua-tôi là đứng đầu trong ba mối quan hệ được coi là rường cột, cơ bản của con người, xã hội. Điều này cho thấy hoàn toàn trái ngược với Khổng Tử, Mạnh Tử.

Về bản tính của con người: Đổng Trọng Thư chia con người thành ba loại:

- Loại thứ nhất tình dục rất ít, không cần dạy dỗ cũng thành người tốt đó là “tính thánh nhân”;

- Loại thứ hai tình dục quá nhiều có dạy dỗ cũng khó mà được người tốt gọi là “tính nhỏ mọn”;

- Loại thứ ba là loại tuy có tình dục nhưng thể là tốt hoặc xấu gọi đó là “bậc trung”.

Ông lập luận về bản tính của con người là cơ sở lý luận để củng cố đẳng cấp bất bình đẳng trong xã hội phong kiến.

          Như vậy, Nho giáo qua bàn tay “chế biến” của Đổng Trọng Thư thời Hán so với Nho giáo thời Khổng Tử, thậm chí cả thời Mạnh Tử là một bước thụt lùi nghiêm trọng.

Chính tính nghèo nàn, xơ cứng của nó đã đẻ ra một truyền thống học hành thi cử theo kiểu sách vở “Từ chương huấn hổ” và để lại tấm gương Hiếu - Trung mù quáng của các thế hệ nhà Nho sau này. Nó trở thành công cụ thống trị tinh thần đắc lực của nhà nước trung ương tập quyền, chuyên chế của các triều đại phong kiến tiếp sau.

III.- Kết luận:

        Triết học Nho giáo của Đổng Trọng Thư là lập trường triết học duy tâm-bảo thủ. Những cái mà ông đã làm là, hạ thấp nhân trị, đề cao lễ trị. Vì nhân trị là cốt lõi của Khổng Tử nên ông không thể loại bỏ hoàn toàn mà dùng nhân trị như một cái vỏ bao bọc lễ trị.

        Ông cũng đã loại bỏ tính dân chủ của Nho giáo nguyên thủy. Dân là chủ bị lờ đi mà thay vào đó họ đề cao "trời", tạo ra thuyết "thiên mệnh".

Vua là "thiên tử" (con trời), không nghe theo vua là phản lại trời. "Ngũ luân" trong Nho giáo nguyên thủy được rút gọn thành "tam cương": vua-tôi, cha-con, vợ-chồng. Đổng Trọng Thư đã chia tính người thành ba cấp (trên, giữa và dưới); xây dựng nên hệ thống phong kiến duy tâm thần học lớn nhất của Trung Quốc. Quan hệ "trung dung" trong ngũ luân được chuyển thành quan hệ một chiều duy nhất được tóm gọn trong bốn chữ "trung-hiếu-tiết nghĩa”. Cuối cùng ông đã thực hành việc hạn chế vai trò của văn hóa sao cho có lợi cho chế độ phong kiến.

Tóm lại, Đổng Trọng Thư  đã xây dựng nên hệ thống thần học làm nền tảng cho chế độ phong kiến, trong đó thần quyền, quân quyền, phụ quyền, phu quyền liên kết chặt chẽ với nhau. Lí thuyết cơ bản là "thiên nhân cảm ứng", cho rằng Trời là "ông tổ của vạn vật", là "vua của trăm vị thần”. Trời Người có quan hệ mật thiết với nhau, con người đúng với danh nghĩa của nó, là phải toàn thiện, hoàn hảo như Trời.

          Nhưng, độc tôn Nho giáo dẫn tới làm cho Nho gìáo thoái hóa, mất sức sống và sáng tạo, chỉ còn là một bậc thang của danh và lợi mà thôi. Những nhà chính trị sau nầy cũng  vận dụng tư tưởng của Đổng Trọng Thư mà “hạn chế bớt một số mặt văn hóa, chỉ cho phổ biến cái nào có lợi cho giai cấp thống trị” mà thôi. Chủ nghĩa duy tâm thần bí  “thiên tử, thiên mệnh” quá lỗi thời, không còn chỗ đứng trong xã hội ngày nay.

Hai điều chúng ta có thể áp dụng là, mở nhiều trường học, đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước; thực tâm đề cử, tiến cử người có đạo đức tốt, tài năng tốt ra tham chánh giúp nước giúp dân.

Thêm nữa, quan điểm con người là một “tiểu thiên địa” mà ông viết trong Xuân Thu Phồn Lộ cũng có chỗ cho chúng ta suy nghĩ, vận dụng: “ … Vũ trụ mà không có người thì vũ trụ không còn hoàn toàn, không thành được vũ trụ nữa. Bởi vì vũ trụ là một đại hòa điệu của Tam tài: Thiên, Địa, Nhân, nếu mất một yếu tố thì sự hòa điệu ấy không còn.

Cho nên: Trời Đất Người là gốc của muôn vật: “Trời sanh ra, Đất nuôi dưỡng, Người làm nên”.

NGUỒN BÀI ĐĂNG