XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG

Thứ Tư, 12 tháng 8, 2026

VÙNG ĐẤT BA DON Ở HUYỆN VĨNH LỘC

Xã Vĩnh Yên nằm ở phía tây bắc huyện Vĩnh Lộc. Thiên nhiên đã tạo cho Vĩnh Yên một phong cảnh tuyệt vời.

        Trên có núi có đồi, dưới có sông, có bãi. Đặc biệt, vùng đất An Tôn (nay gọi là Yên Tôn) còn gắn liền với nhiều truyền thuyết, sự kiện trong việc hình thành xây dựng kinh đô triều Hồ. Nơi đây còn nổi tiếng với đặc sản dưa Don. Chạy dài theo bờ bắc sông Mã, vùng Yên Tôn gồm có các thôn: Yên Tôn Thượng, Yên Tôn Hạ và thôn Phù Lưu. Hay còn gọi là ba Don: Don Thượng, Don Hạ và Don Trung. Dãy núi An Tôn nằm dọc theo phía đông của ba thôn. Vùng đất này, thời nhà Trần thuộc động An Tôn, huyện Vĩnh Ninh, trấn Thanh Hóa. Sách Thanh Hóa tỉnh - Vĩnh Lộc huyện chí của Lưu Công Đạo, tri huyện Vĩnh Lộc thời vua Gia Long năm thứ 15 (1816) viết về núi An Tôn: “Núi ở địa phận xã An Tôn, xưa gọi là động An Tôn.

       Núi từ Mang Trình kéo xuống liền men theo Cẩm Hoàng, trải đến Cẩm Nhất, vượt theo sông nước Quảng Bình đến Quan Hoàng, Eo Lê men theo sông mà đổ về. Nham thạch nổi lên thưa thớt, trong núi có động, thạch nhũ nhỏ giọt, nước liên tục nhỏ giọt bốn mùa không thôi. Lại thấy hai ngọn núi đột nhiên hiện lên, thế thật độc lập, giống như hai con voi đang xuống sông. Đứng từ xa mà nhìn về, hình sắc như vẽ, thiên nhiên thật tươi đẹp. Mé trái núi thời Hồ gọi là thành Tây Đô” (1). Để có một làng quê tươi đẹp trù phú rộng rãi như hiện nay, vùng Yên Tôn đã trải qua hàng ngàn năm hình thành và phát triển. Các cụ già trong vùng kể rằng, theo tiền nhân truyền lại, tên làng An Tôn đã có hàng ngàn năm trước. Khi cả vùng này còn hoang vu rậm rạp, dân cư xung quanh thưa thớt, dòng sông Mã còn chảy sát chân núi An Tôn, thì làng An Tôn đã có nhiều cư dân sinh sống.

       Thời Trần Thuận Tông, Hồ Quý Ly họp bàn với triều thần, ép vua dời đô về động An Tôn. Triều thần nhiều người phản đối, Khu mật chủ sự thị là Nguyễn Nhữ Thuyết dâng thư can “... An Tôn là đất chật hẹp hẻo lánh, cuối nước đầu non, nên với loạn mà không nên với trị, chỉ cậy chỗ hiểm được thôi”(2), Hồ Quý Ly không nghe, vẫn quyết định dời đô. Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Đinh Sửu (1397). Mùa Xuân, tháng giêng, sai Thượng thư Lại Bộ kiêm Thái Sử lệnh là Đỗ Tỉnh đi xem xét đo đạc động An Tôn phủ Thanh Hóa, đắp thành đào hào, lập nhà miếu nền xã, mở đường phố, có ý muốn dời kinh đô đến đấy, 3 tháng làm xong”.(3)

       Mặc dù không nằm sát ngay cổng Thành nhà Hồ, từ khi Hồ Quý Ly cho người về xây dựng kinh thành và đóng đô, vùng đất An Tôn từ đó càng phát triển nhộn nhịp. Núi An Tôn là một trong những công trường khai thác đá xây dựng kinh thành. Cũng là nơi tiếp nhận vận chuyển nguyên vật liệu. Kinh đô nhà Hồ tồn tại chỉ 7 năm, sau đó, quân Minh chiếm đóng, rồi có lúc là hành tại của vua Lê - chúa Trịnh, vùng đất An Tôn thực sự là điểm quan trọng, đất lành chim đậu, cư dân phiêu tán từ các nơi dần dần về ở trong vùng thêm đông đúc. Lý giải về việc An Tôn Thượng ở phía dưới, An Tôn Hạ lại ở trên, các cụ già nói rằng: Từ xa xưa chỉ có một làng An Tôn, khi sông Mã còn chảy sát chân dãy núi An Tôn, làng nằm ở phía đông núi. Trải qua thời gian sông lở cát bồi, sông Mã đổi dòng chảy, đã tạo cho vùng đất An Tôn bãi bồi rộng lớn. Dân chuyển dần sang phía tây dãy núi An Tôn cho gần với sông bãi, tránh được gió bấc. Gò thượng nổi trước, lại gần với kinh thành Tây Đô, được gọi là An Tôn Thượng. Gò hạ bồi đắp sau, nên có tên là An Tôn Hạ. Thôn Phù Lưu sau này được tách ra từ hai thôn mà thành. Từ xưa Nhân dân An Tôn (ba Don) Sinh cơ lập nghiệp phát triển rất tốt. Dân sống chủ yếu bằng nghề nông, cây trồng chủ yếu là lúa, ngô, dâu, đậu lạc và rau cải.

       Dân còn có nghề khai thác đá, cát. Cả ba thôn khi xưa đều có nghè, đình. Đương cảnh Thành Hoàng của ba thôn phụng thờ là Cao sơn Thần Tướng Đại Vương và Đương Giang Quản Gia Đô Bác Đại Vương. Các triều vua đều có sắc ban phong mỹ tự.

       Từ An Tôn hạ xuống đến Thọ Đồn, vùng bãi bồi đến nay dài gần 3km, có chỗ rộng đến 600m, diện tích lên đến hàng trăm ha. Hàng năm vào mùa mưa, bãi bồi được tiếp một lượng lớn phù sa màu mỡ, rất thích hợp cho các loại cây trồng, đặc biệt là cây ngô, cây dâu và rau cải. Huyện Vĩnh Lộc không những nổi tiếng là nơi sản sinh ra nhiều danh nhân lịch sử, nhiều di tích danh thắng, mà nơi đây còn có nhiều đặc sản ngon nổi tiếng từ xưa đến nay, gắn với từng giai đoạn lịch sử. Các cụ xưa có câu: Chè lam Phủ Quảng, dưa Don, cà Giáng, táo Phương Giai, khoai làng Bồng... Dưa Don đã nổi tiếng trong tỉnh từ mấy trăm năm trước.

        Thiên nhiên ưu đãi cho ba Don, Thọ Đồn một bãi phù sa rộng lớn bên bờ sông Mã. Trừ mùa lũ lụt, còn lại các tháng trong năm, bãi bồi phù sa xanh mướt ngô đậu, rau cải dưa. Ở ba Don, rau cải được chọn để trồng bà con gọi là rau cải nứa, có nguồn gốc xuất xứ từ tổng Hồ Nam khi xưa. Cây rau cải nứa rất khác với cải sen hay cải ngọt, cải xanh. Cây cải nứa thân chỉ nhỏ bằng chiếc đũa, rau ít phân nhánh. Sau mùa mưa từ cuối tháng 9 âm lịch, chờ cho bãi đất khô, nông dân lại làm đất để gieo trồng ngô và rau cải. Khi tỉa ngô, để tận dụng đất phù sa màu mỡ, bà con nông dân gieo xen rau cải dưa. Trên những luống ngô, đất tốt bãi bồi mát, rau cải lên nhanh như thổi, khi tới kì vun gốc cho ngô thì bà con nông dân cũng đồng loạt nhổ dưa thu hoạch, lúc này cây dưa đã cao, thân vàng những ngồng hoa chúm chím, gọi là cải ngồng. Dưa nhổ lên, đã có các thương lái đến tại bãi mua rồi phân phối đi các nơi.

       Dưa Don, cách muối cũng đơn giản như các loại dưa cải khác. Muốn ăn nhanh thì khi muối cho nước thêm lá hành, đường trắng, ớt để mau chua, tăng vị ngọt.

       Ngoài cách muối để nhanh ăn, Nhân dân trong vùng còn có cách muối trường để dưa ngon và ăn được lâu. Dưa cải Don mua về, phơi trong mát một ngày cho héo, sau đó nhặt rửa sạch, để ráo nước, để nguyên cả cây, dùng chum sành hoặc vại to để muối. Lèn dưa vào vại, cứ một lớp dưa lại vảy đều một lớp muối hạt to. Khi đã muối dưa đầy chum vại, trên miệng vại lót vỉ tre, phủ kín bằng lớp rơm nếp đã rửa sạch phơi khô. Dùng đá cuội to để nén cho thật nặng mau nổi nước tự nhiên. Sau muối khoảng 15 ngày thì dưa đã chín vàng thơm ngon. Dưa Don muối kiểu này càng để lâu càng ngon, ăn cả cái lẫn nước. Khi ăn lấy dưa ra cắt khúc vừa ăn, bầy vào đĩa, mùi dưa thơm đặc trưng, mầu dưa vàng như chạch, nhìn đã thấy thèm, dưa Don ăn với thịt luộc ba chỉ, chấm nước mắm ớt. Ngày Tết ăn kèm với thịt đông, Dùng dưa kho với cá đồng, ăn dưa còn thích hơn ăn cá. Thật là món ăn dân dã đơn sơ nhưng thật đầm ấm, đã ăn một lần thì không quên được. Các cô gái ở vùng dưa, lấy chồng xa quê, khi về thăm nhà, lúc đi kiểu gì cũng nhổ rau cải dưa mang theo. Có cô còn xin cả vại dưa muối trường. Bãi bồi ven sông Mã ở xã Vĩnh Yên, có lớp đất phù sa pha cát rất dày. Nhưng đất của làng Yên Tôn Thượng lại tốt hơn cả. Trồng dưa đầu tiên và nhiều nhất, bắt nguồn từ làng Don Thượng. Dưa cải có thể gieo trồng quanh năm. Nhưng tốt nhất vẫn là vụ đông và vụ xuân. Nếu thời tiết thuận lợi, được mùa, được giá, dưa cải Don cũng có một khoản thu nhập đáng kể. Song hiện nay diện tích gieo trồng dưa Don, đang dần bị thu hẹp, giá rẻ lại không năng suất bằng các loại rau cải cuốn. Chính quyền địa phương cũng rất tạo điều kiện cho nông dân, tuyên truyền hướng dẫn phổ biến khoa học kĩ thuật, để mở rộng diện tích trồng cây rau cải theo hướng chuyên canh. Rau dưa cải là cây trồng đặc thù của ba Don từ nhiều đời nay, là món ăn truyền thống của dân tộc. Tuy nhiên vì làng ở ngoài đê bãi ven sông, nên cũng gặp rất nhiều hệ lụy. Có những năm phải chạy mấy lần lũ lụt, rau mầu mất trắng. Người nông dân một nắng hai sương với đồng bãi, khắc phục khó khăn về thời tiết. Sống chung với lũ lụt, Bà con nông dân vẫn duy trì cây rau mầu truyền thống, nhất là cây rau cải Don đã làm nên một thương hiệu từ xưa.

        Là niềm hoài mộng của Nhân dân trong vùng. Hy vọng trong một tương lai không xa, vùng kẻ Don sẽ nổi tiếng như xưa, với thiên nhiên thuận lợi, trên bến dưới thuyền, núi động hùng vĩ, sẽ là vùng chuyên canh cây dưa Don đặc thù truyền thống, sản phẩm có đầu ra ổn định, hiệu quả kinh tế. Để đánh thức tiềm năng, Ban quản lý Trung tâm Bảo tồn di sản Thành nhà Hồ, mở thêm tua cho khách vào tham quan núi động An Tôn; Tìm hiểu công trường khai thác đá xây dựng kinh đô nhà Hồ hơn sáu trăm năm trước; Thăm hang Nàng, tương truyền khi Hồ Quý Ly thay thế nhà Trần, đã an trí vua Trần Thiếu Đế (Trần Án) ở đây, cùng với các nàng hầu, cho đến lúc chết. Dân làng đặt tên là hang Nàng. Khách du lịch sẽ xuống thăm cánh bãi của ba Don, Thọ Đồn rộng ngút ngát, tham gia gieo trồng thu hoạch với nông dân để trải nghiệm. Vào thăm các ngôi đình cổ, tìm về cội nguồn với những bản sắc phong bằng chữ Hán từ mấy trăm năm nay vẫn còn nguyên mầu mực. Lễ hội Thành hoàng truyền thống đầu xuân, với các điệu múa văn hóa dân gian. Được nghe lại những câu ca dao:


 Hỡi cô có thắt lưng xanh

 Có về Don Thượng với anh thì về

 Don Thượng có Sập nằm kề

 Có sông tắm mát lại kề bãi ngô.


Tác giả. Nguyễn Huy Miên

Chi hội Khoa học Lịch sử Tây Đô


Trích từ Tạp chí Thanh Hoá Xưa & Nay

Tập 22 (5/2021)


 Chú thích:

(1) Lưu Công Đạo, Thanh Hóa tỉnh - Vĩnh Lộc huyện chí (2012), Biên dịch: Nguyễn Văn Hải - Nxb Thanh Hóa, trang 31.

(2) Đại Việt Sử ký toàn thư tập 1 (2004), Nxb Văn hóa Thông tin, trang716.

(3) Đại Việt Sử ký toàn thư tập 1, (2004), Nxb Văn hóa Thông tin, trang 715.



Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2026

NHA TRANG HỘI NGỘ

Kính tặng Thầy Quang, Cô Hợi và cựu giáo sinh Khóa IV Sư phạm 10+3 Thanh Hóa (1975–1978), hội ngộ Nha Trang 01–03/8/2026.

Tháng Tám Nha Trang biển biếc xanh,
Thầy trò gặp lại thắm chân thành.
Bốn mươi tám năm xa cách ấy,
Hôm nay sum họp rộn ân tình.

Tóc bạc pha sương lòng vẫn trẻ,
Nụ cười còn đượm thuở xuân xanh.
Bao nhiêu kỷ niệm về nguyên vẹn,
Sưởi ấm lòng nhau giữa biển lành.

Khóa Bốn năm nào chung mái lớp,
Ươm mầm tri thức giữa quê hương.
Đường đời mỗi đứa đi muôn ngả,
Nghĩa bạn chưa hề vướng bụi sương.

Thầy Quang đức độ như cây cả,
Cô Hợi ân cần tựa mẹ hiền.
Một đời gieo chữ bền năm tháng,
Để lại trong lòng vạn nỗi duyên.

Mười bảy đồng môn cùng hội ngộ,
Bắt tay ríu rít chuyện năm nào.
Tiếng cười xua hết bao xa cách,
Mắt sáng bừng lên giữa sóng trào.

Thanh Bình, Văn Nhượng vui hội ngộ,
Đình Chinh, Xuân Hùng rộn tiếng ca.
Ngọc Hải, Quốc Dũng cùng nâng chén,
Thắm nghĩa đồng môn một mái nhà.

Phan Mùi, Trương Mai còn duyên dáng,
Duy Cảng, Huy Văn vẫn nghĩa tình.
Lê Hân, Ngọc, Đào cùng hội tụ,
Bao lời thương nhớ mãi lung linh.

Thị Xuân, Lưu Hân chung tiếng hát,
Quang Tuyến, Thanh Thủy rạng môi cười.
Mười bảy tấm lòng chung nhịp đập,
Ấm tình bè bạn suốt đời người.

Đêm trước Gala đèn rực sáng,
Lời ca hòa quyện gió khơi xa.
Ly đầy nâng chúc bao hạnh phúc,
Thắm mãi tình xưa một mái nhà.

Sớm dậy cà phê thơm ngát phố,
Chuyện đời nối chuyện thuở sinh viên.
Tiếng cười lan giữa hàng cây biếc,
Biển cũng vui cùng cuộc hội duyên.

Long Sơn chuông sớm vang non nước,
Khói tỏa trầm hương quyện gió trời.
Cầu chúc bạn bè luôn mạnh khỏe,
An vui hạnh phúc trọn đời người.

Tháp Bà cổ kính còn soi bóng,
Dấu tích ngàn năm mãi sáng ngời.
Lặng ngắm rêu phong cùng lịch sử,
Lòng nghe đất nước gọi bao đời.

Trưa về khách sạn cùng cơm ấm,
Chuyện cũ đong đầy giữa tiếng cười.
Nghỉ ngơi lấy sức cho chiều đến,
Đón tiếp hành trình đẹp tuyệt vời.

Viện Hải Dương học bao kỳ thú,
Muôn loài khoe sắc giữa trùng khơi.
Đại dương mở rộng trang tri thức,
Đọng mãi trong tim mỗi tiếng cười.

Dinh cũ Bảo Đại còn lưu dấu,
Lặng kể bao điều chuyện nước non.
Bậc đá rêu phong cùng năm tháng,
Gợi bao suy tưởng với tâm hồn.

Hòn Chồng sóng vỗ ngàn năm hát,
Đá đứng hiên ngang giữa biển trời.
Cả đoàn lưu lại bao hình đẹp,
Kỷ niệm theo mình suốt một đời.

Chiều xuống biển xanh dần tím biếc,
Hoàng hôn nhuộm đỏ cánh buồm xa.
Ai cũng bồi hồi nhìn sóng vỗ,
Ngỡ mình trở lại tuổi đôi mươi.

Bữa tối quây quần thêm ấm cúng,
Mỗi người kể một đoạn đường xa.
Buồn vui gửi lại trong câu chuyện,
Chỉ giữ yêu thương với đậm đà.

Tháp Trầm Hương lung linh ánh ngọc,
Quảng trường rực rỡ giữa đêm thanh.
Bước chân thong thả cùng bè bạn,
Biển hát ngàn lời đón chúng mình.

Chợ đêm đông vui người tấp nập,
Quà quê gửi gắm chút ân tình.
Tiếng cười hòa với dòng người bước,
Đêm biển Nha Trang đẹp hữu tình.

Sớm Ba trả phòng lòng quyến luyến,
Cà phê thêm chén đượm tình thân.
Lời chào bịn rịn còn vương mãi,
Ánh mắt nghẹn ngào chẳng nói gần.

Mỗi người trở lại miền quen thuộc,
Mang cả Nha Trang ở cạnh lòng.
Mang theo bè bạn cùng thầy quý,
Như sóng ngàn khơi mãi chảy dòng.

Mai này nếu tóc thêm màu bạc,
Xin vẫn tìm nhau giữa cuộc đời.
Còn gặp còn vui còn hạnh phúc,
Còn nghe bè bạn gọi tên người.

Khóa Bốn trường xưa còn mãi đó,
Thầy cô bè bạn vẫn trong tim.
Hẹn ngày hội ngộ mùa sau nhé,
Nha Trang còn đợi cánh chim tìm.

Tháng 8 năm 2026

Thứ Năm, 6 tháng 8, 2026

MỘT CON VỊT XÒE RA HAI CÁI CÁNH

Một con vịt xòe hai cánh,
Tuổi thơ theo mãi tiếng đồng.
Lạch bạch qua bờ ruộng nước,
Gọi mùa xanh thắm non sông.
Gà quen quanh sân nắng sớm,
Trâu cày gắn chặt đồng sâu.
Riêng vịt đôi bờ xuôi ngược,
Nước bùn làm bạn từ lâu.
Ao làng vang câu gọi bạn,
Đầm sen dậy sóng chân trời.
Tiếng vịt ngân chiều gặt hái,
Theo người qua mấy kiếp người.
Đông Sơn hoa văn còn đó,
Chim nước in giữa mặt đồng.
Ngàn năm phù sa kể chuyện,
Vịt bơi cùng bóng non sông.
Văn minh sinh từ sông nước,
Lúa vàng nuôi sống bao đời.
Con vịt thành hồn ruộng bãi,
Theo dòng lịch sử đầy vơi.
Lạch bạch vịt bầu ai ví,
Khàn như vịt đực quen tai.
Vịt nghe sấm ngơ ngác mãi,
Tiếng cười dân dã còn hoài.
Kho tàng tục ngữ thành ngữ,
Mượn hình vịt nói chuyện người.
Không ai phong danh cho vịt,
Mà vào tiếng Việt muôn đời.
Ca dao bờ tre mái rạ,
Đàn vịt xuôi nước chiều hôm.
Tiếng quê theo mùa gặt chín,
Đọng trong ký ức vàng rơm.
Nước Nga cũng yêu đàn vịt,
Ngạn ngữ hóm hỉnh truyền nhau.
Hai bà cùng thêm một vịt,
Hóa thành cái chợ lao xao.
Kinh Thi mở đầu chim nước,
Quan quan vọng giữa bờ lau.
Uyên ương nên duyên vợ chồng,
Tình người bền chặt ngàn sau.
Đôi chim song hành mặt nước,
Ước nguyền son sắt trăm năm.
Tranh thêu gốm xưa còn giữ,
Một niềm hạnh phúc âm thầm.
Bắc Kinh thơm lừng vịt quay,
Da vàng óng ánh như gương.
Vân Đình vịt cỏ đất Việt,
Đậm đà hồn bếp quê hương.
Om sấu, cháo thơm, gỏi vịt,
Bún măng đượm vị đồng quê.
Mỗi miền thêm một hương sắc,
Giữ hồn đất nước say mê.
Ngày nay tâm lý học nói,
Hội chứng mang tên Duck.
Trên hồ bình yên lặng lẽ,
Dưới chân quẫy mãi nhọc nhằn.
Bề ngoài nụ cười rạng rỡ,
Bên trong sóng gió khôn nguôi.
Con vịt thành lời ẩn dụ,
Cho đời kỹ thuật hôm nay.
Vịt đâu oai như chúa hổ,
Chẳng trung như chó giữ nhà.
Không cao sang như chim hạc,
Chỉ hiền giữa gió đồng xa.
Ấy mà ngàn năm văn hóa,
Vẫn còn thấp thoáng bóng quen.
Từ trống đồng sang cổ tích,
Đến trang sách mới sáng đèn.
Từ ca dao cùng ngạn ngữ,
Đến thơ cổ với tình duyên.
Đến bàn ăn và tâm lý,
Vịt còn hiện hữu bình yên.
Biểu tượng đâu cần cao ngạo,
Chỉ cần bền bỉ đồng hành.
Đi cùng bao đời dân Việt,
Qua bao dâu bể mong manh.
Mưa tan đồng quê gọi bạn,
Đàn vịt ríu rít ven đê.
Nghe như hồn xưa trở lại,
Ru nền lúa nước say mê.
Chuồng gà kê liền chuồng áp,
Câu đối hóm hỉnh dân gian.
Một chữ Hán mà gợi nhớ,
Bao điều thú vị chứa chan.
Gorki kể người mẹ nghèo,
Khấn con trong giấc ngủ say:
“Cầu con đông đàn con gái,
Theo nhau ríu rít vịt bầy.”
Pato sân cỏ nước bạn,
Biệt danh Vịt Con vang xa.
Từ đồng quê sang sân cỏ,
Một tên vẫn đượm hiền hòa.
Một con vịt xòe hai cánh,
Bay vào ký ức nhân gian.
Không cần ngai vàng danh vọng,
Vẫn còn mãi với thời gian

TRƯỜNG CA CON VỊT: Một con vịt xòe ra hai cái cánh

I. TIẾNG VỊT TUỔI THƠ
Một con vịt nhỏ ven đồng,
Xòe hai cái cánh giữa dòng nước trôi.
Tuổi thơ ai cũng một thời,
Nghe câu hát ấy bên nôi mẹ hiền.
Làng quê bờ bãi bình yên,
Ao trong soi bóng mái hiên, hàng dừa.
Vịt bơi từ sớm đến trưa,
Chiều theo chân mẹ qua mùa lúa xanh.
Gà quen sân đất loanh quanh,
Trâu đi theo luống cày thành đường sâu.
Vịt thì chẳng ngại nơi đâu,
Trên bờ lạch bạch, dưới ao tung hoành.
Mưa về nước trắng đồng xanh,
Đàn con ríu rít vây quanh vịt nhà.
Mẹ đi trước, trẻ theo sau,
Một đàn vàng óng lao xao mặt hồ.
Quê nghèo chẳng có điểm tô,
Chỉ tre, chỉ lúa, con đò, dòng sông.
Vậy mà thương nhớ mênh mông,
Tiếng đàn vịt gọi giữa đồng chiều mưa.
II. TỪ THUỞ TRỐNG ĐỒNG
Ngược dòng lịch sử xa xưa,
Đông Sơn còn vọng nắng mưa bao đời.
Trống đồng lưu dấu người ơi,
Chim bay, hươu chạy, dáng người múa ca.
Thủy cầm thấp thoáng hiện ra,
Theo dòng sông nước bao la thuở nào.
Cánh chim nghiêng giữa trời cao,
Bóng chim dưới nước lao xao trống đồng.
Cha ông dựng xóm ven sông,
Gieo mầm lúa nước giữa đồng phù sa.
Ao hồ gần gũi mái nhà,
Con người cùng vịt trải qua tháng ngày.
Ngàn năm mây trắng còn bay,
Ngàn năm nước vẫn đong đầy dòng sông.
Hình chim còn giữa trống đồng,
Nhắc nền văn hóa ruộng đồng Việt Nam.
III. CON VỊT TRONG TIẾNG VIỆT
Vịt đâu danh giá cao sang,
Mà sao tiếng Việt lại mang bóng hình.
Vịt bầu lạch bạch dáng xinh,
Bước đi nghiêng ngả một mình đáng yêu.
Vịt đực khàn giọng sớm chiều,
Thành câu ví von bao điều dân gian.
Sấm trời nổi giữa mây ngàn,
“Vịt nghe sấm” cứ ngỡ ngàng đứng trông.
Chuyện người gửi chuyện ruộng đồng,
Mượn con vật nhỏ mà mong nói đời.
Bao câu cửa miệng thành lời,
Trăm năm truyền lại chẳng rời dân gian.
Chẳng ai sắc chỉ phong quan,
Chẳng ai dựng tượng giữa ngàn hoa tươi.
Vậy mà trong tiếng nói người,
Con vịt lạch bạch vẫn cười ngàn năm.
IV. ĐÀN VỊT QUÊ HƯƠNG
Sớm mai sương phủ xa xăm,
Người chăn mở cửa, cả đàn ùa ra.
Qua đường làng, xuống ruộng xa,
Bao nhiêu tiếng gọi hòa ca giữa đồng.
Mùa vàng trải rộng mênh mông,
Gặt xong vịt lại theo đồng kiếm ăn.
Hạt rơi còn sót dưới chân,
Ốc cua cũng hóa thành phần trời cho.
Người quê chẳng tính thiệt hơn,
Ruộng nuôi cây lúa, lúa còn nuôi ta.
Vịt ăn hạt rụng đồng xa,
Phân về bón đất, thật thà vòng quay.
Chiều buông tím cả chân mây,
Người lùa đàn vịt theo cây cầu làng.
Khói bếp đã tỏa mơ màng,
Tiếng con gọi mẹ vọng sang bên bờ.
Ai xa quê nhớ tuổi thơ,
Có khi chỉ một tiếng “cờ cạc” thôi.
Mà nghe cay mắt bồi hồi,
Thấy đồng lúa cũ, thấy người năm xưa.
V. CON VỊT ĐI KHẮP NHÂN GIAN
Vịt đâu chỉ của làng ta,
Theo dòng văn hóa đi qua bao miền.
Nước Nga tuyết trắng triền miên,
Cũng đem tiếng vịt kết duyên chuyện cười.
Hai người trò chuyện vui tươi,
Thêm con vịt nữa thành nơi họp chợ.
Một câu ngạn ngữ bất ngờ,
Mà nghe náo nhiệt như bờ ao quê.
Đông Tây dù cách sơn khê,
Tiếng cười nhân thế vẫn về gặp nhau.
Con người dù ở nơi đâu,
Cũng yêu những chuyện nhiệm màu đời thường.
VI. UYÊN ƯƠNG VÀ CHUYỆN TÌNH
Kinh Thi từ thuở xa xăm,
“Quan quan thư cưu” âm thầm vọng sang.
Chim đôi trên bãi dịu dàng,
Gọi câu quân tử, gọi nàng thục trinh.
Chim kia hòa hợp đôi mình,
Người xưa gửi cả chuyện tình vào chim.
Uyên ương sóng nước im lìm,
Một đôi chung bóng nổi chìm có nhau.
Tranh xưa vẽ cạnh nhịp cầu,
Đôi chim mặt nước kề đầu bên hoa.
Người mong duyên chẳng phôi pha,
Trăm năm chung bước một nhà thủy chung.
Vịt thường chẳng được tôn xưng,
Nhưng loài vịt nước lại từng tượng trưng
Cho tình chồng vợ tương phùng,
Cho câu son sắt đi cùng tháng năm.
VII. CON VỊT TRÊN MÂM CƠM
Từ đồng vịt bước vào nhà,
Thành bao hương vị đậm đà quê hương.
Vân Đình nổi tiếng một phương,
Vịt cỏ thơm ngọt vấn vương lòng người.
Vịt om sấu chín vừa thôi,
Chua thanh vị quả, ngọt bùi vị quê.
Bún măng nóng giữa chiều hè,
Cháo thơm gừng ấm kéo về cố hương.
Gỏi vịt rau răm thơm lừng,
Chén mắm gừng nhỏ cũng từng nhớ lâu.
Món quê chẳng phải sang giàu,
Mà sao đi khắp địa cầu vẫn mong.
Bắc Kinh nổi tiếng Á Đông,
Vịt quay da mỏng, sắc hồng vàng tươi.
Từ quê nghèo đến xứ người,
Mỗi nơi con vịt một đời ẩm hương.
VIII. CON VỊT THỜI HIỆN ĐẠI
Tưởng rằng chuyện chỉ ruộng nương,
Nào ngờ vịt bước lên đường thời nay.
Người ta ví cuộc đời này,
Như con vịt lướt mặt đầy hồ xanh.
Trên trông phẳng lặng yên lành,
Dưới chân quẫy đạp thật nhanh không ngừng.
Nụ cười ngoài mặt tưng bừng,
Trong lòng áp lực đã từng ai hay.
Người đời mạng ảo hôm nay,
Đăng toàn hạnh phúc, điều hay, sang giàu.
Mấy ai kể chuyện buồn đau,
Mấy ai cho thấy phía sau nụ cười.
Hóa ra con vịt dạy người:
Mặt hồ phẳng lặng chưa thời bình yên.
Sau điều đẹp đẽ hiện tiền,
Biết bao cố gắng triền miên tháng ngày.
IX. “KÊ” VÀ “ÁP”
Dân gian chữ nghĩa cũng hay,
Một câu đối nhỏ khiến ai bật cười:
“Chuồng gà kê áp chuồng vịt”,
Hán Nôm chen tiếng, thú vui tao đàn.
“Kê” là gà, “áp” vịt nhà,
Chữ xưa ghép chuyện thật là dí dỏm.
Một câu nghe tưởng bình thường,
Mà bao chữ nghĩa quê hương ẩn vào.
Ngôn từ cũng tựa dòng ao,
Chuyện xưa chuyện mới lao xao theo cùng.
Con gà đứng cạnh vịt chung,
Thành câu chữ nghĩa vô cùng vui thay.
X. CON VỊT TRONG TRANG SÁCH
Có người mẹ giữa đêm dài,
Thương con nên gửi tương lai vào lời.
Mong con vàng bạc đầy đời,
Mong bao con gái theo người đông vui.
Đàn con gái tựa đàn vịt,
Theo nhau ríu rít — chuyện đời hồn nhiên.
Trang văn một thoáng dịu hiền,
Gorki để lại bên miền nhớ thương.
Văn chương muôn nẻo muôn đường,
Có khi vật nhỏ bình thường bước vô.
Chẳng cần triết lý điểm tô,
Một đàn vịt cũng thành câu chuyện đời.
XI. “VỊT CON” TRÊN SÂN CỎ
Từ ao làng đến sân chơi,
Con vịt lại bước sang đời bóng banh.
Pato nổi tiếng trời xanh,
Brazil sinh một tài danh một thời.
“El Pato” người gọi vui thôi,
“Vịt Con” biệt hiệu theo người đi xa.
Milan từng đón tài hoa,
Chelsea cũng biết chân qua sân mình.
Áo vàng đất nước Brazil,
Một thời Pato tung mình tiến công.
Ai ngờ từ một cánh đồng,
Tên con vịt nhỏ theo dòng thể thao.
XII. VỊT KHÔNG CẦN PHẢI OAI HÙNG
Vịt đâu mãnh liệt như hùm,
Đâu như tuấn mã vượt vùng quan san.
Không như chim hạc thanh nhàn,
Không như đại bàng giữa ngàn trời cao.
Chẳng mang nanh vuốt tự hào,
Chẳng cần tiếng thét làm nao núi rừng.
Chỉ đôi chân ngắn ung dung,
Lạch bà lạch bạch đi cùng làng quê.
Vịt đâu biết chuyện khen chê,
Đói thì kiếm ốc, tối về nằm yên.
Mưa thì xuống nước tự nhiên,
Nắng thì rỉa cánh bên triền cỏ xanh.
Một đời giản dị hiền lành,
Mà theo văn hóa trưởng thành ngàn năm.
Đôi khi vĩ đại âm thầm,
Chẳng cần đứng ở cao tầm mới cao.
XIII. TRIẾT LÝ TỪ CON VỊT
Nhìn con vịt giữa hồ sâu,
Ngẫm ra cũng lắm nhiệm màu nhân sinh.
Bên ngoài giữ vẻ an bình,
Bên trong cố sức hành trình chẳng ngơi.
Người khôn đâu phải khoe đời,
Người tài đâu phải nói lời hơn thua.
Mặt hồ mặc gió nắng mưa,
Chân kia cứ quẫy để đưa mình về.
Đời người cũng tựa đường quê,
Lúc bùn lầy lội, lúc về đồng xanh.
Không cần đôi cánh bay nhanh,
Biết bơi qua nước đã thành bình an.
Chậm thôi chẳng phải muộn màng,
Lạch bạch vẫn tới cuối làng đấy thôi.
Thấp cao đâu định phận người,
Bền gan mới biết đường đời gần xa.
XIV. TIẾNG GỌI NỀN VĂN MINH LÚA NƯỚC
Mai này phố xá lên cao,
Ao làng có thể lấp vào nhà xây.
Đồng xanh có thể đổi thay,
Con trâu, đàn vịt một ngày thưa hơn.
Trẻ thơ lớn giữa phố phường,
Biết con vịt bởi màn hình mà thôi.
Có còn nghe được chiều rơi,
Tiếng đàn vịt gọi giữa trời mưa giăng?
Có còn nhớ ánh trăng rằm,
Ao làng bóng nước âm thầm tre nghiêng?
Có còn nhớ buổi bình yên,
Mẹ ngồi vá áo bên hiên đợi chờ?
Nếu mai ai trở về quê,
Gặp đàn vịt trắng bên đê chiều vàng,
Xin dừng chân lại bên làng,
Nghe trong tiếng vịt mơ màng ngàn xưa.
Tiếng kia vượt nắng xuyên mưa,
Từ thời lúa nước đến mùa hôm nay.
Từ hoa văn cổ còn đây,
Đến câu tục ngữ trao tay bao đời.
Từ trang sách đến tiếng cười,
Từ tranh uyên ương đến đời lứa đôi.
Từ mâm cơm ấm tình người,
Đến câu tâm lý của thời hôm nay.
Con vịt chẳng biết mình hay,
Chẳng hay nhân thế đã xây bao điều
Từ hình bóng nhỏ thân yêu,
Từ đôi chân quẫy sớm chiều dưới sông.
XV. MỘT CON VỊT XÒE HAI CÁNH
Một con vịt giữa dòng sông,
Xòe hai cái cánh mà không muốn trời.
Nó đâu mơ chuyện cao vời,
Chỉ mong mặt nước thảnh thơi tháng ngày.
Một con vịt của hôm nay,
Cũng con vịt của những ngày xa xăm.
Từ đồng lúa nước ngàn năm,
Đi qua văn hóa âm thầm đến nay.
Mai sau dẫu đổi đất trời,
Dẫu làng thành phố, dẫu người đi xa.
Trong lòng vẫn một quê nhà,
Một ao nước biếc, một tà áo nâu.
Một đàn vịt nối đuôi nhau,
Bơi qua bóng mẹ, nhịp cầu, hàng tre.
Bơi qua một thuở đi về,
Bơi qua ký ức làng quê mỗi người.
Chiều nay mưa tạnh bên trời,
Nếu nghe tiếng vịt vọng nơi cánh đồng,
Hãy nghe thật chậm trong lòng:
Ấy là tiếng gọi của dòng thời gian.
Ngàn năm nước chảy qua làng,
Ngàn năm cây lúa vẫn vàng mùa thu.
Ngàn năm tiếng mẹ lời ru,
Ngàn năm vịt vẫn cần cù bơi đi.
Không cần cao quý làm chi,
Không cần huyền thoại khắc ghi tên mình.
Chỉ cần sống giữa dân tình,
Cũng thành văn hóa, cũng thành quê hương.
Một con vịt nhỏ bình thường,
Mang theo sông nước, ruộng nương, xóm làng.
Mang theo ký ức Việt Nam,
Mang câu lục bát dịu dàng hôm nay.
Một con vịt xòe hai cánh,
Chở nghìn năm nước qua đồng quê ta.