Hạ Tri Chương (659-744) là nhà thơ đời Đường, quê ở Vĩnh Hưng, Việt Châu, nay thuộc tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Ông đỗ tiến sĩ năm ba mươi sáu tuổi rồi làm quan tại Trường An trong nhiều năm. Đến khi đã ngoài tám mươi, ông mới xin cáo lão hồi hương.
Hạ Tri Chương là một trong những thi nhân Sơ Đường tiêu biểu, góp phần thúc đẩy thơ Đường phát triển ở giai đoạn đầu. Ông nổi tiếng thông minh, học vấn uyên bác, được người đương thời kính trọng về tài văn chương. Song điều khiến hậu thế nhớ đến Hạ Tri Chương ngoài sự nghiệp quan trường chính là tính cách phóng khoáng và vô cùng hồn hậu. Ngay cả khi đã là một vị đại thần tóc bạc, ông vẫn là một "lão ngoan đồng" ung dung, tự tại.
Chương trình Ngữ văn THCS cũ có một tác phẩm thất ngôn tứ tuyệt của Hạ Tri Chương được đưa vào giảng dạy. Đó cũng là bài thơ nổi tiếng duy nhất của ông trong tuyển tập Đường thi tam bách thủ - “Hồi hương ngẫu thư”, tạm dịch là "Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê".
Nguyên văn bài thơ như sau:
少小離家老大迴,
鄉音無改鬢毛摧。
兒童相見不相識,
笑問客從何處來。
Thiếu tiểu ly gia, lão đại hồi,
Hương âm vô cải, mấn mao tồi.
Nhi đồng tương kiến, bất tương thức,
Tiếu vấn, khách tòng hà xứ lai?
Trẻ đi già trở lại nhà,
Giọng quê không đổi, sương pha mái đầu.
Gặp nhau mà chẳng biết nhau,
Trẻ cười hỏi: Khách từ đâu đến làng?
(Bản dịch thơ Trần Trọng San)
Thuở thiếu thời rời quê hương, đến khi trở về đã là một lão nhân đầu bạc. Điều thay đổi ở đây là dung mạo và năm tháng, chỉ có giọng quê - mối liên kết duy nhất với nơi chôn nhau cắt rốn, để người xa xứ cảm thấy mình chưa hoàn toàn lạc mất cội nguồn là vẫn vậy. Bấy lâu nay, "hương âm vô cải" vẫn được hiểu là giọng quê không đổi, dẫu vậy một số học giả Trung Quốc hiện đại còn đưa ra cách lý giải khác.
Ta biết “hương âm” là giọng quê, song trong bối cảnh Trung Hoa xưa, đây có thể là thổ ngữ, tức tiếng địa phương từng vùng. Trung Quốc thời Đường có nhiều phương ngữ khác nhau, Hạ Tri Chương đến từ vùng Ngô Việt nên tiếng nói quê ông cũng khác với thứ tiếng được sử dụng phổ biến ở kinh đô Trường An lúc ông làm quan. Do đó “Hương âm vô cải” cũng có thể hiểu là sau năm mươi năm xa xứ, ông vẫn chưa quên tiếng mẹ đẻ của mình. Tuy chỉ là cách lý giải mang tính tham khảo nhưng nếu nhìn từ góc độ lịch sử ngôn ngữ, cách hiểu này cũng đem lại một tầng ý nghĩa khá thú vị.
Điểm thần của tác phẩm nằm ở hai câu cuối:
"Nhi đồng tương kiến, bất tương thức,
Tiếu vấn: Khách tòng hà xứ lai?"
Ở trong mắt lũ trẻ, người trở về chỉ là một vị khách lạ. Nghịch lý này trong câu hỏi hồn nhiên của đứa trẻ đã gợi nhiều bâng khuâng cho người đọc bao thế hệ: Sau năm mươi năm xa cách, người con của quê hương dường như đã trở thành người ngoài cuộc ngay trên chính mảnh đất mình từng thuộc về. Giống như Ngô Gia Kỷ đời Thanh cũng rằng: “Năm mươi năm nhớ lần chơi trước, người khác rồi non nước vẫn xưa.”
Song có lẽ chúng ta không nên chỉ "đọc" bài thơ bằng màu sắc buồn thương như thế. Nếu ai biết Hạ Tri Chương, ắt sẽ còn có suy tư khác.
Sử sách chép ông tính tình phóng khoáng, thích đùa vui, tự xưng là "Tứ Minh cuồng khách". Người đời còn nhớ đến mối giao hảo giữa Hạ Tri Chương và Lý Bạch qua điển cố "Kim quy hoán tửu" nổi tiếng, biểu tượng cho sự hào sảng, trọng tri âm hơn vật chất.
Theo lời tựa bài “Đối tửu ức Hạ giám tự”, lúc gặp Lý Bạch ở Tử Cực cung tại Trường An, Hạ Tri Chương đọc “Thục đạo nan” của Lý Bạch rồi hết sức thán phục, gọi Lý Bạch "trích tiên nhân", tức vị tiên bị đày xuống trần. Hai người đàm đạo tâm đầu ý hợp, muốn uống rượu mà ngặt nỗi lại không mang theo tiền, thế là Hạ Tri Chương bèn tháo chiếc kim quy (túi đựng ấn có trang sức hình rùa bằng vàng do vua ban) để đổi lấy rượu. Khi đó, Hạ Tri Chương khoảng tám mươi tuổi còn Lý Bạch mới bốn mươi tuổi.
Ngày rời kinh thành, Hạ Tri Chương được vua làm thơ tiễn biệt, được thái tử cùng bá quan đưa chân, rồi trở về nơi chôn nhau cắt rốn trong tâm thế nhẹ nhõm. Chưa đầy một năm sau, ông qua đời tại quê nhà. Suốt một đời tài hoa lỗi lạc, tung hoành thỏa chí, cuối cùng lại được lá rụng về cội, ngẫm kỹ thì thấy dường như cũng chẳng có cớ sự gì khiến Tứ Minh Cuồng Khách ông phải bi lụy cả. Và nếu có, âu chỉ là chút chạnh lòng trước sự đời trớ trêu, mà “lão ngoan đồng” đã nhìn sự đời trớ trêu ấy bằng nụ cười tinh nghịch đấy thôi.


