XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG

Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2026

Hạ Tri Chương (659-744)

 Hạ Tri Chương (659-744) là nhà thơ đời Đường, quê ở Vĩnh Hưng, Việt Châu, nay thuộc tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Ông đỗ tiến sĩ năm ba mươi sáu tuổi rồi làm quan tại Trường An trong nhiều năm. Đến khi đã ngoài tám mươi, ông mới xin cáo lão hồi hương.

Hạ Tri Chương là một trong những thi nhân Sơ Đường tiêu biểu, góp phần thúc đẩy thơ Đường phát triển ở giai đoạn đầu. Ông nổi tiếng thông minh, học vấn uyên bác, được người đương thời kính trọng về tài văn chương. Song điều khiến hậu thế nhớ đến Hạ Tri Chương ngoài sự nghiệp quan trường chính là tính cách phóng khoáng và vô cùng hồn hậu. Ngay cả khi đã là một vị đại thần tóc bạc, ông vẫn là một "lão ngoan đồng" ung dung, tự tại.
Chương trình Ngữ văn THCS cũ có một tác phẩm thất ngôn tứ tuyệt của Hạ Tri Chương được đưa vào giảng dạy. Đó cũng là bài thơ nổi tiếng duy nhất của ông trong tuyển tập Đường thi tam bách thủ - “Hồi hương ngẫu thư”, tạm dịch là "Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê".
Nguyên văn bài thơ như sau:
少小離家老大迴,
鄉音無改鬢毛摧。
兒童相見不相識,
笑問客從何處來。
Thiếu tiểu ly gia, lão đại hồi,
Hương âm vô cải, mấn mao tồi.
Nhi đồng tương kiến, bất tương thức,
Tiếu vấn, khách tòng hà xứ lai?
Trẻ đi già trở lại nhà,
Giọng quê không đổi, sương pha mái đầu.
Gặp nhau mà chẳng biết nhau,
Trẻ cười hỏi: Khách từ đâu đến làng?
(Bản dịch thơ Trần Trọng San)
Thuở thiếu thời rời quê hương, đến khi trở về đã là một lão nhân đầu bạc. Điều thay đổi ở đây là dung mạo và năm tháng, chỉ có giọng quê - mối liên kết duy nhất với nơi chôn nhau cắt rốn, để người xa xứ cảm thấy mình chưa hoàn toàn lạc mất cội nguồn là vẫn vậy. Bấy lâu nay, "hương âm vô cải" vẫn được hiểu là giọng quê không đổi, dẫu vậy một số học giả Trung Quốc hiện đại còn đưa ra cách lý giải khác.
Ta biết “hương âm” là giọng quê, song trong bối cảnh Trung Hoa xưa, đây có thể là thổ ngữ, tức tiếng địa phương từng vùng. Trung Quốc thời Đường có nhiều phương ngữ khác nhau, Hạ Tri Chương đến từ vùng Ngô Việt nên tiếng nói quê ông cũng khác với thứ tiếng được sử dụng phổ biến ở kinh đô Trường An lúc ông làm quan. Do đó “Hương âm vô cải” cũng có thể hiểu là sau năm mươi năm xa xứ, ông vẫn chưa quên tiếng mẹ đẻ của mình. Tuy chỉ là cách lý giải mang tính tham khảo nhưng nếu nhìn từ góc độ lịch sử ngôn ngữ, cách hiểu này cũng đem lại một tầng ý nghĩa khá thú vị.
Điểm thần của tác phẩm nằm ở hai câu cuối:
"Nhi đồng tương kiến, bất tương thức,
Tiếu vấn: Khách tòng hà xứ lai?"
Ở trong mắt lũ trẻ, người trở về chỉ là một vị khách lạ. Nghịch lý này trong câu hỏi hồn nhiên của đứa trẻ đã gợi nhiều bâng khuâng cho người đọc bao thế hệ: Sau năm mươi năm xa cách, người con của quê hương dường như đã trở thành người ngoài cuộc ngay trên chính mảnh đất mình từng thuộc về. Giống như Ngô Gia Kỷ đời Thanh cũng rằng: “Năm mươi năm nhớ lần chơi trước, người khác rồi non nước vẫn xưa.”
Song có lẽ chúng ta không nên chỉ "đọc" bài thơ bằng màu sắc buồn thương như thế. Nếu ai biết Hạ Tri Chương, ắt sẽ còn có suy tư khác.
Sử sách chép ông tính tình phóng khoáng, thích đùa vui, tự xưng là "Tứ Minh cuồng khách". Người đời còn nhớ đến mối giao hảo giữa Hạ Tri Chương và Lý Bạch qua điển cố "Kim quy hoán tửu" nổi tiếng, biểu tượng cho sự hào sảng, trọng tri âm hơn vật chất.
Theo lời tựa bài “Đối tửu ức Hạ giám tự”, lúc gặp Lý Bạch ở Tử Cực cung tại Trường An, Hạ Tri Chương đọc “Thục đạo nan” của Lý Bạch rồi hết sức thán phục, gọi Lý Bạch "trích tiên nhân", tức vị tiên bị đày xuống trần. Hai người đàm đạo tâm đầu ý hợp, muốn uống rượu mà ngặt nỗi lại không mang theo tiền, thế là Hạ Tri Chương bèn tháo chiếc kim quy (túi đựng ấn có trang sức hình rùa bằng vàng do vua ban) để đổi lấy rượu. Khi đó, Hạ Tri Chương khoảng tám mươi tuổi còn Lý Bạch mới bốn mươi tuổi.
Ngày rời kinh thành, Hạ Tri Chương được vua làm thơ tiễn biệt, được thái tử cùng bá quan đưa chân, rồi trở về nơi chôn nhau cắt rốn trong tâm thế nhẹ nhõm. Chưa đầy một năm sau, ông qua đời tại quê nhà. Suốt một đời tài hoa lỗi lạc, tung hoành thỏa chí, cuối cùng lại được lá rụng về cội, ngẫm kỹ thì thấy dường như cũng chẳng có cớ sự gì khiến Tứ Minh Cuồng Khách ông phải bi lụy cả. Và nếu có, âu chỉ là chút chạnh lòng trước sự đời trớ trêu, mà “lão ngoan đồng” đã nhìn sự đời trớ trêu ấy bằng nụ cười tinh nghịch đấy thôi.

Thứ Tư, 29 tháng 7, 2026

MƯỜI SÁU ĐIỀU LUẬT BẤT THÀNH VĂN KHẮC CỐT GHI TÂM

Lòng lành tựa kẹo tan mau,
Ơn sâu mấy kẻ nhớ về sau.
Một lời lỡ dại thành sẹo cũ,
Cho đi xin giữ nghĩa bền lâu.

Đời vui lúc bạn còn bình dị,
Đắc ý quanh mình bạn vắng thưa.
Người mừng ít lắm người ganh lắm,
Lặng bước mà đi mặc nắng mưa.

Thật lòng chưa hẳn nên phô hết,
Lời ngay nhiều lúc hóa dao gươm.
Biết im đúng chỗ là khôn vậy,
Giữ trọn nhân tình khỏi tổn thương.

Đừng ép người theo khuôn ý mình,
Tánh quen đâu dễ đổi hành trình.
Sửa mình rồi sẽ lay người khác,
Đó mới là đường sáng nghĩa tình.

Việc khó chớ vội xin rời bước,
Áo gạo còn nhờ chốn mưu sinh.
Trăm nỗi nhọc nhằn đều phải chịu,
Không tiền càng khổ vạn điều kinh.

Nơi làm chỉ trọng công cùng quả,
Nước mắt ai đem đổi bạc vàng.
Giá trị làm nên người đứng vững,
Tài năng mới mở lối huy hoàng.

Đừng để cảm tình luôn nổi sóng,
Giận hờn chỉ chuốc khổ thêm thôi.
Tâm an mới đáng người thành đạt,
Giữ vững lòng mình giữa cuộc đời.

Đừng tưởng nơi xa toàn nắng đẹp,
Mỗi nơi đều có nỗi riêng mang.
Chuyên tâm làm tốt phần mình trước,
Hoa nở rồi hương sẽ ngát ngàn.

Đời nhiều khi trọng tài hơn lý,
Yếu thế thường mang phận thiệt thua.
Muốn khỏi chìm sâu trong bão tố,
Rèn tâm luyện chí sớm hay trưa.

Nếu nhà thiếu lực cùng tầm mắt,
Đừng vội tin lời cũ xưa xa.
Tự học tự đi tìm lối mới,
Mới mong đổi phận giữa phong ba.

Đường lên dốc đứng nhiều sương gió,
Đường xuống thênh thang dễ bước chân.
Lười biếng một ngày nghèo bám gót,
Siêng năng nuôi mộng hóa mùa xuân.

Đọc sách, luyện thân, ăn ngủ sớm,
Đều là gốc rễ của ngày mai.
Tích từng giọt nhỏ thành sông lớn,
Bền chí rồi nên nghiệp đức tài.

Đường đời mấy khúc đầy then chốt,
Chọn bạn, chọn nghề, chọn lứa đôi.
Mỗi bước hôm nay là số phận,
Khôn ngoan quyết định cả tương lai.

Điều vui quá độ sinh tai họa,
Việc khó bền gan nở trái vàng.
Đắng cay là giá mua thành tựu,
Nhẫn nại rồi nên nghiệp vẻ vang.

Biết đúng chưa bằng làm đúng được,
Thắng mình mới thật thắng muôn người.
Soi gương sửa lỗi từng ngày một,
Mệnh số từ đây đổi nụ cười.

Hiểu rõ nhân gian nhiều bão tố,
Vẫn yêu cuộc sống đến sau cùng.
Được thua xem nhẹ, lòng thanh thản,
Sống đẹp rồi về với hư không.

Mười sáu điều vàng xin ghi nhớ,
Giữa đời giữ trọn một tấm son.
Tu thân, trọng nghĩa, bền tâm chí,
An nhiên đi hết quãng đời còn.

TRUNG THỰC- TÀI GIỎI VÀ THẬT THÀ - KHÔN NGOAN

Tại sao không dạy Trung thực, sáng tạo, tài giỏi mà lại dạy Thật thà, khôn lỏi, khôn ngoan ? Thấy gì qua đọc loạt truyện cổ tích được dạy trong trường phổ thông điển hình là truyện “Trí khôn của ta đây”
“Một con cọp từ trong rừng đi ra, thấy một anh nông dân cùng một con trâu đang cày dưới ruộng. Trâu cặm cụi đi từng bước, lâu lâu lại bị quất một roi vào mông. Cọp lấy làm ngạc nhiên lắm. Ðến trưa, mở cày, Cọp liền đi lại gần Trâu hỏi:
– Này, trông anh khỏe thế, sao anh lại để cho người đánh đập khổ sở như vậy?
Trâu trả lời khẽ vào tai Cọp:
– Người tuy nhỏ, nhưng người có trí khôn, anh ạ!
Cọp không hiểu, tò mò hỏi:
– Trí khôn là cái gì? Nó như thế nào?
Trâu không biết giải thích ra sao, đành trả lời qua quýt:
– Trí khôn là trí khôn, chứ còn là cái gì nữa? Muốn biết rõ thì hỏi người ấy!
Cọp thong thả bước lại chỗ anh nông dân và hỏi:
– Trí khôn của anh đâu, cho tôi xem một tí có được không?
Anh nông dân suy nghĩ một lát rồi nói:
– Trí khôn tôi để ở nhà. Ðể tôi về lấy cho anh xem. Anh có cần, tôi sẽ cho anh một ít.
Cọp nghe nói, mừng lắm.
Anh nông dân toan đi, lại làm như sực nhớ ra điều gì bèn nói:
– Nhưng mà tôi đi khỏi, lỡ anh ăn mất trâu của tôi thì sao?
Cọp đang băn khoăn chưa biết trả lời thế nào thì anh nông dân đã nói tiếp:
– Hay là anh chịu khó để tôi buộc tạm vào gốc cây này cho tôi được yên tâm.
Cọp ưng thuận, anh nông dân bèn lấy dây thừng trói cọp thật chặt vào một gốc cây. Xong anh lấy rơm chất chung quanh Cọp, châm lửa đốt và quát:
– Trí khôn của ta đây! Trí khôn của ta đây!
Trâu thấy vậy thích quá, bò lăn ra mà cười, không may hàm trên va vào đá, răng gãy không còn chiếc nào.
Mãi sau dây thừng cháy đứt, Cọp mới vùng dậy ba chân bốn cẳng chạy thẳng vào rừng không dám ngoái nhìn lại.
Từ đó, cọp sinh ra con nào trên mình cũng có những vằn đen dài, vốn là dấu tích những vết cháy, còn trâu thì chẳng con nào có răng ở hàm trên cả”.
.............................
Ở đây anh nông dân đã dùng mẹo mực (toan đi, lại làm như sực nhớ ra điều gì), thủ đoạn lừa dối (trí khôn tôi để ở nhà) con cọp để con cọp mắc bẫy bị trói và bị đốt hòng giết chết con cọp mặc dù con cọp ban đầu đã rất tử tế với anh nông dân (quá ác độc) và được tác giả câu truyện gọi đây là trí khôn của con người;
Vậy khôn là gì, khôn phải chăng bao hàm cả không lỏi và khôn ngoan; Khôn có gì lợi cho cá nhân và xã hội “Khôn là Có khả năng suy xét để xử sự một cách có lợi nhất, tránh được những việc làm và thái độ không nên có; Khôn lỏi là khôn vặt, luôn tìm cách giành lợi riêng cho mình một cách ích kỉ; Khôn ngoan là khôn trong cách xử sự, biết tránh cho mình những điều không hay;” Tóm lại khôn chì có ích cho cá nhân không có ích cho xã hội vì khôn chỉ là khả năng suy xét để né, tránh những điều không có lợi cho mình và kiếm lợi trong đó nếu có thời cơ. Người khôn khác và ngược hẳn với người tài giỏi, người tài giỏi không né, không tránh mà trực diện đối đầu đấu tranh và chinh phục các khó khăn thử thách của thiên nhiên và thú dữ, người tài giỏi dùng đầu óc thông minh sáng tạo của mình phát minh ra lửa, ra vũ khí, chế tạo ra cạm bẫy để bắt và giết thú dữ….Do vậy trong câu chuyện cổ tích trên tác giả nên viết lại là trâu hay hổ (cọp) sợ người không phải là do con người khôn mà là con người giỏi hơn, thông minh hơn nên họ có khả năng chế tạo ra cạm bẫy để bắt hoặc vũ khí để giết chúng nếu vậy thì câu chuyện cổ tích sẽ có giá trị giáo dục cao hơn; Sẽ dạy ra được những con người của phát minh và sáng tạo, dạy ra được những con người có khả năng chinh phục thiên nhiên và thế giới, những con người biết sản xuất vật chất cải thiện và không ngừng nâng cao đời sống con người; Đây có thể cũng là nguyên nhân người Việt mình chưa có giải Nobel bởi vì trong giáo dục và đời sống thường ngày từ xa xưa cho đến nay luôn coi trọng không ngoan hơn tài giỏi;
Hệ thống truyện cổ tích được giảng dạy và truyền thụ trong kho tàng cổ tích Việt hầu hết cấu thành na ná kiểu “trong gia đình thằng anh khôn ngoan khi sống với cha mẹ và khôn lỏi khi bố mẹ chết chiếm hết gia tài của thằng em và thằng em chấp nhận không phản kháng sau đó được bụt (Thánh thần) cứu giúp”; Không bao giờ đề cập đến khả năng thằng em nỗ lực phấn đấu bằng sự thông minh, chịu khó và tài giỏi của mình làm giàu chính đáng và vượt xa thằng anh; Vô tình truyện cổ tích đã ca ngợi sự khôn ngoan khôn lỏi của người anh, ca ngợi sự thật thà chịu đựng của người em, thủ tiêu sự đấu tranh của người cô thế, Quyền lợi của người cô thế bị áp bức bóc lột chỉ có thể dựa vào thần phật mà thôi; Phải chăng đây cũng là nguyên nhân mà người dân ngày nay đến chùa đông như vậy;
Trong giáo dục cũng nên dạy trung thực thay cho thật thà bởi vì Trung thực khác với thật thà, trung thực là không dùng sự giả dối để đánh lừa người khác hay che đậy bản thân, nhưng có quyền im lặng không nói những điều không nên nói. Nói nôm na là bên trong người trung thực luôn tồn tại chữ “trí”. Còn thật thà là chỉ nói thật không nói dối, nhưng là nói thật không biết chọn lọc, cái gì cũng nói thật (không tồn tại chữ trí trong lời nói của mình) thật thà kiểu vô minh.
Tóm lại trong giáo dục nên tập trung khuyến khích dạy: Trung thực, sáng tạo, tài năng, bỏ khuyến khích ca ngợi: Thật thà, khôn lỏi, khôn ngoan./