XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG

Thứ Năm, 14 tháng 5, 2026

TÔ GIÁM LÀ AI MÀ CHẶN ĐỨNG LÝ THƯỜNG KIỆT?


Có ai đọc qua về sự kiện công thành Ung Châu của Lý Thường Kiệt mà thấy rất ấn tượng với Tô Giám 蘇緘 không?

Dưới tình huống bị vây hãm ngoặt nghèo, chỉ có 2.800 quân lính, kém nhiều lần so với quân Đại Việt, dân tâm hoang mang mà vẫn có thể quy tụ tất cả thành một khối, cầm cự được đến 42 ngày. Nếu không phải vì viện binh Tống quá phế, e là trận Ung Châu lại thành một điển phạm khác trong lịch sử thủ thành của Trung Quốc.

Tiếc là thông tin về Tô Giám trong sách của học giả Hoàng Xuân Hãn (1908-1996) không nhiều lắm, chỉ vỏn vẹn vài dòng thôi.

Vậy, Tô Giám là người ra sao? Hãy cùng mình tìm hiểu qua một bảng profile trước nhé.

Họ: Tô 蘇

Tên: Giám 緘

Tự: Tuyên Phủ 宣甫

Thuỵ: Trung Dũng 忠勇

Quốc tịch: Tống 宋 (nay là Trung Quốc)

Quê quán: Tấn Giang 晉江, Tuyền Châu 泉州 (nay là huyện Tấn Giang, thành phố Tuyền Châu, tỉnh Phúc Kiến 福建)

Sinh: 1016 (Tống: năm Đại Trung Tường Phù thứ 9)

Mất: 1076 (Tống: năm Hy Ninh thứ 9); Ung Châu 邕州 (nay là thành phố Nam Ninh 南宁, tỉnh Quảng Tây 廣西)

Nguyên nhân mất: Tuẫn tiết cùng gia quyến sau khi thành thất thủ

Học vị: Tiến sĩ

Nghề nghiệp: Công chức nhà nước

Chức vụ nổi bật: Hoàng thành sứ, Tri Ung Châu. Truy tặng Phụng Quốc quân Tiết độ sứ.

Nổi tiếng vì: Thủ thành Ung Châu

Liên quan: Tô Thân 蘇紳 (999-1046): Anh họ; Tô Tụng 蘇頌 (1020-1101): Cháu họ

Sau khi đỗ tiến sĩ, Tô Giám bắt đầu đường quan lộ với chức Chủ bộ ở Nam Hải 南海, Quảng Châu 廣州 (nay là thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông 广东). Quảng Châu khi ấy là thương cảng nơi tàu thuyền của thương nhân ngoại quốc (phiên bạc) tụ tập. Quan viên địa phương có nhiệm vụ kiểm tra hàng hoá của họ. Tô Giám, thuở trẻ vốn nổi tiếng là người “hào mại lỗi lạc bất quần” [1], tính cách rõ ràng không phù hợp với nơi cần nhiều sự khéo léo này. Quả nhiên, một hôm có tên thương nhân họ Phàn đến đúng hôm Tô Giám làm nhiệm vụ. Thương nhân ở Quảng Châu vốn đều thuộc các dòng họ lớn, chức Chủ bộ lại nhỏ, họ Phàn chỉ dùng khách lễ mà tiếp, liền bước lên thềm cao, ngồi chễm chệ trên sập. Gặp ngay thanh niên nho gia vừa đỗ tiến sĩ, tính lại không ngại va chạm, ăn ngay một chầu chửi và trận roi (hoặc trượng; tuỳ nguồn Tống sử 宋史 hoặc Đông Đô sự lược 東都事略). Tất nhiên, Tô Giám cũng dính ngay một đơn tố lên Tri châu. Bị cấp trên quở trách, ông đáp: "Chức Chủ bộ tuy nhỏ, nhưng đó là quan lại của triều đình ở nơi ấp sở. Thương nhân tuy giàu, chỉ là kẻ dân đen trong địa hạt. Quan ấp dùng roi đánh kẻ dân đen, thì có gì là không được?" [2] Đạo lý đúng là như vậy khi ấy, Tri châu cũng nghẹn lời.

Nhưng khả năng là bị ghim, Tô Giám sau được điều chuyển tới làm Uý ở Dương Vũ 陽武 (nay là huyện Nguyên Dương 原阳, thành phố Tân Hương 新乡, tỉnh Hà Nam 河南) thuộc Khai Phong phủ 开封 (nay là thành phố Khai Phong, tỉnh Hà Nam). Chức Uý có nhiệm vụ đảm bảo trị an của khu vực, dường như cũng hợp với ông hơn. Tô Giám bắt đầu lập được thành tích, nổi bật nhất là tự tay cưỡi ngựa đuổi theo và chém chết một tên cường đạo hoành hành đã lâu. Phủ doãn Khai Phong bấy giờ là Giả Xương Triều 賈昌朝 (998-1065) khen ngợi: “Một kẻ nho sinh mà lại coi khinh cái chết đến như vậy sao!” [3]. Nhờ đó, sự nghiệp ông dần khởi sắc, được cất nhắc lên chức Bí thư Thừa, rồi làm Tri Anh Châu 英州 (nay là thành phố Anh Đức 英德, tỉnh Quảng Đông).

     Khi Nùng Trí Cao 儂智高 (1025-1055) vây hãm thành Quảng Châu, Tô Giám nói: "Quảng Châu là đô phủ của ta, và lại ở cách châu ta không xa. Nay thành ấy đang lâm nguy trong gang tấc mà ta không tới cứu, đó là điều phi nghĩa vậy." [4] Lập tức, ông chiêu mộ được vài nghìn tráng sĩ, đem ấn tín ủy thác cho Đề điểm Hình ngục Bảo Kha 鮑軻, rồi đi gấp đến thành Quảng Châu cứu nguy. Đạo quân của Tô Giám đóng cách thành hai mươi dặm. Giám tất nhiên không ngu mà đi đánh trực tiếp với quân Đại Nam 大南 của Nùng Trí Cao. Ông sai người bắt trói và chém đầu cha của Hoàng Sư Mật 黃師密, kẻ chủ mưu trong hàng ngũ Trí Cao; lại trấn áp bọn vô lại thừa cơ cướp bóc, giết hơn sáu mươi tên, rồi chiêu dụ hơn sáu nghìn tám trăm kẻ lầm lỡ quay về phục nghiệp. Thế trận của Nùng Trí Cao vì thế suy giảm. Sau đó, hợp quân với các đạo quân khác nhằm chặn tuyến đường rút lui của Trí Cao.

      Đánh thành lâu ngày không hạ được, Nùng Trí Cao muốn rút lui. Tô Giám bắt được cơ hội, bố trí cọc gỗ, đá lớn dày đặc suốt gần bốn mươi dặm nhằm chặn đường rút của quân Đại Nam. Buộc Nùng Trí Cao phải vòng đường xa qua bến Sa Đầu vượt sông, theo đường huyện Thanh Viễn 清远 (nay là thành phố Thanh Viễn, tỉnh Quảng Đông) chạy sang Liên Châu 连州 (nay là huyện Liên Châu, thành phố Thanh Viễn, tỉnh Quảng Đông), Hạ Châu 贺州 (nay là thành phố Hạ Châu, tỉnh Quảng Tây) rút sang phía tây. Tuyến đường này dường như dễ bị tập kích, khiến quân Đại Nam tổn thất nhiều. Tô Giám cũng nhân đó mà thu hồi lại gần hết những của cải mà quân Nùng Trí Cao đã cướp bóc.

      Đối với biểu hiện của Tô Giám, Tống sử ghi lại: 「Bấy giờ, các tướng lĩnh khác đều đã bị bãi chức cả rồi, duy chỉ có một mình Tô Giám là có công lao. Tống Nhân Tông hết sức vui mừng, liền đặc cách thăng cho ông làm Cung bị khố Phó sứ, Quảng Đông Đô giám, cai quản binh giáp của hai lộ, lại sai quan Trung sứ ban cho triều phục và đai vàng.」 [5] Có thể nói, đây là thời khắc vinh quang nhất của Tô Giám. Nhưng cơn vinh hiển ấy không kéo dài được bao lâu.

      Để dẹp loạn, triều đình Tống đã phái Địch Thanh 狄青 (1008-1057) đến. Trần Thự 陳曙, khi ấy là Quảng Tây Kiềm hạt, vì muốn tranh công, nhân lúc Địch Thanh chưa tới, đem tám nghìn quân bộ đánh Nùng Trí Cao, kết quả lại gặp thảm bại ở trạm Kim Thành 金城 gần ải Côn Lôn 昆仑. Hậu quả không cần bàn, Địch Thanh đến nơi, chỉ nói: “Hiệu lệnh không thống nhất, ấy là nguyên cớ khiến binh thua.” Rồi lôi Trần Thự cùng ba mươi hai bộ tướng ra ngoài chém đầu. [6] Tô Giám cũng vì liên đới trận thua này mà bị biếm làm Phòng Châu 房州 Tư mã (nay là thành phố Thẩm Yểm 十堰, tỉnh Hồ Bắc 湖北).

Tại sao Tô Giám không bị chém?

Về chuyện này, Chu Hy 朱熹 (1130-1200) viết: 「Vào lúc Địch Thanh chưa đến, các tướng hễ đánh là thua, hễ thua là chạy, thảy đều coi là chuyện thường. Cho đến khi bấy giờ, Tri Quế Châu Trần mỗ cùng Tri Anh Châu Tô Giám giao chiến với giặc, rồi lại thua chạy như thường lệ. Đến lúc Thanh tới Tân Châu 新州 (NV: nay là huyện Tân Hưng 新兴, tỉnh Quảng Đông), bèn triệu tập cả thảy Trần mỗ cùng với mấy viên tì tướng, tổng cộng ba mươi hai người, kể hết tội trạng của họ, rồi chiếu theo quân pháp đem chém; duy chỉ có Tô Giám đang ở nơi sở tại của mình, nên sai người đóng gông giải về triều để tâu lên trên biết. Từ đó, trong quân ai nấy đều phấn lệ, nuôi quyết tâm tử chiến.」 [7]

      Lý do nghe hơi kỳ quặc. Thật ra, Địch Thanh không hề chém bừa: ngoài Tô Giám, còn có Triệu Hoài Ân 趙懷恩, Doãn Tu Kỷ 尹修己 và Thái Đỉnh Thần 蔡鼎臣 cũng thoát một kiếp. [8] Tô Giám vốn đã có công lao trước đó, có thể xem như lấy công chuộc tội.

      Quãng đời sau đó của Tô Giám đúng như lời chép của Tô Tượng Tiên 苏象先, cháu nội Tô Tụng, trong Thừa tướng Nguỵ công đàm huấn 丞相魏公譚訓: “nhiều phen lập chiến công, bị biếm rồi lại khởi phục.” [9] Tô Giám chìm nổi trong các chức vụ nhỏ: làm Phòng Châu Tư mã, rồi Trước tác Tá lang, coi việc thu thuế ở Việt Châu 越州 (nay là thành phố Thiệu Hưng 绍兴, tỉnh Chiết Giang 浙江) hơn mười năm trời, mới được khôi phục lại chức Cung bị khố Phó sứ, làm Tri Liêm Châu 廉州 (nay là thành phố Bắc Hải 北海, tỉnh Quảng Tây). Ở Liêm Châu, vì nhà cửa phần nhiều lợp bằng cỏ tranh và tre nứa, có tên lính là Dương Hy say rượu làm cháy doanh trại, lửa lan sang nhà dân, hắn lại thừa dịp ấy đi ăn trộm. Tô Giám liền đem hắn ra chém giữa phố chợ. Bởi việc này, ông lại bị giáng chức làm Đàm Châu 潭州 Đô giám (nay là thành phố Trường Sa 长沙, tỉnh Hồ Nam 湖南). Chẳng bao lâu sau được điều làm Tri Đỉnh Châu 鼎州 (nay là thành phố Thường Đức 常德, tỉnh Hồ Nam).

      Những năm đầu Hy Ninh (1068-1070), Tô Giám được thăng làm Như Kinh sứ, Quảng Đông Kiềm hạt. Năm Hy Ninh thứ 4 (1071), ông được cử làm Hoàng thành sứ, Tri Ung Châu.

Phần còn lại, như chúng ta đã biết.

Hình ảnh:

① Thành Diên Châu 延州 (nay là thành phố Diên An 延安, tỉnh Thiểm Tây 陕西), minh hoạ trong phim Thanh Bình Nhạc. 2020.

② Địch Thanh, do diễn viên Quý Thần (季晨) thủ vai, trong phim Thanh Bình Nhạc. 2020.

Chú thích:

[1] Tô Tượng Tiên 苏象先. “Thừa tướng Ngụy công đàm huấn” 丞相魏公譚訓. Tô Ngụy công văn tập 蘇魏公文集, quyển 6. Triều Bắc Tống.

Nguyên văn: 曽叔祖太尉緘進士登第文學知名少豪邁磊落不羣。

Phiên âm: Tằng Thúc Tổ Thái Úy Giám tiến sĩ đăng đệ, văn học tri danh, thiếu hào mãi lỗi lạc bất quần.

Tạm dịch: Tằng thúc tổ Thái úy Giám, tiến sĩ đăng đệ, văn học nổi danh. Thuở trẻ hào mại lỗi lạc bất quần.

[2] Thoát Thoát 脫脫 và nnk. Tống sử 宋史, quyển 446, Tô Giám 蘇緘. Triều Nguyên.

Nguyên văn: 樊訴於州,州召責緘,緘曰:「主簿雖卑,邑官也,商雖富,部民也,邑官杖部民,有何不可?」州不能詰

Phiên âm: Phàn tố ư châu, châu triệu trách Giam, Giam viết: “Chủ bộ tuy ti, ấp quan dã; thương tuy phú, bộ dân dã. Ấp quan trượng bộ dân, hữu hà bất khả?” Châu bất năng cật.

Tạm dịch: Họ Phàn bèn đi kiện lên quan châu, quan châu bèn triệu Tô Giám tới trách hỏi. Tô Giám đáp: "Chức Chủ bộ tuy nhỏ, nhưng đó là quan lại của triều đình ở nơi ấp sở. Thương nhân tuy giàu, chỉ là kẻ dân đen trong địa hạt. Quan ấp dùng roi đánh kẻ dân đen, thì có gì là không được?" Vị quan châu ấy không sao bắt bẻ lại ông được.

[3] Thoát Thoát 脫脫 và nnk. Tống sử 宋史, quyển 446, Tô Giám 蘇緘. Triều Nguyên.

Nguyên văn: 李從中逸出,緘馳馬逐,斬其首送府。府尹賈昌朝驚曰:「儒者乃爾輕生邪!」

Phiên âm: Lý tòng trung dật xuất, Giam trì mã trục, trảm kỳ thủ tống phủ. Phủ doãn Giả Xương Triều kinh viết: “Nho giả nãi nhĩ khinh sinh tà!”

Tạm dịch: Tên Lý thừa cơ từ trong đó phóng ra trốn thoát, Tô Giám liền thúc ngựa đuổi theo, chém lấy thủ cấp của hắn đem nộp lên phủ. Phủ doãn là Giả Xương Triều giật mình kinh ngạc, khen rằng: "Một kẻ nho sinh mà lại coi khinh cái chết đến như vậy sao!"

[4] Thoát Thoát 脫脫 và nnk. Tống sử 宋史, quyển 446, Tô Giám 蘇緘. Triều Nguyên.

Nguyên văn: 儂智高圍廣,緘曰:「廣,吾都府也,且去州近,今城危在旦暮而不往救,非義也。」

Phiên âm: Nùng Trí Cao vi Quảng, Giam viết: “Quảng, ngô đô phủ dã, thả khứ châu cận, kim thành nguy tại đán mộ nhi bất vãng cứu, phi nghĩa dã.”

Tạm dịch: Khi Nùng Trí Cao vây đánh thành Quảng, Tô Giám nói: "Quảng Châu là đô phủ của ta, và lại ở cách châu ta không xa. Nay thành ấy đang lâm nguy trong gang tấc mà ta không tới cứu, đó là điều phi nghĩa vậy."

[5] Thoát Thoát 脫脫 và nnk. Tống sử 宋史, quyển 446, Tô Giám 蘇緘. Triều Nguyên.

Nguyên văn: 時諸將皆罷,獨緘有功,仁宗喜,換為供備庫副使、廣東都監,管押兩路兵甲,遣中使賜朝衣、金帶。

Phiên âm: Thời chư tướng giai bãi, độc Giam hữu công, Nhân Tông hỉ, hoán vi cung bị khố phó sứ, Quảng Đông đô giám, quản áp lưỡng lộ binh giáp, khiển trung sứ tứ triều y, kim đái.

Tạm dịch: Bấy giờ, các tướng lĩnh khác đều đã bị bãi chức cả rồi, duy chỉ có một mình Tô Giám là có công lao. Tống Nhân Tông hết sức vui mừng, liền đặc cách thăng cho ông làm Cung bị khố Phó sứ, Quảng Đông Đô giám, cai quản binh giáp của hai lộ, lại sai quan Trung sứ ban cho triều phục và đai vàng.

[6] Lý Đảo 李燾. Tục tư trị thông giám trường biên 續資治通鑑長編, quyển 174, Hoàng Hựu ngũ niên. Triều Nam Tống.

Nguyên văn: 陳曙恐狄青獨有功,乘青未至,以步卒八千犯賊,潰於昆崙關,其下殿直袁用等皆遁。青曰:「令之不齊,兵所以敗。」己酉,晨會諸將堂上,揖曙起,並召用等三十二人,按所以敗亡狀,驅出軍門斬之,沔、靖相顧愕然。

Phiên âm: Trần Thự khủng Địch Thanh độc hữu công, thừa Thanh vị chí, dĩ bộ tốt bát thiên phạm tặc, hội ô Côn Luân Quan, kỳ hạ điện trực Viên Dụng đẳng giai độn. Thanh viết: “Lệnh chi bất tề, binh sở dĩ bại.” Kỷ Dậu, thần hội chư tướng đường thượng, ấp Thự khởi, tịnh triệu Dụng đẳng tam thập nhị nhân, án sở dĩ bại vong trạng, khu xuất quân môn trảm chi, Miên, Tĩnh tương cố ngạch nhiên.

Tạm dịch: Trần Thự sợ một mình Địch Thanh có công, thừa dịp Thanh chưa tới, đem tám nghìn quân bộ đánh giặc, bị thảm bại ở cửa ải Côn Lôn, thuộc tướng của y là bọn Điện trực Viên Dụng hơn ba mươi người đều trốn chạy. Thanh nói: “Hiệu lệnh không thống nhất, ấy là nguyên cớ khiến binh thua.” Ngày Kỷ Dậu, buổi sớm, hội các tướng nơi công đường, mời Trần Thự đứng dậy, rồi bắt bọn Viên Dụng cùng ba mươi hai người, xét tội trạng khiến quân thua chạy, lôi ra ngoài quân môn chém đầu.

[7] Chu Hy 朱熹. Tống danh thần ngôn hành lục 宋名臣言行錄, Tiền tập, quyển 8, Địch Thanh 狄青. Triều Nam Tống.

Nguyên văn: 方青之未至諸將屢敗屢走皆以爲常至是知桂州陳某知英州蘇緘與賊戰復敗走如常時青至賔州悉召陳與禆校凡三十二人數其罪按軍法斬之惟蘇緘在某所使械繫上聞於是軍中人人奮勵有死戰之心。

Phiên âm: Phương Thanh chi vị chí, chư tướng lũ bại lũ tẩu, giai dĩ vi thường. Chí thị, Tri Quế châu Trần mỗ, Tri Anh châu Tô Giám dữ tặc chiến, phục bại tẩu như thường thì. Thanh chí Tân châu, tất triệu Trần dữ bội hiệu phàm tam thập nhị nhân, số kỳ tội, án quân pháp trảm chi. Duy Tô Giám tại mỗ sở, sử côi hệ thượng văn. Vu thị quân trung nhân nhân phấn lệ, hữu tử chiến chi tâm.

Tạm dịch: Vào lúc Địch Thanh chưa đến, các tướng hễ đánh là thua, hễ thua là chạy, thảy đều coi là chuyện thường. Cho đến khi bấy giờ, Tri Quế Châu Trần mỗ cùng Tri Anh Châu Tô Giám giao chiến với giặc, rồi lại thua chạy như thường lệ. Đến lúc Thanh tới Tân Châu, bèn triệu tập cả thảy Trần mỗ cùng với mấy viên tì tướng, tổng cộng ba mươi hai người, kể hết tội trạng của họ, rồi chiếu theo quân pháp đem chém; duy chỉ có Tô Giám đang ở nơi sở tại của mình, nên sai người đóng gông giải về triều để tâu lên trên biết. Từ đó, trong quân ai nấy đều phấn lệ, nuôi quyết tâm tử chiến.

[8] Lý Đảo 李燾. Tục tư trị thông giám trường biên 續資治通鑑長編, quyển 174, Hoàng Hựu ngũ niên. Triều Nam Tống.

Nguyên văn: 貶廣南東路都監、供備庫使蘇緘為房州司馬;西路都監、內殿崇班趙懷恩追三任,為右衛率府副率,金州安置,右侍禁尹修己、左班殿直蔡鼎臣各追三官,配京東本城。並坐邕州金城驛敗軍也。

Phiên âm: Biếm Quảng Nam Đông lộ Đô giám, Cung bị Khố sử Tô Giam vi Phòng Châu Tư mã; Tây lộ Đô giám, Nội điện Sùng ban Triệu Hoài Ân truy tam nhậm, vi Hữu vệ Suất phủ Phó suất, Kim Châu an trí, Hữu Thị cấm Doãn Tu Kỷ, Tả ban Điện trực Thái Đỉnh Thần các truy tam quan, phối Kinh Đông bổn thành. Tịnh toạ Ung Châu Kim Thành dịch bại quân dã.

Tạm dịch: Biếm chức Quảng Nam Đông lộ Đô giám, Cung bị Khố sứ Tô Giám làm Phòng Châu Tư mã; Tây lộ Đô giám, Nội điện Sùng ban Triệu Hoài Ân bị truy đoạt ba lần nhậm chức, làm Hữu vệ Suất phủ Phó suất, an trí ở Kim Châu; Hữu Thị cấm Doãn Tu Kỷ, Tả ban Điện trực Thái Đỉnh Thần mỗi người bị truy đoạt ba quan, phối đi bản thành ở Kinh Đông. Cùng phạm tội để thua quân ở trạm Kim Thành thuộc Ung Châu.

[9] Tô Tượng Tiên 苏象先. “Thừa tướng Ngụy công đàm huấn” 丞相魏公譚訓. Tô Ngụy công văn tập 蘇魏公文集, quyển 6. Triều Bắc Tống.

Nguyên văn: …屡有●功再黜●起。

Phiên âm: …lũ hữu ● công, tái truất ● khởi.

Tạm dịch: …nhiều phen lập chiến công, bị biếm rồi lại khởi phục.

Tham khảo

1. Ngũ Bá Thường 伍伯常. “Khảo cứu sự nghiệp hoạn lộ của Tô Giám: Kiêm luận hiện tượng lịch sử văn thần Bắc Tống tham gia quân sự” 蘇緘仕宦生涯考述: 兼論北宋文臣參與軍事的歷史現象. Journal of Chinese Studies, số 56, 2013.

2. Tô Tượng Tiên 苏象先. “Thừa tướng Ngụy công đàm huấn” 丞相魏公譚訓. Tô Ngụy công văn tập 蘇魏公文集, quyển 6. Triều Bắc Tống.

3. Lý Đảo 李燾 (1115-1184). Tục tư trị 174, 251, 271, 272, 273. Triều Nam Tống.

4. Vương Xưng 王稱 (?-1200). Đông Đô sự lược 東都事略, quyển 110, Tô Giám 蘇緘. Triều Nam thông giám trường biên 續資治通鑑長編, quyển 173, Tống.

5. Chu Hy 朱熹. Tống danh thần ngôn hành lục 宋名臣言行錄, Tiền tập, quyển 8, Địch Thanh 狄青. Triều Nam Tống.

6. Thoát Thoát 脫脫 (1314-1355) và nnk. Tống sử 宋史, quyển 446, Tô Giám 蘇緘. Triều Nguyên.

HẬU DUỆ XUÂN TÓC ĐỎ

Xuân Tóc Đỏ thuở nào nổi loạn,
Giữa chợ đời may mắn lên ngôi,
Ranh ma gặp vận đúng thời,
Mà thành danh giá giữa nơi lọc lừa.
Tưởng nhân vật trong trang tiểu thuyết,
Hóa ngoài đời nối tiếp đầy ra,
Bao người mặt ngọc da hoa,
Bên trong mưu mẹo gian tà hiểm sâu.
Xã hội mới đổi màu tiến bộ,
Nhưng lòng tham còn chỗ tung hoành,
Lắm người giả nghĩa giả danh,
Dẫm lên đạo lý để giành lợi riêng.
Tiền bất chính chất chồng như núi,
Biệt phủ xây kín lối phồn hoa,
Xe sang nối đuôi vào ra,
Ngoài khoe hào nhoáng, trong là tối đen.
Có của cải tưởng quen mua được,
Cả công danh lẫn cuộc nhân tình,
Mua luôn học vị hư vinh,
Mua lời kính nể của nghìn kẻ theo.
Lân la mãi bên lề quyền lực,
Chụp tấm hình cũng dựng uy danh,
Khoe quen lãnh đạo triều đình,
Mượn oai thiên hạ để rình lợi đen.
Kẻ táo tợn nhận quen Trung ương,
Mạo con cháu để đường lừa gạt,
Miệng cười ngọt tựa mật ngào,
Trong lòng giăng sẵn biết bao mưu hèn.
“Tiến sĩ giấy” rền vang thiên hạ,
“Tiến sĩ đêm” cũng đã đầy đường,
Bằng cấp chói giữa khói sương,
Học chưa hết lớp vẫn vương chức quyền.
Có chức vị nhờ luồn nhờ cúi,
Nhờ nịnh bợ mà nổi như cồn,
Đội trên đạp dưới chẳng sờn,
Miễn thân phì quý, miễn hồn giàu sang.
Chưa đỗ đạt đã vang hàng tổng,
Ếch đáy giếng lại ngóng trời cao,
Nhìn người bằng mắt hạt đậu,
Tưởng mình tài giỏi hơn bao giống nòi.
Than ôi lắm cuộc đời tráo trở,
Liêm sỉ kia hóa nợ xa vời,
Đạo đức bị bán giữa đời,
Chỉ còn danh lợi ngậm ngùi nổi trôi.
Ngẫm thế sự mà cười mà ngán,
Bóng Xuân xưa chưa cạn trên đời,
Chỉ thay áo mới mà thôi,
Còn nguyên bản chất của thời đỏ đen.
Phỏng tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng
Ẩn bớt

Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2026

THỦ KHẨU NHƯ BÌNH, ĐỘC HÀNH NHƯ BÓNG

 

NGHỆ THUẬT GIỮ VẬN:

Khi một người chuẩn bị bước vào đại vận, có một lời khuyên nghe qua thì lạnh lùng, nhưng lại là lời dặn dò uyên thâm và ấm áp nhất của cổ nhân: "Hãy kín miệng như mặt hồ thu tĩnh lặng, và thu mình độc hành như một chiếc bóng."
Vì sao phải "kín miệng"?
Người xưa dạy: "Họa tòng khẩu xuất" – bao tai ương đều từ miệng mà ra; lại có câu "Tàng phong tụ khí" – phải biết ẩn mình, cất giấu đi thì vượng khí mới tụ lại.
Khi đại vận vừa chớm nở, thế khí còn non nớt, phúc báu chưa thật bề thế. Nói quá nhiều ắt làm tán khí. Phô trương quá sớm ắt làm tổn phúc. Nền móng chưa vững mà vội vàng lộ diện, tất dễ sinh ra biến cố.
Bởi thế, cổ nhân mới dặn phải biết giữ yên lặng.
Tĩnh lặng ở đây không phải là vô tri vô giác, mà là đỉnh cao của sự tự chủ: biết lúc nào nên lên tiếng, hiểu khi nào cần nín lặng.
• Chuyện chưa thành, chớ vội kể lể.
• Ý chưa tỏ, chớ vội giãi bày.
• Việc chưa xong, tuyệt đối đừng khoe khoang.
Giữ được miệng, chính là đang âm thầm giữ lấy phúc báo cho chính mình.
Vì sao phải "độc hành như bóng"?
Đó hoàn toàn không phải là sự cô độc đáng thương, mà là cảnh giới không để tâm trí mình bị xô đẩy, lôi kéo bởi sự ồn ào của thế nhân.
Khi đại vận vừa đến, cũng là lúc những kẻ xu nịnh tìm tới, những lời mời mọc bủa vây, và cả những thị phi rình rập cũng chực chờ ập xuống. Nếu nội tâm không đủ định lực, ta rất dễ đi lạc khỏi con đường chân chính của mình.
Sách xưa có câu: "Đắc ý bất vong hình" (Thành công chớ quên đi bản ngã) và "Thịnh cực tất suy" (Thịnh vượng tột đỉnh ắt có ngày suy tàn).
Thế nên, người thực sự thấu hiểu Đạo lý, khi vận may lên cao lại càng biết cách thu mình lại:
• Đứng nơi rực rỡ, vẫn giữ nội tâm tĩnh mịch.
• Giữa chốn lao xao, vẫn giữ cho mình sự điềm nhiên.
• Dù có đạt được thành tựu lớn lao, cũng không để lộ sự mãn nguyện thái quá.
Đó mới chính là nghệ thuật "giữ vận".
Bởi suy cho cùng, đại vận đến không phải để ta phô bày sự rực rỡ nhất thời, mà là cơ hội vàng để ta âm thầm tích lũy: Tích đức, tích lực, và tích tín.
Cứ nhẫn nại đợi cho đến khi nền móng thật vững chắc, gốc rễ cắm sâu vào lòng đất, thì tự khắc cành lá sẽ vươn mình sum suê. Chẳng cần phải gọi mời, những điều tốt đẹp nhất tự khắc sẽ tìm đến.
Hãy luôn khắc cốt ghi tâm:
Người vận càng lớn, tiếng càng phải nhỏ.
Người phúc càng dày, tâm càng phải kín.
Làm được như vậy, đại vận không chỉ ghé qua thăm hỏi – mà sẽ an nhiên ở lại. Lời tiền nhân để lại, chẳng phải để dọa ta e sợ, mà là ngọn đèn dẫn lối để ta đi được một chặng đường dài, bình an và bền vững!

THANH KỲ KHẢ ÁI




      Bức đại thạch tự “Thanh Kỳ Khả Ái” trên núi Xuân Đài, thuộc xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Lộc (nay là xã Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa). Xung quanh tác giả của 4 chữ này có nhiều ý kiến khác nhau, cả trước và nay, cả Tây và Ta. Để hiểu rõ vấn đề này và đi đến thống nhất, tôi xin cung cấp thông tin như sau.

      Tại núi Xuân Đài có chùa Du Anh, còn gọi là chùa Thông, ngôi chùa được tương truyền là nơi tu hành của một công chúa đời Trần. Chùa cũ đã bị phá hủy, dấu tích chỉ còn tấm bia bằng đá, văn bia do Hoàng Giáp Phùng Khắc Khoan soạn vào năm 1605. Từ chùa Du Anh lên động Hồ Công khoảng 700m, khoảng giũa đường có có phiến đá cao khoảng gần 2m, khắc 4 đại tự “Thanh Kỳ Khả Ái”.

    Về tác giả của 4 đại tự này đã có nhiều ý kiến khác nhau. Sách Hoàng Việt thi văn tuyển của Bùi Huy Bích (1744 – 1818) cho rằng đây là bút tích của chúa Trịnh Tùng (1548 – 1623). Một số nhà nghiên cứu cho rằng  đây là bút tích của Trạng Nguyên Lương Thế Vinh (1442 - ?) trong một lần tháp tùng vua Lê Thánh Tông về Lam Kinh bái yết sơn lăng đã ghé qua đây và dâng bút để vua đề 4 chữ trên. Trong tác phẩm Tỉnh Thanh Hóa, học giả người Pháp H. Le Breton khẳng định kèm theo bức ảnh chụp đây là những chữ khắc trên đá theo lệnh của vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497).

      Trong cuốn sách: Những bút tích Hán – Nôm hiện còn ở các hang động vách đá núi xứ Thanh, hai tác giả Võ Hồng Phi và Hương Nao được NXB Thanh Hóa phát hành năm 2018 đã làm rõ tác giả của 4 đại tự này. Năm 1996, trong chuyến khảo sát bút tích chữ Hán đề trước cửa động Hồ Công, hai tác giả đã dịch một bút tích như sau:

  Phiên âm:

      “Ngã Ái Châu hưng vương chi địa, sơn xuyên đa kỳ ái. Tạc nhân bái yết Sơn lăng, viên phỏng tiên nham nhận cổ xát,  vân bình phiêu diêu khung lung chân thị Hồ Công nhất đại thắng, khái hứng thành thất ngôn chấp luật nhất thủ, đặc thư: Ngọc Hồ” nhị tự, “Thanh kỳ khả ái” tứ tự, mệnh khắc vu thạch vân.

      Tằng tằng nham kính chuyển bàn vu

      Cao xứ hàm nha ngọc nhất Hồ

      Thạch hóa cựu thiềm châu ảnh tán

      Đan dư chân tượng tuyết nhan cù

      Vân tung tiêu hốt hành tiên tích

      Nhất quật an bài đại tạo lô

      Phúc địa cổ lai đa thắng tích

      Hà lao điểm xuyết “Võng Xuyên” đồ.

          Nhật Nam nguyên chủ đề

          Canh Dần tiểu xuân. Thần Cao Bác phụng tả.

    Dịch nghĩa và dịch thơ:

        Châu Ái ta là đất phát vương, núi sông nhiều nơi kỳ lạ đáng yêu. Hôm qua, ta nhân đi bái yết Sơn lăng, đến thăm núi tiên, xem các bài thơ. Khói mây trải đều, nhà đá khum khum, thật là một nơi Hồ thiên đại nhất thắng, bỗng cao hứng làm một bài thơ thất ngôn thể Đường luật. Đặc biệt, viết hai chữ “Ngọc Hồ” và bốn chữ “Thanh Kỳ Khả Ái”, sai khắc vào đá.

     Trập trùng nẻo đá lượn quanh co

     Đỉnh núi nhô cao một Ngọc Hồ

     Đá hóa cóc già châu tỏa sáng

     Son phai tượng cũ tuyết loang mờ

     Bóng mây chấp chới hình tiên bước

     Hang nắng lung linh dáng hỏa lò

     Đất phúc xưa nay bao thắng tích

     Ngọc chi tô điểm “Võng Xuyên đồ”.

     Nhật Nam nguyên chủ (Trịnh Sâm) đề

     Đầu Xuân Canh Dần, bề tôi Cao Bác phụng ghi

     Nhờ bút tích này nên đã xác định được chắc chắn 4 đại tự “Thanh Kỳ Khả Ái” và 2 đại tự “Ngọc Hồ” trên núi Xuân Đài và động Hồ Công là của chúa Trịnh Sâm.

   Nghĩa của 4  đại tự “Thanh Kỳ Khả Ái” có thể dịch: “Thanh tú kỳ lạ”, “Màu xanh kỳ lạ đáng yêu” (như tác giả dịch sách: Hoàng Văn thi văn tuyển) hoặc “Xứ Thanh kỳ lạ đáng yêu”. Nhưng theo tôi, khi đứng giữa đất trời xứ Thanh, thốt lên “Thanh Kỳ Khả Ái” đã trở thành một lời cảm thán khái quát đầy đủ về bản sắc xứ Thanh. Đó là một vùng đất hội tụ vẻ đẹp trong sáng, mang tính độc đáo nổi bật có sức hấp dẫn sâu sắc đối với con người, nơi vẻ đẹp tự nhiên, chiều sâu lịch sử và tâm thế con người hòa quyện với nhau. Vì vậy, dịch: “Xứ Thanh kỳ lạ đáng yêu” là thỏa đáng nhất..

Nguồn: facebook Ngo Hoai Chung 

Tuy nhiên:
Bốn chữ đại tự “Thanh Kỳ Khả Ái” (青奇可愛) do Trịnh Sâm đề trên đá ở khu Động Hồ Công có thể hiểu theo nghĩa Hán–Việt như sau:
* Thanh (青): xanh, trong, thanh tú
* Kỳ (奇): kỳ lạ, kỳ thú
* Khả (可): đáng, có thể
* Ái (愛): yêu mến, yêu thích
Gộp lại, câu này thường được dịch thoát ý là:
“Phong cảnh xanh tươi kỳ thú, đáng yêu mến.”
hoặc
“Cảnh đẹp thanh kỳ khiến người ta yêu thích.”
Đây là lời ca ngợi vẻ đẹp sơn thủy và đá núi độc đáo của vùng động Hồ Công – nơi nổi tiếng với cảnh quan đá vôi hiểm trở, cổ kính của xứ Thanh.
Theo truyền tụng địa phương, khi đi tuần du qua vùng này, chúa Trịnh Sâm thấy cảnh núi đá kỳ vĩ nên đã cho khắc bốn chữ ấy lên tảng đá bên đường lên động. Vì vậy, đây vừa là bút tích lịch sử vừa là một dạng “đề danh thắng cảnh” theo phong cách văn nhân thời Lê–Trịnh.
Còn nếu - Hiểu theo nghĩa “Xứ Thanh kỳ thú đáng yêu” thì không sai hoàn toàn, nhưng đó là cách diễn ý rộng, chứ không phải nghĩa trực tiếp sát chữ của cụm “Thanh Kỳ Khả Ái”.
Vì trong Hán văn:
* Thanh (青) ở đây thường là “xanh”, “thanh tú”, “trong trẻo”
chứ không phải chắc chắn là “Thanh Hóa”.
* Nếu muốn chỉ địa danh Thanh Hóa, người xưa thường dùng:
* Thanh Hoa (清華 / 清化)
* hoặc “Thanh địa”, “Ái Châu”…
Cho nên xét về ngữ pháp Hán văn cổ, cụm:
青奇可愛
đọc là “Thanh kỳ khả ái”
hợp lý nhất vẫn là:
“Cảnh xanh kỳ thú, đáng yêu mến.”
Tuy nhiên, vì bốn chữ này được khắc ngay tại thắng cảnh của xứ Thanh nên người đời sau liên hệ và diễn giải thành:
“Xứ Thanh kỳ thú đáng yêu”
thì đó là một cách gắn nghĩa văn hóa – địa phương, nghe rất có tình và hợp bối cảnh, nhưng không phải nghĩa gốc chặt chẽ của từng chữ Hán.
Nói ngắn gọn:
* Dịch sát chữ: “Phong cảnh thanh kỳ đáng yêu.”
* Diễn ý theo địa phương: “Xứ Thanh kỳ thú đáng yêu.”
* Cách thứ hai là phóng dịch, không phải sai hẳn, nhưng không chuẩn bằng cách thứ nhất về mặt Hán tự học.

Theo ChatGPT

Ngô Thị Ngọc Dao (1420 – 1496)

 


Ngô Thị Ngọc Dao (1420 – 1496) còn gọi là Quang Thục hoàng hậu hay Thái Tông Ngô hòang hậu, là một phi tần của Lê Thái Tông, mẹ đẻ của Lê Thánh Tông của triều đại nhà Hậu Lê. Bà quê ở làng Động Bàng, huyện Yên Định (nay thuộc Thanh Hóa). Xuất thân trong một gia đình có thế lực và danh vọng. Cha bà là Ngô Từ, một vị quan có đóng góp trong cuộc kháng chiến chống quân Minh và được phong tước Bảng Văn Hầu.

Khoảng những năm 1437-1438, Ngô Thị Ngọc Dao được tuyển vào cung, trở thành một trong các Thứ phi của vua Lê Thái Tông. Bà nổi tiếng là người hiền hậu, đoan trang, được nhà vua sủng ái. Tháng 6 năm 1440, Ngọc Dao được phong Tiệp Dư, cho ngự ở cung Khánh Phương. (Tiệp Dư là bậc cung tần sau tam phi và cửu tần, đứng đầu sáu chức cung giai, lo việc tiếp khách trong cung, phẩm cấp tương đương tước Hầu của triều đình). Ngọc Dao dạy con em các nhà trong triều tư cách cử chỉ ăn nói, biết lễ nghi, phép tắc đối với người trên, lấy ân đãi người dưới … Nhà vua rất yêu quý. Bà sinh con đầu lòng là Công chúa Diên Trường, đến năm 1442 sinh Tư Thành, sau này là vua Lê Thánh Tông.
Cuộc đời của Ngô Thị Ngọc Dao gắn liền với những âm mưu và biến cố chính trị thời kỳ đầu nhà Lê sơ, đặc biệt là sự đối đầu ngầm với Nguyễn Thị Anh (mẹ của Thái tử Lê Bang Cơ, tức vua Lê Nhân Tông).
Khi Ngọc Dao đang mang thai, có tin đồn là bà mộng thấy Kim đồng đầu thai, Thị Anh ghen ghét bèn xúc xiểm với Nhà vua là Ngọc Dao đang có âm mưu giết Thái tử. Lại tính ra Ngọc Dao có thai đã quá 10 tháng mà chưa sinh, rõ ràng là yêu quái hiện vào báo hại Hoàng gia. Nguyên Long cả nghe xúc xiểm, sai cung nỏ nhằm bụng chửa của Ngọc Dao mà bắn để trừ ma quỷ. Vừa lúc có vị Hoàng thân biết chuyện, can thiệp nên Ngọc Dao không bị bắn mà chuyển tội voi dày. Nguyễn Trãi bảo Nguyễn Thị Lộ can gián, Nguyễn Thị Lộ khuyên nhà vua không nên nghe lời xúc xiểm không đâu mà làm một việc quá ư thất đức. Nhà vua nghe lời Thị Lộ, cho Ngọc Dao được ra ở chùa Huy Văn trong kinh thành Đông Kinh (nay là chùa Dục Khánh, ngõ Văn Chương, phố Tôn Đức Thắng, Hà Nội).
Sau cái chết đột ngột của Lê Thái Tông (Vụ án Lệ Chi Viên năm 1442), Thái tử Lê Bang Cơ (Lê Nhân Tông) lên ngôi khi mới 1 tuổi. Nguyễn Thị Anh trở thành Hoàng Thái hậu và nắm quyền nhiếp chính. Bà Thái hậu này là người có quyền lực tuyệt đối và bắt đầu giai đoạn điều hành chính sự hơn 10 năm của mình.
Trong những năm tháng lưu lạc, tính mạng của hai mẹ con Ngô Thị Ngọc Dao được bảo toàn nhờ sự che chở của các công thần trung lương, đặc biệt là Nguyễn Xí. Nguyễn Xí nhận thấy Lê Tư Thành là người thông minh, có tướng mạo đế vương, nên đã bí mật bảo vệ, giúp đỡ hai mẹ con, tạo điều kiện cho Tư Thành học hành và lớn lên an toàn ngoài tầm kiểm soát của triều đình.
Đến năm Tư Thành bốn tuổi thì Tuyên Từ thái hậu Nguyễn Thị Anh mới ăn năn cho người đi tìm, rước mẹ con bà Ngọc Dao về Kinh, phong cho Tư Thành làm Bình Nguyên Vương, bà Ngọc Dao được thăng làm Sung Viên cho ra phụng sự nhà Thái miếu.
Năm 1459, Bang Cơ ở ngôi được 17 năm, một biến cố lớn xảy ra: Chính biến Thiên Hưng. Anh cùng cha khác mẹ của Lê Nhân Tông là Lạng Sơn Vương Lê Nghi Dân (người bi truất ngôi thái tử trước đây) đã đột nhập cung cấm, giết chết vua Lê Nhân Tông và Thái hậu Nguyễn Thị Anh, sau đó tự xưng đế.
Triều đại của Lê Nghi Dân không được lòng dân và các đại thần. Chỉ vài tháng sau, các đại thần như Nguyễn Xí, Đinh Liệt đã phát động binh biến lật đổ Lê Nghi Dân.
Nhận thấy Hoàng tử Lê Tư Thành (con trai Ngô Thị Ngọc Dao) là người tài đức và được lòng dân, các đại thần đã tôn ông lên ngôi, tức là Vua Lê Thánh Tông (1460).
Ngay khi con trai lên ngôi, Ngô Thị Ngọc Dao được tôn làm Hoàng Thái Phi, sau đó là Quang Thục Hoàng Thái Hậu. Bà từ một người phụ nữ bị thất sủng, sống lưu lạc bên ngoài cung cấm, đã trở thành người phụ nữ quyền lực và tôn quý nhất Đại Việt.
Là mẹ của vua Lê Thánh Tông – vị vua tạo ra thời kỳ Hồng Đức Thịnh trị (thời kỳ cường thịnh nhất của chế độ phong kiến Việt Nam), Ngô Thị Ngọc Dao có ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng và chính sách của con trai mình:
Việc bà từng bị hại và được các công thần bảo vệ có thể là một trong những động lực khiến Lê Thánh Tông rất chú trọng đến công lý. Chính ông là người đã minh oan cho Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ (Vụ án Lệ Chi Viên) vào năm 1464, và minh oan cho Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo.
Bà đóng vai trò là chỗ dựa tinh thần cho nhà vua, giúp nhà vua giữ vững kỷ cương trong cung đình và chính trị. Bà sống một cuộc đời vinh hiển, chứng kiến con trai mình thực hiện công cuộc cải cách toàn diện, mở rộng lãnh thổ, và đưa Đại Việt lên đỉnh cao.
Bà thường về ở Đông Triều, ăn chay niệm phật thanh đạm, sáng suốt, khỏe mạnh sống lâu rất là vui vẻ, lấy kiệm cần mà răn dạy người đời, lấy nhân hậu mà nhắc nhủ vua.
Năm Hồng Đức thứ 27 (1496), bà cùng vua về Lam Kinh rồi mắc bệnh lỵ, Lê Thánh Tông và Thái tử Lê Tranh ngày đêm chầu chực bên giường bệnh, thuốc thang cơm nước tự nếm trước. Trong thì cúng tổ tiên, ngoài thì nghe dân chúng cầu khấn các thần không thiếu nơi nào.
Ngày 26 tháng 2, Thái hậu qua đời, thọ 75 tuổi. Lê Thánh Tông đau buồn, truy tôn bà làm Quang Thục hoàng thái hậu. Việc khâm liệm, phạm hàm đều do Hoàng đế tự làm, viết điếu văn, đặt quan tài ở điện để viếng, định tháng 10 rước về Sơn Lăng, nhưng Thánh Tông sau đó cũng băng hà nên chưa làm lễ an táng được.
Ngô Thị Ngọc Dao là một ví dụ điển hình cho thấy vai trò của người phụ nữ trong việc định hình lịch sử, không chỉ qua quyền lực trực tiếp mà còn qua việc bảo vệ và nuôi dưỡng nhân tài, tạo ra một triều đại thịnh trị.