Phỏng bài viết về Nga Sơn trước khi tách huyện của Ngo Hoai Chung
I. CHUYẾN XE ĐẠP THÁNG TÁM
Tháng Tám năm nào nắng lửa chang chang
Tôi đạp chiếc xe còm từ tỉnh xuống
Ba mươi cây số đường quê hun hút
Mồ hôi hòa bụi đỏ áo thanh niên.
Mới bước chân vào nghề cán bộ đầu tiên
Lòng háo hức như chim vừa ra tổ
Con đường nhỏ chạy giữa đồng cói gió
Dẫn tôi về đất cổ phía đông bắc xứ Thanh.
Nga Sơn hôm ấy hiện ra rất hiền
Thị trấn nhỏ nép bên trời mây trắng
Tôi lần đầu nghe tiếng người nói nhẹ
Như gió sông Hồng thổi lạc giữa miền Trung.
Lần đầu tiên vào động Từ Thức mông lung
Chạm vách đá nghe nghìn năm cổ tích
Lần đầu ăn gỏi lệch cay nồng vị biển
Mùi lá thơm quấn mãi suốt đời tôi.
Hơn ba mươi năm ký ức vẫn chưa phai
Buổi “chạm ngõ” còn tươi nguyên như mới
Mỗi lần nhớ như trở về quá khứ
Khi huyện Nga Sơn còn gọi giữa quê nhà.
II. ĐỨA CON CỦA NÚI VÀ SÔNG
Nga Sơn đâu giống những miền đồng bằng
Không thuần phù sa sông Mã, sông Chu đỏ nặng
Mà mang mạch sông Hồng ngàn đời bồi lắng
Đắp nên miền đất trẻ phía chân mây.
Tam Điệp từ Hòa Bình xuôi mãi về đây
Mang đá núi lao ra cùng biển lớn
Phù sa gặp non cao thành duyên phận
Sinh một vùng quê vừa biển vừa hang.
Có núi đá vôi xanh thẫm mây ngàn
Có bãi bồi kéo dài ra sóng bạc
Có ruộng phẳng như chiếu trải ven làng
Có cửa biển từng chôn bao huyền thoại.
Đất trẻ lắm — mỗi năm biển lùi xa mãi
Tám chục, trăm thước phù sa lại đắp bồi
Đảo Mai An Tiêm xưa ngoài khơi sóng dội
Nay nằm sâu trong đất liền rồi.
Song Ngưu thuở trước nổi lên giữa biển
Chích Trợ như bông sen nở giữa trùng dương
Chỉ mấy chục năm đất liền ôm trọn
Biển lùi xa, núi đứng giữa đồng bằng.
Ai bảo thời gian chỉ biết xóa nhòa?
Ở Nga Sơn thời gian còn bồi đất
Để hòn đảo hóa thành miền quê thật
Cho bãi bờ lớn mãi phía chân trời.
III. THẦN PHÙ – CỬA BIỂN NGÀN XƯA
Có một cửa biển từng dữ dằn như sử
Tên Thần Phù nghe sóng cũng rùng mình
“Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm”
Câu ca dao còn vọng từ nghìn trước.
Nơi ấy núi chen sông như thành lũy
Mây phủ đầu non, biển nuốt chân trời
Vua Hùng đi đánh phương Nam từng ghé lại
Sóng ngăn đường, gió dựng giữa khơi xa.
Có đạo sĩ cưỡi thuyền đi trước
Dẹp sóng thần mở lối thủy quân qua
Người mất đi, vua phong làm chân nhân giữ biển
Đền thờ còn trấn cửa nước ngày đêm.
Nguyễn Trãi từng đứng ngắm nơi này
Thấy non nước kết anh hùng từ thuở trước
Lê Thánh Tông dong thuyền qua cửa biển
Để lại thơ như khắc sóng vào mây.
Rồi phù sa âm thầm lấp biển xưa
Cửa Thần Phù nay thành làng xóm mới
Chích Trợ đứng cô đơn giữa đồng nội
Như chứng nhân cho dâu bể đổi thay.
IV. ĐỘNG TỪ THỨC VÀ GIẤC MƠ TIÊN
Ai đến Nga Sơn mà quên Từ Thức?
Hang động sâu như cửa mở Thiên Thai
Nhũ đá buông như màn tiên giữa cõi
Tiếng chuông ngân từ đá vọng nghìn năm.
Từ Thức ngày xưa gặp Giáng Hương
Một cuộc tình nửa thực nửa sương khói
Lên tiên giới rồi lòng còn nhớ cõi
Nên quay về lạc mất cả nhân gian.
“Trách chàng Từ Thức vụng suy…”
Câu cổ tích dân gian còn nhắc mãi
Bởi con người dù bước vào tiên giới
Vẫn nặng lòng với bụi đất quê hương.
Tôi bước vào động nghe đá kể chuyện xưa
Bia cổ ngủ yên trong bóng tối
Tay chạm lạnh nghìn năm rêu phủ
Ngỡ chạm vào giấc mộng của cha ông.
Bao tao nhân mặc khách đã từng qua
Lê Quý Đôn, Trịnh Sâm, Nguyễn Khắc Niêm…
Để thơ lại trên vách đá
Như gửi hồn mình vào cõi mây xanh.
V. MIỀN “BẮC” NHẤT XỨ THANH
Lạ lắm thay một miền quê xứ Thanh
Mà giọng nói nhẹ như người Hà Nội
Không lẫn hỏi-ngã như bao miền trung du khác
Âm điệu đầy và tròn như gió bãi sông Hồng.
Có lẽ phù sa cũng biết đổi giọng người
Đất nào sinh tiếng nói ấy
Nga Sơn mang mạch Bắc hòa vào xứ Thanh
Thành chiếc cầu nối hai miền văn hóa.
Tên đất nghe như dáng núi cao
“Nga Sơn” — theo nghĩa Hán là non lớn
Một huyện biển mà mang hồn núi
Cũng như người nơi đây vừa mặn vừa sâu.
VI. CHIẾU CÓI, RƯỢU NỒNG VÀ GỎI LỆCH
Cói Nga Sơn xanh như sóng lúa
Dệt nên chiếu mát cả bốn mùa
“Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng…”
Câu ca dao còn thơm mùi cói mới.
Rượu Chính Đại cay nồng men đất
Rượu Bạch Câu uống nhớ đến nao lòng
“Cá mè sông Mực nhắm với rượu Nga Sơn
Trần gian hấp dẫn hơn Ngọc Hoàng…”
Nhưng nhớ nhất vẫn là gỏi lệch
Món quê nghèo mà tinh tế vô ngần
Lá vọng cách, đinh lăng, sung, mơ, lát chuối
Cuốn vị đồng quê trong chiếc lá xanh.
Ăn một miếng nghe đủ mùi đất nước
Chua, cay, chát, ngọt, bùi, thơm
Như tính cách người Nga Sơn mộc mạc
Mà đằm sâu như biển cuối chân trời.
VII. BA ĐÌNH VÀ NHỮNG CON NGƯỜI ĐẤT ẤY
Nga Sơn không chỉ đẹp bởi non xanh
Mà còn đẹp bởi bao người giữ nước
Ba Đình từng bùng lên lửa nghĩa
Đinh Công Tráng dựng cờ giữa mùa đông.
Tên Ba Đình theo người ra Hà Nội
Đặt quảng trường nơi Bác đọc Tuyên ngôn
Một góc đất quê nghèo ven biển
Hóa biểu tượng cho cả nước non này.
Có Mai An Tiêm mở bờ khai đất
Có Lê Thị Hoa theo Hai Bà Trưng
Có Hữu Loan mang màu sim tím
Đào đá nuôi con giữa núi Vân Lỗi mù sương.
Đất ấy nghèo nhưng sinh nhiều thi sĩ
Những câu thơ như sóng biển không cùng
Người “rót biển vào chai”, người gieo màu ký ức
Cho Nga Sơn còn mãi giữa lòng người.
VIII. DẪU KHÔNG CÒN HUYỆN
Rồi một ngày tên huyện hóa dĩ vãng
Bản đồ hành chính đổi khác đi rồi
Hai mươi ba xã gom thành sáu mới
Một danh xưng lùi lại phía thời gian.
Nhưng ai bảo mất tên là mất đất?
Nga Sơn vẫn còn núi đá, biển khơi
Vẫn động Từ Thức mờ sương cổ tích
Vẫn Mai An Tiêm giữa gió bãi bồi.
Đất ấy vẫn lặng thầm ra phía biển
Mỗi năm dài thêm một dải phù sa
Như con người Nga Sơn âm thầm mà bền bỉ
Cứ lớn dần lên qua dâu bể đời người.
Và trong tôi — chuyến xe đạp năm nao
Vẫn đạp mãi dưới trời hè đỏ lửa
Một miền quê đã hóa thành ký ức
Mà suốt đời tôi chẳng thể nào quên.
