XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG

Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2026

THỦ KHẨU NHƯ BÌNH, ĐỘC HÀNH NHƯ BÓNG

 

NGHỆ THUẬT GIỮ VẬN:

Khi một người chuẩn bị bước vào đại vận, có một lời khuyên nghe qua thì lạnh lùng, nhưng lại là lời dặn dò uyên thâm và ấm áp nhất của cổ nhân: "Hãy kín miệng như mặt hồ thu tĩnh lặng, và thu mình độc hành như một chiếc bóng."
Vì sao phải "kín miệng"?
Người xưa dạy: "Họa tòng khẩu xuất" – bao tai ương đều từ miệng mà ra; lại có câu "Tàng phong tụ khí" – phải biết ẩn mình, cất giấu đi thì vượng khí mới tụ lại.
Khi đại vận vừa chớm nở, thế khí còn non nớt, phúc báu chưa thật bề thế. Nói quá nhiều ắt làm tán khí. Phô trương quá sớm ắt làm tổn phúc. Nền móng chưa vững mà vội vàng lộ diện, tất dễ sinh ra biến cố.
Bởi thế, cổ nhân mới dặn phải biết giữ yên lặng.
Tĩnh lặng ở đây không phải là vô tri vô giác, mà là đỉnh cao của sự tự chủ: biết lúc nào nên lên tiếng, hiểu khi nào cần nín lặng.
• Chuyện chưa thành, chớ vội kể lể.
• Ý chưa tỏ, chớ vội giãi bày.
• Việc chưa xong, tuyệt đối đừng khoe khoang.
Giữ được miệng, chính là đang âm thầm giữ lấy phúc báo cho chính mình.
Vì sao phải "độc hành như bóng"?
Đó hoàn toàn không phải là sự cô độc đáng thương, mà là cảnh giới không để tâm trí mình bị xô đẩy, lôi kéo bởi sự ồn ào của thế nhân.
Khi đại vận vừa đến, cũng là lúc những kẻ xu nịnh tìm tới, những lời mời mọc bủa vây, và cả những thị phi rình rập cũng chực chờ ập xuống. Nếu nội tâm không đủ định lực, ta rất dễ đi lạc khỏi con đường chân chính của mình.
Sách xưa có câu: "Đắc ý bất vong hình" (Thành công chớ quên đi bản ngã) và "Thịnh cực tất suy" (Thịnh vượng tột đỉnh ắt có ngày suy tàn).
Thế nên, người thực sự thấu hiểu Đạo lý, khi vận may lên cao lại càng biết cách thu mình lại:
• Đứng nơi rực rỡ, vẫn giữ nội tâm tĩnh mịch.
• Giữa chốn lao xao, vẫn giữ cho mình sự điềm nhiên.
• Dù có đạt được thành tựu lớn lao, cũng không để lộ sự mãn nguyện thái quá.
Đó mới chính là nghệ thuật "giữ vận".
Bởi suy cho cùng, đại vận đến không phải để ta phô bày sự rực rỡ nhất thời, mà là cơ hội vàng để ta âm thầm tích lũy: Tích đức, tích lực, và tích tín.
Cứ nhẫn nại đợi cho đến khi nền móng thật vững chắc, gốc rễ cắm sâu vào lòng đất, thì tự khắc cành lá sẽ vươn mình sum suê. Chẳng cần phải gọi mời, những điều tốt đẹp nhất tự khắc sẽ tìm đến.
Hãy luôn khắc cốt ghi tâm:
Người vận càng lớn, tiếng càng phải nhỏ.
Người phúc càng dày, tâm càng phải kín.
Làm được như vậy, đại vận không chỉ ghé qua thăm hỏi – mà sẽ an nhiên ở lại. Lời tiền nhân để lại, chẳng phải để dọa ta e sợ, mà là ngọn đèn dẫn lối để ta đi được một chặng đường dài, bình an và bền vững!

THANH KỲ KHẢ ÁI

 




      Bức đại thạch tự “Thanh Kỳ Khả Ái” trên núi Xuân Đài, thuộc xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Lộc (nay là xã Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa). Xung quanh tác giả của 4 chữ này có nhiều ý kiến khác nhau, cả trước và nay, cả Tây và Ta. Để hiểu rõ vấn đề này và đi đến thống nhất, tôi xin cung cấp thông tin như sau.

      Tại núi Xuân Đài có chùa Du Anh, còn gọi là chùa Thông, ngôi chùa được tương truyền là nơi tu hành của một công chúa đời Trần. Chùa cũ đã bị phá hủy, dấu tích chỉ còn tấm bia bằng đá, văn bia do Hoàng Giáp Phùng Khắc Khoan soạn vào năm 1605. Từ chùa Du Anh lên động Hồ Công khoảng 700m, khoảng giũa đường có có phiến đá cao khoảng gần 2m, khắc 4 đại tự “Thanh Kỳ Khả Ái”.

    Về tác giả của 4 đại tự này đã có nhiều ý kiến khác nhau. Sách Hoàng Việt thi văn tuyển của Bùi Huy Bích (1744 – 1818) cho rằng đây là bút tích của chúa Trịnh Tùng (1548 – 1623). Một số nhà nghiên cứu cho rằng  đây là bút tích của Trạng Nguyên Lương Thế Vinh (1442 - ?) trong một lần tháp tùng vua Lê Thánh Tông về Lam Kinh bái yết sơn lăng đã ghé qua đây và dâng bút để vua đề 4 chữ trên. Trong tác phẩm Tỉnh Thanh Hóa, học giả người Pháp H. Le Breton khẳng định kèm theo bức ảnh chụp đây là những chữ khắc trên đá theo lệnh của vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497).

      Trong cuốn sách: Những bút tích Hán – Nôm hiện còn ở các hang động vách đá núi xứ Thanh, hai tác giả Võ Hồng Phi và Hương Nao được NXB Thanh Hóa phát hành năm 2018 đã làm rõ tác giả của 4 đại tự này. Năm 1996, trong chuyến khảo sát bút tích chữ Hán đề trước cửa động Hồ Công, hai tác giả đã dịch một bút tích như sau:

  Phiên âm:

      “Ngã Ái Châu hưng vương chi địa, sơn xuyên đa kỳ ái. Tạc nhân bái yết Sơn lăng, viên phỏng tiên nham nhận cổ xát,  vân bình phiêu diêu khung lung chân thị Hồ Công nhất đại thắng, khái hứng thành thất ngôn chấp luật nhất thủ, đặc thư: Ngọc Hồ” nhị tự, “Thanh kỳ khả ái” tứ tự, mệnh khắc vu thạch vân.

      Tằng tằng nham kính chuyển bàn vu

      Cao xứ hàm nha ngọc nhất Hồ

      Thạch hóa cựu thiềm châu ảnh tán

      Đan dư chân tượng tuyết nhan cù

      Vân tung tiêu hốt hành tiên tích

      Nhất quật an bài đại tạo lô

      Phúc địa cổ lai đa thắng tích

      Hà lao điểm xuyết “Võng Xuyên” đồ.

          Nhật Nam nguyên chủ đề

          Canh Dần tiểu xuân. Thần Cao Bác phụng tả.

    Dịch nghĩa và dịch thơ:

        Châu Ái ta là đất phát vương, núi sông nhiều nơi kỳ lạ đáng yêu. Hôm qua, ta nhân đi bái yết Sơn lăng, đến thăm núi tiên, xem các bài thơ. Khói mây trải đều, nhà đá khum khum, thật là một nơi Hồ thiên đại nhất thắng, bỗng cao hứng làm một bài thơ thất ngôn thể Đường luật. Đặc biệt, viết hai chữ “Ngọc Hồ” và bốn chữ “Thanh Kỳ Khả Ái”, sai khắc vào đá.

     Trập trùng nẻo đá lượn quanh co

     Đỉnh núi nhô cao một Ngọc Hồ

     Đá hóa cóc già châu tỏa sáng

     Son phai tượng cũ tuyết loang mờ

     Bóng mây chấp chới hình tiên bước

     Hang nắng lung linh dáng hỏa lò

     Đất phúc xưa nay bao thắng tích

     Ngọc chi tô điểm “Võng Xuyên đồ”.

     Nhật Nam nguyên chủ (Trịnh Sâm) đề

     Đầu Xuân Canh Dần, bề tôi Cao Bác phụng ghi

     Nhờ bút tích này nên đã xác định được chắc chắn 4 đại tự “Thanh Kỳ Khả Ái” và 2 đại tự “Ngọc Hồ” trên núi Xuân Đài và động Hồ Công là của chúa Trịnh Sâm.

   Nghĩa của 4  đại tự “Thanh Kỳ Khả Ái” có thể dịch: “Thanh tú kỳ lạ”, “Màu xanh kỳ lạ đáng yêu” (như tác giả dịch sách: Hoàng Văn thi văn tuyển) hoặc “Xứ Thanh kỳ lạ đáng yêu”. Nhưng theo tôi, khi đứng giữa đất trời xứ Thanh, thốt lên “Thanh Kỳ Khả Ái” đã trở thành một lời cảm thán khái quát đầy đủ về bản sắc xứ Thanh. Đó là một vùng đất hội tụ vẻ đẹp trong sáng, mang tính độc đáo nổi bật có sức hấp dẫn sâu sắc đối với con người, nơi vẻ đẹp tự nhiên, chiều sâu lịch sử và tâm thế con người hòa quyện với nhau. Vì vậy, dịch: “Xứ Thanh kỳ lạ đáng yêu” là thỏa đáng nhất..

Nguồn: facebook Ngo Hoai Chung 

Ngô Thị Ngọc Dao (1420 – 1496)

 


Ngô Thị Ngọc Dao (1420 – 1496) còn gọi là Quang Thục hoàng hậu hay Thái Tông Ngô hòang hậu, là một phi tần của Lê Thái Tông, mẹ đẻ của Lê Thánh Tông của triều đại nhà Hậu Lê. Bà quê ở làng Động Bàng, huyện Yên Định (nay thuộc Thanh Hóa). Xuất thân trong một gia đình có thế lực và danh vọng. Cha bà là Ngô Từ, một vị quan có đóng góp trong cuộc kháng chiến chống quân Minh và được phong tước Bảng Văn Hầu.

Khoảng những năm 1437-1438, Ngô Thị Ngọc Dao được tuyển vào cung, trở thành một trong các Thứ phi của vua Lê Thái Tông. Bà nổi tiếng là người hiền hậu, đoan trang, được nhà vua sủng ái. Tháng 6 năm 1440, Ngọc Dao được phong Tiệp Dư, cho ngự ở cung Khánh Phương. (Tiệp Dư là bậc cung tần sau tam phi và cửu tần, đứng đầu sáu chức cung giai, lo việc tiếp khách trong cung, phẩm cấp tương đương tước Hầu của triều đình). Ngọc Dao dạy con em các nhà trong triều tư cách cử chỉ ăn nói, biết lễ nghi, phép tắc đối với người trên, lấy ân đãi người dưới … Nhà vua rất yêu quý. Bà sinh con đầu lòng là Công chúa Diên Trường, đến năm 1442 sinh Tư Thành, sau này là vua Lê Thánh Tông.
Cuộc đời của Ngô Thị Ngọc Dao gắn liền với những âm mưu và biến cố chính trị thời kỳ đầu nhà Lê sơ, đặc biệt là sự đối đầu ngầm với Nguyễn Thị Anh (mẹ của Thái tử Lê Bang Cơ, tức vua Lê Nhân Tông).
Khi Ngọc Dao đang mang thai, có tin đồn là bà mộng thấy Kim đồng đầu thai, Thị Anh ghen ghét bèn xúc xiểm với Nhà vua là Ngọc Dao đang có âm mưu giết Thái tử. Lại tính ra Ngọc Dao có thai đã quá 10 tháng mà chưa sinh, rõ ràng là yêu quái hiện vào báo hại Hoàng gia. Nguyên Long cả nghe xúc xiểm, sai cung nỏ nhằm bụng chửa của Ngọc Dao mà bắn để trừ ma quỷ. Vừa lúc có vị Hoàng thân biết chuyện, can thiệp nên Ngọc Dao không bị bắn mà chuyển tội voi dày. Nguyễn Trãi bảo Nguyễn Thị Lộ can gián, Nguyễn Thị Lộ khuyên nhà vua không nên nghe lời xúc xiểm không đâu mà làm một việc quá ư thất đức. Nhà vua nghe lời Thị Lộ, cho Ngọc Dao được ra ở chùa Huy Văn trong kinh thành Đông Kinh (nay là chùa Dục Khánh, ngõ Văn Chương, phố Tôn Đức Thắng, Hà Nội).
Sau cái chết đột ngột của Lê Thái Tông (Vụ án Lệ Chi Viên năm 1442), Thái tử Lê Bang Cơ (Lê Nhân Tông) lên ngôi khi mới 1 tuổi. Nguyễn Thị Anh trở thành Hoàng Thái hậu và nắm quyền nhiếp chính. Bà Thái hậu này là người có quyền lực tuyệt đối và bắt đầu giai đoạn điều hành chính sự hơn 10 năm của mình.
Trong những năm tháng lưu lạc, tính mạng của hai mẹ con Ngô Thị Ngọc Dao được bảo toàn nhờ sự che chở của các công thần trung lương, đặc biệt là Nguyễn Xí. Nguyễn Xí nhận thấy Lê Tư Thành là người thông minh, có tướng mạo đế vương, nên đã bí mật bảo vệ, giúp đỡ hai mẹ con, tạo điều kiện cho Tư Thành học hành và lớn lên an toàn ngoài tầm kiểm soát của triều đình.
Đến năm Tư Thành bốn tuổi thì Tuyên Từ thái hậu Nguyễn Thị Anh mới ăn năn cho người đi tìm, rước mẹ con bà Ngọc Dao về Kinh, phong cho Tư Thành làm Bình Nguyên Vương, bà Ngọc Dao được thăng làm Sung Viên cho ra phụng sự nhà Thái miếu.
Năm 1459, Bang Cơ ở ngôi được 17 năm, một biến cố lớn xảy ra: Chính biến Thiên Hưng. Anh cùng cha khác mẹ của Lê Nhân Tông là Lạng Sơn Vương Lê Nghi Dân (người bi truất ngôi thái tử trước đây) đã đột nhập cung cấm, giết chết vua Lê Nhân Tông và Thái hậu Nguyễn Thị Anh, sau đó tự xưng đế.
Triều đại của Lê Nghi Dân không được lòng dân và các đại thần. Chỉ vài tháng sau, các đại thần như Nguyễn Xí, Đinh Liệt đã phát động binh biến lật đổ Lê Nghi Dân.
Nhận thấy Hoàng tử Lê Tư Thành (con trai Ngô Thị Ngọc Dao) là người tài đức và được lòng dân, các đại thần đã tôn ông lên ngôi, tức là Vua Lê Thánh Tông (1460).
Ngay khi con trai lên ngôi, Ngô Thị Ngọc Dao được tôn làm Hoàng Thái Phi, sau đó là Quang Thục Hoàng Thái Hậu. Bà từ một người phụ nữ bị thất sủng, sống lưu lạc bên ngoài cung cấm, đã trở thành người phụ nữ quyền lực và tôn quý nhất Đại Việt.
Là mẹ của vua Lê Thánh Tông – vị vua tạo ra thời kỳ Hồng Đức Thịnh trị (thời kỳ cường thịnh nhất của chế độ phong kiến Việt Nam), Ngô Thị Ngọc Dao có ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng và chính sách của con trai mình:
Việc bà từng bị hại và được các công thần bảo vệ có thể là một trong những động lực khiến Lê Thánh Tông rất chú trọng đến công lý. Chính ông là người đã minh oan cho Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ (Vụ án Lệ Chi Viên) vào năm 1464, và minh oan cho Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo.
Bà đóng vai trò là chỗ dựa tinh thần cho nhà vua, giúp nhà vua giữ vững kỷ cương trong cung đình và chính trị. Bà sống một cuộc đời vinh hiển, chứng kiến con trai mình thực hiện công cuộc cải cách toàn diện, mở rộng lãnh thổ, và đưa Đại Việt lên đỉnh cao.
Bà thường về ở Đông Triều, ăn chay niệm phật thanh đạm, sáng suốt, khỏe mạnh sống lâu rất là vui vẻ, lấy kiệm cần mà răn dạy người đời, lấy nhân hậu mà nhắc nhủ vua.
Năm Hồng Đức thứ 27 (1496), bà cùng vua về Lam Kinh rồi mắc bệnh lỵ, Lê Thánh Tông và Thái tử Lê Tranh ngày đêm chầu chực bên giường bệnh, thuốc thang cơm nước tự nếm trước. Trong thì cúng tổ tiên, ngoài thì nghe dân chúng cầu khấn các thần không thiếu nơi nào.
Ngày 26 tháng 2, Thái hậu qua đời, thọ 75 tuổi. Lê Thánh Tông đau buồn, truy tôn bà làm Quang Thục hoàng thái hậu. Việc khâm liệm, phạm hàm đều do Hoàng đế tự làm, viết điếu văn, đặt quan tài ở điện để viếng, định tháng 10 rước về Sơn Lăng, nhưng Thánh Tông sau đó cũng băng hà nên chưa làm lễ an táng được.
Ngô Thị Ngọc Dao là một ví dụ điển hình cho thấy vai trò của người phụ nữ trong việc định hình lịch sử, không chỉ qua quyền lực trực tiếp mà còn qua việc bảo vệ và nuôi dưỡng nhân tài, tạo ra một triều đại thịnh trị.

TRƯỜNG CA VỀ DÒNG CHẢY NHO GIA

 

TRƯỜNG CA THẤT NGÔN

Vịnh Dòng Chảy Nho Gia
Thuở trước Chu du bóng Khổng đài,
Sông Tư nước chảy ngậm bi ai.
Đạo nhân mở lối ngàn thu thịnh,
Lễ nghĩa vun nền vạn thế khai.
Khổng Tử ôm lòng thương bách tính,
Muốn đem nhân đức sửa hình hài.
Tu thân rồi mới yên thiên hạ,
Chữ “Nhân” soi sáng cõi trần ai.
Người dạy quân thần nên chính trực,
Cha hiền con thảo giữ tương lai.
Không dùng cực pháp làm khuôn phép,
Lấy đức cảm người đổi họa tai.
Một thuở chư hầu tranh bá nghiệp,
Đao binh nhuốm đỏ khắp thành đài.
Khổng Nho giữ thế trung dung đạo,
Mở lối hòa bình giữa loạn sai.
Rồi đến nhà Hán xây quyền lực,
Đổng Trọng Thư vào chốn ngọc giai.
Thiên nhân cảm ứng thành khuôn phép,
Hoàng đế ngồi cao tựa thánh tài.
Tam cương xiết chặt vòng tôn ti,
Ngũ thường phủ kín mọi đường ai.
Nho gia từ chỗ lòng nhân ái,
Biến thành phép trị giữ ngai đài.
Quân xử thần vong không dám cãi,
Phu xướng phụ tùy chẳng được sai.
Đạo học nghiêng về quyền thống trị,
Dân tình cúi mặt trước thiên thai.
Khổng học ban đầu còn khí phách,
Qua thời Hán chế hóa công sai.
Nhân tâm bị khóa trong khuôn ngọc,
Lễ nhạc dần che bóng tháng ngày.
Rồi gió Tống triều dâng triết lý,
Chu Hi gom Đạo, Phật cùng cài.
“Tâm – Lý – Tính – Mệnh” thành huyền luận,
Lý Khí phân minh tựa gió mây.
Cách vật trí tri tìm lẽ thật,
Tu thân dưỡng tính giữ lòng ngay.
Tống Nho mở rộng miền siêu nghiệm,
Đưa trí con người vượt đất này.
Nhưng bởi quá thiên về lý tính,
Đôi khi xa khuất chuyện dân cày.
Nho gia từ chỗ lo đời thực,
Hóa áng mây cao giữa gió bay.
Đến nước Đại Việt thời Hồng Đức,
Lê Thánh Tông ngời ánh sử dày.
Tiếp lấy Chu Nho làm chính học,
Mà đem Việt hóa hợp lòng này.
Khoa cử mở đường cho sĩ tử,
Văn chương rạng rỡ khắp Đông Tây.
Hiền tài trở thành nguyên khí nước,
Trống trường vang động khắp trời mây.
Luật Hồng Đức vừa nghiêm vừa nghĩa,
Đức trị song hành với phép thay.
Phong tục nước Nam còn giữ vững,
Không rập Trung Hoa đến tận tay.
Nho học vào dân không quá cứng,
Biết hòa nhân nghĩa với tình quê.
Quan thanh liêm phải thương lê thứ,
Nước thái bình nhờ giữ đạo nề.
Khổng Nho dựng móng từ nhân bản,
Hán Nho tô đậm bóng uy quyền.
Tống Nho đưa đạo lên siêu lý,
Tân Nho Đại Việt kết dân hiền.
Một mạch tư tưởng qua ngàn tuổi,
Theo bước thời gian đổi dáng hình.
Song cốt lõi còn nơi chữ “Nhẫn”,
Cùng lòng nhân ái với dân sinh.
Than ôi đạo học như sông lớn,
Mỗi khúc quanh dòng mỗi sắc riêng.
Kẻ trị nước dùng làm khuôn phép,
Người tu thân giữ lấy tâm thiền.
Nếu chỉ trọng quyền quên nghĩa cả,
Nho gia rồi cũng hóa xiềng xích.
Nếu biết hòa cùng dân tộc tính,
Muôn đời vẫn sáng giữa non thiêng.