Có ai đọc qua về sự kiện công thành Ung Châu của Lý Thường Kiệt mà thấy rất ấn tượng với Tô Giám 蘇緘 không?
Dưới tình huống bị vây hãm ngoặt
nghèo, chỉ có 2.800 quân lính, kém nhiều lần so với quân Đại Việt, dân tâm
hoang mang mà vẫn có thể quy tụ tất cả thành một khối, cầm cự được đến 42 ngày.
Nếu không phải vì viện binh Tống quá phế, e là trận Ung Châu lại thành một điển
phạm khác trong lịch sử thủ thành của Trung Quốc.
Tiếc là thông tin về Tô Giám trong sách của học giả Hoàng Xuân Hãn (1908-1996) không nhiều lắm, chỉ vỏn vẹn vài dòng thôi.
Vậy, Tô Giám là người ra sao? Hãy
cùng mình tìm hiểu qua một bảng profile trước nhé.
Họ: Tô 蘇
Tên: Giám 緘
Tự: Tuyên Phủ 宣甫
Thuỵ: Trung Dũng 忠勇
Quốc tịch: Tống 宋 (nay là Trung
Quốc)
Quê quán: Tấn Giang 晉江, Tuyền Châu 泉州 (nay là huyện
Tấn Giang, thành phố Tuyền Châu, tỉnh Phúc Kiến 福建)
Sinh: 1016 (Tống: năm Đại Trung Tường
Phù thứ 9)
Mất: 1076 (Tống: năm Hy Ninh thứ
9); Ung Châu 邕州
(nay là thành phố Nam Ninh 南宁, tỉnh Quảng Tây 廣西)
Nguyên nhân mất: Tuẫn tiết cùng
gia quyến sau khi thành thất thủ
Học vị: Tiến sĩ
Nghề nghiệp: Công chức nhà nước
Chức vụ nổi bật: Hoàng thành sứ,
Tri Ung Châu. Truy tặng Phụng Quốc quân Tiết độ sứ.
Nổi tiếng vì: Thủ thành Ung Châu
Liên quan: Tô Thân 蘇紳 (999-1046):
Anh họ; Tô Tụng 蘇頌
(1020-1101): Cháu họ
Sau khi đỗ tiến sĩ, Tô Giám bắt
đầu đường quan lộ với chức Chủ bộ ở Nam Hải 南海, Quảng Châu 廣州 (nay là thành phố Quảng Châu,
tỉnh Quảng Đông 广东).
Quảng Châu khi ấy là thương cảng nơi tàu thuyền của thương nhân ngoại quốc
(phiên bạc) tụ tập. Quan viên địa phương có nhiệm vụ kiểm tra hàng hoá của họ.
Tô Giám, thuở trẻ vốn nổi tiếng là người “hào mại lỗi lạc bất quần” [1], tính
cách rõ ràng không phù hợp với nơi cần nhiều sự khéo léo này. Quả nhiên, một
hôm có tên thương nhân họ Phàn đến đúng hôm Tô Giám làm nhiệm vụ. Thương nhân ở
Quảng Châu vốn đều thuộc các dòng họ lớn, chức Chủ bộ lại nhỏ, họ Phàn chỉ dùng
khách lễ mà tiếp, liền bước lên thềm cao, ngồi chễm chệ trên sập. Gặp ngay
thanh niên nho gia vừa đỗ tiến sĩ, tính lại không ngại va chạm, ăn ngay một
chầu chửi và trận roi (hoặc trượng; tuỳ nguồn Tống sử 宋史 hoặc Đông Đô sự lược 東都事略). Tất nhiên,
Tô Giám cũng dính ngay một đơn tố lên Tri châu. Bị cấp trên quở trách, ông đáp:
"Chức Chủ bộ tuy nhỏ, nhưng đó là quan lại của triều đình ở nơi ấp sở.
Thương nhân tuy giàu, chỉ là kẻ dân đen trong địa hạt. Quan ấp dùng roi đánh kẻ
dân đen, thì có gì là không được?" [2] Đạo lý đúng là như vậy khi ấy, Tri
châu cũng nghẹn lời.
Nhưng khả năng là bị ghim, Tô
Giám sau được điều chuyển tới làm Uý ở Dương Vũ 陽武 (nay là huyện Nguyên Dương 原阳, thành phố Tân
Hương 新乡,
tỉnh Hà Nam 河南)
thuộc Khai Phong phủ 开封
(nay là thành phố Khai Phong, tỉnh Hà Nam). Chức Uý có nhiệm vụ đảm bảo trị an
của khu vực, dường như cũng hợp với ông hơn. Tô Giám bắt đầu lập được thành
tích, nổi bật nhất là tự tay cưỡi ngựa đuổi theo và chém chết một tên cường đạo
hoành hành đã lâu. Phủ doãn Khai Phong bấy giờ là Giả Xương Triều 賈昌朝 (998-1065)
khen ngợi: “Một kẻ nho sinh mà lại coi khinh cái chết đến như vậy sao!” [3].
Nhờ đó, sự nghiệp ông dần khởi sắc, được cất nhắc lên chức Bí thư Thừa, rồi làm
Tri Anh Châu 英州
(nay là thành phố Anh Đức 英德, tỉnh Quảng Đông).
Khi Nùng Trí Cao 儂智高 (1025-1055) vây hãm thành Quảng
Châu, Tô Giám nói: "Quảng Châu là đô phủ của ta, và lại ở cách châu ta
không xa. Nay thành ấy đang lâm nguy trong gang tấc mà ta không tới cứu, đó là
điều phi nghĩa vậy." [4] Lập tức, ông chiêu mộ được vài nghìn tráng sĩ,
đem ấn tín ủy thác cho Đề điểm Hình ngục Bảo Kha 鮑軻, rồi đi gấp đến thành Quảng Châu cứu
nguy. Đạo quân của Tô Giám đóng cách thành hai mươi dặm. Giám tất nhiên không
ngu mà đi đánh trực tiếp với quân Đại Nam 大南 của Nùng Trí Cao. Ông sai người bắt trói
và chém đầu cha của Hoàng Sư Mật 黃師密, kẻ chủ mưu trong hàng ngũ Trí Cao; lại trấn áp bọn vô lại
thừa cơ cướp bóc, giết hơn sáu mươi tên, rồi chiêu dụ hơn sáu nghìn tám trăm kẻ
lầm lỡ quay về phục nghiệp. Thế trận của Nùng Trí Cao vì thế suy giảm. Sau đó,
hợp quân với các đạo quân khác nhằm chặn tuyến đường rút lui của Trí Cao.
Đánh thành lâu ngày không hạ được, Nùng
Trí Cao muốn rút lui. Tô Giám bắt được cơ hội, bố trí cọc gỗ, đá lớn dày đặc suốt
gần bốn mươi dặm nhằm chặn đường rút của quân Đại Nam. Buộc Nùng Trí Cao phải
vòng đường xa qua bến Sa Đầu vượt sông, theo đường huyện Thanh Viễn 清远 (nay là thành
phố Thanh Viễn, tỉnh Quảng Đông) chạy sang Liên Châu 连州 (nay là huyện Liên Châu, thành phố
Thanh Viễn, tỉnh Quảng Đông), Hạ Châu 贺州 (nay là thành phố Hạ Châu, tỉnh Quảng
Tây) rút sang phía tây. Tuyến đường này dường như dễ bị tập kích, khiến quân
Đại Nam tổn thất nhiều. Tô Giám cũng nhân đó mà thu hồi lại gần hết những của
cải mà quân Nùng Trí Cao đã cướp bóc.
Đối với biểu hiện của Tô Giám, Tống sử ghi lại: 「Bấy giờ, các tướng lĩnh khác đều đã bị bãi chức cả rồi, duy chỉ có một mình Tô Giám là có công lao. Tống Nhân Tông hết sức vui mừng, liền đặc cách thăng cho ông làm Cung bị khố Phó sứ, Quảng Đông Đô giám, cai quản binh giáp của hai lộ, lại sai quan Trung sứ ban cho triều phục và đai vàng.」 [5] Có thể nói, đây là thời khắc vinh quang nhất của Tô Giám. Nhưng cơn vinh hiển ấy không kéo dài được bao lâu.
Để dẹp loạn, triều đình Tống đã phái Địch
Thanh 狄青
(1008-1057) đến. Trần Thự 陳曙, khi ấy là Quảng Tây Kiềm hạt, vì muốn tranh công, nhân lúc
Địch Thanh chưa tới, đem tám nghìn quân bộ đánh Nùng Trí Cao, kết quả lại gặp
thảm bại ở trạm Kim Thành 金城 gần ải Côn Lôn 昆仑. Hậu quả không cần bàn, Địch Thanh đến nơi, chỉ nói: “Hiệu
lệnh không thống nhất, ấy là nguyên cớ khiến binh thua.” Rồi lôi Trần Thự cùng
ba mươi hai bộ tướng ra ngoài chém đầu. [6] Tô Giám cũng vì liên đới trận thua
này mà bị biếm làm Phòng Châu 房州 Tư mã (nay là thành phố Thẩm Yểm 十堰, tỉnh Hồ Bắc 湖北).
Tại sao Tô Giám không bị chém?
Về chuyện này, Chu Hy 朱熹 (1130-1200)
viết: 「Vào
lúc Địch Thanh chưa đến, các tướng hễ đánh là thua, hễ thua là chạy, thảy đều
coi là chuyện thường. Cho đến khi bấy giờ, Tri Quế Châu Trần mỗ cùng Tri Anh
Châu Tô Giám giao chiến với giặc, rồi lại thua chạy như thường lệ. Đến lúc
Thanh tới Tân Châu 新州
(NV: nay là huyện Tân Hưng 新兴, tỉnh Quảng Đông), bèn triệu tập cả thảy Trần mỗ cùng với mấy
viên tì tướng, tổng cộng ba mươi hai người, kể hết tội trạng của họ, rồi chiếu
theo quân pháp đem chém; duy chỉ có Tô Giám đang ở nơi sở tại của mình, nên sai
người đóng gông giải về triều để tâu lên trên biết. Từ đó, trong quân ai nấy
đều phấn lệ, nuôi quyết tâm tử chiến.」 [7]
Lý do nghe hơi kỳ quặc. Thật ra, Địch
Thanh không hề chém bừa: ngoài Tô Giám, còn có Triệu Hoài Ân 趙懷恩, Doãn Tu Kỷ 尹修己 và Thái Đỉnh
Thần 蔡鼎臣
cũng thoát một kiếp. [8] Tô Giám vốn đã có công lao trước đó, có thể xem như
lấy công chuộc tội.
Quãng đời sau đó của Tô Giám đúng như lời
chép của Tô Tượng Tiên 苏象先, cháu nội Tô Tụng, trong Thừa tướng Nguỵ công đàm huấn 丞相魏公譚訓: “nhiều
phen lập chiến công, bị biếm rồi lại khởi phục.” [9] Tô Giám chìm nổi trong các
chức vụ nhỏ: làm Phòng Châu Tư mã, rồi Trước tác Tá lang, coi việc thu thuế ở
Việt Châu 越州
(nay là thành phố Thiệu Hưng 绍兴, tỉnh Chiết Giang 浙江) hơn mười năm trời, mới được khôi phục lại chức Cung bị khố
Phó sứ, làm Tri Liêm Châu 廉州 (nay là thành phố Bắc Hải 北海, tỉnh Quảng Tây). Ở Liêm Châu, vì nhà
cửa phần nhiều lợp bằng cỏ tranh và tre nứa, có tên lính là Dương Hy say rượu
làm cháy doanh trại, lửa lan sang nhà dân, hắn lại thừa dịp ấy đi ăn trộm. Tô
Giám liền đem hắn ra chém giữa phố chợ. Bởi việc này, ông lại bị giáng chức làm
Đàm Châu 潭州
Đô giám (nay là thành phố Trường Sa 长沙, tỉnh Hồ Nam 湖南). Chẳng bao lâu sau được điều làm Tri Đỉnh Châu 鼎州 (nay là thành
phố Thường Đức 常德,
tỉnh Hồ Nam).
Những năm đầu Hy Ninh (1068-1070), Tô
Giám được thăng làm Như Kinh sứ, Quảng Đông Kiềm hạt. Năm Hy Ninh thứ 4 (1071),
ông được cử làm Hoàng thành sứ, Tri Ung Châu.
Phần còn lại, như chúng ta đã
biết.
Hình ảnh:
① Thành Diên Châu 延州 (nay là thành phố Diên An 延安, tỉnh Thiểm
Tây 陕西),
minh hoạ trong phim Thanh Bình Nhạc. 2020.
② Địch Thanh, do diễn viên Quý Thần (季晨) thủ vai,
trong phim Thanh Bình Nhạc. 2020.
Chú thích:
[1] Tô Tượng Tiên 苏象先. “Thừa tướng
Ngụy công đàm huấn” 丞相魏公譚訓.
Tô Ngụy công văn tập 蘇魏公文集,
quyển 6. Triều Bắc Tống.
Nguyên văn: 曽叔祖太尉緘進士登第文學知名少豪邁磊落不羣。
Phiên âm: Tằng Thúc Tổ Thái Úy
Giám tiến sĩ đăng đệ, văn học tri danh, thiếu hào mãi lỗi lạc bất quần.
Tạm dịch: Tằng thúc tổ Thái úy
Giám, tiến sĩ đăng đệ, văn học nổi danh. Thuở trẻ hào mại lỗi lạc bất quần.
[2] Thoát Thoát 脫脫 và nnk. Tống
sử 宋史,
quyển 446, Tô Giám 蘇緘.
Triều Nguyên.
Nguyên văn: 樊訴於州,州召責緘,緘曰:「主簿雖卑,邑官也,商雖富,部民也,邑官杖部民,有何不可?」州不能詰
Phiên âm: Phàn tố ư châu, châu
triệu trách Giam, Giam viết: “Chủ bộ tuy ti, ấp quan dã; thương tuy phú, bộ dân
dã. Ấp quan trượng bộ dân, hữu hà bất khả?” Châu bất năng cật.
Tạm dịch: Họ Phàn bèn đi kiện lên
quan châu, quan châu bèn triệu Tô Giám tới trách hỏi. Tô Giám đáp: "Chức
Chủ bộ tuy nhỏ, nhưng đó là quan lại của triều đình ở nơi ấp sở. Thương nhân
tuy giàu, chỉ là kẻ dân đen trong địa hạt. Quan ấp dùng roi đánh kẻ dân đen,
thì có gì là không được?" Vị quan châu ấy không sao bắt bẻ lại ông được.
[3] Thoát Thoát 脫脫 và nnk. Tống
sử 宋史,
quyển 446, Tô Giám 蘇緘.
Triều Nguyên.
Nguyên văn: 李從中逸出,緘馳馬逐,斬其首送府。府尹賈昌朝驚曰:「儒者乃爾輕生邪!」
Phiên âm: Lý tòng trung dật xuất,
Giam trì mã trục, trảm kỳ thủ tống phủ. Phủ doãn Giả Xương Triều kinh viết:
“Nho giả nãi nhĩ khinh sinh tà!”
Tạm dịch: Tên Lý thừa cơ từ trong
đó phóng ra trốn thoát, Tô Giám liền thúc ngựa đuổi theo, chém lấy thủ cấp của
hắn đem nộp lên phủ. Phủ doãn là Giả Xương Triều giật mình kinh ngạc, khen
rằng: "Một kẻ nho sinh mà lại coi khinh cái chết đến như vậy sao!"
[4] Thoát Thoát 脫脫 và nnk. Tống
sử 宋史,
quyển 446, Tô Giám 蘇緘.
Triều Nguyên.
Nguyên văn: 儂智高圍廣,緘曰:「廣,吾都府也,且去州近,今城危在旦暮而不往救,非義也。」
Phiên âm: Nùng Trí Cao vi Quảng,
Giam viết: “Quảng, ngô đô phủ dã, thả khứ châu cận, kim thành nguy tại đán mộ
nhi bất vãng cứu, phi nghĩa dã.”
Tạm dịch: Khi Nùng Trí Cao vây
đánh thành Quảng, Tô Giám nói: "Quảng Châu là đô phủ của ta, và lại ở cách
châu ta không xa. Nay thành ấy đang lâm nguy trong gang tấc mà ta không tới
cứu, đó là điều phi nghĩa vậy."
[5] Thoát Thoát 脫脫 và nnk. Tống
sử 宋史,
quyển 446, Tô Giám 蘇緘.
Triều Nguyên.
Nguyên văn: 時諸將皆罷,獨緘有功,仁宗喜,換為供備庫副使、廣東都監,管押兩路兵甲,遣中使賜朝衣、金帶。
Phiên âm: Thời chư tướng giai
bãi, độc Giam hữu công, Nhân Tông hỉ, hoán vi cung bị khố phó sứ, Quảng Đông đô
giám, quản áp lưỡng lộ binh giáp, khiển trung sứ tứ triều y, kim đái.
Tạm dịch: Bấy giờ, các tướng lĩnh
khác đều đã bị bãi chức cả rồi, duy chỉ có một mình Tô Giám là có công lao.
Tống Nhân Tông hết sức vui mừng, liền đặc cách thăng cho ông làm Cung bị khố
Phó sứ, Quảng Đông Đô giám, cai quản binh giáp của hai lộ, lại sai quan Trung
sứ ban cho triều phục và đai vàng.
[6] Lý Đảo 李燾. Tục tư trị
thông giám trường biên 續資治通鑑長編, quyển 174, Hoàng Hựu ngũ niên. Triều Nam Tống.
Nguyên văn: 陳曙恐狄青獨有功,乘青未至,以步卒八千犯賊,潰於昆崙關,其下殿直袁用等皆遁。青曰:「令之不齊,兵所以敗。」己酉,晨會諸將堂上,揖曙起,並召用等三十二人,按所以敗亡狀,驅出軍門斬之,沔、靖相顧愕然。
Phiên âm: Trần Thự khủng Địch
Thanh độc hữu công, thừa Thanh vị chí, dĩ bộ tốt bát thiên phạm tặc, hội ô Côn
Luân Quan, kỳ hạ điện trực Viên Dụng đẳng giai độn. Thanh viết: “Lệnh chi bất
tề, binh sở dĩ bại.” Kỷ Dậu, thần hội chư tướng đường thượng, ấp Thự khởi, tịnh
triệu Dụng đẳng tam thập nhị nhân, án sở dĩ bại vong trạng, khu xuất quân môn
trảm chi, Miên, Tĩnh tương cố ngạch nhiên.
Tạm dịch: Trần Thự sợ một mình
Địch Thanh có công, thừa dịp Thanh chưa tới, đem tám nghìn quân bộ đánh giặc,
bị thảm bại ở cửa ải Côn Lôn, thuộc tướng của y là bọn Điện trực Viên Dụng hơn
ba mươi người đều trốn chạy. Thanh nói: “Hiệu lệnh không thống nhất, ấy là
nguyên cớ khiến binh thua.” Ngày Kỷ Dậu, buổi sớm, hội các tướng nơi công
đường, mời Trần Thự đứng dậy, rồi bắt bọn Viên Dụng cùng ba mươi hai người, xét
tội trạng khiến quân thua chạy, lôi ra ngoài quân môn chém đầu.
[7] Chu Hy 朱熹. Tống danh
thần ngôn hành lục 宋名臣言行錄,
Tiền tập, quyển 8, Địch Thanh 狄青. Triều Nam Tống.
Nguyên văn: 方青之未至諸將屢敗屢走皆以爲常至是知桂州陳某知英州蘇緘與賊戰復敗走如常時青至賔州悉召陳與禆校凡三十二人數其罪按軍法斬之惟蘇緘在某所使械繫上聞於是軍中人人奮勵有死戰之心。
Phiên âm: Phương Thanh chi vị
chí, chư tướng lũ bại lũ tẩu, giai dĩ vi thường. Chí thị, Tri Quế châu Trần mỗ,
Tri Anh châu Tô Giám dữ tặc chiến, phục bại tẩu như thường thì. Thanh chí Tân
châu, tất triệu Trần dữ bội hiệu phàm tam thập nhị nhân, số kỳ tội, án quân
pháp trảm chi. Duy Tô Giám tại mỗ sở, sử côi hệ thượng văn. Vu thị quân trung
nhân nhân phấn lệ, hữu tử chiến chi tâm.
Tạm dịch: Vào lúc Địch Thanh chưa
đến, các tướng hễ đánh là thua, hễ thua là chạy, thảy đều coi là chuyện thường.
Cho đến khi bấy giờ, Tri Quế Châu Trần mỗ cùng Tri Anh Châu Tô Giám giao chiến
với giặc, rồi lại thua chạy như thường lệ. Đến lúc Thanh tới Tân Châu, bèn
triệu tập cả thảy Trần mỗ cùng với mấy viên tì tướng, tổng cộng ba mươi hai
người, kể hết tội trạng của họ, rồi chiếu theo quân pháp đem chém; duy chỉ có
Tô Giám đang ở nơi sở tại của mình, nên sai người đóng gông giải về triều để
tâu lên trên biết. Từ đó, trong quân ai nấy đều phấn lệ, nuôi quyết tâm tử
chiến.
[8] Lý Đảo 李燾. Tục tư trị
thông giám trường biên 續資治通鑑長編, quyển 174, Hoàng Hựu ngũ niên. Triều Nam Tống.
Nguyên văn: 貶廣南東路都監、供備庫使蘇緘為房州司馬;西路都監、內殿崇班趙懷恩追三任,為右衛率府副率,金州安置,右侍禁尹修己、左班殿直蔡鼎臣各追三官,配京東本城。並坐邕州金城驛敗軍也。
Phiên âm: Biếm Quảng Nam Đông lộ
Đô giám, Cung bị Khố sử Tô Giam vi Phòng Châu Tư mã; Tây lộ Đô giám, Nội điện
Sùng ban Triệu Hoài Ân truy tam nhậm, vi Hữu vệ Suất phủ Phó suất, Kim Châu an
trí, Hữu Thị cấm Doãn Tu Kỷ, Tả ban Điện trực Thái Đỉnh Thần các truy tam quan,
phối Kinh Đông bổn thành. Tịnh toạ Ung Châu Kim Thành dịch bại quân dã.
Tạm dịch: Biếm chức Quảng Nam
Đông lộ Đô giám, Cung bị Khố sứ Tô Giám làm Phòng Châu Tư mã; Tây lộ Đô giám,
Nội điện Sùng ban Triệu Hoài Ân bị truy đoạt ba lần nhậm chức, làm Hữu vệ Suất
phủ Phó suất, an trí ở Kim Châu; Hữu Thị cấm Doãn Tu Kỷ, Tả ban Điện trực Thái
Đỉnh Thần mỗi người bị truy đoạt ba quan, phối đi bản thành ở Kinh Đông. Cùng
phạm tội để thua quân ở trạm Kim Thành thuộc Ung Châu.
[9] Tô Tượng Tiên 苏象先. “Thừa tướng
Ngụy công đàm huấn” 丞相魏公譚訓.
Tô Ngụy công văn tập 蘇魏公文集,
quyển 6. Triều Bắc Tống.
Nguyên văn: …屡有●功再黜●起。
Phiên âm: …lũ hữu ● công, tái
truất ● khởi.
Tạm dịch: …nhiều phen lập chiến
công, bị biếm rồi lại khởi phục.
Tham khảo
1. Ngũ Bá Thường 伍伯常. “Khảo cứu sự
nghiệp hoạn lộ của Tô Giám: Kiêm luận hiện tượng lịch sử văn thần Bắc Tống tham
gia quân sự” 蘇緘仕宦生涯考述:
兼論北宋文臣參與軍事的歷史現象.
Journal of Chinese Studies, số 56, 2013.
2. Tô Tượng Tiên 苏象先. “Thừa tướng
Ngụy công đàm huấn” 丞相魏公譚訓.
Tô Ngụy công văn tập 蘇魏公文集,
quyển 6. Triều Bắc Tống.
3. Lý Đảo 李燾 (1115-1184). Tục tư trị 174, 251,
271, 272, 273. Triều Nam Tống.
4. Vương Xưng 王稱 (?-1200). Đông
Đô sự lược 東都事略,
quyển 110, Tô Giám 蘇緘.
Triều Nam thông giám trường biên 續資治通鑑長編, quyển 173, Tống.
5. Chu Hy 朱熹. Tống danh thần ngôn hành lục 宋名臣言行錄, Tiền tập,
quyển 8, Địch Thanh 狄青.
Triều Nam Tống.
6. Thoát Thoát 脫脫 (1314-1355) và nnk. Tống sử 宋史, quyển 446, Tô Giám 蘇緘. Triều Nguyên.








