XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhà Trần. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhà Trần. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 15 tháng 11, 2025

Huyền Thoại Danh Tướng Phạm Ngũ Lão

Phạm Ngũ Lão sinh năm 1255 tại làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, Hải Dương (nay thuộc huyện Ân Thi, Hưng Yên), trong một gia đình nông dân nghèo.
Ngay từ nhỏ, ông đã nổi tiếng là người có chí khí khác thường, ham đọc sách và rèn luyện võ nghệ. Tương truyền, khi người trong làng đỗ Tiến sĩ mở tiệc mừng, Ngũ Lão không đến vì cho rằng: "Chí làm trai phải lập công danh rạng rỡ non sông mà con chưa lập được bằng người, đi mừng người ta nhục lắm."
Cơ duyên của ông với binh nghiệp bắt đầu một cách ly kỳ. Một lần, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn (Quốc công Tiết chế) đi tập trận qua làng Phù Ủng. Phạm Ngũ Lão đang ngồi đan sọt bên đường, mải nghĩ một câu trong binh thư nên không hề hay biết quan quân kéo đến. Lính tráng phải dùng giáo đâm vào đùi ông để dẹp đường, máu chảy nhưng ông vẫn điềm nhiên.
Trần Hưng Đạo thấy vậy vô cùng ngạc nhiên, dừng kiệu hỏi chuyện. Qua đối đáp, nhận thấy Ngũ Lão là người có tài năng và chí lớn, Hưng Đạo Vương đã cho ông ngồi cùng kiệu đưa về kinh đô, thu nhận làm môn khách, rồi tiến cử lên triều đình.
Phạm Ngũ Lão được Hưng Đạo Vương gả con gái cho. Điều này rất hiếm xảy ra trong vương triều Trần. Để làm được điều đó Trần Quốc Tuấn đã phải giáng con gái Anh Nguyên xuống làm con nuôi.
Phạm Ngũ Lão trở thành con rể của Trần Hưng Đạo và là một trong những tướng lĩnh chủ chốt, có công lớn trong cả hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông lần thứ hai (1285) và lần thứ ba (1288).
Năm 1285, ông cùng với Trần Quang Khải tiến đánh các vị trí chiến lược như Chương Dương, Hàm Tử, góp phần đập tan đội binh thuyền giặc và giành lại Thăng Long.
Năm 1288, ông chỉ huy 3 vạn quân phục kích, chặn đường rút lui của quân Nguyên ở Vạn Kiếp, chém được hai phó tướng giặc là Lý Quán và Lý Hằng.
Sau các cuộc kháng chiến, ông được triều đình tin tưởng giao trọng trách trấn giữ biên cương. Ông nhiều lần dẫn quân đi trừng phạt sự xâm lược, quấy nhiễu của Ai Lao (năm 1294, 1297, 1301) và Nam chinh đánh Chiêm Thành (năm 1312, 1318). Trận đánh nào ông cũng giành chiến thắng, nên được mệnh danh là vị tướng bách chiến bách thắng.
Ông nổi tiếng là người nghiêm minh, liêm khiết, không tham lam của cải (các vật phẩm tước được của giặc đều sung vào kho quân). Ông còn là một nhà thơ, với bài thơ "Thuật hoài" (Tỏ lòng) thể hiện khí phách làm trai và chí lập công danh lớn lao, nổi tiếng cho đến ngày nay:
Hoành sóc giang sơn kham bách chiến,
Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu.
Nam nhi vị liễu công danh trái,
Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu.
Tạm dịch:
Múa giáo non sông trải mấy thu.
Ba quân như hổ, khí nuốt trôi Ngưu Đẩu
Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu.
• Năm 1320, Thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão qua đời tại Thăng Long, hưởng thọ 66 tuổi. Vua Trần Minh Tông thương tiếc, nghỉ chầu đến 5 ngày, một ân điển đặc biệt mà ngay cả quý tộc họ Trần cũng hiếm ai có được, thể hiện sự kính trọng tột bậc của triều đình đối với công lao của ông.
Phạm Ngũ Lão, từ một chàng nông dân đan sọt đã trở thành một trong "Tứ trụ đại tướng" của nhà Trần (cùng với Trần Quốc Tuấn, Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư), mãi mãi là một huyền thoại lớn trong lịch sử Việt Nam.

Thứ Tư, 26 tháng 4, 2023

Có hay không chuyện tư thông giữa công chúa Huyền Trân & Trần Khắc Chung?

 Hồ Ðắc Duy

Huyền Trần Công Chúa!

Đó là tên một con đường của Huế ngày xưa nên thơ nằm giữa một ngọn đồi thấp xanh mướt những tàng cây và sông Hương thâm trầm mơ mộng. Con đường cứ thế chạy mãi chạy mãi cuối cùng gặp một bức trường thành bằng đất đó chắn ngang gọi là Thành Lồi, chứng tích một thời vàng son của vương quốc Champa. Người Huế chọn tên công chúa để đặt tên cho con đường vô tình hay hữu ý đã lồng lấy số phận đầy kịch tính của một trang quốc sắc thiên hương lên số phận của con đường chăng?

Còn ở Sài Gòn con đường mang tên Huyền Trân hầu như không có nhà, thật ngắn với những hàng cây cao vút, nằm sau lưng dinh Norodome. Đêm đêm con đường vắng vẻ chính là nơi hò hẹn của những cặp tình nhân nên một thời nó được mệnh danh là con đường của tình yêu và tội lỗi!

Dư luận và một số sử gia lại gán ghép tên nàng vào một uẫn tình không có thật, đúng hơn là một mối ô nhục khi bảo rằng nàng đã tư thông với Trần Khắc Chung!

Tư thông là một từ mô tả việc quan hệ tình dục có sự đồng ý của cả hai phía một cách bất chính.

Bài viết này sẽ nêu ra những luận chứng mang tính khoa học không chỉ để minh oan mà còn đòi hỏi lịch sử phải trả lại sự vẹn toàn phẫm giá và tấm lòng trung trinh, danh dự không những cho công chúa, thượng hoàng Trần Nhân Tông cha của nàng và cả triều đình bấy giờ mà lẻ ra hậu thế phải tri ân thay vì ngộ nhận

Trần Khắc Chung là ai?

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư trang 64,113 chép: Trần Khắc Chung tên thật là Đỗ Khắc Chung người ở Giáp Sơn cùng quê với mẹ của vua Trần Hiến Tông và cũng là thầy dạy học của hai vị vua Trần Minh Tông, Hiến Tông.

Năm Ất DẬu, Thiệu BẢo năm thứ bảy (1285). Khắc Chung làm Chi hậu cục thủ có em ruột Đỗ Thiên Hư cũng là một người nổi tiếng đương thời từng được cử làm sứ thần sang Nguyên năm 1288.

Đỗ Khắc Chung lấy Bảo Hoàn. Khoảng đời TRùng Hưng, nguời Nguyên vào cướp, cha mẹ Bảo Hoàn hàng giặc, ruộng đất, tài sản đều bị tịch thu sung công. Đến khi vua lên ngôi, xuống chiếu trả lại.

Mùa hạ tháng 4 năm Kỷ Sửu (1289). Ông là một trong những người có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên năm 1285 được vua ban quốc tính nên đổi là Trần Khắc Chung và được phong chức Đại Hành Khiển (tương đương chức vụ Thủ Tướng Chính Phủ ngày nay), vào năm 1289 là lúc công chúa Huyền Trân vừa chào đời. Người đời đều khen ông là giỏi. Mất năm 1330 cùng với Trần Nhật Duật, được tặng chức thiếu sư, ,một chức đứng hàng thứ hai thời bấy giờ, được đưa về an táng ở Giáp Sơn.

Ông đã giữ nhiều chức vụ khác nhau và quan trọng trong suốt bốn triều đại (Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông, Trần Minh Tông, Trần Hiến Tông), ông đã từng là thuyết khách, tể tướng, thượng thư, ngự sử đại phu, đại an phủ kinh sư, quan nội hầu, sư bảo và là sứ giả cùng với an phủ sứ Đặng Vân chỉ huy chiến dịch cứu thoát công chúa Huyền Trân...

Ông là một người tu theo đạo Phật, môn phái Thiền tông, là người viết lời bạt cho tập "Tuệ Tung thượng sĩ" do nhà sư Pháp Loa biên tập và vua Trần Nhân Tông hiệu đính.

Ông thường được các vua TRần hỏi ý kiến và kính trọng, là cột trụ của nhiều triều đại hiển hách đời Trần, sống cùng thời với vua Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Mạc Đỉnh Chi...

Đánh giá về Trần Khắc Chung ĐVSKTT trang 52 chép rằng vua (hoàng đế Trần Nhân Tông) mừng nói rằng: "Ngờ đâu trong đám ngựa kéo xe muối lại có ngựa kỳ ngựa ký như thế!" (Ngựa kỳ, ngựa ký là chỉ những loại ngựa quý, ngựa tốt)

Còn Ô Mã Nhi là một tướng của quân Nguyên thì bảo với các tướng dưới quyền rằng: "Người này ở vào lúc bị uy hiếp mà lời lẽ tự nhiên, không hạ chủ nó xuống là Chích, không nịnh ta lên là Nghiêu, mà chỉ nói: "Chó nhà cắn người"; giỏi ứng đối. Có thể nói là không nhục mệnh vua. Nước nó còn có người giỏi, chưa dễ mưu tính được" (ĐVSKTT trang 52)

Lai lịch vua Chiêm Thành Chế Mân

Chế Mân là con trưởng của vua Jaya Indravarman V, là anh cả trong gia đình có 5 con trai (Kinh thế đại điển tự lục - NS, tờ 5a quyển 210)

Trong cuộc kháng chiến của dân tộc Chiêm Thành chống lại quân xâm lược Mông Cổ vào các năm 1282 - 1285 thì tất cả mọi quyền hành và các quyết định quan trọng nhất đều ở trong tay Chế Mân vì vua Chàm đã già rồi. Chế Mân là đại tướng cầm quân Champa đánh nhau với quân Toa Đô ở Vijaya (Qui Nhơn), kinh đô của Champa, một vị anh hùng trẻ tuổi của dân tộc Champa.

Trong tác phẩm Cuộc Kháng Chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII của Hà Văn Tấn - Phạm Thị Tâm, trang 130 dẫn chứng từ Nguyên Sử quyển 12, bản kỷ tờ 3b trang 4a đã viết về Chế Mân như sau: "...16 tháng 7 năm 1282 Hốt Tất Liệt ra lệnh điều động 5 nghìn quân của tỉnh Hoài Triết Phúc Kiến gồm 100 hải thuyền, 250 chiến thuyền giao cho Toa Đô chỉ huy chuẩn bị đánh chiếm Chiêm Thành... Một trong những nguời cương quyết chống lại âm mưu xâm lược của Hốt TẤt Liệt là thái tử Harijit (Chế Mân) con vua Indravarman V... Lúc bấy giờ vua Chiêm đã già. Chế Mân nắm tất cả trọng trách trong nước."

Marco Polo trong "Đến Chiêm Thành năm 1285" có viết: "Vua Jaya Indravarman V chống cự với Toa Đô trong các thị trấn và thành quách vững chắc, ông không sợ gì cả..." Và Marco Polo nhận định về Chế Mân: "...một người thanh niên anh hùng đó đã không chịu lùi bước trước kẻ thù".

Trong Chiêm Thành truyện trang 4a của Nguyên Sử thì đánh giá Chế Mân như sau: "Chế Mân con vua Chiêm chuyên giữ việc nước, cậy hiểm không phục."

Trong Kinh thế đại điển tự lục tờ 570 chép lời Hốt Tất Liệt nhận định về Chế Mân như sau: "...Lão vương (Indravarman V) không có tội gì, kẻ nghịch mệnh là con (Chế Mân) của y, nếu bắt được thì cứ theo như việc cũ của Tào Bân, trăm họ không giết một người."

Trong An Nam truyện của Nguyên Sử, quyển 109 trang 5b chép: "...ngày 16 tháng 4 năm 1284. An phủ sứ Quỳnh Châu là Trần Trọng Đạt nghe Trịnh Thiên Hựu nói rằng Giao Chỉ thông mưu với Chiêm Thành, sai 20000 quân và 500 thuyền ứng viện. Vua Trần Nhân Tông lại gởi thư đến hàng tỉnh, đại lược nói Chiêm Thành nội thuộc tiểu quốc, đại quân đến đánh thật đáng xót thương."

Xem như vậy giữa vua Trần Nhân Tông và Chế Mân đã có một sự gắn bó, liên kết với nhau trong một liên minh chống lại trong mưu đồ đánh chiếm vùng Đông Nam Á của quân Mông Cổ.

Tiểu sử của công chúa Huyền Trân

Công chúa là con gái út của vua Trần Nhân Tông, là em ruột của vua Trần Anh Tông và quốc phục thượng tể Trần Quốc Chẩn, nàng sinh vào khoảng năm Kỷ sưu Trùng Hưng năm thứ 5 (1289), năm mà Trần Hưng Đạo dùng kế để giết Ô Mã Nhi.

Năm 1306 gả công chúa Huyền Trân thì thượng hoàng Nhân Tông (1258 - 1308) khoảng 47 tuổi, vua Anh Tông (1276 - 1320) ở tuổi xấp xỉ 30 và công chúa độ 18, vua Chế Mân vào khoảng 35 đến 40 và Trần Khắc Chung 40-50.

Sở dĩ tính được như vậy vì trong cuộc kháng chiến chống Mông Cổ của Vương quốc Champa vào năm 1283 thì Chế Mân đã là thái tử cầm quân Champa đánh nhau với Toa Đô ở Thành Gỗ gần kinh đô Vijaya của Champa, còn Trần Khắc Chung lúc nhận nhiệm vụ thuyết khách, đi gặp tướng Mông Cổ Ô Mã Nhi vào tháng giêng năm 1285 ít nhất cũng phải trên 20 tuổi. Ở thời điểm gã công chúa Huyền Trân, Trần Khắc Chung khoảng 40 đến 50 tuổi.

Diễn biến của cuộc hôn nhân giữa vua Chàm Chế Mân và công chúa Huyền Trân

Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục trang 556 chép: Tháng ba năm Tân Sửu (1301), thượng hoàng Trần Nhân Tông sang chơi Chiêm T hành. Thựơng hoàng xuất gia ở núi Yên Tử, thường muốn đi chơi xem khắp núi sông nhân du lịch đến một địa phương tiện đường sang chơi Chiêm Thành (có hứa gả Huyền Trân cho Chế Mân).

Sách Biên Niên Lịch Sử Cô Trung Đại Việt Nam chép: "Tháng hai năm Ất Tỵ (1305), sứ bộ Chế Bồ Đà của vua Chiêm Thành đến dâng lễ vật cầu hôn vì thượng hoàng Nhân Tông năm 1301 sang chơi Chiêm Thành đã hứa gả công chúa Huyền Trân cho chúa Chiêm Thành Chế Mân."

Còn ĐVSKTT trang 86 viết: "Năm Ất Tỵ Hưng Long năm thứ 13 (1305), mùa xuân, tháng 2, Chiêm Thành sai Chế Bồ Đà và bộ đảng hơn trăm người dâng hiến vàng bạc, hương quý, vật lạ làm lễ cầu hôn. Các quan trong triều đều cho là không nên, duy có Văn Túc Vương Đạo Tái chủ trương bàn việc đó, Trần Khắc Chung tán thành việc đó mới quyết."

Năm Bính Ngọ Hưng Long năm thứ 14 (1306), mùa hạ, tháng 6, gả công chúa Huyền Trân cho chúa Chiêm Thành Chế Mân.

ĐVSKTT trang 91 viết: "Năm Đinh Mùi Hưng Long năm thứ 15 (1307, mùa hạ, tháng 5, Chế Mân chết.

Mùa thu, tháng 9 thế tử Chiêm Thành Chế Đa Da sai sứ thần Bảo Lộc Kê sang dâng voi trắng.

Mùa đông, tháng 10, sai Nhập nội hành khiển thượng thư tả bộc xạ Trần Khắc Chung, an phủ Đặng Văn sang Chiêm Thành đón công chúa và thái tử Đa Đa về.

Đại Việt Sử Ký Tiền Biên của Ngô Thì Sĩ trang 408 chép Mậu Thân Hưng Long năm thứ 16 (1308), mùa đông tháng 11 ngày mồng một, mặt trời có hai quầng, thượng hoàng băng ở am Ngọa Vân trên núi Yên Tử... Nhân Tông làm thiên tử lại làm thái thượng hoàng đi tu lên núi, ở am rồi mất. Việc trong thiên hạ có gì lớn hơn việc ấy...

Trong ĐVSKTT có đoạn chép như sau: Theo tục lệ Chiêm Thành, chúa chết thì bà hậu của chúa phải vào giàn thiêu để chết theo. Vua biết thế, sợ công chúa bị hại, sai bọn Khắc Chung, mượn cớ là sang viếng tang và nói với người Chiêm: "Nếu công chúa hỏa táng thì việc làm chay không có người chủ trương, chi bằng ra bờ biển chiêu hồn ở ven trời, đón linh hồn cùng về, rồi sẽ vào giàn thiêu". Người Chiêm nghe theo. Khắc Chung dùng thuyền nhẹ cướp lấy công chúa đem về, rồi tư thông với công chúa, đi đường biển loanh quanh chậm chạp lâu ngày mới về tới kinh đô.

CÓ THỂ NÀO TRẦN KHẮC CHUNG DÙNG THUYỀN NHẸ CƯỚP LẤY CÔNG CHÚA ĐEM VỀ, RỒI TƯ THÔNG VỚI CÔNG CHÚA ĐƯỢC HAY KHÔNG?

Đây là một câu hỏi mà người viết muốn nêu ra và xin các vị cùng góp ý

Để làm sáng tỏ nghi vấn này, thiết tưởng vấn đề là nên dựng lại, vẽ lại hiện trường chiến dịch giải cứu công chúa với các câu hỏi được trả lời hợp lý nhất:

1. Khắc Chung có thể dùng thuyền nhẹ cướp lấy công chúa được hay không?

2. Hay chuyện rước công chúa Huyền Trân trở về Đại Việt là kết quả của việc thương lượng giữa sứ giả Trần Khắc Chung với triều đình mới của Champa.

3. Lực lượng hải quân của Champa lúc bấy giờ ở các quân cảng của Champa (Sa huỳnh, Đà Nẵng, Thuận An, Cửa Việt), liệu có ngăn chặn việc giải cứu này nếu có hay không?

4. Phương tiện mà Trần Khắc Chung dùng là thuyền, vậy thuyền được thiết kế và đóng cách đây 700 năm liệu có đủ sức để... đi đường biển loanh quanh chậm chạp lâu ngày mới về tới kinh đô hay không? Thuyền dài và ngang bao nhiêu? Chắc chắn không phải là loại du thuyền hiện đại có gắn động cơ như ngày nay, mà chỉ có thể hình dung như một loại thuyền đánh bắt hải sản không gắn động cơ, có buồm dài khoảng 10 đến 12 mét, ngang khoảng 2m50 đến 3m50, không phải được thiết kế thân to như loại ghe bầu chạy trên sông, phải có mũi cao, đáy nhọn để cỡi lên sóng được.

Những lâu thuyền thời bấy giờ kích thước không lớn lắm, không phải được đóng như loại thuyền của Marco Polo hay loại thuyền cướp biển của Châu Âu, nó chỉ chạy cách bờ vài chục cây số.

5. Hệ thống tiếp tế nước ngọt và lương thực thực phẩm cho chuyến loanh quanh chậm chạp lâu ngày mới về tới kinh đô do ai cung cấp và nếu do các quan lại địa phương thì triều đình có biết không và họ có làm ngơ trước hiện tượng kỳ lạ này không?

6. Hệ thống ánh sáng dùng trên thuyền thời bấy gì là dầu phộng hay dầu dừa, liệu có đủ tiện nghi như là điện ngày nay không?

7. Khoang để cho công chúa ở trên thuyền ước chừng 2m5 x 3m là tối đa, lại có các hầu gái nữa. Thế tử Chế Đa Đa có cùng đi với công chúa hay ở lại Champa, nếu cùng đi thì thế tử ở đâu? Có cùng khoang của công chúa hay không?

8. Trên thuyền của công chúa có bao nhiêu thủy thủ, bao nhiêu tay chèo, bao nhiêu hầu gái thị nữ, đầu bếp... đi theo và liệu một chiếc thuyền nhẹ như thế có thể phục vụ cho một chuyến du dương trên biển loanh quanh chậm chạp lâu ngày mới về tới kinh đô?

9. An phủ sứ Đặng Vân và quần thần đi theo trong chiến dịch giải cứu có luôn luôn theo dõi và bảo vệ bên cạnh công chúa hay không? Họ có can gián hay đồng tình với hành động này của Trần Khắc Chung hay không?

10. Có bao nhiêu thuyền đi theo hộ tống chiến dịch này và họ có phải đi theo chuyến đi đường biển loanh quanh chậm chạp lâu ngày mới về tới kinh đô này hay không?

11. Ai là người chỉ huy cung cấp lương thực thực phẫm cho chuyến du dương trên biển lâu ngày này? Họ là ai?

Trần Khắc Chung với danh dự, địa vị xã hội, với chức vụ thủ tướng, với gia đình nhà cửa, vợ con dòng họ, với lòng tin của thượng hoàng Trần Nhân Tông và vua Anh Tông khi giao phó sự mệnh giải cứu này liệu ông có dám tư thông với công chúa hay không?

Trần Khắc Chung hiểu rõ cơn thịnh nộ khó lường được của nhà vua và triều đình nếu ông tư thông với công chúa. Một người khôn ngoan như ông, một người đã tu theo môn phái Thiền và đứng tuổi như ông chắc khó mà có một hành động nông nỗi, mất đạo lý như thế!

Với tâm lý, phương diện và môi trường như vậy e rằng cho dù Trần Khắc Chung dù có muốn thì cũng khó mà dám tư thông được!

VỀ PHẦN CÔNG CHÚA HUYỀN TRẦN THÌ CÔNG CHÚA CÓ THUẬN LÒNG TƯ THÔNG VỚI TRẦN KHẮC CHUNG HAY KHÔNG?

Sau chiến thắng quân Nguyên, tháng 8 năm Giáp Ngọ (1294), thượng hoàng Nhân Tông cất quân đánh Ai Lao như một lời nhắn nhũ các quốc gia trong vùng, và nếu ông muốn xâm chiếm các nước khác thì không phải là chuyện không làm được. Bấy giờ các quốc gia này mỗi năm đều có triều cống cho Đại Việt. Cho nên việc thượng hoàng Trần Nhân Tông gã công chúa Huyền Trân cho vua Champa ngoài việc thắt chặt bền vững thêm mối dây liên kết, tạo thêm sự hòa hiếu giữa hai nước, chắc chắn thượng hoàng Nhân Tông, một vị anh hùng dân tộc đã từng đánh bại quân xâm lược Mông Cổ hai lần, một nhà ngoại giao khôn khéo, một vị lãnh đạo tài ba và cũng là một vị thiền sư trầm mặc phải có một cái nhìn như thế nào về Chế Mân và hạnh phúc lứa đôi cho người con gái yêu dấu của mình khi ngài quyết định gả công chúa cho vua Champa lúc nàng mới lên 12 tuổi (1301). Sau khi hứa gả thượng hoàng Trần Nhân Tông chắc chắn đã phải sửa soạn cho công chúa một chế độ giáo dục đặc biệt, nhất là về ngôn ngữ, phong tục, văn hóa Champa.

Thượng hoàng chỉ cho phép thực hiện điều đó khi cô con gái cưng của ông đến tuổi trưởng thành, vững vàng trong cuộc sống vợ chồng và có một số vốn kiến thức văn hóa, phong tục, tập quán cũng như ngôn ngữ Champa.

Không biết vua Trần Nhân Tông có nghĩa rằng mình trở thành ông ngoại của vị hoàng đế của Champa trong tương lai hay không? Và ông có nghĩ là công chúa Huyền Trần sẽ thực sự trở thành Đệ nhất phu nhân của vương quốc Champa thay thế cho hoàng hậu vợ vua Chế Mân là công chúa nước Java đã chết trước đó nhiều năm?

Tháng 6 năm 1306 Chế Mân rước nàng về làm vợ, nàng vừa đúng 18 tuổi.

Tháng 5 năm 1307 Chế Mân chết.

Tháng 9 năm 1307 công chúa Huyền Trân sinh thế tử Chế Đa Da tại kinh đô Vijaya.

Mất một tháng cho chuyến hành trình rước dâu đi từ Thăng Long cho đến kinh đô Champa thì sớm nhất vể công chúa có mặt ở Champa và chung sống với Chế Mân cũng vào khoảng cuối tháng 7 hay trung tuần tháng 8 năm 1307.

Nếu tính sát sao như vậy, khi Chế Mân qua đời thì công chúa mang thai được 4 đến 5 tháng.

Theo phong tục vương triều Champa thì lễ trà tỳ cho vua là 7 đến 10 ngày sau khi vua băng hà.

Người ta không hỏa táng đối với phụ nữ đang mang thai, trẻ sơ sinh và những người vị thành niên vì người Bà la môn tin rằng phải chôn để cho những người này về với cát bụi, còn người trưởng thành thì hỏa táng để cho họ trở về với hư không và đó cũng là lý do tại sao công chúa không bị hỏa táng theo Chế Mân.

Tháng 10, an phủ sứ Đặng Vân và Trần Khắc Chung sang đón công chúa Huyền Trân, lúc đó công chúa đang ở trong thời gian hậu sản, công chúa vừa sinh xong tháng trước.

Thử phân tích tâm lý và tình trạng hậu sản của công chúa Huyền Trần lúc bấy giờ ta thấy có vài điểm cần lưu ý:

Chồng vừa mới chết.

Sinh con so, sinh con ở một nơi không có ai thân thuộc như mẹ, dì, chị em... ở một xứ có phong tục tập quán sinh nở khác với Đại Việt, điều này gây nên một tâm lý hoảng sợ lo âu cho sản phục, một ấn tượng sợ hãi có thể kéo dài trong nhiều tháng.

Công chúa đang ở trong thời gian hậu sản, về phương diện y học thì thời gian hậu sản này kéo dài vài tháng đến nửa năm, nếu như cách đây 700 năm với hiểu biết vệ sinh, phòng bệnh và các phương tiện, thuốc men chăm sóc cho một sản phụ sau khi sinh nở thì còn rất lạc hậu, đâu có cắt tầng sinh môn, đâu có trụ sinh, phòng cách ly vô trùng như bây giờ, vả lại đối với công chúa đây là lần sinh đầu tiên trong đời, sinh con so khó khăn gấp nhiều lần sinh con rạ, thời gian để lành vết thương hay rách âm đạo, thời gian để co hồi tử cung, hoặc nhiễm trùng hậu sản và phần phụ có thể kéo dài rất lâu, theo phong tục tập quán của người Việt Nam thời gian "phong long" là 3 tháng 10 ngày, người ta thường thường có thói quen treo trước phòng sản phụ một nắm lá cây xương rồng, đó là một dấu hêệu, nhắc nhở cho người đàn ông bêết chỉ được phép vào phòng vợ và tư thông sau khi cây xương rồng này khô đi!!! Đây chỉ là đầu thế kỷ XX mà thôi thì e rằng ở thế kỷ thứ XIV thời gian ở cử này còn lâu hơn nữa. Điều đó cho thấy về phương diện thuần túy Y Học khó thể có chuyện tư thông được.

Việc đưa Huyền Trân về Đại Việt có được thông báo cho nàng biết và có sự bằng lòng của nàng hay không?

VIỆC ĐƯA HUYỀN TRÂN RA BỜ BIỂN CHIÊU HỒN Ở VEN TRỜI, ĐÓN LINH HỒN CÙNG VE À, RỒI SẼ VÀO GIÀN THIÊU LÀ KẾT QUẢ CỦA VIỆC THƯƠNG LƯỢNG GIỮA SỨ THẦN TRẦN KHẮC CHUNG VỚI TRIỀU ĐÌNH MỚI CỦA CHAMPA HAY LÀ MỘT VỤ ĐÀO THOÁT.

Đại Việt là một quốc gia hùng mạnh và cường thịnh nhất vùng Đông Nam Á. Việc giao hảo Đại Việt Chiêm Thành ở vào một giai đoạn tốt đẹp nhất, hai nước đang cùng chung một chiến tuyến để chống quân xâm lược Mông Cổ. Người Chiêm Thành hiểu rõ hơn ai hết nếu công chúa Huyền Trân lên giàn hỏa thiêu để chết theo Chế Mân sẽ là một tai họa cho họ.

Nhiệm vụ của Trần Khắc Chung và ĐẶng Vân là phải thương thuyết làm sao cho mối bang giao giữa hai nước vẫn tốt đẹp mà phải đem công chúa về nước thật an toàn nhưng không làm thương tổn đến truyền thống đạo lý tôn giáo của Champa.

Giải pháp nào là giải pháp phù hợp nhất ắt có và đủ cho hai điều kêện đó mà không gây tổn thương cho hai nước?

Vậy, đưa công chúa ra bêển cầu hồn cho Chế Mân và làm lễ trà tỳ cho công chúa Huyền Trần là giải pháp tốt đẹp nhất vừa thực hiện đúng theo truyền thống Champa, vừa tiện lợi cho Trần Khắc Chung đưa công chúa về ăằng đường biển.

Giải pháp này cũng sẽ hợp lý nâất để cho thế tử Chế Đa Da ở lại Chiêm quốc vì thế tử là con vua Chế Mân vừa là một hoàng tử của Champa.

Chiêm Thành là một quốc gia có một dãi bờ biển khá dài, thạo về thủy chiến và có một đội chiến thuyền rất hùng hậu, điều đó có thể thấy được khi Chế Bồng Nga tấn công Đại Việt bằng thuyền chiến. Thuyền chiến của họ vào tận Thăng Long. Nếu Trần Khắc Chung dùng thuyền nhẹ để cướp thì liệu có dễ dàng vượt qua được hàng rào hải thuyền của Chiêm Thành không?

Việc đào thoát bằng đường biển liệu có an toàn cho sức khỏe công chúa hay không?

Thuyền của Khắc Chung nếu có thì đang ở trong vịnh Qui Nhơn (còn gọi là Thi bị, Thì Nại, hay Thị Nại) trước mặt kinh đô Vijaga như vậy là Khắc Chung đã vào sâu trong hải phận của Champa ít nhất là 600 cây số lúc đó (1285), biên giới của Chiêm Thành là tại Quảng Bình ngày nay.

Nếu có việc đánh tháo thì chắc chắn là có thể có sự rượt đuổi. Và liệu Khắc Chung có vượt qua một cách an toàn khi đi ngang qua cửa Qui Nhơn và các quân cảng của Chiêm Thành ở vùng Đại Lãnh, Hải VÂn, Cửa vịet hiện nay trước khi về Thăng Long?

Và nếu đi dùng ăằng cả mấy tháng thì có bị săn đuổi hay lấy lương thực thực phẩm ở đâu để tiếp tế?

Di chuyển bằng thuyền, đi trên biển đâu có phải nhẹ nhàng an toàn như trên sông hay trên mặt hồ!

Câu "Khắc Chung dùng thuyền nhẹ cướp lấy công chúa đem về, rồi tư thông với công chúa, đi đường biển loanh quanh chậm chạp lâu ngày mới về tới kinh đô". Câu này có vẻ như là một câu trong tiểu thuêết trữ tình hơn là xảy ra trên thực tế. Nếu đem phân tích trong điều kiện thực tế thì quả là thật gay cấn, riêng một chuyện tiếp tế lương thực, thực phẩm nước uống hay chống chọi lại một vài cơn bão, gió đổi mùa kiểu cấp 4, 5 là đủ xanh mặt rồi.

Thuyền chở công chúa với kỹ thuật đóng tàu thời bấy giờ có thể chịu nỗi để khỏi bị chìm?

Công chúa có bị say sóng không? Công chúa có thể dung dăng dung dẻ và tính chuyện tư thông?

Với một số sự kêện mà chúng tôi đưa ra thì có thể hình dung rằng khó có thể có chuyện tư thông giữa công chúa Huyền Trần và Nhập Nội Hành Khiển Thương Thư Tả Bộc Xạ Trần Khắc Chung được.

Nhưng tại sao ĐVSKTT lại chép chuyện này và sử thần Ngô Sĩ Liên lại lên án Trần Khắc Chung một cách quá nặng nề?

Trong ĐVSKTT trang 92, Ngô Sĩ Liên viết: "Thói gian tà của Trần Khắc Chung thật là quá quắt lắm! Không những hắn giỡ trò chó lợn ở đây mà sau này còn hùa vào với Văn Hiến vu hãm quốc phục thượng tể vào tội phản nghịch, làm chết oan đến hơn trăm người. Thế mà hắn được trọn đời phú quý. Khổng Tử nói: "Kẻ gian tà được sống sót là may mà được thoát tội chăng?"

Song sau khi hắn chết, gia nô của Thiệu Vũ Vương đào xác hắn lên mà vằm nhỏ ra thì lời thánh nhân càng đáng tin"

Hoặc ở trang 114 ông lại lên án một lần nữa: "Còn như Trần Khắc Chung cũng là nhân vật của một thời, vua trao cho hắn chức vị sư bảo, và đem việc nước hỏi hắn, đáng lẽ phải hết lòng trung khuyên can, để cho vua mình trở thành Nghiêu Thuấn mới phải. Thế mà lại hùa vào với kẻ quyền quý làm hại người ngay thẳng, đi theo bọn gian tà, đẩy người lành đến nỗi oan khiên, hãm đức vua việc tội lỗi. Việc ấy mà nhẫn tâm làm được, thì còn việc gì mà không nhẫn tâm làm được nữa. Sau lại xui vua cầu công đi đánh Chiêm Thành, thì cái thói nịnh hót lại hiện ra nữa. cho nên bậc làm vua khi chọn người hiền phải xét kỹ họ, là bở sợ rằng có đứa tiểu nhân như bọn Trần Khắc Chung có thể lọt vào trong đó vậy."

Chúng tôi xin hẹn kỳ sau sẽ tham luận tiếp. Một số câu hỏi chúng tôi muốn các bạn lưu ý là các đoạn viết về sự kiện Huyền Trân ở trong:

1. Bản Đại Việt Sử Ký thời nhà Trần vào khoảng năm 1310 có điều gì khác với Đại Việt Sử Ký Toàn Thư đơợc khắc in năm Chính Hòa thứ 18 không?

2. Bản Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (bản Chính Hòa năm 1697) mà chúng ta đang có, khác điều gì với những lời của sử thần Ngô Sĩ Liên bàn trước đó hơn 200 năm là vào những năm 1479 khi vua Lê Thánh Tông bổ nhiệm ông tu soạn Đại Việt Sử Ký Toàn Thư?

3. Ai là kẻ thù của Trần Khắc Chung?

4. Ai là kẻ thù của triều đại nhà Trần?

5. Các ngự sử trong triều đình Trần Anh Tông, Trần Minh Tông, Trần Hiến Tông liệu không có ai đàn hạch về chuyện tư thông này chăng?

6. Các nhân vật tên tuổi như Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu, Mạc Đỉnh Chi liệu không có ai lên tiếng về vấn đề này hay chăng?

7. Tại sao thượng hoàng Nhân Tông và vua Anh Tông im lặng trước chuyến đi đường biển loanh quanh chậm chạp lâu ngày mới về tới kinh đô? Có lẽ vua đã hiểu nỗi thống khổ, đau đớn, thời gian hậu sản kéo dài của cô con gái bất hạnh mong manh yếu ớt còn quá trẻ của mình?

Thứ Sáu, 2 tháng 9, 2022

Ba lần đánh tan quân Nguyên hay Một lần đánh tan quân Mông và hai lần đánh tan quân Nguyên.

Bài biết của Nguyễn Xuân Hưng

         Trong sách giáo khoa dạy học trò của VN lâu nay, cụm từ “Ba lần đánh tan quân Nguyên” quá quen thuộc. Hoặc có một dạng dị bản là “Ba lần đánh tan quân Nguyên Mông”. Lỗi này không phải do người viết sách bịa  ra, mà lỗi trước hết do tầm chương trích cú. Và cho đến nay, ngay cả các học giả cũng tin bộ sử “Đại Việt sử ký toàn thư” do Ngô Sĩ Liên chủ biên là tuyệt đối đúng và miễn bàn luận.

Không phải như vậy.

Quân Mông Cổ xâm phạm Đại Việt năm 1258. Đại Việt sử ký toàn thư viết: “tháng 12 ngày 12 năm Đinh Tị, (chú ý năm Đinh Tỵ là 1257, nhưng tháng 12 âm thì đã là 1258) , tướng Nguyên Ngột Lương Hợp Thai xâm phạm  Bình Lệ Nguyên. Vua thân hành đốc chiến…” Đó là năm Nguyên Phong thứ 7, tương ứng với Tống Bảo Hựu năm thứ 5.

Tướng Ngột Lương Hợp Thai tức là người có tên Mông cổ là Uriyangqadai, có sách phiên âm theo phiên âm Hán là Ngột Lương Hợp Đài, hoặc Ngột Lương Cáp Thai. Không hiểu sai sót ở đâu, do người dịch hay do chính Ngô Sĩ Liên, mà gọi tướng Uriyangqadai này là “tướng Nguyên”?

Viên tướng này thuộc quyền của Hốt Tất Liệt, khi đó Hốt Tất Liệt dưới quyền Mông Kha Hãn (Monkh Khan) dù đã chinh phục Đại Lý, chiếm nhiều vùng bắc Trung Quốc, nhưng chính quyền nhà Tống chạy xuống phía Nam, về danh chính ngôn thuận, vẫn là triều đình Trung Quốc. Năm 1257-1258, Hốt Tất Liệt chưa thiết lập triều Nguyên, còn phò Mông Kha đánh dẹp phía Bắc của triều (Nam) Tống.

Cũng chính Đại Việt sử ký toàn thư, đến năm Canh Thân 1260, là niên hiệu Thiệu Long thứ 3 của  nhà Trần, Cảnh Định thứ 1 của Tống, thì triều Nguyên bắt đầu có niên hiệu Trung Thống năm thứ nhất. ĐÓ là năm lên ngôi của Nguyên Thế tổ Hốt Tất Liệt. Như vậy, đến 3 năm sau mới có triều Nguyên, sao năm 1257 đã gọi Ngột Lương Hợp Thai là “tướng Nguyên”? (và toàn bộ những chỗ chỉ quân địch của quan quân Trần, ĐVSKTT đều gọi là "quân Nguyên"?)

Cuộc kháng chiến lần thứ nhất của quân dân nhà Trần diễn biến trong thời gian ngắn, chỉ 12 ngày sau, ngày 24/12 âm lịch trận Đông Bộ Đầu, quân của Uriyangqadai (Ngột Lương Hợp Thai) đã bị đánh bại. Cần khẳng định rằng, đối phương của vua Trần Thái tông năm 1258 không phải là “quân Nguyên” mà là “quân Mông Cổ”. Còn 2 lần kháng chiến sau, năm 1284 và 1287 thì mới đúng là “quân Nguyên”.

Có ý kiến cho rằng phải gọi là “Nguyên Mông” thì nói “Ba lần đánh quân Nguyên Mông” là đúng. Điều này cũng hoàn toàn không đúng với sử liệu về Mông Cổ và nhà Nguyên. Phải khẳng định nhà Nguyên là một triều đại của Trung Quốc, mặc dù triều đình Nguyên do người Mông Cổ thống trị các sắc dân khác ở lãnh thổ Trung Quốc. Triều đình nhà Nguyên không thể coi là một triều đại của Mông Cổ giai đoạn đó được. Để làm rõ điều này, phải xét lịch sử Mông Cổ từ Thành Cát Tư Hãn (Tringit Khan phiên âm theo chữ Nga dùng tại Mông Cổ) và một giai đoạn dài sau khi ông ta mất, theo dõi những cuộc tranh giành ngôi Khan (đại Hãn) thì sẽ thấy Hốt Tất Liệt chỉ là người tranh ngôi Khan Mông Cổ trên danh nghĩa,  và thực tế chỉ làm vua ở Trung Quốc mà thôi.

Hốt Tất Liệt  (Khubilai) là Khan thứ 5 kế thừa Khan Mông Kha (Monkh) cùng là cháu nội Thành Cát Tư Hãn. Đây là nhánh đáng lý kế thừa ngôi Khan (út) nhưng thế hệ Khan thứ hai lại do chính Thành Cát Tư Hãn chỉ định nối ngôi là người con thứ 3 Ô Khoát Đài (Ogiodei). Hai nhánh phả hệ này, thế hệ sau đã lôi kéo những con cháu thuộc các chi nhánh khác yếu hơn đã tạo thành cục diện phân tranh ba bè bẩy mối, rất khó thống nhất. Tại chính Mông Cổ, một hội nghị Kurultai (bầu Khan) đã đưa người em khác của Hốt Tất Liệt lên ngôi Khan Mông Cổ. Hốt Tất Liệt đã phải tổ chức một hội nghị khác của riêng mình, phạm vi hẹp, để xưng Khan. Năm đó lập ra nhà Nguyên. Tất nhiên Hốt Tất Liệt không được thừa nhận, đã phải chiến tranh chinh phục 5 năm, đến 1264 mới đánh bại được Khan ở Mông Cổ. . Tuy vậy, đế quốc Mông Cổ chính thức tan rã, các vị đứng đầu chi phái khác, mặc dù không  xưng Khan nhưng không thần phục Hốt Tất Liệt, trở về cai quản và giữ đất đai của mình. Hốt Tất Liệt thực tế không cai trị được đế quốc Mông Cổ như các Khan khác, và chính miền đất ngày nay là Mông Cổ và Tân Cương (TQ) và những vùng Trung Á, châu Âu do quân Mông Cổ chiếm được đều không thuộc quyền cai trị của Hốt Tất Liệt.

Trong loạt bài viết về Mông Cổ, có chi tiết người Mông Cổ nói chỉ đến Đại Việt rồi rút về, khoan nói đúng sai, nhưng nói thêm, đối với người Mông Cổ, chỉ coi như có 1 lần xâm lược Đại Việt đó. Quân Mông Cổ thực sự đánh Đại Việt có một lần năm 1258. Hai lần sau cách xa gần 30 năm, là cuộc xâm lược của một triều đình Trung Quốc, với các chỉ huy Mông Cổ và Hán, đội quân đông đúc người Hán tham chiến.

Do đó, nói đúng ra là: Nhà Trần đã 1 lần đánh thắng quân Mông Cổ, và 2 lần đánh thắng quân Nguyên. Không thể nói gộp kiểu bà đi chợ, mua 2 cân rau, một cân thịt, thì gọi là “mua 3 cân rau thịt” được. Nói “ba lần đánh tan  quân Nguyên Mông” thật là khiên cưỡng, không đúng với sử liệu.

Tham khảo Đại Việt sử ký tiền biên của Ngô Thì Sĩ, thì toàn bộ chiến cuộc 1258, ông không hề dùng từ nào là “quân Nguyên”, mà chỉ gọi là “quân Mông Cổ”, chỉ có đúng 1 từ thuật lời vua là còn chữ “Nguyên”. Trong khi đó, khi nói về cuộc chiến 1284 và 1287, Đại Việt sử ký tiền biên đều dùng chữ “quân Nguyên” mà không dùng chữ chỉ địch quân là “Mông Cổ”. Có thể nói, tác giả Ngô Thì Sĩ đã phân biệ rất rõ lần kháng chiến năm 1258 là quan quân Trần chống quân Mông Cổ, còn 2 cuộc kháng chiến 1284 và 1287 là kháng chiến chống quân Nguyên. Vấn đề là mấy chục năm qua, đã có sự đề cao Đại Việt sử ký toàn thư mà ít để ý đến bộ Đại Việt sử ký tiền biên, từ đó các tác giả soạn sách giáo khoa, viết báo gây nên một lầm lẫn kéo quá dài.

Không nói “ba lần đánh tan quân Nguyên” mà nói nhà Trần đã “một lần đánh thắng quân Mông Cổ và 2 lần đánh tan quân Nguyên” thì cũng không giảm đi tầm vóc và ý nghĩa chiến công của nhà Trần, mà còn nâng cao rõ rệt tầm vóc chiến công. Bởi vì 1 lần đánh thắng quân Mông Cổ, ý nghĩa lớn hơn nhiều nếu nói đánh thắng quân Nguyên.

Thứ Năm, 27 tháng 1, 2022

SÓNG NƯỚC CỔ KHÊ

 HOÀNG TUẤN PHỔ

Bia chùa Hưng Phúc (ảnh sưu tầm)

        “Sóng nước Cổ Khê” là tên cuốn truyện lịch sử của tác giả Hoàng Tuấn Phổ (Ty Văn hoá Thanh Hoá xuất bản năm 1978).

        Cuốn truyện lịch sử dựng lại trận kịch chiến của quân nhà Trần cùng hương binh hương Yên Duyên Thanh Hoá, đánh bật quân Toa Đô trên tuyến đường sông Cổ Khê, bến Cổ Bút, khiến chúng phải tháo chạy ra biển. Nhờ đó bảo toàn được Phủ đệ Ngọc Sơn, Thái ấp của Trần Nhật Duật – nơi Thượng hoàng Thánh tông, hoàng đế Nhân tông và tam cung, lục viện, cùng cận thần tướng sĩ hộ giá đang tạm lánh trước sức tiến công ồ ạt của quân Nguyên.

        Rất tiếc, trải qua thời gian với nhiều biến cố, rồi do người này người kia mượn..., những bản lưu cuối cùng của tác giả cũng đã không còn.

        Trước khi cuốn sách được tái bản, bạn đọc quan tâm đến trận chiến Cổ Khê đạo chống quân Toa Đô, có thể đọc trích đoạn của thể oại địa chí của tác giả Hoàng Tuấn Phổ trong sách “Địa chí huyện Quảng Xương” (Hoàng Tuấn Phổ chủ biên-NXB Từ điển Bách khoa, 2010).

 ............

        Các sách sử Đại Việt sử ký, Thông giám cương mục đều chép: Tháng 6 năm Kỷ Mùi (1259) sau cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông toàn thắng, vua Trần phong cho Lê Phụ Trần (Lê An) làm Thủy quân đại tướng quân. Điều này phù hợp với truyền thuyết địa phương nói ông sai quân đào kênh để quân lính có đường đi về.

        Gia phả họ Lê thôn Trường Tân, xã Quảng Hùng, ghi ông khởi tổ là Lê An tức Lê Tần (Lê Phụ Trần) làm quan tướng đời Trần Thái tông. Ông mở mang hương Yên Duyên, gồm 3 khu: Thượng khu, Trung khu, Hạ khu. Bởi có công giúp nhà Trần chiến thắng quân Nguyên lần thứ nhất (1257 – 1258), Lê An được vua Trần Thái tông gả cho công chúa Chiêu Thánh (tức Chiêu Thánh hoàng hậu bị giáng truất) sinh một gái, một trai là Thượng vị hầu Lê Tông, Trần Thái tông nhận làm con nuôi, phong Bảo Nghĩa vương, cho đổi sang họ Trần, ban tên Bình Trọng. Bà Chiêu Thánh và con cháu vẫn ở Thăng Long. Lê Tần làm quan ở kinh đô, giao quyền cai quản hương Yên Duyên cho Đại toát Lê Bằng là con của bà vợ họ Quách. Khoảng năm 1264 Lê Bằng chết, đến con trai là Đại toát Ký ban Lê Mạnh nối quyền cai quản hương Yên Duyên.

        Đời Trần, đơn vị “hương” rất lớn, tương đương một huyện. Dưới hương có các trang và làng lớn nhất trong trang gọi là giáp. Cách gọi này qua thời Lê đến thời Nguyễn vẫn còn thấy ở một số làng lớn thuộc hương Yên Duyên thời xưa, ví dụ giáp Cả Đồn, tên cổ của làng Hòa Chúng là làng lớn nhất của xã Dực Thượng thời Lê, xã Cung Thượng thời Nguyễn. Làng trung tâm, làng cả của hương Yên Duyên là giáp Yên Kinh. Theo truyền thuyết, quan thượng tướng Lê công sai đào một con kênh từ sông Rào đến khu trung tâm để chở gỗ về xây dựng dinh phủ và có đường thủy cho quân lính của ông đi lại. Vì thế làng đặt tên là giáp Yên Kinh, đời Lê gọi là thôn Bến, đời Nguyễn đổi Trường Tân. Kênh đào đã bị lấp từ lâu, nhưng địa danh thôn Bến, xóm Bến vẫn còn đến nay. Thời gian xây dựng phong trào hợp tác xã hóa nông nghiệp, xã Quảng Hùng đào mương thủy lợi thấy những cây gỗ lớn nằm sâu dưới lòng đất, có khả năng bị chìm từ thời thượng tướng Lê An.

        Thời Trần, quân đội chính quy không nhiều vì số trai tráng, đàn ông khỏe mạnh phần lớn phục vụ tại các điền trang của vương hầu quý tộc và quan chức địa phương. Do đó các điền trang đều tổ chức gia binh và hương binh để khi cần, nhà nước điều động, xong việc lại trở về điền trang. Cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai, thứ ba (1285, 1286, 1287), các vương hầu đều cầm quân gia binh của mình ra trận. Chúng ta không ngạc nhiên khi thấy cậu thiếu niên Trần Quốc Toản được vua cho phép, lập tức đem một ngàn quân lên đường giết giặc. Và chúng ta cũng dễ hiểu Đại toát hương Yên Duyên Lê Mạnh với đội hương binh của mình vây đánh đạo quân dũng mãnh Toa Đô, khiến chúng không còn đường rút chạy.

        Bấy giờ hương Yên Duyên gồm ba khu: trang Trung khu, trang Thượng khu, trang Hạ khu là ba khu điền trang lớn tập trung nhiều nhân lực để khai phá miền đất hoang từ đường số 4 xuống ven biển.

        Theo văn bia chùa Hưng Phúc (hương Yên Duyên), soạn năm Giáp Tý, niên hiệu Khai Thái (1324): Khoảng năm Thiệu Bảo (1279–1285) giặc Nguyên Mông kéo xuống phương Nam. Sau khi tiến hành đánh Chiêm Thành, chúng trở ra bằng đường biển, âm mưu đánh chiếm Thanh Hóa để chặn cuộc rút lui của vua Trần trước đại quân Thoát Hoan. Toa Đô đi tắt theo đường Cổ Khê qua hương Yên Duyên, ra sông Lễ, để tránh cửa Hới quanh co, sâu, hẹp, có nhiều bãi cát ngầm, thuyền lớn đi lại ra vào đều khó. Đại toát Lê Mạnh đốc suất người trong hương phòng ngự tại bến Cổ Bút. Ta và giặc đánh nhau, quân Toa Đô tưởng không còn đường rút chạy. Nhưng vì có kẻ gian đầu hàng dẫn đường cho giặc nên nhà cửa của Lê Mạnh bị đốt phá, trong khi sổng mất Toa Đô. Đến khi quân Nguyên Mông đại bại, nhà vua xuống chiếu bắt kẻ phản bội trị tội, tịch thu của cải để bồi thường cho hương Yên Duyên...

        Kẻ phản bội là ai? Văn bia không chép, có lẽ không tiện nói rõ, vì bấy giờ trên mặt trận chống giặc tại Thanh Hóa, vua Trần điều động nhiều vương hầu quý tộc và trong số đó có kẻ đầu hàng giặc như Chương Hiến hầu Trần Kiện, Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc,... Trong sách “Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII của Hà Văn Tấn – Phạm Thị Tâm(2) có đoạn viết: “Một bộ phận quân Nguyên tiến thẳng ra Thanh Hóa(3). Ở đây chúng đã gặp Chương Hiến hầu Trần Kiện. Tên quý tộc hèn nhát này, trước lúc cầm quân đi, còn “ở ẩn” học đạo Lão Trang vì bất mãn. Khi kẻ thù chưa đến, hắn đã run sợ và âm mưu phản bội. Ngày Giáp Thìn, mồng một tháng hai âm lịch (8–3–1285) Trần Kiện đã  cùng với bọn Lê Trắc và gia thuộc hàng giặc. Việc Trần Kiện phản bội, nắm trong tay một vạn quân mà hàng giặc, sau đó lại dẫn đường tấn công quân ta, làm cho việc phòng thủ mặt nam của quân ta gặp thêm nhiều khó khăn. Ngày Ất Tỵ, mồng hai tháng hai (9–3–1285) Giảo Kỳ đem quân lội qua cửa kênh Bố Vệ. Ở đây tướng Trần là Đinh Xa và Nguyễn Tất Thống bị hy sinh...”..

        Quân Toa Đô tiến công vào Thanh Hóa như vậy là rất nhanh vì có Trần Kiện dẫn đường. Ngày 8 tháng 3 năm 1285, Trần Kiện đầu hàng giặc trùng hợp với sự kiện chép trong bia chùa Hưng Phúc: “có kẻ gian đầu hàng dẫn đường cho giặc”(4). Có lẽ ngày Trần Kiện đầu hàng dẫn đường cho giặc cũng chính là ngày diễn ra trận chiến Cổ Bút giữa quân hương binh Lê Mạnh với đạo quân thiện chiến Toa Đô.

        Sang ngày hôm sau 9–3–1285, quân giặc do tướng Giảo Kỳ chỉ huy đánh vào kênh Bố Vệ, vừa nhanh chóng vừa đúng đường. Nhanh chóng vì từ sông Lễ đến kênh Bố Vệ chỉ khoảng mươi cây số. Đúng đường bởi do Trần Kiện chỉ đường, ông ta tất biết lúc ấy cánh quân Trần Nhật Duật được bảo toàn lực lượng đang trấn giữ vùng sông Yên, sông Lý, mà đại bản doanh là núi Ngọc Sơn. Đánh Ngọc Sơn là đánh vào sau lưng Trần Nhật Duật, vào điền trang thái ấp của Chiêu Văn vương, nơi chứa giữ nhiều người, vật, lương thực, trong lúc giặc đang thiếu đói. Việc Trần Kiện chỉ đường cho quân giặc cướp phá hương Yên Duyên lấy đi nhiều của cải thuộc kế sách chung của Nguyên Mông là vừa đánh vừa cướp, đánh đến đâu cướp đến đó. Nhưng chắc chắn chúng không thu lượm được mấy kết quả vì ngay từ đầu chiến tranh, vua Trần đã lệnh cho các hương, huyện cả nước triệt để thi hành chính sách vườn không nhà trống, ai đánh được địch thì đánh, ai không đánh được thì tìm nơi ẩn lánh không cho giặc bắt.

        Tại sao quân Giảo Kỳ đánh thẳng vào cửa kênh Bố Vệ? Cửa kênh Bố Vệ cụ thể là ở chỗ nào? Đó là chỗ kênh Bố Vệ nối với sông Mã Bà, trước núi Mật Sơn. Đánh chiếm được cửa kênh này, địch sẽ có hai đường tiến: phía bắc theo sông Nấp qua Đông Sơn, Triệu Sơn lên đến Thọ Xuân; phía nam theo sông Lăng vào tận Nông Cống. Nhưng chắc chắn chúng sẽ hướng tới hương Ngọc Sơn, bằng đường sông Lý, nhằm chặn đón trước đường rút lui chiến thuật của đại quân Trần. Tất nhiên chúng không thể thực hiện được âm mưu này vì đây là địa đầu của hương Ngọc Sơn, từ cửa kênh Bố Vệ trở vào, Trần Nhật Duật bố phòng nhiều cửa ải và ổ phục kích.

        Ngày mồng hai tháng hai (9-3-1285) Giảo Kỳ đánh vào cửa kênh Bố Vệ, ngày mùng 6 tháng hai (13-3-1285), Trần Kiện lại dẫn đường cho Giảo Kỳ đánh Chiêu Minh vương Trần Quang Khải ở bến Phú Tân và một số địa điểm khác. Chiêu Hiến vương và Đại liêu Hộ hy sinh. Quang Khải liền lui quân. Như vậy, địch cơ bản đã chiếm được Thanh Hóa, vùng đất Đông Sơn, Hà Trung, Thiệu Hóa, Hoằng Hóa,...

        Tại sao sử cũ không nói gì đến vai trò Toa Đô ở Thanh Hóa, mặc dù trong đạo quân xâm lược Chiêm Thành, đánh chiếm Nghệ An rồi tiến ra Thanh Hóa, Toa Đô là chủ soái, còn Giảo Kỳ chỉ là viên tướng tăng viện? Điều này chỉ có thể giải thích bằng trận chiến ở Cổ Bút. Nhờ Trần Kiện phản bội dẫn đường, cánh quân Giảo Kỳ chạy thoát vào sông Lễ, còn cánh quân Toa Đô rút ra ngoài biển Sầm Sơn, rồi tiến đánh Ninh Bình. Cho nên khi Trần Quang Khải ngày 6 tháng hai (13-3-1285) rút từ Hà Trung ra Bắc gặp vua Trần thì Toa Đô đã ở Ninh Bình chờ cánh quân Giảo Kỳ ở Thanh Hóa kéo ra phối hợp tạo thành một gọng kìm cùng với gọng kìm của đại quân Thoát Hoan kẹp nát đại quân Trần.

        Bởi cánh quân Toa Đô chưa vào được nội địa Thanh Hóa đã bị quân dân hương Yên Duyên đánh bật ra. Toa Đô không cướp bóc được lương thảo nên đến Ninh Bình, chúng đã “khổ sở đói khát vì ít lương thực, nay càng thiếu thốn”(5). “Bấy giờ Thoát Hoan đang đóng quân ở Thiên Trường (Nam Định). Hắn biết vua Trần đang đóng quân ở Hải Đông (Quảng Ninh), không cần đánh ép hai mặt nữa, mặt khác, hắn cũng chưa muốn tập trung quân vì vấn đề cung cấp lương thực rất khó khăn. Chính vì thế, Thoát Hoan đã ra lệnh cho Toa Đô, đóng quân lại ở Trường Yên để kiếm lương ăn”(6).

        Sau đó, Toa Đô lại trở vào Thanh Hóa...

        Trở lại trận chiến ở Cổ Bút, đã được nhắc tới trong nhiều bài viết nhưng chưa đặt vấn đề nghiên cứu, có lẽ vì sự kiện này chỉ có một vài dòng ngắn ngủi trong văn bia chùa Hưng Phúc, hương Yên Duyên. Những địa danh Cổ Khê, Cổ Bút cũng chưa có ai đi sâu tìm hiểu.

        Theo chúng tôi, chữ Cổ Khê cho biết nó chỉ là con sông nhỏ, chính xác hơn nó là một con ngòi vốn sinh ra để làm nhiệm vụ tiêu thủy. Bài văn bia chùa Hưng Phúc của một tác giả đời Trần dùng chữ Cổ Khê đạo (đường Cổ Khê) thì ít ra đời Trần con ngòi nhỏ tiêu nước Cổ Khê đã được mở rộng để phục vụ giao thông nhưng vẫn giữ cái tên cổ xưa là một “khe ngòi cũ”.

        Trên đất Thanh Hóa có một hệ thống sông ngòi chảy qua nhiều địa phương đều mang một tên chung: sông đào Nhà Lê hay sông Nhà Lê. Nhưng lịch sử nước ta có hai nhà Lê: Tiền Lê (Lê Hoàn – thế kỷ X), Hậu Lê (thế kỷ XV – thế kỷ XVIII), đều chú trọng đào sông khơi ngòi, nhằm phục vụ giao thông và thủy lợi. Trong thực tế lịch sử, nhiều “nhà”, nhiều “đời” cùng khơi đào, nạo vét, uốn nắn, mở rộng trên cùng một sông ngòi, đều được gọi tên chung là “sông Nhà Lê”.

        Khi tiến hành khai thác, mở mang miền đất dọc ven biển, người ta phải khơi ngòi để tiêu thủy ra sông ra biển. Mùa mưa nước ngập đồng ruộng mênh mông được tiêu đi cũng chính là biện pháp thau chua rửa mặn khá tốt. Thời Lê sơ, công cuộc chinh phục miền đất dọc ven biển này căn bản đã hoàn thành, chỉ còn lại những mảnh đất cằn cỗi để những năm “bảy mươi” thế kỷ XV, Lê Thánh tông tiến hành thành lập các đồn điền sở, sau mang tên Đồn Điền, Phú Xá, Du Vịnh sở.

        Cổ Khê đạo chính là đường sông Nhà Lê thời Hậu Lê, đường sông Vạn Lịch thời Nguyễn. Tên dân gian phổ biến của sông này là sông Rào(7) và tên nôm xưa nhất là sông Cũ hiện còn trong ký ức người già. Có lẽ từ tên sông Cũ, khe Cũ, ngòi Cũ thành tên chữ Hán Cổ Khê(8).

        Đường Cổ Khê đạo thời Trần tương ứng với đường sông Rào, phía nam từ cửa lạch Ghép qua nhiều làng xóm ven biển đến cửa lạch Hới. Nhưng thời Trần dòng chính sông Mã đổ ra cửa biển Lạch Trường (Hậu Lộc). Do đó sông Rào nối với sông Lễ ở mạn trên phía Quảng Châu, hiện còn dấu tích đồng Bến là bến thuyền thời xưa, do sông bị lấp hóa thành đồng. Quân Nguyên Mông bị chặn đánh ở bến Cổ Bút, nhờ Trần Kiện dẫn đường, cánh quân Giảo Kỳ tiếp tục theo đường Cổ Khê tiến lên sông Lễ, vào kênh Bố Vệ (tên xưa là Vệ Bố). Đêm trước hôm tiến vào kênh Bố Vệ, chúng dừng lại sông Lễ, được Trần Kiện chỉ lối cướp phá hương Yên Duyên, để trả thù, nhưng thực chất nhằm mục đích cướp bóc vơ vét lương thực, của cải đỡ đần trong lúc thiếu đói, hậu quả của cuộc đánh chiếm Chiêm Thành bị thất bại.

        Còn Toa Đô rút chạy ra biển bằng đường nào?  Cũng bằng đường bộ Cổ Khê – Sông Cũ, nhân lúc nước thủy triều bắt đầu rút xuống phía lạch Ghép. Chúng rút chạy an toàn, vì gần như toàn bộ hương binh Yên Duyên đã tập trung cho trận đánh ở bến Cổ Bút.

        Bến Cổ Bút từ lâu vẫn chưa được xác định đối với người viết sử. Trong công tác điền dã, với sự giúp đỡ của chính quyền, nhân dân các địa phương đôi bờ sông Cổ Khê – sông Cũ – sông Rào, đặc biệt là xã Quảng Hải, chúng tôi đã tìm thấy địa danh Cổ Bút, xưa thuộc xứ Lài Hoàng, nay ở địa phận làng Yên Nam, xã Quảng Hải.

        Thời Hậu Lê, xứ Lài Hoàng thuộc địa phận xã Phú Xá. Đầu thế kỷ XX thành lập thôn Hải Nhuận rồi khoảng 1920 thành lập thôn Yên Nam, thì Cổ Bút mới thuộc địa phận thôn Yên Nam. Dấu tích bến Cổ Bút ở trước đền Cổ Bút. Đền này xa xưa chỉ là bệ thờ bằng đất nền thờ lộ thiên, thời Hậu Lê dựng tranh tre nứa lá, thời Nguyễn mới xây gạch, cột gỗ, lợp ngói. Đền gồm ba gian thấp nhỏ trên mảnh đất cao bên bờ biển, hướng Tây, trông ra sông Cũ (sông Rào). Khu đền đất rộng khoảng hai mẫu Trung bộ, tương đương một hecta, giống một khu rừng nhỏ, cây cối rậm rạp, nhiều cây cổ thụ như gội, sang mã, dung, cơ,...chứng tỏ dải đất cao này không hoàn toàn do đất biển phù sa bồi thành mà được đắp đất thịt tôn cao dần lên qua những lần đào sông sâu thêm, mở rộng thêm từ thời Tiền Lê, Lý,...

        Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, tàu chiến giặc thường xuyên qua lại ngoài khơi, thỉnh thoảng đổ bộ lên bờ biển Quảng Xương, vào các làng xã cướp phá. Thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến, năm 1950, địa phương (bấy giờ là xã Quảng Hải lớn gồm 4 xã ngày nay: Hùng, Đại, Giao, Hải và một phần xã Quảng Nhân) quyết định phá ngôi đền Cổ Bút trên bờ biển để giặc Pháp đổ bộ không có nơi trú ngụ. Khu rừng cây chung quanh đền trước là rừng thiêng, rừng cấm, không ai dám xâm phạm, sau khi đền bị phá dỡ, cây cối cũng bị triệt hạ để lấy đất tăng gia sản xuất, hưởng ứng phong trào khai hoang.

        Đền Cổ Bút thờ ai? Bằng sắc, giấy tờ, thần vị...đã  bị ném xuống sông trôi ra biển, không còn căn cứ gì để nghiên cứu. Theo nhân dân địa phương lưu truyền: đền thờ ông tướng họ Lê và chiến sĩ trận vong. Một số cụ già có nhớ đôi câu đối chữ Hán trong đền. Vì các cụ không được học chữ Hán nên chỉ nhớ bập bõm, đại để: “Đọ giáo Cổ Khuê thù kiếp đảm – Lừng danh Cổ Bút đất anh hùng”. Chúng tôi thấy có thể đính chính lại:

Đoạt giáo Cổ Khê thù khiếp đảm,

Lưu danh Cổ Bút địa anh hùng.

        Đôi câu đối trên chắc được viết ở thời Nguyễn, lúc đền Cổ Bút tranh lá nâng cấp sửa sang thành gạch ngói.(9)

        Bấy giờ huyện Quảng Xương (tức Vĩnh Xương theo Đại Nam nhất thống chí đời Tự Đức) ngoài hương Yên Duyên ở phía đông, còn hương Ngọc Sơn ở phía tây. Hương Ngọc Sơn bao bọc bởi 4 con sông: sông Mã Bà, sông Vạy, sông Yên và sông Lý. Vùng này đất đai màu mỡ nhất huyện nhưng cũng phải đến Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật mới được phát triển mạnh mẽ để dần dần trở thành những xóm làng trù phú, nay là chín xã “miền đồng”, vùng lúa giàu có nhất huyện.

        Trần Nhật Duật là con trai thứ 6 vua Trần Thái tông: Vì tuổi trẻ đã bộc lộ tài trí khác thường, người đương thời gọi là Đệ Lục hoàng tử để tỏ lòng kính trọng. Nhật Duật sinh năm Ất Mão (1255), mười ba tuổi (Đinh Mão – 1267) đã được phong làm Chiêu Văn vương rồi giữ chức Phiêu kỵ tướng quân coi đạo Đà Giang. Khoảng năm 1272 – 1273 vua Trần sai Nhật Duật trấn thủ Thanh Hóa, lấy hương Ngọc Sơn làm điền trang thái ấp. Ông xây dựng phủ đệ ở phía tây núi Văn Trinh (nay là xã Quảng Hòa, Quảng Hợp) theo chế độ thân vương nhà Trần.

        Thời nhà Lý, xã Quảng Hợp còn chưa lập làng xóm, xã Quảng Hòa cũng chỉ hình thành một số trại, sở, tên chung là Cổ Lý chi địa, khi Trần Thủ Độ vào Thanh Hóa lập sổ hộ khẩu kiêng chữ “Lý” là tên ông tổ nhà Trần mới đổi ra Cổ Nguyễn, sông Lý đổi ra sông Đào, nhưng dân gian vẫn quen gọi sông Lý.

        Năm 1280–1281, Trần Nhật Duật dẹp yên quân nổi loạn Trịnh Giác Mật ở đạo Đà Giang, trở về điền trang thái ấp Ngọc Sơn thấy dân làm ăn chăm chỉ, mở hội đón mừng, đem gà lợn khao thưởng quân sĩ, ông vui vẻ tuyên bố giải phóng nông nô cho thành nông dân tự do, trong đó có hàng ngàn nô lệ cũng được đổi làm gia nhân. Trong đội quân khai điền lập ấp hùng hậu của Trần Nhật Duật có cả quân bản bộ của tướng Triệu Trung nhà Tống bại vong ở Nhai Sơn (Quảng Đông, Trung Quốc) chạy sang nước ta xin nương tựa, vua Trần giao cho Nhật Duật quản lĩnh. Quân Triệu Trung khai phá mảnh đất gần phía chân núi (xã Quảng Hợp) mở mang đồng ruộng, xây dựng dinh thự, hiện nay còn dấu tích với những địa danh: đồng quan, bái Đồng Cơ (đóng cơ đội - đóng trại lính) mả Dóng Dinh (dóng dinh thự phủ đệ), Ao Voi (nơi tắm voi ngựa), Cửa Ngoài (ngoài cửa thành lũy),...

        Năm 1284, quân Nguyên phát động cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt, trước giả thác mượn đường đánh Chiêm Thành, rồi sau khi lấy xong Chiêm Thành, thu nạp lương thảo tiến ra đánh nước ta. Trần Nhân tông sai Nhật Duật đem quân lên miền biên giới Tuyên Quang ngăn cánh quân Nguyên từ Vân Nam (Trung Quốc) tràn sang. Địch cậy đông tiến quân ồ ạt, quân Chiêu Văn ít không địch nổi, phải tạm rút lui để bảo toàn lực lượng. Lúc ấy, tướng Nguyên Toa Đô đánh Chiêm Thành bị thua, đem quân vượt biển đánh Nghệ An. Vua Trần e Quốc Khang chống không nổi, sai Nhật Duật tức tốc hành quân ngày đêm vào Nghệ An để trợ chiến. Quân Nhật Duật mới về đến Vĩnh Doanh (thành phố Vinh) thì quân Toa Đô đã tiến vào cửa biển Hà Hoa (Kỳ Anh, Hà Tĩnh). Quân Quốc Khang không đủ sức ngăn địch. Quân Nhật Duật hành quân đường dài mệt mỏi cũng không thể đối trận, đành lui về Thanh Hóa. Quốc Khang trấn giữ từ sông Yên trở vào khe Nước Lạnh (giáp Quỳnh Lưu, Nghệ An). Nhật Duật về hương Ngọc Sơn chuẩn bị thêm lực lượng, quyết bảo toàn Quảng Xương, hậu cứ quan trọng của các cánh quân đang đóng giữ trên mặt trận chủ yếu của Thanh Hóa gồm các huyện Đông Sơn, Hoằng Hóa, Hậu Lộc, Hà Trung.

        Cuối năm 1284 đầu năm 1285, Thanh Hóa là mặt trận chính chống Nguyên Mông. Mặt trận Thanh Nghệ đã mất Nghệ An, Thanh Hóa không thể rơi vào tay giặc. Nếu mất Thanh Hóa, vương triều Trần sẽ không còn đất đứng chân để khôi phục Thăng Long. Vì thế, Hưng Đạo vương đã kịp thời tăng viện cho Thanh Hóa, quyết giữ vững Thanh Hóa. Các chiến tướng kiệt hiệt nhất với các cánh quân tỳ hổ đều có mặt ở Thanh Hóa: Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải, Văn Túc vương Trần Đạo Tái, Tá Thiên vương Trần Đức Việp, Chiêu Hiếu vương Trần Học, Chương Hiến hầu Trần Kiện...

        Quân Nguyên tiến vào Quảng Xương bằng đường hải đạo Cổ Khê, bị phục binh của Lê Mạnh đánh cho tối tăm mặt mày, tiến không lối, lui không đường. Rất may cho chúng khi được Chương Hiến hầu Trần Kiện giải cứu. Trần Kiện rắp tâm đầu hàng quân Nguyên từ trước vì bất mãn với triều đình. Nhờ vậy cánh quân của đại vương Giảo Kỳ thoát được ra sông Lễ để tiến đánh đến cửa sông Bố Vệ. Nhưng giặc không thể tiến thêm được vì từ đây trở vào thuộc địa bàn hương Ngọc Sơn, mọi cửa ngõ đều đóng chặt. Trần Kiện đưa Giảo Kỳ tiến về phía Đông Sơn, sang Hoằng Hóa, Hậu Lộc, Hà Trung. Vương triều Trần đành chịu mất luôn mặt trận Thanh Hóa, chỉ còn lại căn cứ địa Ngọc Sơn. Bởi thế, sau những chặng đường rút quân đánh lừa địch, Thượng hoàng Thánh tông, hoàng đế Nhân tông và tam cung, lục viện, cùng cận thần tướng sĩ hộ giá lui vào Thanh Hóa, được đón về phủ đệ Ngọc Sơn an toàn.

        Trấn Nam vương Thoát Hoan sai Toa Đô, Giảo Kỳ, Ô Mã Nhi đuổi theo vua Trần, vào Thanh Hóa, càn quét khắp nơi. Lúc này Hưng Đạo vương đã kịp thời mở phòng tuyến sông Cốc – sông Lèn, ngày ẩn lánh, đêm quấy phá địch, để đánh lừa địch, thu hút sự chú ý của chúng, khiến chúng bị lạc hướng và mất ăn mất ngủ.

        Trong khi đó, tại hương Ngọc Sơn, Trần Nhật Duật đã nắm trong tay đội quân tinh nhuệ hàng vạn người gồm các thành phần gia nhân, nô tỳ, nông nô đã được giải phóng, nông dân tự do, binh sĩ chính quy, hàng binh Tống,...giăng mắc thiên la địa võng đón đợi địch.

        Vương triều Trần tạm nghỉ tại phủ đệ Ngọc Sơn từ đầu tháng ba đến tháng tư năm Ất Dậu (1285) mới tiến ra Bắc để tổng phản công, giáng những đòn sấm sét khiến giặc trở tay không kịp. Cuộc kháng chiến chống Nguyên lần thứ II rồi thứ III toàn thắng, Trần Nhật Duật đứng đầu công lao, được phong làm Tá thánh Thái sư Chiêu Văn vương. Trong chiến công lừng lẫy của Trần Nhật Duật có đóng góp to lớn của nhân dân Thanh Hóa nói chung, Ngọc Sơn, Yên Duyên nói riêng.

        Đến nay di tích Trần Nhật Duật vẫn còn in dấu đậm đặc trên vùng đất Văn Trinh (Ngọc Sơn xưa): lăng miếu, đền thờ, hội lễ, xóm làng, đồng ruộng, núi sông, cây cỏ, mộ cổ,...

        Nếu có thể xem đời Trần, Nhật Duật và Lê Tần mở đầu cuộc khai phá mở mang lớn lần thứ nhất thì thời Hậu Lê, Lê Thái tổ, Lê Thánh tông nối tiếp cuộc khai phá, mở mang lớn lần thứ hai.

        HTP (Trích "Địa chí huyện Quảng Xương")

Chú thích

(1) Đô Biên đại vương thần hiệu của Đô Biên được thờ ở nghè Đệ Nhị thôn Phú Nhiên; Xa Ly đại vương thần hiệu của Xa Ly, em Đô Biên được thờ ở nghè Tri Lễ.

(2) Nhà xuất bản Khoa học xã hội – Hà Nội – Bản in lần III, 1970, tr. 212, 213.

(3) Đó là đạo quân của Toa Đô và Giảo Kỳ.

(4) Bản dịch của Phạm Văn Kính.

(5) Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông... Tài liệu đã dẫn, tr.216.

(6) Sách đã dẫn, tr.216.

(7) Tên gọi sông Đơ, sông Rọc chỉ là khúc sông địa phương xã Quảng Vinh.

(8) Tài liệu do Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các xã Quảng Hùng, Quảng Đại, Quảng Hải, Quảng Thái, Quảng Lưu...cung cấp.

(9) Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này trong dịp khác

Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2020

Đại Việt mấy lần đánh tan quân Nguyên?


Trong sách giáo khoa dạy học trò của VN lâu nay, cụm từ “Ba lần đánh tan quân Nguyên” quá quen thuộc. Hoặc có một dạng dị bản là “Ba lần đánh tan quân Nguyên Mông”. Lỗi này không phải do người viết sách bịa ra, mà lỗi trước hết do tầm chương trích cú. Và cho đến nay, ngay cả các học giả cũng tin bộ sử “Đại Việt sử ký toàn thư” do Ngô Sĩ Liên chủ biên là tuyệt đối đúng và miễn bàn luận.
Không phải như vậy.
Quân Mông Cổ xâm phạm Đại Việt năm 1258. Đại Việt sử ký toàn thư viết: “tháng 12 ngày 12 năm Đinh Tị, (chú ý năm Đinh Tỵ là 1257, nhưng tháng 12 âm thì đã là 1258) , tướng Nguyên Ngột Lương Hợp Thai xâm phạm Bình Lệ Nguyên. Vua thân hành đốc chiến…” Đó là năm Nguyên Phong thứ 7, tương ứng với Tống Bảo Hựu năm thứ 5.
Tướng Ngột Lương Hợp Thai tức là người có tên Mông cổ là Uriyangqadai, có sách phiên âm theo phiên âm Hán là Ngột Lương Hợp Đài, hoặc Ngột Lương Cáp Thai. Không hiểu sai sót ở đâu, do người dịch hay do chính Ngô Sĩ Liên, mà gọi tướng Uriyangqadai này là “tướng Nguyên”?
Viên tướng này thuộc quyền của Hốt Tất Liệt, khi đó Hốt Tất Liệt dưới quyền Mông Kha Hãn (Monkh Khan) dù đã chinh phục Đại Lý, chiếm nhiều vùng bắc Trung Quốc, nhưng chính quyền nhà Tống chạy xuống phía Nam, về danh chính ngôn thuận, vẫn là triều đình Trung Quốc. Năm 1257-1258, Hốt Tất Liệt chưa thiết lập triều Nguyên, còn phò Mông Kha đánh dẹp phía Bắc của triều (Nam) Tống.
Cũng chính Đại Việt sử ký toàn thư, đến năm Canh Thân 1260, là niên hiệu Thiệu Long thứ 3 của nhà Trần, Cảnh Định thứ 1 của Tống, thì triều Nguyên bắt đầu có niên hiệu Trung Thống năm thứ nhất. ĐÓ là năm lên ngôi của Nguyên Thế tổ Hốt Tất Liệt. Như vậy, đến 3 năm sau mới có triều Nguyên, sao năm 1257 đã gọi Ngột Lương Hợp Thai là “tướng Nguyên”? (và toàn bộ những chỗ chỉ quân địch của quan quân Trần, ĐVSKTT đều gọi là "quân Nguyên"?)
Cuộc kháng chiến lần thứ nhất của quân dân nhà Trần diễn biến trong thời gian ngắn, chỉ 12 ngày sau, ngày 24/12 âm lịch trận Đông Bộ Đầu, quân của Uriyangqadai (Ngột Lương Hợp Thai) đã bị đánh bại. Cần khẳng định rằng, đối phương của vua Trần Thái tông năm 1258 không phải là “quân Nguyên” mà là “quân Mông Cổ”. Còn 2 lần kháng chiến sau, năm 1284 và 1287 thì mới đúng là “quân Nguyên”.
Có ý kiến cho rằng phải gọi là “Nguyên Mông” thì nói “Ba lần đánh quân Nguyên Mông” là đúng. Điều này cũng hoàn toàn không đúng với sử liệu về Mông Cổ và nhà Nguyên. Phải khẳng định nhà Nguyên là một triều đại của Trung Quốc, mặc dù triều đình Nguyên do người Mông Cổ thống trị các sắc dân khác ở lãnh thổ Trung Quốc. Triều đình nhà Nguyên không thể coi là một triều đại của Mông Cổ giai đoạn đó được. Để làm rõ điều này, phải xét lịch sử Mông Cổ từ Thành Cát Tư Hãn (Tringit Khan phiên âm theo chữ Nga dùng tại Mông Cổ) và một giai đoạn dài sau khi ông ta mất, theo dõi những cuộc tranh giành ngôi Khan (đại Hãn) thì sẽ thấy Hốt Tất Liệt chỉ là người tranh ngôi Khan Mông Cổ trên danh nghĩa, và thực tế chỉ làm vua ở Trung Quốc mà thôi.
Hốt Tất Liệt (Khubilai) là Khan thứ 5 kế thừa Khan Mông Kha (Monkh) cùng là cháu nội Thành Cát Tư Hãn. Đây là nhánh đáng lý kế thừa ngôi Khan (út) nhưng thế hệ Khan thứ hai lại do chính Thành Cát Tư Hãn chỉ định nối ngôi là người con thứ 3 Ô Khoát Đài (Ogiodei). Hai nhánh phả hệ này, thế hệ sau đã lôi kéo những con cháu thuộc các chi nhánh khác yếu hơn đã tạo thành cục diện phân tranh ba bè bẩy mối, rất khó thống nhất. Tại chính Mông Cổ, một hội nghị Kurultai (bầu Khan) đã đưa người em khác của Hốt Tất Liệt lên ngôi Khan Mông Cổ. Hốt Tất Liệt đã phải tổ chức một hội nghị khác của riêng mình, phạm vi hẹp, để xưng Khan. Năm đó lập ra nhà Nguyên. Tất nhiên Hốt Tất Liệt không được thừa nhận, đã phải chiến tranh chinh phục 5 năm, đến 1264 mới đánh bại được Khan ở Mông Cổ. . Tuy vậy, đế quốc Mông Cổ chính thức tan rã, các vị đứng đầu chi phái khác, mặc dù không xưng Khan nhưng không thần phục Hốt Tất Liệt, trở về cai quản và giữ đất đai của mình. Hốt Tất Liệt thực tế không cai trị được đế quốc Mông Cổ như các Khan khác, và chính miền đất ngày nay là Mông Cổ và Tân Cương (TQ) và những vùng Trung Á, châu Âu do quân Mông Cổ chiếm được đều không thuộc quyền cai trị của Hốt Tất Liệt.
Trong loạt bài viết về Mông Cổ, có chi tiết người Mông Cổ nói chỉ đến Đại Việt rồi rút về, khoan nói đúng sai, nhưng nói thêm, đối với người Mông Cổ, chỉ coi như có 1 lần xâm lược Đại Việt đó. Quân Mông Cổ thực sự đánh Đại Việt có một lần năm 1258. Hai lần sau cách xa gần 30 năm, là cuộc xâm lược của một triều đình Trung Quốc, với các chỉ huy Mông Cổ và Hán, đội quân đông đúc người Hán tham chiến.
Do đó, nói đúng ra là: Nhà Trần đã 1 lần đánh thắng quân Mông Cổ, và 2 lần đánh thắng quân Nguyên. Không thể nói gộp kiểu bà đi chợ, mua 2 cân rau, một cân thịt, thì gọi là “mua 3 cân rau thịt” được. Nói “ba lần đánh tan quân Nguyên Mông” thật là khiên cưỡng, không đúng với sử liệu.
Tham khảo Đại Việt sử ký tiền biên của Ngô Thì Sĩ, thì toàn bộ chiến cuộc 1258, ông không hề dùng từ nào là “quân Nguyên”, mà chỉ gọi là “quân Mông Cổ”, chỉ có đúng 1 từ thuật lời vua là còn chữ “Nguyên”. Trong khi đó, khi nói về cuộc chiến 1284 và 1287, Đại Việt sử ký tiền biên đều dùng chữ “quân Nguyên” mà không dùng chữ chỉ địch quân là “Mông Cổ”. Có thể nói, tác giả Ngô Thì Sĩ đã phân biệ rất rõ lần kháng chiến năm 1258 là quan quân Trần chống quân Mông Cổ, còn 2 cuộc kháng chiến 1284 và 1287 là kháng chiến chống quân Nguyên. Vấn đề là mấy chục năm qua, đã có sự đề cao Đại Việt sử ký toàn thư mà ít để ý đến bộ Đại Việt sử ký tiền biên, từ đó các tác giả soạn sách giáo khoa, viết báo gây nên một lầm lẫn kéo quá dài.
Không nói “ba lần đánh tan quân Nguyên” mà nói nhà Trần đã “một lần đánh thắng quân Mông Cổ và 2 lần đánh tan quân Nguyên” thì cũng không giảm đi tầm vóc và ý nghĩa chiến công của nhà Trần, mà còn nâng cao rõ rệt tầm vóc chiến công. Bởi vì 1 lần đánh thắng quân Mông Cổ, ý nghĩa lớn hơn nhiều nếu nói đánh thắng quân Nguyên.