XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lưu tộc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lưu tộc. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 22 tháng 1, 2017

CẤU TRÚC KHÔNG GIAN THỜ CÚNG CỦA NGƯỜI XƯA

Từ xa xưa, trong mỗi gia đình người Việt đều có bàn thờ tổ tiên. Ngoài bàn thờ gia tiên ở chính ngôi nhà chính, còn có nhiều bàn thờ khác như bàn thờ Thổ công (miền Nam gọi thờ ông Địa), bàn thờ Thánh sư, bàn thờ bà Cô ông Mãnh, bàn thờ Thần Tài, bàn thờ Tiền chủ… Gia đình  theo đạo Phật còn có bàn thờ Phật.

Những người có căn đồng có bàn thờ Chư vị, hoặc lập hẳn một ngôi điện tại một gian nhà riêng để thờ. Nhiều gia đình còn lập bàn thờ Quan Trần triều (Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn) để ma quỷ sợ uy thần không dám vãng lai phá quấy.
Mỗi bàn thờ có sự bài trí khác nhau, song đều có bình hương, bài vị và ống hương, đèn nến…

a. Bàn thờ tổ tiên
Bàn thờ tổ tiên là bàn thờ chính trong mỗi gia đình Việt Nam, người ta còn có sự phân biệt giữa nhà thờ họ và nhà thờ trong từng gia đình.

- Bàn thờ họ:

Tất cả con cháu cùng một dòng họ lập chung một bàn thờ vị Thủy tổ, gọi là Từ đường của dòng họ. Ngày xưa bài vị được ghi bằng chữ Hán. Nhiều dòng họ không có nhà thờ riêng thì xây một đài lộ thiên dựng bia đá, tên thụy, hiệu các tổ tiên. Mỗi khi có giỗ tổ, hoặc có tế tự của một chi họ, thì cả họ hoặc riêng chi họ đó ra đài lộ thiên cúng tế. Đài lộ thiên này là nơi để cúng tế, hoặc tổ chức các trò vui trong ngày giỗ tổ dòng họ hoặc một chi họ. Cúng tế xong sẽ về nhà tộc trưởng hoặc trưởng chi cùng ăn uống. Những dòng họ lớn, giàu có thường tổ chức trò vui vào đêm hôm Tiên thường.

Có nhiều họ có nhà thờ riêng với bàn thờ Thủy tổ để cho chi trưởng nam đời đời giữ hương hỏa, và chỉ khi nào ngành trưởng không có con trai nối dõi thì việc cúng bái mới chuyển sang chi dưới.

Có họ, ngoài bàn thờ Thủy tổ chung, con cháu luân phiên nhau thờ tổ ở nhà riêng của mình. Song chỉ là trường hợp của những người đi xa quê hương, không thuận tiện dự ngày giỗ tổ hàng năm và lễ tổ trong dịp tết được.

- Nhà thờ chi

Nhiều họ lớn chia thành nhiều chi. Mỗi chi lại đông con cháu nên ngoài việc tham gia ngày giỗ tổ toàn họ còn có ngày giỗ tổ riêng của chi họ. Các chi đều có nhà thờ riêng, gọi là bản chi từ đường.

Hiện nay, trên bàn thờ nhiều gia đình ở nông thôn vẫn còn đặt bức hoành phi mang dòng chữ nói rõ đó là từ đường của chi họ nào. Từ đường có nghĩa là nhà thờ. Trên bàn thờ này có bài vị của ông tổ, nên gọi là Thuần chủ bản chi. Thần chủ này cũng như Thần chủ của Thủy tổ họ sẽ được thờ mãi mãi.

Người trong chi họ có dành một số ruộng để lấy hoa lợi cúng giỗ, ruộng này gọi là Kỵ điền.

- Bàn thờ gia đình

Bàn thờ riêng của từng gia đình còn gọi là Gia từ, hay bàn thờ Gia tiên. Những gia đình giàu có mới xây nhà thờ riêng cho gia đình. Còn phần lớn, bàn thờ gia tiên được thiết lập ngay ở gian giữa nhà chính.

Những người con thứ không cần phải có bàn thờ gia tiên vì không phải cúng giỗ, nhưng vì lòng thành kính với tổ tiên, họ vẫn lập bàn thờ để cúng vọng.

b. Trang trí bàn thờ tổ
Nhà thờ ở nông thôn thường có ba gian hai chái hoặc một gian hai chái. Và bàn thờ tổ bao giờ cũng thiết lập ở gian hai chái. Và bàn thờ tổ bao giờ cũng thiết lập gian nhà chính, nếu không có nhà thờ riêng trong gia đình.

Bàn thờ tổ gồm hai lớp:

Lớp trong kê sát ngang tường hậu, gồm: chiếc rương hòm thật lớn cao khoảng 1m, dài khoảng trên 2m, rộng gần 2m. Mặt trước chiếc rương đóng nẹp chia làm 3 ô. Các ô này có khi là ba chữ đại tự, có khi là những bức tranh được dán trong dịp lễ tét. Trên những nẹp có những đồng tiền. Trong rương đựng bát đĩa, nồi, sanh đồng để dùng khi giỗ tết.

Những gia đình khá giả thay chiếc rương bằng một chiếc bàn thờ to, một chiếc sập sơn son thiếp vàng lộng lẫy được kê trên bộ mễ cao khoảng 1m. Phía trước có tấm màn đỏ che những mâm thau, đồ đồng cung bát đĩa, được xếp dưới gầm sập.

Kê giữa chiếc rương hoặc sập có ít nhất hai chiếc mâm nhỏ chân quỳ, mặt hình chữ nhật: một chiếc bề dài độ 8 tấc, bề rộng khoảng 6 tấc. Chiếc mâm thứ hai nhỏ hơn một chút kê đằng sau chiếc thứ nhất. Cả hai chiếc cao chừng 4 tấc trông giống như hai chiếc bàn nhỏ, thấp, dùng để bày đồ lễ. Trong những ngày giỗ tết, cỗ được bày trên bàn thứ nhất, còn hoa quả, trầu nước bày ở chiếc mâm thứ hai nhỏ hơn.

Bên trong cùng lớp trong là Thần chủ đựng trong long khám kê trên một chiếc bệ có độ cao bằng hai chiếc mâm. Có nhiều gia đình không thờ thần chủ, chỉ kê ở nơi đây một chiếc kỷ, hoặc chiếc ngai tượng trưng cho ngôi vị tổ tiên.

Đối với những gia đình giàu có, những đồ thờ này được sơn son thếp vàng. Riêng chiếc ngai hay tay ngai đều mang hình đầu rông. Rồng đứng đầu tứ linh được dùng trang hoàng cho đồ tự khí. Trên chiếc mâm nhỏ, kê bên trong ở trước thần chủ, hay chiếc ngai có một cái tam sơn, một thứ đồ thờ để đặt trầu, chén rượu, ly nước, đĩa hoa quả trong những khi cúng giỗ.

Lớp bàn thờ bên trong được ngăn với lớp bên ngoài bằng một bức y môn, tức là một chiếc màn thờ màu đỏ bằng the, nhiễu hay vải tùy theo gia cảnh. Chiếc y môn treo cao thõng xuống che kín toàn bộ bàn thờ lớp bên trong.

Lớp ngoài bắt đầu từ y môn trở ra, bao gồm: một hương án kê gần sát y môn. Trên giữa để cắm hương khi cúng bái. Đằng sau bình hương là một chiếc kỷ nhỏ, cao độ 3 phân, dài 50 phân, rộng 25 phân. Đặt ba chiếc đài có nắp và trên nắp có núm cầm lên trên chiếc kỷ nhỏ này. Khi mở nắp đài ra nắp kê xuống dưới, đài đặt lên trên. Đài làm bằng gỗ được tiện rỗng dưới để khi đặt lên trên nắp đài. Đài sẽ ăn khớp với nắp. Ba đài này dùng đựng chén rượu nhỏ lúc cúng giỗ, còn ngày thường đài được đậy nắp để tránh bụi bặm.

Hai bên thường để hai cây đèn xao khoảng 40 phân, chân tiện và lưng chừng có vành rộng ra gọi là đĩa đèn. Ngày xưa, trong những lần cúng giỗ, người ta đặt lên hai cây đèn này hai đĩa dầu lạc đốt bấc. Sau này, thay bằng hai ngọn đèn Hoa Kỳ. Ngày nay, người ta mắc trực tiếp bóng điện vào hai cây đèn.

Gần hai bên bình hương, ngoài hai cây đèn còn có hai con hạc đồng chầu hai bên. Trên đầu hai con hạc có chỗ để thắp nến. Ở mép ngoài hai cây đèn, gần hai đầu hương án là hai ống đựng hương. Hai ống hương bằng gỗ tiện miệng loe. Ngoài các thứ trên còn có lọ độc bình hoặc song bình bày trên hương án để cắm hoa. Còn nếu dùng độc bình thì đối diện với độc bình là một chiếc mâm bồng bày ngũ quả khi cúng giỗ.

Tất cả những thứ như bàn, kỷ và chiếc ngai, đồ thờ trên hương án như kỷ nhỏ, đặt đèn, ống hương… đều làm bằng gỗ mít để ít bị mối một, còn sang hơn thì sơn son thếp vàng. Các gia đình giàu có dung những đồ trên bằng đồng, gọi là bộ tam sự, ngũ sự hay thất sự. Trong bộ tam sự, chiếc đỉnh đồng thay thế cho bình hương. Hai bên đỉnh là hai con hạc đồng, mỏ ngậm bông hoa, trên đầu có chỗ cắm nến. Nếu là ngũ sự có thêm hai ống hương và thất sự thì có thêm đôi đèn.

Ngoài ra, các gia đình giàu có còn bày giá binh khí trước bàn thờ có cắm bát bảo lộc bộ (là 8 binh khí của quân sĩ thời xưa). Những đồ tự khí đối với từng gia đình là vật quý vô cùng thiêng liêng, dù túng thiếu đến đâu không một ai dám đem cầm bán.

Chiếc y môn
Y môn là bức màn vải đỏ, dùng làm bức màn ngăn cách lớp bàn thờ bên ngoài và lớp bàn thờ bên trong. Y môn gồm hai cảnh, xung quanh có thêu, được treo thõng xuống che kín lớp bàn trong. Y môn có thể làm bằng nhiễu, the hoặc vải màu đỏ. Trên cùng y môn có một dải lụa hoặc nhung the mầu băng ngang. Trên lớp băng ngang thường được thêu hoặc dán chữ đại tự.

Đèn treo
Người ta thường treo trước y môn một chiếc đèn, dân gian gọi là tự đăng. Vào dịp giỗ tết, chiếc đèn này được thắp suốt ngày đêm. Bởi người xưa cho rằng trong những ngày này, hương hồn những người đã khuất luôn ngự trị trên bàn thờ. Và ngọn đèn tượng trưng cho sự hiện diện của tổ tiên.

Đèn treo ngày xưa thường là một đĩa dầu lạc hay dầu vừng… được đặt trong một chiếc đèn lồng, sau là đèn ba dây thắp dầu lửa. Ngày nay, phần lớn người ta dùng đen điện hoặc nến.

Thần chủ
Trên bàn thờ tổ của một dòng họ bao giờ cúng có riêng một thần chủ, thần chủ này được thờ  phụng mãi mãi. Đối với những gia đình giàu sang, mướn lập bàn thờ tại gia, lập thần chủ để thờ thì phải có đủ thần chủ của cụ kỵ, ông cha, tức là cao, tằng, tổ khảo. Thần chủ làm bằng gỗ táu (gỗ của loại cây sống ngàn năm), dài khoảng hai phân rưỡi, ở giữa đề tên họ, chức tước, còn hai bên ghi ngày giờ sinh, tử của tổ tiên.

Thần chủ thường được để trong long khám, khi nào cúng giỗ thì mới mở ra. Thần chủ chỉ để thờ 4 đời trở xuống. Sang đời thứ 5, thần chủ của cao tổ được mai đi và nâng bậc tằng này gọi là Ngũ đại mai thần chủ, nghĩa là thần chủ sang đời thứ năn được chôn đi.

c. Gia Phả
Bất cứ nhà thờ nào trước đây đều cất giữ cuốn sổ ghi chép thế thứ trước sau của tổ tiên, và các thế hệ nối tiếp từ đời này qua đời khác. Cuốn sổ đó được gọi là cuốc gia phả. Sổ gia phả ngày xưa được dùng bằng giấy sắc, viết rất rõ ràng, nắn nót để tỏ lòng thành kính đối với tổ tiên, thường được đặt trong khám hoặc trong một lớp riêng để trên bàn thờ. Những dòng họ to, gia phả được chép hoặc in sao thành nhiều bản cho mỗi chi họ một bản để con cháu hiểu rõ về tổ tiên mình.

Trong gia phả, mỗi vị tổ tiên đều được ghi những dòng trích ngang, ngày tháng sinh tử, tên họ, chức tước, có khi còn ghi cả tính tình, sở thích của các vị lúc sinh thời. trong đó còn ghi rõ vị nào tên gì, sinh ra những ai, ngành trưởng, ngành thứ là những ai.

Trong gia phả ghi chép đầy đủ cả công trạng của tổ tiên, sinh ở đâu, táng ở đâu, được nơi nào thờ phụng làm phúc thần hay thành hoàng làng đối với những người đã từng là công thần, có công với dân với nước.

d. Hoành phi
Trong các nhà thờ họ đều treo một tấm biển gỗ nằm ngang phía trên mặt trước cửa bàn thờ. Chiều ngang tấm biển ăn suốt gian nhà, dài khoảng 3 thước, rộng khoảng 1 thước đến 1 thước hai. Trên tấm biển đó khắc những chữ lớn, thường chỉ khắc được từ 3 đến 4 chữ là cùng. Tấm biển đó được gọi là bức hoành phi.

Bức hoành phi thường được sơn son thếp vàng, sơn đen chữ đỏ hoặc vàng hay chữ khảm xà cừ. Có gia đình cầu kỳ làm bức hoành phi theo hình thức cuốn thư rất đẹp. Nhà nghèo có thể làm hoành phi bằng gỗ thường, hoặc tấm cót ép, đóng nẹp vuông vắn, dán lót tấm giấy đỏ, viết Đại tự thay cho bức hoành phi. Ý nghĩa của đại tự viết trên hoành phi mang nội dung ca tụng công đức của tổ tiên hoặc tỏ lòng kính trọng của con cháu đối với tổ tiên như:

Kính như tại: có nghĩa là con cháu kính trọng tổ tiên, như tổ tiên luôn luôn tại vị trên bàn thờ.

Phúc mãn đường: Có nghĩa là gia đình đầy đủ phúc đức

Bách thế bất thiên: bao giờ con cháu ăn ở cũng đúng mực, không thiên lệch.

Trên bức hoành phi còn có ghi niên hiệu năm làm vào mùa, tháng nào. Nếu là bức hoành phi do một người con cháu nào đó cúng thì có ghi tên tuổi người đó. Hoành phi có ghi tên người cúng phần lớn là hoành phi treo tại các nhà thờ tổ họ hay trưởng chi họ.

đ. Câu đối
Ở hai cột phái trước bàn thờ hoặc trên tường có treo mỗi bên một câu đối. Nhà khá giả thường viết câu đối sơn son thếp vàng hay sơn đen khảm xà cừ. Còn nhà nghèo thường chỉ viết câu đối trên giấy hồng. Nói chung, các bức hoành phi hay câu đối đều được viết bằng chữ Hán. Nhưng cũng có gia đình viết cả câu đối và hoành phi bằng chữ nôm. Cũng như bức hoành phi, nội dung câu đối với tổ tiên hoặc ca tụng công đức của tổ tiên hoặc ca tụng công đức của tổ tiên, ví như:

Tổ tông công đức thiên nhiên thịnh /Tử hiếu tôn hiền vạn đại xưng
Có nghĩa là:

Công đức tổ tông nghìn năm thịnh/Hiếu hiền con cháu vạn đời ngay
Hay câu đối treo ở một gia đình mà ông cha xưa có công với nước:

Tổ tiên phương danh lưu quốc sử /Từ tôn tính học kế gia phong
Đại ý là:

Tiên tổ danh thơm ghi sử nước /Cháu con cố gắng học nói cơ nhà
6. Bàn thờ người mới qua đời
Những người mới qua đời không được thờ chung với bàn thờ gia tiên, mà phải lập bàn thờ riêng ở gian bên. Bàn thờ người mới chết sơ sài hơn bàn thờ gia tiên, chỉ có bàn hương một bệ dài, lọ hoa và bài vị. Ngày nay, ngoài bài vị còn có bức chân dung hoặc bức tượng người quá cố. Bàn thờ riêng này có treo các bức trướng, câu đối của gia chủ hoặc của bạn bè thân hữu phúng viếng.

7. Thờ bà cô, ông mãnh
Theo quan niệm của người Việt Nam, bà cô, ông mãnh là những con cháu trong gia đình chết yểu, chưa dựng vợ, gả chồng, gặp giờ linh trở nên linh thiêng. Sự linh thiêng này gia chỉ biết được qua sự báo mộng của người đã khuất, được những người trong gia đình xác nhận qua một vài hiện tưởng kỳ lạ xẩy ra trong gia đình sau khi người này chết.

Thực tế, bà cô, ông mãnh chết ngoài ba năm cũng được thờ chung trên bàn thờ tổ tiên, nhưng vì tuổi nhỏ, không dám về hưởng lễ với các cụ trên một bàn thờ chung, cũng giống như trên trần thế, ngày giỗ tết, con trẻ không được ngồi chung, ngang hàng với người lớn. Vì vậy, bàn thờ bà cô, ông mãnh thường được đặt dưới gầm hương án của bàn thờ tổ tiên. Bàn thờ này rất đơn giản, chỉ có một chiếc bệ đặt trên bài vị. Thậm chí, nhiều gia đình không có cả bài vị. Trước bài vị là một bình hương nhỏ, có một vài ba chiếc đài để đặt ly rượu, đĩa trầu cau, tách nước khi cúng, một cây đèn nhỏ. Những gia đình có nhiều bà cô, ông mãnh được thờ chung một bàn thờ với một bát hương riêng.

Gặp lúc gia đình có trẻ nhỏ khó ở, người ta thường khấn xin bà cô, ông mãnh phù hộ cho đứa trẻ ốm đau được mau khỏi. Khi cúng bà cô, ông mãnh, gia trưởng chỉ lâm râm khấn, không lễ vì bà cô ông mãnh thuộc hàng cháu con.

8. Ý nghĩa đồ tự khí
Cái tam sơn: tượng trưng cho tam giác

Cái lư hương tròn: tượng trưng cho bàn thái cực

Hương được thắp lên: tượng trưng cho các vì tinh tú

Đội đèn: tượng trưng nhật nguyệt quang minh

Lo hoa: thường là lọ lục bình (bình hình lục giác) tượng trưng cho cái tâm không, tức lục căn thanh tịnh.


Theo:http://dothophugiahung.com/tin_tuc/chi_tiet/247/cau-truc-khong-gian-tho-cung-cua-nguoi-xua.html

Chủ Nhật, 14 tháng 8, 2016

Lưu Bang

Lưu Bang


Cao Tổ (tiếng Trung Quốc: 高祖; bính âm: Gāozǔ; 256 TCN hay 247 TCN – 1 tháng 6, 195 TCN), ở bên trong Trung Quốc thường được gọi là Cao Tổ, tên riêng Lưu Bang, là hoàng đế đầu tiên của Nhà Hán Trung Quốc, cai trị đất nước từ năm 202 TCN tới 195 TCN, và là một trong số ít người sáng lập triều đại xuất thân từ tầng lớp nông dân (một người khác là Chu Nguyên Chương, người sáng lập Nhà Minh). Trước khi trở thành hoàng đế, ông từng được gọi là Bái Công (沛公) theo địa danh nơi sinh. Ông cũng được Hạng Vũ phong làm Hán Vương sau khi Nhà Tần sụp đổ, và thường được gọi bằng cái tên đó cho tới khi lên làm hoàng đế.
Tuổi trẻ
Lưu Bang sinh ra trong một gia đình nông dân tại Bái (hiện nay là huyện Bái, Từ Châu ở tỉnh Giang Tô (Jiangsu - Trung Quốc). Khi còn trẻ, ông không thích nghề nông, và sống khá lêu lổng. Vì thế, ông không được cha yêu mến.
Khi gần 40 tuổi, Lưu Bang làm đình tr­ưởng trong huyện. Một lần khi phải dẫn một nhóm tù tới Lịch Sơn tỉnh Thiểm Tây (Shaanxi) hiện nay. Trong khi đi, nhiều kẻ bỏ trốn. Sợ rằng sẽ bị trừng phạt về việc đó, Lưu Bang thả nốt đám tù còn lại và cũng chạy trốn, trở thành lãnh đạo của một nhóm cướp. Trong một lần đi cướp, ông gặp Lữ Công. Lữ Công rất ngạc nhiên về tướng mạo Lưu Bang bèn gả con gái là Lữ Trĩ (呂雉) cho ông.
Khởi nghĩa chống Tần
Năm 209 TCN Trần Thắng lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa chống nhà Tần và lấy hiệu là "Trương Sở Vương". Bái vốn là đất đai thuộc nước Sở cũ. Khi ấy Lưu Bang đã thả đám tù trên đường đến Lịch Sơn và cũng bỏ trốn, Tiêu Hà cũng đang làm quan tại đất Bái. Khi nghe tin Trần Thắng nổi lên, các quan lại trong huyện quyết định gia nhập khởi nghĩa và theo lời khuyên của Tiêu Hà cùng Tào Tham (曹參) (cũng là một quan lại trong huyện), mọi người cử người em bạn rể của Lưu Bang là Phàn Khoái (樊噌) tới mời ông cùng nhóm của mình tham gia khởi nghĩa. Phàn Khoái mời được Lưu Bang nhưng trên đường về, vị huyện lệnh thay đổi ý định, đóng cổng thành chống lại họ, và vì sợ Tiêu Hà cùng Tào Tham sẽ mở cổng thành, viên huyện lệnh muốn giết họ. Hai người chạy trốn và theo Lưu Bang. Theo lời khuyên của Tiêu Hà, Lưu Bang bắn thư vào thành cho những bậc trưởng lão khuyên họ đầu hàng. Các vị trưởng lão giết viên huyện lệnh và mở cổng, Lưu Bang vào thành lấy danh hiệu Bái Công.
Nghe tin Hạng Lương khởi nghĩa đánh đến đất Tiết, thanh thế rất lớn, Lưu Bang đến xin theo, được Hạng Lương cấp thêm binh và từng có thời gian đi đánh phá các thành trì của nhà Tần cùng Hạng Vũ.
Sau khi Hạng Lương chết khi đánh trận, ông trở thành tướng của Sở Hoài Vương, người lãnh đạo trên danh nghĩa của các đội quân khởi nghĩa. Sở Hoài Vương phong Bái Công làm Vũ An Hầu. Cũng trong khoảng thời gian này, Bái Công gặp Trương Lương (張良), người trở thành quân sư của ông sau này.
Sở Hoài Vương giao cho Lỗ Công Hạng Vũ và Bái Công Lưu Bang chia hai đường đánh Tần, hứa rằng ai vào Quan Trung (đồng bằng miền trung Thiểm Tây, vùng đất then chốt của Tần) trước sẽ được làm vua nước Tần. Hạng Vũ có quân tướng mạnh hơn, nhưng mỗi khi chiếm thành, ông trừng phạt quân dân trong thành rất nặng nề. Các thành khác nghe vậy rất sợ hãi nên ra sức cố thủ, làm chậm bước tiến của Hạng Vũ. Trái lại, Lưu Bang chiếm được thành đều vỗ yên dân chúng, nhiều thành tự động ra hàng, nên ông tiến được vào Quan Trung trước.
Tháng 10 năm 206 TCN, vua cuối cùng nhà Tần, Tử Anh đầu hàng Lưu Bang, ông tiến vào kinh đô Hàm Dương nhà Tần. Tuy nhiên, khi ấy Hạng Vũ đến Hàm Dương, Lưu Bang phải trao lại Tử Anh cho Hạng Vũ. Hạng Vũ thậm chí còn định giết Lưu Bang trong một bữa tiệc, việc này nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc với tên gọi Hồng Môn hội yến (Ăn yến ở Hồng Môn), nhưng cuối cùng đã không quyết đoán thực hiện vì thái độ nhún nhường, tỏ ý khuất phục của ông trên bàn tiệc.
Hán Sở tranh hùng
Bài chi tiết: Hán Sở tranh hùng
Coi toàn bộ lãnh thổ Tần cũ đều thuộc quyền cai trị của mình, Hạng Vũ phân chia lại các vùng đất không chỉ của Tần mà của cả các nước chư hầu khác có tham gia vào cuộc khởi nghĩa thành 19 quận huyện. Hạng Vũ không thực hiện lời hứa của Sở Hoài Vương, và nhanh chóng ám sát ông. Thay vào đó Hạng Vũ chia Quan Trung thành Tam Tần. Lưu Bang chỉ được phong làm Hán Vương (Tứ Xuyên, Trùng Khánh, và phía nam Thiểm Tây hiện nay).
Tại Hán Trung, Lưu Bang tập trung nỗ lực vào việc phát triển nông nghiệp và huấn luyện binh sĩ, nhờ đó tăng cường sức mạnh quân sự. Lưu Bang tấn công Tam Tần, chiếm Quan Trung và bắt đầu cuộc chiến sau này sẽ được gọi là Hán Sở tranh hùng, chống lại Hạng Vũ.
Dù Hạng Vũ có khả năng quân sự vượt xa Lưu Bang, nhưng lại không có tài chính trị. Hạng Vũ liên tục đánh bại Lưu Bang trên chiến trường nhưng mỗi thắng lợi lại càng làm mọi người xa lánh ông để quay sang ủng hộ Lưu Bang. Khi cuối cùng Hạng Vũ bị đánh bại, ông không thể hồi phục và phải tự sát.
Cuộc chiến kéo dài năm năm (206–202 TCN) và chấm dứt với thắng lợi của Lưu Bang. Sau khi đánh bại Hạng Vũ, Lưu Bang lên ngôi hoàng đế và lập ra nhà Hán và đóng đô tại Trường An (tỉnh Tây An (Xi'an) hiện nay). Lưu Bang trở thánh Hoàng đế Cao Tổ nhà Hán.
Trên cương vị Hoàng đế
Sau khi lên ngôi hoàng đế, Lưu Bang tái tập trung quyền lực quốc gia theo kiểu hệ thống nhà Tần. Ông dần thay thế những tướng cũ, phong đất cho họ và gia đình. Bởi vì nền kinh tế đã bị tàn phá bởi chiến tranh sau sự sụp đổ nhà Tần, ông giảm thuế và giảm bắt dân đi phu, phát triển nông nghiệp, hạn chế chi tiêu. Tuy nhiên, vì đã chứng kiến điều mà ông cho là sự suy đồi của giới nhà buôn thời Tần, ông hạn chế thương mại bằng cách áp đặt thuế cao và luật hóa các quy định đối với nhà buôn. Ông cũng tìm kiếm hòa bình với Hung Nô. Ở thời Cao Tổ, tư tưởng Khổng giáo dần thay thế tư tưởng Pháp gia; các nhà nho Khổng giáo được trọng dụng trong triều, trong khi các luật pháp hà khắc của Pháp gia được nới lỏng. Các nỗ lực của Hán Cao Tổ đã thành lập nên một nền tảng vững chắc cho một triều đại kéo dài hơn bốn trăm năm, Hán Triều.
Lưu Bang cũng rất quan tâm tới việc hạn chế các vị vương. Ông nhanh chóng sáp nhập đa số các nước chư hầu và đưa các vị hoàng tử con mình và họ hàng lên làm vua các nước. Nhờ vậy, ông đã củng cố được đế chế Hán mới ra đời.
Lưu Bang đã nhiều lần dùng giải pháp quân sự chống lại Hung Nô nhưng đều thất bại nặng nề. Sau đó ông quyết định nhân nhượng Hung Nô bằng cách gả con gái các gia đình quý tộc cho Thiền vu, các thủ lĩnh của người Hung Nô. Chính sách này đã kéo dài liên tục trong 70 năm.
Truyền ngôi
Hán Huệ Đế, tức Thái tử Lưu Doanh, con trai cả của Lưu Bang với Lữ Hậu, là người thừa kế ngôi báu. Tuy nhiên, Lưu Bang không thích Lưu Doanh vì cho rằng ông quá yếu đuối. Con trai Thích phu nhân, người thiếp yêu của ông là Như Ý được ông định lập lên thay thái tử nhưng bất thành vì các quan trong triều vẫn trung thành với thái tử và Lữ Hậu. Ông bèn phong cho Như Ý làm Triệu vương.

Sự sủng ái của Lưu Bang dành cho Thích phu nhân và Như Ý khiến Lữ Hậu căm giận. Sau khi Huệ Đế lên nối ngôi, Lữ Hậu nắm hết quyền lực nằm trong tay mình, đầu độc giết Như Ý và tra tấn đến chết Thích phu nhân. Ngoài ra, 2 người con khác của Lưu Bang, cũng lần lượt được phong làm Triệu vương đều bị Lữ Hậu giết.
Đánh giá
Theo đánh giá của các nhà sử học, Lưu Bang hoàn toàn trái ngược với đối thủ, Hạng Vũ. Trong khi Hạng Vũ thường được thể hiện là một người lãng mạn và quý phái, Lưu Bang thường bị coi là thô lỗ. Hạng Vũ luôn tỏ ra nhân đức đối với các tướng và lính tráng. Tuy nhiên, ông lại là một nhà chính trị kém cỏi. Hàn Tín (韓信) miêu tả Hạng Vũ là "có lòng nhân của đàn bà," có nghĩa rằng, theo ý ông, sự "nhân đức" của Hạng Vũ chỉ là nhỏ mọn và không mang lại lợi ích cho chế độ cũng như nhân dân của ông.
Hạng Vũ cũng không biết cách sử dụng tài năng của các tướng; ví dụ, Hàn Tín từng là tướng dưới quyền Hạng Vũ, và sau này đã bỏ trốn theo Lưu Bang, trở thành đại tướng của họ Lưu, gây ra những tổn thất cực to lớn cho Hạng Vũ. Những vấn đề khác là cách đối xử tàn bạo của Hạng Vũ trong những chiến dịch quân sự, không chấp nhận phê bình và những lời khuyên khôn ngoan, cũng như không thể giao phó công việc cho người khác.
Trái lại, Lưu Bang là người dũng cảm và kiêu ngạo. Truyền thuyết cho rằng ông biết cách thao túng tướng lĩnh. Ông phong tước và cấp đất hậu hĩnh cho họ mỗi lần giành chiến thắng, vì thế ông được các tướng lĩnh quý mến. Tuy nhiên, khi đã trở thành hoàng đế, để đảm bảo tối đa quyền lực chính trị của mình, Lưu Bang đã đàn áp họ một cách tàn nhẫn, và hành quyết rất nhiều người để tránh mưu phản, đáng chú ý nhất là việc sát hại cận thần khai quốc Hàn Tín và Bành Việt. Kình Bố buộc phải làm phản vì sợ cũng sẽ bị giết. Những điểm mạnh của Lưu Bang là khả năng đưa ra quyết định dựa trên những lời khuyên khôn ngoan của những người khác, sự sáng suốt thiên bẩm giúp ông biết rõ lời khuyên nào là tốt và lời khuyên nào không nên nghe theo; khả năng ủy thác công việc; và khả năng biết cách làm những người khác theo mình.
Trong khi Lưu Bang có thể đã có chủ ý làm giảm uy tín Hạng Vương, ông đã chính xác khi nói về nguyên nhân chiến thắng trước Hạng Vũ:
Phàm việc tính toán trong màn trướng mà quyết định được sự thắng ở ngoài ngàn dặm thì ta không bằng Tử Phòng; trị nước nhà, vỗ yên trăm họ, vận tải lương thực không bao giờ đứt thì ta không bằng Tiêu Hà; Nắm trong tay trăm vạn quân đã đánh là thắng, tiến công là nhát định lấy thì ta không bằng Hàn Tín. Ba người này đều là những kẻ hào kiệt, ta biết dùng họ cho nên lấy đựơc thiên hạ. Hạng Vũ có một Phạm Tăng mà không biết dùng cho nên mới bị ta bắt.
Một vụ việc liên quan tới Kình Bố cho thấy ông giỏi lấy lòng cấp dưới. Ban đầu Kình Bố là tướng của Hạng Vũ, và để thưởng cho những chiến thắng quân sự của Kình Bố, Hạng Vũ phong ông làm Cửu Giang Vương. Tuy nhiên, Hạng Vũ rõ ràng đã không tin cậy vào Kình Bố và một lần khi Kình Bố đang ốm, không thể đem quân theo, Hạng Vũ đã phái người tới quở trách ông và xem ông có ốm thật không. Lo sợ điều đó nên khi Tùy Hà (隨何) được Lưu Bang phái tới thuyết phục Kình Bố thành lập liên minh, ông đã theo Lưu Bang chống lại Hạng Vũ. Khi Kình Bố tới, Lưu Bang đang cởi trần và sai con gái rửa chân, và ông đón tiếp Kình Bố với những lời lẽ ngạo mạn. Kình Bố thất vọng muốn tự sát. Tuy nhiên, một lần hộ tống Lưu Bang, Kình Bố thấy nhà cửa, đồ đạc, người hầu ở cung điện của Lưu Bang không khác gì nhà mình. Vì thế Kình Bố biết rằng những sự coi nhẹ ban đầu của Lưu Bang chính là lòng ưu đãi coi ông tương tự như những vị tướng khác, và ông đã trở thành một vị tướng quan trọng trong những chiến dịch quân sự của Lưu Bang chống lại Hạng Vũ.
Hạng Vũ nói chung được coi là một anh hùng thất thế, trong khi nhiều người coi Lưu Bang là thô lỗ. Tuy nhiên, Lưu Bang đối xử khoan dung với người dân hơn tầng lớp quý tộc trước đó. Ông đúng là một vị vua được lòng dân, và vì thế đã tạo lập được một trong những thời đại hoàng kim trong lịch sử Trung Quốc.

Thứ Ba, 9 tháng 8, 2016

THẦN NÚI ĐỒNG CỔ - LINH KHÍ ĐẤT VIỆT

(LUUTOC.VN): Danh tiếng “Hồn thiêng sông núi” của núi và Đền Đồng Cổ đã hút hồn rất nhiều tài tử giai nhân. Thần núi Đồng Cổ ở đây có lẽ là thần duy nhất được phong là “Thiên hạ Minh chủ” của Việt Nam. BTT LUUTOC.VN xin giới thiệu tóm tắt nét đặc thù có một không hai này của Xứ Thanh, do TS. Lưu Văn Thành sưu tầm và biên tập.

Phong cảnh sơn thủy hữu tình của đền Đồng Cổ
Bốn lần khảo sát đền Đồng Cổ, lần nào cũng ấn tượng, cũng thật sự ngỡ ngàng với nhiều điều kỳ thú. Ngày 20/5/2014, cùng một thầy tu và một nhà văn hóa tâm linh tiếng tăm đến thăm viếng đền, đoàn khảo sát được Lãnh đạo xã Yên Thọ hướng dẫn dâng hương và trực tiếp đọc hiểu bài vị của thần Đồng Cổ là “Thiên hạ minh chủ” và được cảm nhận vô vàn anh linh anh hùng liệt sĩ từ xa xưa vẫn vảng vất trên bến Trường Châu, trên dòng sông Mã. Dưới đây là giới thiệu tóm tắt về vùng địa linh hiếm có: núi và đền Đồng Cổ.
1.   Khởi dựng:
Đền Đồng Cổ được xây dựng từ thời Hùng Vương [1; 2; 3], do thần núi Đồng Cổ (Trống Đồng) phù trợ Vua Hùng đi dẹp giặc phương Nam (Hồ Tôn - Chiêm Thành và Lâm Ấp) nên khi thắng trận quay về vua phong là “Đồng Cổ Đại vương” và cho lập miếu để thờ.Đền nằm trong thung lũng núi Tam Thai, một vùng địa linh thuộc thôn Đan Nê (xã Yên Thọ, Yên Định, Thanh Hóa), trên bến Trường Châu cổ xưa, ngay bờ sông Mã [4].
Ấp Khả Lao (Kẻ Lao) cổ xưa, làng Đan Nê (ngày nay) được ba dòng họ chính lập nên, là họ Trịnh, họ Lưu và họ Hà (thông qua hai vế đối: “Vật Lưu Bách Việt Tổ; Kiến ấp Trịnh Lưu Hà”) [5; 6, tr.193]. Quanh đền Đồng Cổ, dưới chân núi Tam Thai có ba ngôi mộ tổ cổ kính của ba dòng họ Trịnh, Lưu, Hà vẫn trường tồn đến ngày nay.
 2. Phong cảnh mỹ miều, dày lớp văn hóa cổ, địa linh nhân kiệt:
Phong cảnh tuyệt đẹp, sơn thủy hữu tình, thế đất phong thủy đắc địa. Dãy núi Đồng Cổ ba làn cao thấp hình dáng ba vì sao nên các tài tử giai nhân gọi là núi Tam Thai (còn có tên là núi Khả Lao), có dòng sông Mã uốn khúc quanh co, khí thiêng chung đúc qua các triều đại [4; 7]. Bến Trường Châu xưa nằm ngay dưới chân núi là một bến cảng sông Mã nổi tiếng sầm uất, các loại thuyền rồng, thuyền chiến, thương lái nườm nượp đi kinh lí, chinh chiến, giao thương... “Bốn phương người qua lại; Khách trăm nhà buôn bán; Bao xe ngựa chen vai; Núi châu quanh sau trước; Đò qua lại đêm ngày”... Cảnh đẹp đã được rất nhiều vua chúa và danh nhân họa thơ, khắc câu đối, bài minh, bia kí [6, tr.692-695].
Cảnh hùng vĩ từ núi Tam Thai nhìn về sông Mã uốn khúc quanh co
Di tích núi và đền Đồng Cổ, theo kết quả khảo cổ học năm 2007, đã phát hiện là nơi cư trú lý tưởng cho con người thời tiền - sơ sử với lớp văn hóa tiền Đông Sơn - Đông Sơn, như ở các trung tâm lớn lưu vực sông Hồng, sông Mã và sông Cả, tương ứng với văn hóa thời Hùng Vương. Trong đền luôn có một trống đồng cổ là vật linh thiêng được thờ cúng. Trống đồng đã trở thành linh vật quan trọng nhất của Văn hóa Đông Sơn, là bảo vật của Việt Nam. Cổ hơn có di chỉ Đan Nê Thượng (cách núi và đền Đồng Cổ khoảng 100m, có niên đại tương đương giai đoạn văn hóa Đồng Đậu (đã 3.500 năm). Nét cổ xưa còn được thể hiện qua tín ngưỡng phồn thực của Văn hóa Việt cổ với hòn đá âm dương đặt thờ trong Thượng điện. Đó là hòn đá trắng, cao hơn một mét, dựng đứng, đầu nhọn chỉ lên trời, được đặt trên tảng đá lõm xuống như lòng chảo [8, tr.36-64]. 
Nhiều đời vua chúa từ thời Vua Hùng, Trưng Vương, Lê Đại Hành [9, tr. 141], nhà Lý (Lý Phật Mã; Lý Thường Kiệt), nhà Trần, nhà Hậu Lê (Lê sơ và Lê Trung Hưng), chúa Trịnh, Tây Sơn... đã dừng thuyền bè ở bến Trường Châu, rồi lên bờ di chuyển tiếp vào Nam để trinh phạt bảo vệ và khai khẩn đất nước. Các triều đại đều được Thần núi Đồng Cổ âm phù chiến thắng. Do vậy, đền được ban rất nhiều sắc phong (chỉ tính thời Hậu Lê, Tây Sơn và Chúa Trịnh thì tổng có 43 lần được phong sắc và lịnh chỉ) và được phong khoảng 100 mỹ tự (như Bảo hựu, Dực chính, Dũng Liệt, Cảm thông, Đoan túc...) [4, tr.7-13].
Đền Đồng Cổ tại thôn Đan Nê, xã Yên Thọ, Yên Định, Thanh Hóa (tôn tạo 2008)
Thuyết minh về đền Đồng Cổ “được khởi dựng từ thời Hùng Vương (2569 TCN)”
Dân làng Đan Nê có thờ hai Tiến sĩ khoa bảng như là thờ Thành hoàng làng. Đó là Tam nguyên Nguyễn Văn Giai (đỗ 1580, từng giữ chức Tể tướng, Thượng Thư Bộ Lại, được phong là Thái Bảo, Quận công, Khai quốc công thần thời Lê Trung Hưng) và Tiến sĩ Trịnh Minh Lương (đỗ 1680, từng giữ chức Giám sát ngự sử đạo Lạng Sơn). Ngoài ra có rất nhiều văn quan võ tướng trong các triều đại từ xưa đến nay [5, tr.18-20].
3. Dấu ấn và linh ứng:
Đền Đồng Cổ thờ thần Đồng cổ (Trống đồng) trong núi Tam Thai. Thần Đồng Cổ, ngoài là “Đồng Cổ Đại vương”, còn được Lý Thái Tông (Lý Phật Mã) chiếu phong là “Thiên hạ Minh chủ” năm 1028. Thần Đồng Cổ còn được thờ tại đền Đồng Cổ ở phường Bưởi, ngoại vi thành Thăng Long (gọi là đền “Thề Trung Hiếu” với lời thề “Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, thần minh tru diệt”).
Đền Đồng Cổ tại 353 phố Thụy Khê, phường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội
Ở Hà Nội còn có miếu Đồng Cổ ngự tại đất Nguyên Xá, xã Minh Khai, huyện Từ Liêm [5, tr.2]. Miếu do các nghĩa sĩ Thanh Hóa đến Mê Linh để tụ nghĩa dưới cờ của Hai Bà Trưng, mến cảnh đẹp và con người nơi đây, nên đã ở lại sinh cơ lập nghiệp và rước linh vị thần Đồng Cổ ra, lập miếu Đồng Cổ. Trong miếu còn giữ được nhiều câu đối cổ và bức hoành phi khắc bài thơ vua Lý Thái Tông đề tặng năm 1028, khi đến yết tạ thần Đồng Cổ vì được thần linh ứng báo mộng trước nên đã dẹp được loạn Tam Vương [4, tr.6]. Bức Đại tự treo trên cửa vào gian giữa của chính điện ghi: “LINH TỪ QUỐC LỄ” phải chăng là một yếu tố thể hiện lễ tế tại đền Đồng Cổ mang tính chất quốc gia và nghi thức nhà nước.

Bài thơ của vua Lý Thái Tông đề tặng năm 1028

Bức đại tự “LINH TỪ QUỐC LỄ” ở cửa vào Chính điện, miếu Đồng Cổ tại Nguyên Xá
Khu di tích núi và đền Đông Cổ gồm: Núi Tam Thai, đền Đồng Cổ, quán (động) Triều Thiên (trên gần đỉnh núi), chùa Thanh Nguyên (lưng trừng núi), chùa Hội Đồng (dưới chân núi), bến Trường Châu (cạnh đền, trên bờ sông Mã)... đã được nhiều đời vua chúa Nhà nước xếp hạng di tích Quốc gia năm 2001, được quy hoạch và tôn tạo (giai đoạn I) năm 2008. Đây là công trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long. Việc tôn tạo giai đoạn II là rất cần thiết, nhất là các chùa nói trên. Trên núi Tam Thai còn có 2 bia đá của dân Đan Nê (tổng Đan Nê, Yên Định, Thanh Hóa) khắc trên vách núi để tỏ lòng dân tôn sùng thần Đồng Cổ [3, tr.44].

Bia đá giới thiệu tóm tắt về miếu Đồng Cổ tại Nguyên Xá, Từ Liêm, Hà Nội
Các Vương triều Lý, Trần, Lê, chúa Trịnh - Nguyễn vẫn duy trì các nghi thức quốc lễ tại hai đền Đồng Cổ cả ở Đan Nê (Thanh Hóa) và ở phường Bưởi (Hà Nội). Nhiều năm vua lệnh cho tổ chức nghi lễ triều đình cầu đảo được mưa, cầu trừ tai cản họa cho dân, phù trì cho việc dẹp loạn phương Nam và khôi phục quốc gia, cầu và tạ được thăng chức... Tất cả đều linh ứng. Dân khấn lễ cũng rất ứng nghiệm. Vua Lê và Chúa Trịnh đã nhiều lần ban lệnh tôn tạo, mở rộng đền và đem tế khí về tế lễ (nhiều lần chở bằng 2 chiến thuyền, gồm trống đồng, hương án, mâm son, tàn vàng, lọng, kiệu và các đồ thờ cúng khác...), như 1679 giao cho Ngô Hữu Dụng (Trấn thủ Thanh Hóa), Thiếu bảo Dĩnh quận và Lê Trịnh Khả (Giám sát Ngự sử) đôn đốc cấp tiền và tu sửa đền [4, tr.8-13].

Quy hoạch Khu Di tích núi và đền Đồng Cổ
Từ xưa đến nay, trong đền luôn có Bài vị thờ thần Đồng Cổ. Nội dung của Bài vị là: “Đồng Cổ đại vương thiên hạ minh chủ cảm thông linh ứng anh thanh vĩ liệt tôn thần”. Thật là hiếm thấy!

Bài vị chữ Hán thờ thần Đồng Cổ trong đền (tại Đan Nê)
 4. Nghiên cứu địa nhân văn lịch sử và cầu nguyện “Trời yên biền lặng”:  
Với sự linh thiêng của thần Đồng Cổ trải dài lịch sử 4000 năm, lớp dày văn hóa Đông Sơn - Trống Đồng và sự đậm đặc dấu ấn lịch sử của vùng đất Đan Nê cổ thì việc nghiên cứu đồng bộ về địa nhân văn lịch sử vùng Đan Nê là rất cần thiết. Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở để khôi phục lại Quốc Lễ về đạo lý “Trung Hiếu” của người Việt, có thể tổ chức hàng năm tại đền Đồng Cổ.
Những năm gần đây thời tiết khắc nghiệt, thất thường, có nhiều bão ngoài khơi, lũ lụt các sông, gió lốc, áp nhiệt đới... Riêng Biển Đông đang động, bị xâm phạm... Mặt khác, qua dòng sông Mã, trong các cuộc trường trinh từ xưa đến nay, có rất nhiều anh linh của các liệt sĩ, đồng bào đã hy sinh, tử nạn trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và trong cuộc sống sinh tồn theo thời gian. Tuy nhiên, từ thời nhà Nguyễn chưa có một tế lễ cầu siêu được tổ chức tại núi, đền, chùa Đồng Cổ...
 Với linh khí của thần Đồng Cổ (Trống Đồng), tiếp theo truyền thống tri ân tổ tiên, tri ân các anh hùng liệt sĩ và để chúng sinh siêu thoát... việc tổ chức một lễ tâm linh cầu nguyện để các đứng Tiên vương, Đế Chúa của các triều đại nước Việt, các thánh thần linh thiêng của đất nước phù hộ cho gió thuận mưa hòa, cho trời yên biển lặng, quốc thái dân an, giữ vững hòa bình, mang lại phồn vinh, thịnh vượng cho nước nhà và phú quý cho nhân dân... là một việc nên làm tại chính núi, đền Đồng Cổ, bến Trường Châu. Lễ cầu nguyện bao gồm cả cầu siêu, thắp đèn hoa đăng từ Quán Triều Thiên xuống chân núi, quanh hồ bán nguyệt, qua trước đền, ra bến Trường Châu và thả trên dòng sông Mã.
Ghi chú:
1. Bảng giới thiệu về di tích của Ban QLDT đền Đồng Cổ (theo sách “Hùng Vương diễn nghĩa” của Trúc Lê Ngô Văn Triện) -đền được xây thời Hùng Quốc Vương (2569 TCN).
2. Việt điện U Linh, Tg: Lý Tế Xuyên, 1329 (do Lê Hữu Mục dịch 1949), Nxb VH 1960 – đền được xây từ thời Hùng Vương.
3. Tư liệu về Thần núi Đồng Cổ, Tg: Trịnh Trọng Khâm sưu tầm và biên soạn 2001 (theo sách “Lĩnh nam trích quái” -đền được khởi dựng từ năm 258 TCN.
4. “Linh tích núi Tam Thai”, Tg: Lam Kiều Nguyễn Dật Sáng viết năm 1763 (dịch từ bản chữ Hán A226 và A838, lưu tại Trung tâm Thông tin, Viện NC Hán Nôm).
5. Sơ thảo Địa chí làng Đan Nê, xã Yên Thọ, Yên Định, Thanh Hóa, tháng 9-1997.
6. Địa chí huyện Yên Định, 2010, Nxb KHXH, tr 692-695 (Bài minh của Tiến sĩ, Thượng thư, Thiếu úy, Lễ Quận Công Nguyễn Văn Giai soạn; được khắc dựng trên bia miếu thần Đồng Cổ (Bính Thân -1656) và Bia Miếu Đồng Cổ của Trấn đốc Thanh Hóa Hoàng đệ Tuyên Công (Bảo Hưng -1802)).
7. Đền Đồng Cổ -Tâm linh và khát vọng giữ yên nước nhà; http://yendinh.thanhhoa.gov.vn/ (Thứ Ba, 16-7-2013).
8. Di tích núi và đền Đồng Cổ của Ban NC và Biên soạn Lịch sử, Sở VHTTDL Thanh Hóa, Nxb Thanh Hóa, 2009 (Tài liệu do Ông Hà Văn Tăng cung cấp).
9. Đại Việt sử ký toàn thư (trọn bộ) Nxb Thời đại, 2011.
TS. LƯU VĂN THÀNH
http://www.luutoc.vn/vi/?go=detail%2F18%2F6%2F2014%2FLBHDFT%2FNews%2Fthan-nui-dong-co-_-linh-khi-dat-viet.dhtml

Di tích lịch sử - văn hóa Đền Đồng Cổ - Đan Nê-Yên Định-Thanh Hóa


Đền Đồng Cổ là một trong những di tích lịch sử - văn hóa của huyện Yên Định được xếp hạng cấp Quốc gia (2001), cách thành phố Thanh Hóa 40 km về phía Tây Bắc. Cùng với các di tích: Lam Kinh, thành nhà Hồ, Đông Sơn, Núi Đọ, Núi Nưa…, đền Đồng Cổ là điểm du lịch tâm linh và về nguồn, tạo thành quần thể di tích lịch sử - văn hóa nổi tiếng của xứ Thanh có bề dày truyền thống từ lâu đời. Du khách từ thành phố Thanh Hóa, ngược Rừng Thông, qua cầu Vạn Hà (sông Chu), đến thị trấn Quán Lào, đi chừng 12 cây số lên xã Yên Thọ là đến với đền Đồng Cổ ở thôn Đan Nê, xã Yên Thọ, nơi vừa có phong cảnh hữu tình, vừa có những huyền thoại gắn với nhiều giai đoạn trong lịch sử đất nước.
Góc chính diện đền Đồng Cổ ở Đan Nê, xã Yên Thọ - huyện Yên Định, Thanh Hóa
Tương truyền ngày xưa, một vị vua khi đi đánh giặc qua đây có nghỉ lại một đêm trên bến Trường Châu bờ phải sông Mã (nay thuộc xã Yên Thọ). Trong giấc chiêm bao, vua được một vị thần xưng là thần núi Ðồng Cổ báo mộng rằng dưới chân núi có trống đồng cổ, đào lên dùng tiếng trống làm linh khí đuổi giặc. Khi vua tỉnh giấc còn nghe tiếng chuông đồng vọng từ ngôi đền dưới chân ba ngọn núi. Nhà vua làm theo những điều mà sơn thần nơi đây báo mộng. Quân giặc nghe tiếng trống đồng âm vang đã sợ khiếp vía và rút chạy. Từ đó, nơi ba ngọn núi đá chụm đầu vào nhau, tạo thế vững chãi từ sức mạnh đoàn kết như kiềng ba chân, đã trở nên linh thiêng. Theo bảng thuyết minh treo ở Thượng Điện: “Miếu Đồng Cổ được khởi dựng từ thời Hùng Vương (2569 – trước Công nguyên), đến thời Lý (1020) miếu được sửa sang lại, sang thời Lê – Trịnh (1630), miếu được xây dựng khang trang, to đẹp hơn…Miếu thờ thần núi Đồng Cổ, vị thần đã giúp các triều đại đánh thắng giặc ngoại xâm và diệt trừ phản loạn: Giúp vua Hùng đánh thắng giặc Hồ Tôn; giúp vua Lý đánh thắng giặc Chiêm và diệt trừ phản loạn; giúp vua Lê-chúa Trịnh đánh tan nghịch Mạc; các đời Đinh, Lý, Trần, Lê thờ cúng đều ứng nghiệm, giúp việc giữ gìn đất nước…”
Sách “Việt điện U Linh” (NXB Văn hóa năm 1960) của Lý Tế Xuyên (thế kỷ XIV) chép một đoạn về Lý Thái Tông, đại ý: Phụng mệnh vua cha là Lý Thái Tổ, Thái tử Lý Phật Mã (sau này là vua Lý Thái Tông) đem binh đi đánh Chiêm Thành (1020), đến Trường Châu (núi Khả Lao ở làng Đan Nê) đóng quân tạm nghỉ. Canh ba đêm ấy, thấy một người thân cao 8 thước, mắt sáng, râu rậm, mặc chiến bào, tay cầm kim khí, đến trước cúi đầu tâu rằng:
- Tôi là thần núi Đồng Cổ, nghe tin Thái tử đi đánh phương Nam, tôi xin theo giúp để phá giặc lập công.
Thái tử vỗ tay khen ngợi rồi tỉnh giấc. Quả nhiên, theo lời Đồng Cổ Sơn Thần, vua cho quân tiến đánh giặc Chiêm Thành, giành thắng lợi. Khi khải hoàn về qua Trường Châu, Thái tử bèn sai quân sĩ sửa sang miếu thần thành đền thần, rồi tạ lễ và rồi rước bài vị về kinh đô để dựng đền giúp cho quốc thái dân an.

Trống đồng tại Thượng Điện đền Đồng Cổ xã Yên Thọ

Năm 1028, vua Lý Thái Tổ băng hà, Thái tử Lý Phật Mã chưa kịp lên ngôi thì xảy ra loạn Tam vương. Các hoàng tử Vũ Đức, Đông Chính và Dực Thánh khởi loạn giành ngôi báu. Thái tử được Lê Phụng Hiểu giúp sức dẹp yên. Lý Phật Mã lên ngôi vua (Lý Thái Tông) nhận rằng trước thời điểm xảy ra nội loạn trong vương triều, thần núi Đồng Cổ đã báo mộng cho Thái tử biết nên đã kịp thời mà phòng bị.
Từ vụ dẹp xong tạo phản, vua càng tin vào sự linh thiêng của thần Đồng Cổ, xuống chiếu giao cho quan hữu ty dựng đền thờ tại Thăng Long vào năm mới lên ngôi sau chùa Thánh Thọ (1028), lấy ngày 25-3 dựng đàn thề. Sau đó vì tháng 3 có ngày Quốc kị nên chuyển sang ngày mồng 4-4 hàng năm. Nhà vua ban chiếu lập đàn treo cờ tại đền Đồng Cổ, bắt các hoàng thân quốc thích và tất cả triều thần tới đền, đứng trước thần vị, đọc lời thề rằng: “Làm con phải hiếu, làm tôi phải trung; ai bất trung bất hiếu, thì xin thần minh làm tội". Trải qua các triều đại đền thờ thần Đồng Cổ Đan Nê vẫn được coi là đền chính.
Đền Đồng Cổ là nơi diễn ra các nghi lễ của các triều đại vua chúa nước ta. Trong đền còn rất nhiều thần tích, sắc phong của các triều đại. Các vương triều Trần, Lê, Trịnh - Nguyễn vẫn duy trì các nghi thức quốc lễ tại đền Đồng Cổ ở Yên Định (Thanh Hóa) và phường Bưởi (Hà Nội). Thời Trần, hội thề Đồng Cổ là một hội lớn, dân bốn phương về xem hội rất đông. Đền Đồng Cổ tại Hà Nội giờ đây nằm trên khu đất cao, trông ra sông Tô Lịch, gồm Tam quan, các tòa Tiền tế, Trung tế và Hậu cung. Bên trong vẫn còn lưu giữ 12 đạo sắc của các niên hiệu: Cảnh Hưng, Chiêu Thống, Quang Trung, Cảnh Thịnh, Thiệu Trị, Tự Đức (từ 1740 - 1883). Vì đền thờ linh thiêng nên vào nửa đầu thế kỷ thứ I sau Công nguyên, các nghĩa sĩ Thanh Hóa đã rước linh vị thần Đồng Cổ lập miếu thờ ở Nguyên Xá, huyện Mê Linh, nơi tụ nghĩa của Hai Bà Trưng.
Du khách tham quan đền Đồng Cổ 
Tại đền thờ gốc ở Đan Nê có ba ngọn núi đá vững chãi (gọi là Tam Thái Sơn) bao bọc một khu đất rộng có hồ nước ở giữa, tạo phong cảnh sơn thủy hữu tình. Trước cửa đền, bên kia hồ bán nguyệt, có hai tấm bia trên vách đá núi Xuân. Một tấm bằng chữ Hán khắc lại bài văn bia do Nguyễn Quang Bàn, con vua Quang Trung, viết năm 1802, ca ngợi phong cảnh sơn thủy hữu tình nơi đây, và kể lại chuyện một chiếc trống đồng cổ được tìm thấy và cúng tiến vào đền. Tấm kia bằng tiếng Pháp, khắc năm 1889, nội dung chép lại bài văn dân làng Ðan Nê tỏ lòng sùng kính với ngôi đền. Còn tấm bia chữ Hán chép rằng, năm Canh Tuất (1790) Tuyên công Nguyễn Quang Bàn vâng mệnh vua cha vào làm quan đặc sai đốc trấn Thanh Hóa. Một đêm, ông nghỉ tại làng Ðan Nê, có vào cầu khấn trong miếu thờ Ðồng Cổ Sơn Thần. Sau đó ứng nghiệm bằng việc ông bỗng thấy bên bờ Nam sông Mã xuất lộ một chiếc trống đồng cổ rộng 9 thước, cao 4 thước. Có luận giải rằng đây là chiếc trống đồng năm xưa đã giúp vua Hùng đã làm linh khí đánh giặc loạn xâm vùng này. Năm Nhâm Tuất (1802) lại có dịp đi qua miếu, Nguyễn Quang Bàn sai đem chiếc trống đồng tìm được dạo trước hiến cho đền, đồng thời viết bia (lúc đó là bia gỗ) ghi lại để đời sau được rõ.
Theo những người cao tuổi trong làng Ðan Nê, đền Ðồng Cổ từng có 38 gian, bề thế tựa lưng vào Tam Thái Sơn (dân làng gọi một cách dân dã là dãy núi Ðổng). Ngày xưa ba ngọn núi đá bao quanh đền là rừng cây nguyên sinh rậm rạp, nhiều cây to, có nhiều chim, thú. Nhưng, qua biết bao biến đổi, nay chỉ còn những ngọn núi đá với cây mọc tái sinh tầng thấp.
Đền có Nghinh môn gồm 3 tầng, 8 mái, mang phong cách kiến trúc thế kỷ 15 (thời Lê), cao 9 m, rộng 3 m, được ghép bằng những khối đá vuông vức (không dùng vữa), cuốn thành vòm tò vò. Theo những bậc đá lên đến ngôi miếu cổ trên núi Xuân, du khách có thể thu vào tầm mắt phong cảnh thật tuyệt vời của dòng sông Mã. Giữa đôi bờ bạt ngàn những ruộng ngô xanh mướt đang phất cờ, dòng sông mùa khô mang mầu ngọc bích hiền hòa trôi. Xa xa, phía bên kia sông là dáng hình thành Nhà Hồ (thuộc huyện Vĩnh Lộc), ẩn hiện trong sương mù mùa đông mờ ảo. Dưới chân núi, ngôi đền Ðồng Cổ (được xây lại vào năm 1996, chỉ gồm một gian hai chái), lọt trong xanh tươi cây lá. Trước đền, hồ Bán Nguyệt như một tấm gương soi mây trời, lồng bóng núi.
Hang núi tại đền Đồng Cổ - nơi làm xưởng sản xuất vũ khí thời kháng chiến

Thời kháng chiến chống Pháp, binh công xưởng Nguyễn Công Cậy sản xuất vũ khí ngay trong hang động Ích Minh trong lòng ngọn núi bên phải của đền. Gần đây, người ta còn tìm được trong hang nhiều vỏ bom hình dáng như chiếc vỏ chai và những vũ khí tự tạo trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Khi quân Pháp phát hiện ra vị trí công binh xưởng Ích Minh, chúng đã cho máy bay ném bom san phẳng cả đền Ðồng Cổ. Những di tích nguyên gốc còn lại đến nay, ngoài hai tấm bia kể trên, chỉ còn chiếc miếu nhỏ lưng chừng đỉnh núi Xuân, và chiếc cổng Nghinh môn nằm ở phía tây ngôi đền.
Ðến thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, một nhà máy điện cũng sơ tán về đây, sản xuất điện phục vụ kháng chiến ngay trong lòng hang Nội ở ngọn núi bên trái ngôi đền.
Năm 2007, UBND tỉnh Thanh Hóa đã phê duyệt Dự án đầu tư xây dựng, bảo tồn, tôn tạo núi và đền Đồng Cổ theo 2 giai đoạn với tổng kinh phí dự toán hơn 35 tỷ đồng. Ngày 4-7-2008 khởi công xây dựng các hạng mục công trình: Tu bổ và tôn tạo Nghi Môn, Quán Triều Thiên, Tiền Điện và Thượng Điện, trong đó Thượng Điện là hạng mục chính. Sau hơn 1 năm xây dựng, ngày 15-8-2009 hoàn thành giai đoạn I với nguồn vốn hỗ trợ đầu tư đợt 1 (15 tỷ đồng) của UBND thành phố Hà Nội và Ban chỉ đạo Quốc gia 1000 năm Thăng Long –Hà Nội. Một số hạng mục chính yếu của khu di tích đang rất cần được nâng cấp tôn tạo hoàn chỉnh như: Bàn cờ tiên trên đỉnh núi, chùa Thanh Nguyên, bến Trường Châu, Tiền Điện, Nghi Môn…Hệ thống đường vào đền, đường quanh hồ bán nguyệt, đường lên núi, khu dịch vụ du lịch cũng cần được xây dựng, nâng cấp xứng tầm với giá trị và quy mô của khu di tích này.
Ngày 23-2-2010, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã gắn biển công trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội cho di tích đền Đồng Cổ ở làng Đan Nê, xã Yên Thọ (Yên Định, Thanh Hóa).
Đền Đồng Cổ ở Đan Nê (Yên Định) và đền Đồng Cổ tại Thủ đô Hà Nội thật sự là di tích lịch sử - văn hóa có giá trị đặc biệt với người dân Việt Nam, nó thể hiện rõ tâm linh hướng thiện và tâm thức về nguồn, vọng ngưỡng lòng trung thành, yêu nước của người Việt Nam, phát huy những giá trị tiếp nối truyền thống thượng võ của dân tộc ta. Đây cũng là điểm tham quan, thưởng ngoạn, viếng cảnh và thắp hương cầu nguyện của du khách trong và ngoài nước.
Hồ bán nguyệt trước đền
Vách đá đề thơ

Đền Đồng Cổ ở phường Bưởi, quận Tây Hồ - Hà Nội
Ghi chú của Ban Nghiên cứu Lưu Tộc Việt Nam:
Đối với họ Lưu - Việt Nam, hiện nay Đền Đồng Cổ và Đan Nê có ý nghĩa rất lớn; làng Đan Nê hiện có 4 dòng họ Lưu (Lưu Đình, Lưu Quang, Lưu Phúc và Lưu Phúc), có nhiều đồng tộc họ Lưu tiêu biểu như: Bà Lưu Thị  Phương Mai - nguyên Quyền Bộ Trưởng Bộ Lương thực thực phẩm; Thiếu tướng Vũ Hắc Thông (tên thật: Lưu Đình Hy); Ông Lưu Thanh Tâm - TGĐ Tổng Công ty CP Bảo hiểm Bảo Long...); và các địa phương xung quang đền Đồng Cổ cũng có rất nhiều cộng đồng họ Lưu sinh sống và duy trì được dòng tộc. Đây sẽ là những dòng họ Lưu hấp dẫn cho việc nghiên cứu họ Lưu Việt Nam đến khảo sát...