XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trung Quốc 100 sự kiện. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trung Quốc 100 sự kiện. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 29 tháng 12, 2018

SỰ KIỆN 100. ĐẠI HỘI ĐẢNG LẦN THỨ 16

 Từ năm 1921, sau khi  thành lập, đảng cộng sản Trung Quốc đã có  sự gắn bó mật thiết với dân tộc Trung Hoa. Từ thế kỷ XX đến thế kỷ XXI, đảng cộng sản Trung Quốc đã lần lượt đánh đổ bọn quân phiệt Bắc dương, đẩy lùi bọn xâm lược đế quốc chủ nghĩa Nhật Bản, đập tan ách thống trị độc tài của vương triều họ Tưởng, theo con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, lãnh đạo nhân dân Trung Quốc trong tiến trình cải cách đối nội, mở rộng đối ngoại, v.v.., không những làm cho đất nước Trung Quốc mạnh lên mà cũng làm cho nhân dân Trung Quốc giàu lên. Vào thời điểm vừa bước vào thế kỷ XXI, đảng cộng sản Trung Quốc lại triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 16, sự kiện này càng làm tăng thêm sự chú ý của nhân dân thế giới.
 14 năm lịch trình vĩ đại của đảng
 Hạ tuần tháng 6 năm 1989, sự nghiệp của đảng và vận mệnh của cả nước lại bước vào một thời điểm vô cùng trọng đại, hội nghị  khoá 3 Ban chấp hành trung ương khoá 13 khai mạc. Hội nghị đã bầu đồng chí Giang Trạch Dân làm Tổng bí thư Ban Chấp hành trung ương Đảng, bổ sung các đồng chí Giang Trạch Dân, Tống Bình, Lý Đoan Hoài vào Thường vụ Bộ chính trị, hình thành một tập thể lãnh đạo mới. Sau hội nghị này, tập thể lãnh đạo Trung ương mới đã triển khai công tác có hiệu quả rõ rệt, cục diện chính trị nhanh chóng được ổn định, tình hình  kinh tế dần dần có những chuyển biến tốt, mặt trận tư tưởng cũng xuất hiện những khả năng mới. Từ năm 1978, đồng chí Đặng Tiểu Bình đã nhận ra: “Cần phải chế độ hoá, pháp luật hoá dân chủ”, không chỉ dựa vào uy tín cá nhân và tính hợp pháp của tư tưởng đảng. Tập thể lãnh đạo thế hệ thứ 3  chính là một  thế hệ tập thể lãnh đạo mới của thời đại mới.
    Năm 1992, Đại hội đại biểu toàn quốc đảng cộng sản Trung Quốc lần thứ 14 đã khai mạc. Đồng chí Giang Trạch Dân đã đọc báo cáo “Tăng cường cải cách mở cửa và bước đi xây dựng hiện đại hoá, giành thắng lợi to lớn trong sự nghiệp xây dựng  chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc”. Báo cáo đã tổng kết kinh nghiệm 14 năm từ  Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương khoá 11 đến nay, quyết định giành lấy cơ hội, tăng cường phát triển; xác định mục tiêu của cải cách thể chế kinh tế nước ta là xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa; chỉ ra cần  vũ trang cho toàn đảng lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc do đồng chí Đặng Tiểu Bình đề xướng. Đại hội đã thông qua “Chương trình đảng cộng sản Trung Quốc” (sửa đổi), lý luận chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc  và sửa đổi đường lối cơ bản của đảng. Bài phát biểu của đồng chí Đặng Tiểu Bình ở phía Nam năm 1992 và mục tiêu đại hội lần thứ 14 của đảnglà tư tưởng chỉ đạo cho cải cách mở cửa và hiện đại hoá sự nghiệp xây dựng nươc ta, tiến  vào giai đoạn phát triển mới.
    Năm 1997, đại hội đại biểu toàn quốc đảng cộng sản Trung Quốc lần thứ 15 khai mạc. Đồng chí Giang Trạch Dân đã đọc báo cáo: “Giương cao ngọn cờ lý luận vĩ đại Đặng Tiểu Bình, đưa sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc toàn diện tiến vào thế kỷ 21”. Báo cáo đã tiến một bước trong việc làm rõ cương lĩnh cơ bản của giai đoạn đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, chỉ ra chiến lược của sự nghiệp xây dựng hiện đại hoá nước ta trong năm cuối của thế kỷ. Báo cáo cũng làm rõ  trong cải cách thể chế kinh tế, cần phải nhận thức một cách toàn diện ý nghĩa chế độ công hữu của kinh tế, chế độ công hữu về kinh tế không chỉ bao gồm kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể mà nó còn bao gồm chế độ sở hữu hỗn hợp trong đó có thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể. Thực hiện hình thức chế độ công hữu có thể đa dạng hoá; chế độ phi công hữu kinh tế là một bộ phận hợp thành quan trọng của kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa nước ta. Nhất thiết phải coi hình thức chế độ sở hữu phù hợp đảm bảo “3 lợi ích” đều có thể sử dụng phục vụ chủ nghĩa xã hội. Báo cáo khẳng định mục tiêu chiến lược xây dựng hiện đại, hiện đại hoá và các lọai nhiệm vụ, đưa sự nghiệp của chúng ta toàn diện tiến vào thế kỷ 21, kiên trì, tăng cường và hoàn thiện sự lãnh đạo của đảng. Đại hội đã thông qua “Quyết nghị về sửa đổi điều lệ đảng”, “Quyết nghị  về báo cáo công tác của ban kiểm tra và kỷ luật Trung ương”. Điều lệ đảng sau khi sửa đổi đã quyết định lấy lý luận của Đặng Tiểu Bình làm tư tưởng chỉ đạo. Đại hội lần thứ 15 của Đảng là đại hội quan trọng trong thời khắc trọng yếu chuyển giao thế kỷ, nó chỉ ra phương hướng tiến vào thế kỷ mới cho toàn đảng toàn dân.
    Dưới sự lãnh đạo của tập thể lãnh đạo thế hệ thứ 3, trải qua nỗ lực gian khổ suốt 14 năm, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội nước ta đã giành được những thành tựu vĩ đại, thu hút được sự chú ý của nhân dân thế giới, viết những trang sử huy hoàng vào sự phát triển vượt bậc của dân tộc Trung Hoa.
 Khai mạc đại hội lần thứ 16
     Ngày 8 tháng 11 năm 2002, tại Bắc Kinh đã khai mạc đại hội đại biểu toàn quốc của đảng lần thứ 16. Đây là đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của đảng trong thế kỷ mới, đây cũng là đại hội đại biểu vô cùng quan trọng  mở đầu hình thế mới của sự sắp xếp chiến lược lần thứ 3 xây dựng hiện đại hoá chủ nghĩa xã hội. Đồng chí Giang Trạch Dân đã đọc báo cáo: “Xây dựng toàn diện xã hội trung lưu, mở ra cục diện mới trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc”. Chủ đề của đại hội này là:  Giương cao ngọn cờ lý luận vĩ đại Đặng Tiểu Bình, quán triệt toàn diện  tư tưởng trọng yếu “3 đại diện”, xây dựng toàn diện xã hội trung lưu, tiến nhanh trên con đường hiện đại hoá xã hội chủ nghĩa, phấn đấu cho cục diện mới trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc. Đại hội lần này đã đưa tư tưởng trọng yếu “ba đại diện” và chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Mao Trạch Đông, lý luận Đặng Tiểu Bình xác lập thành tư tưởng chỉ đạo của đảng ta. Đại hội lần này đã bầu ra Ban chấp hành và Ban kỷ luật kiểm tra tập thể lãnh đạo trung ương đã thực hiện cuộc chuyển giao thế hệ, phản ánh đầy đủ sự phát triển mạnh mẽ và sự kế thừa của thế hệ lãnh đạo mới .
    Ngày 15 tháng 11, tại Bắc Kinh đã khai mạc Hội nghị toàn thể Ban chấp hành trung ương lần thứ 16 của đảng. Hội nghị toàn thể đã bầu các Uỷ viên Bộ chính trị trung ương mới, Uỷ viên dự khuyết, Uỷ viên ban thường vụ Bộ chính trị, Tổng Bí thư ban chấp hành trung ương đảng; thông qua thành viên Ban bí thư, quyết định các thành viên của đảng uỷ quân sự trung ương; phê chuẩn Uỷ viên uỷ ban kỷ luật và kiểm tra, hội nghị lần thứ nhất cũng bầu cử chủ tịch, phó chủ tịch và các uỷ viên thường vụ. Hồ Cẩm Đào được bầu làm Tổng bí thư ban chấp hành Trung ương.
    Sau đó, Tổng bí thư mới được bầu Hồ Cẩm Đào và các uỷ viên thường vụ Bộ chính trị Ngô Bang Quốc, Ôn Gia Bảo, Cổ Khánh Lâm, Tăng Khánh Hồng, Hoàng Cúc, Ngô Quan Chinh, Lý Trường Xuân, Đặng Can tại đại hội đường nhân dân đã tiếp kiến các nhà báo trong và ngoài nước. Tổng bí thư ban chấp hành Trung ương đã phát biểu ý kiến. Ông nói, đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 16 đảng cộng sản Trung Quốc đã bế mạc ngày hôm qua. Đại hội đã rất thành công, đây là một đại hội đoàn kết, đại hội thắng lợi, đại hội phấn đấu, đại hội kế thừa và đi tới.
    Hồ Cẩm Đào đại diện cho các thành viên  được bầu vào ban lãnh đạo trung ương cảm ơn sự tín nhiệm của toàn đảng. Ông nói: “Chúng ta nhất định không thể làm tổn hại đến sự tín nhiệm của các đồng chí toàn đảng và sự kỳ vọng của toàn thể nhân dân, giương cao ngọn cờ lý luận vĩ đại của Đặng Tiểu Bình, tư tưởng trọng yếu “ba đại diện”, nhận rõ những nhiệm vụ trọng yếu đã được đưa ra trong đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 16, tăng cường đoàn kết và dựa vào toàn đảng, nhân dân các dân tộc toàn quốc, kế thừa đi tới vì sự toàn diện xây dựng xã hội trung nông, tăng cường hiện đại hoá xã hội chủ nghĩa, nỗ lực phấn đấu đưa Trung Quốc đến cục diện mới trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc.
    Hồ Cẩm Đào nói, Đại hội 16 đã xác lập tư tưởng chỉ đạo của  đảng chúng ta là phải kiên trì lâu dài tư tưởng trọng yếu “ba đại diện” và chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Mao Trạch Đông, lý luận Đặng Tiểu Bình. Quyết sách có tính lịch sử này cũng là một cống hiến có tính lịch sử vì đã sáng suốt chỉ ra phương hướng  để chúng ta tiến lên. Báo cáo của đồng chí  Giang Trạch Dân tại đại hội 16  đã tổng kết hệ thống những kinh nghiệm cơ bản qua 13 năm,  làm rõ một cách toàn diện yêu cầu  cơ bản của tư tưởng trọng yếu “ba đại diện”, xác định mục tiêu phấn đấu của toàn đảng , toàn dân ta trong hai mươi năm đầu của thế kỷ về kinh tế, chính trị, văn hoá, quốc phòng, thống nhất tổ quốc, ngoại giao và  các chính sách chủ trương về mọi mặt trong việc xây dựng đảng ta. Các vấn đề này đã thể hiện ý chí của toàn đảng cộng sản Trung Quốc, đại diện cho  nguyện vọng của các dân tộc cả nước, là tuyên ngôn chính trị và cương lĩnh hành động của đảng ta trong giai đoạn mới thế kỷ mới. Chúng ta tin tưởng tuyệt đối và chấp hành sự chỉ đạo của tập thể lãnh đạo mới.
    Hồ Cẩm Đào nói, được sự cổ vũ và tinh thần của đại hội 16, đảng cộng sản Trung Quốc đã tiến một bước trong việc tiến vào tương lai, mở ra triển vọng tốt đẹp. Toàn đảng và các dân tộc cả nước ta tăng cường đoàn kết một lòng, tập trung cao độ tinh thần xây dựng, một lòng một ý phát triển, đưa cải cách mở cửa và sự nghiệp xây dựng hiện đại hoá tiến vào giai đoạn mới. Ngày mai của Trung Quốc nhất định càng tốt đẹp, sự phát triển tiến bộ của Trung Quốc nhất định sẽ cống hiến ngày càng nhiều cho hoà bình thế giới.
    Kinh nghiệm của lịch sử đảng đã chứng minh, sự tiên tiến và phát triển trong sự nghiệp của đảng và nhà nước tất phải có sự chỉ đạo của lý luận và đường lối chính xác, phải có tập thể lãnh đạo vững vàng. Đại hội 16 của đảng đã đưa tư tưởng trọng yếu “ba đại diện” cùng chủ nghĩa Mac Lênin, tư tưởng Mao Trạch Đông, lý luận Đặng Tiểu Bình trở thành tư tưởng chỉ đạo lâu dài của đảng ta, cống hiến có tính lịch sử của đại hội 16  là chúng ta thống nhất tư tưởng, thống nhất hành động, đoàn kết để lãnh đạo các dân tộc cả nước, thực hiện nhanh chóng xây dựng hiện đại hoá. Hoàn thành thống nhất tổ quốc, ủng hộ hoà bình thế giới và xúc tiến phát triển cộng đồng là ba nhiệm vụ lịch sử trong sự nghiệp vĩ đại của các dân tộc Trung Hoa thực hiện con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội  mang màu sắc Trung Quốc, có ý nghĩa vô cùng to lớn và sâu sắc. Đại hội toàn quốc lần thứ 16 đã bầu được một tập thể lãnh đạo mới, quán triệt tinh thần thiết thực của đại hội 16, kiên trì lý luận cơ bản, đường lối cơ bản, cương lĩnh và kinh nghiệm cơ bản của đảng, trên các mặt công tác quán triệt tư tưởng quan trọng “ba đại diện”, gánh vác sứ mệnh lịch sử trước đảng và nhân dân, phấn đấu thực hiện các mục tiêu đại hội 16 đã xác định.
Người dịch: Dương Đình Giao



SỰ KIỆN 99. GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO)

Từ triều đại Minh Thanh Trung Quốc đã bắt đầu “bế quan toả cảng”, xu thế này kéo dài cho tới thế kỷ 20, nhưng từ khi cải cách mở cửa, tư tưởng của người Trung Quốc đã có những thay đổi lớn, đã nhận thấy chỉ có giao lưu với các nền văn minh bên ngoài, lấy mạnh bù yếu, Trung Quốc mới có thể thực hiện con đường chấn hưng tổ quốc. Từ đó Trung Quốc bắt đầu  tích cực tìm cách quan hệ với các nước trên thế giới, trong đó một bước quan trọng là gia nhập Tổ chức thương mại thế giới.
 Tổ chức thương mại thế giới
      Tổ chức thương mại  thế giới (World Trade Organization, viết tắt WTO), thành lập ngày 1 tháng 1 năm 1995, trụ sở đặt tại Giơnevơ (Thuỵ Sĩ). Cho đến cuối tháng 10 năm 1999, tổ chức này có tất cả 134 thành viên. Tiền thân của WTO là Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (General Agreêmnt on Tariffs and Trade, viết tắt GAAT).
Tổ chức thương mại thế giới là một tổ chức độc lập mang tính lâu dài của Liên hợp quốc, nguyên tắc và tiêu chí cơ bản của tổ chức này là  thông qua thực hiện mở cửa thị trường, bình đẳng và công bằng về mậu dịch, để thực hiện mục tiêu thúc đẩy thực hiện tự do hoá thị trường thế giới. Ngày 1 tháng 1 năm 1995, nó chính thức vận hành, phụ trách việc quản lý kinh tế và trật tự mậu dịch thế giới, trụ sở đặt tại toà nhà lớn của Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch. Ngày 1 tháng 1 năm 1996, nó chính thức thay thế cơ cấu lâm thời Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch.
     Mục tiêu của tổ chức thương mại thế giới là xây dựng một thể chế hoàn chỉnh, có hiệu lực và lâu dài trong mậu dịch đa phương để bao quát thuế quan và hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch, thành quả của tự do hoá mậu dịch và thành quả đàm phán trước kia, bảo hộ nguyên tắc cơ bản của thể chế mậu dịch đa phương và tăng cường mục tiêu của thể chế.
     Giống như Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch, phạm vi quản lý của Tổ chức thương mại thế giới ngoài hàng hoá truyền thống và xác định trong hiệp định trước đây, còn bao gồm từng phần và lâu dài các lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ, biện pháp đầu tư, mậu dịch phi hàng hoá (phục vụ mậu dịch) của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại trong khi GAAT chỉ bao gồm mậu dịch hàng hoá thương phẩm. Tổ chức thương mại thế giới có địa vị pháp nhân, nó có tính quyền uy cao và tính hữu hiệu trong giải quyết các tranh chấp giữa các thành viên.
     Tổ chức này đã trở thành tổ chức mậu dịch quốc tế chính thức trước pháp luật và có địa vị bình đẳng với các tổ chức quốc tế khác của Liên hợp quốc. Phạm vi chức trách của  nó ngoài  thực thi  hiệp định mậu dịch đa phương vốn có của tổ chức Hiệp định chung về mậu dịch và thuế quan, là nơi đàm phán và trở thành một diễn đàn, còn xem xét định kỳ chính sách mậu dịch của các thành viên và thống nhất xử lý các tranh chấp nảy sinh giữa các thành viên, phụ trách tăng cường hợp tác về tiền tệ và vốn giữa các tổ chức và Ngân hàng thế giới, để thực hiện tính nhất trí trong những quyết điịnh chính sách kinh tế toàn cầu. Tư cách của các thành viên Tổ chức thương mại thế giới chia làm 2 loại, thành viên sáng lập và thành viên mới. Thành viên sáng lập là những nước ký hiệp ước Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch, Tổ chức thương mại thế giới khi kết nạp thành viên mới phải có  hai phần ba số Bộ trưởng tham gia biểu quyết thông qua.
 Trung Quốc gia nhập
     Để gia nhập Tổ chức thương mại thế giới Trung Quốc đã trải qua một quá trình lâu dài.
    Năm 1947, Trung Quốc đã ký văn kiện cuối cùng tại đại hội mậu dịch và việc làm Liên hợp quốc, hội nghị này đã sáng lập tổ chức GAAT. Ngày 21 tháng 4 năm 1948, Trung Quốc đã ký nghị định thư bao quát mang tính tạm thời của GAAT. Tháng 9 năm 1982, Trung Quốc đề nghị làm quan sát viên tổ chức GAAT. Ngày 11 tháng 7 năm 1986, Trung Quốc chính thức gặp Tổng thư ký GAAT, yêu cầu khôi phục địa vị thành viên. Tháng 2 năm 1988, tổ công tác Trung Quốc tiến hành họp lần đầu tiên. Ngày 1 tháng 1 năm 1985, Tổ chức thương mại thế giới chính thức thành lập, có 134 thành viên. Nó thay bằng Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch, phụ trách quản lý và thực hiện hiệp định, phụ trách quản lý trật tự mậu dịch và kinh tế thế giới.
    Ngày 5 tháng 12 năm 1997, đại biểu các quốc gia thành viên của Tổ chức thương mại thế giới tuyên bố ở Giơnevơ, nhất trí ủng hộ Trung Quốc trước sau cũng gia nhập Tổ chức thương mại thế giới. Ngày 8 tháng 4 năm 1998, tổ công tác Trung Quốc dự hội nghị lần thứ 7 Tổ chức thương mại thế giới, kết thúc vào ngày 8 tháng 4 tại Giơnevơ. Chủ tịch tổ công tác phát biểu: Trung Quốc đã đề nghị được trở lại làm thành viên của Tổ chức thương mại thế giới, việc đàm phán đang có nhiều tiến triển có ý nghĩa. Ngày 10 tháng 4 năm 1999, Bộ trưởng Thạch Quảng Sinh, Bộ trưởng Bộ Hợp tác kinh tế đối ngoại và đại diện mậu dịch Mỹ tại Oaxingtơn, thay mặt chính phủ hai nước ký “Hiệp định hợp tác nông nghiệp Trung – Mỹ”, đó là khúc dạo đầu cho việc Trung Quốc gia nhập WTO. Ngày 3 tháng 7 năm 2001, thứ trưởng Bộ kinh tế và mậu dịch đối ngoại, người đứng đầu trong cuộc đàm phán Trung Quốc gia nhập WTO Long Vĩnh Đồ nói những vấn đề trọng yếu trong việc Trung Quốc gia nhập WTO  đã được giải quyết.
    19 giờ 35 phút ngày 11 tháng 11 năm 2001 Bộ trưởng  bộ kinh tế và mậu dịch đối ngoại Trung Quốc Thạch Quảng Sinh tuyên bố với thế giới: Được sự uỷ thác của Thủ tướng Chu Dung Cơ, Bộ trưởng Thạch Quảng Sinh đã thay mặt nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa hoàn thành ký nghị định thư về việc Trung Quốc gia nhập WTO. Sau đó, ông đã giao cho Tổng thư ký WTO thư  của chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân ký phê chuẩn việc Trung Quốc gia nhập WTO, đến đây, việc Trung Quốc gia nhập WTO về mặt trình tự pháp luật đã hoàn tất. Đoàn đại biểu Trung Quốc ký vào văn kiện pháp luật gia nhập Tổ chức thương mại thế giới chứng tỏ Trung Quốc đã giành được một chỗ đứng trong sự phát triển mạnh mẽ của thế giới, trong hệ thống mậu dịch thế giới. Nhìn lại toàn bộ quá trình 15 năm, nhờ cuộc đàm phán vô cùng gian khổ, đồng thời, nhờ sự chuyển biến của nền kinh tế trong nước từ đóng cửa hướng tới mở cửa  hệ thống thị trường, nó chứng tỏ người Trung Quốc đã có sự chuẩn bị tương đối đầy đủ mở cửa đối nội và đối ngoại sau khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới.
    Một tháng sau, căn cứ vào quy định của WTO Trung Quốc trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới. Con đường đàm phán để gia nhập Tổ chức thương mại thế giới kéo dài 15 năm, cuồi cùng đã được đánh dấu bằng cột mốc sừng sững trong tiếng hoan hô khi bước vào thế kỷ mới.
Người dịch: Dương Đình Giao

SỰ KIỆN 98. HƯƠNG CẢNG, ÁO MÔN TRỞ VỀ TRUNG QUỐC

Trong những nỗi nhục lớn nhất về chủ quyền, không ai có thể quên được việc mất đất, lãnh thổ bị người khác xâm chiến, nỗi khổ này khó mà để lại cho đời sau. Trong lịch sử cận đại Trung Quốc, nỗi khổ này đã nhiều lần xuất hiện, nhưng không ai có thể quên được việc mất đất Hương Cảng và Áo Môn. Thực hiện việc thống nhất tổ quốc, đề cao địa vị Trung Quốc trên trường  quốc tế, hai vùng  đất này nhất định phải được thu hồi.
 Hương Cảng và Áo Môn
 Hương Cảng là cửa ngõ ra vào biển phía nam Trung Quốc, cảng tự do ở Viễn đông, một trong những khu vực mậu dịch, trung tâm vận tải đường biển, trung tâm tài chính ở châu Á và Thái Bình Dương. Nó nằm ở phía đông Chu Giang Khẩu, phía nam của thành phố Thâm Quyến, cách thành phố Quảng Châu khoảng 130 km, trên đường vận tải chủ yếu với thế giới, cửa ngõ của vùng Hoa Nam. Nó bao gồm 3 bộ phận: đảo Hương Cảng, Cửu Long và “Tân Giới”; diện tích đất liền 1.071,8km2. Trong đó đảo Hương Cảng 75,6 km2, Cửu Long 11,1km2, “Tân Giới” (bao gồm đảo lớn và hơn 230 đảo nhỏ xung quanh) 975,1 km2, phần đất mới thêm vào là 9,2 km2. Diện tích của thành phố là 166 km2, chiếm 15,6% tổng diện tích, dân số 6.785.000 người (số liệu năm 2000). Đất ít, người nhiều, 80% dân tập trung ở vùng đất hẹp dựa vào núi trông ra biển, mật độ dân số rất cao. 98% cư dân là người Trung Quốc, đông nhất là người Quảng Đông.
    Hương Cảng từ xưa  đến nay là vùng đất thiêng liêng của lãnh thổ nước ta. Thời kỳ nhà Thanh thống trị, Hương Cảng thuộc sự quản lý của huyện Tân An, tỉnh Quảng Đông (nay là thành phố Thâm Quyến). Nửa cuối thế kỷ 18, người Anh và các thương nhân ngoại quốc hàng năm qua Hương Cảng đưa thuốc phiện vào buôn bán ở Trung Quốc, đến năm 1840, họ phát động cuộc Chiến tranh nha phiến  nổi tiếng thế giới. Ngày 29 tháng 8 năm 1842, chính phủ Thanh hủ bại hèn nhát bị ép ký kết điều ước bất bình đẳng thứ nhất, tức là “Điều ước Nam Kinh”. Khoản thứ 3 của điều ước quy định: “Đảo Hương Cảng  nhượng cho chế độ quân chủ nước Anh, địa vị chủ quyền này được thế tập vĩnh viễn, nước Anh được tuỳ ý lập pháp cai trị”. Tháng 11 năm 1856, nước Anh lại mượn cớ, cùng nước Pháp lập liên quân phát động hiến tranh Nha phiến lần thứ hai. Trong cuộc chiến tranh này, quân Thanh liên tiếp thất bại. Anh và Pháp ép buộc chính phủ Thanh ngày 24 tháng 10 năm 1860 ký kết “Điều ước Bắc Kinh”, cắt phần đất phía bắc đường phố bán đảo Cửu Long cho Anh quốc. Năm 1894, chính phủ Thanh thất bại trong chiến tranh Giáp ngọ với Nhật, Anh và Pháp lại mượn cớ ép chính phủ Thanh ngày 9 tháng 6 năm 1898 ký “Chuyên ước mở rộng chỉ giới Hương Cảng”, quy định giới hạn phía bắc đường phố bán đảo Cửu Long đến phía nam sông Thâm Quyến cùng hơn 230 đảo trở thành lãnh thổ của Anh quốc. Từ đó, nước Anh thông qua ba điều ước bất bình đẳng đã chiếm toàn bộ đất Hương Cảng.
    Sau khi triều đình nhà Thanh bị lật đổ, chính phủ Trung Quốc nhiều thời kỳ đã không thừa nhận chủ quyền vĩnh viễn của nước Anh với Hương Cảng, với những mức độ khác nhau cố gắng để Hương Cảng trở về tổ quốc. 150 năm nay, nhân dân Trung Quốc vẫn nuôi khát vọng thu hồi miền đất này, nhưng do những hạn chế của điều kiện lịch sử, chính phủ các thời kỳ trước chưa hoàn thành được sứ mệnh lịch sử này.
    Áo Môn ở bờ biển phía nam của Trung Quốc, nó nằm ở phía nam giữa tam giác châu Chu Giang và tam giác châu Tây Giang, phía Tây của Chu Giang Lạp La Khẩu, nguyên là đất huyện Hương Sơn, tỉnh Quảng Đông (nay là thành phố Trung Sơn). Phía bắc  tiếp giáp với Chu Hải Củng, phía nam gần biển nam của Kết Hàm, đông giữa biển Linh Đinh cùng trông sang Hương Cảng và Thâm Quyến, phía tây nhìn ra Loan Tử của huyện Đầu Môn, Quảng Đông. Áo Môn là do bán đảo Áo Môn và Hàn Tử  tạo thành. Tổng diện tích 23km2, trong đó bán đảo Áo Môn 6km2.
    Từ xưa đến nay, Áo Môn là lãnh thổ của Trung Quốc. Năm 1553, người Bồ Đào Nha hối lộ cho quan lại địa phương để dừng tàu bè lại đây buôn bán. Năm 1557, người Bồ Đào Nha bắt đầu tụ cư ở Áo Môn. Năm 1840, sau chiến tranh Nha phiến, người Bồ Đào Nha lợi dụng chính phủ Thanh thất bại, tuyên bố Áo Môn là cảng tự do, đuổi quan lại của chính phủ Thanh, chiếm Áo Môn. Năm 1887, chính phủ Bồ Đào Nha ép chính phủ Thanh trước sau ký kết “Thảo ước hội nghị Trung – Bồ” và “Điều ước Bắc Kinh Trung – Bồ”, trong đó quy định Bồ Đào Nha được quản lý Áo Môn và các vùng đất thuộc Áo Môn, quyền quản lý của Bồ Đào Nha là vô thời hạn.Về sau, Bồ Đào Nha đã coi Áo Môn là lãnh thổ của mình.
  • Đặng Tiểu Bình và Thatchơ
     Sau khi lên nắm quyền, Đặng Tiểu Bình quyết tâm giải quyết vấn đề Hương Cảng và Áo Môn. Vấn đề Hương Cảng là trọng tâm của hai vấn đề này, chỉ cần giải quyết được vấn đề Hương Cảng, vấn đề Áo Môn sẽ tự nhiên được giải quyết. Ngày 22 tháng 9 năm 1982, Thủ tướng Anh Thatchơ thăm Trung Quốc, cùng với Đặng Tiểu Bình đàm phán về vấn đề Hương Cảng. Nước Anh vừa mới chiến thắng trong cuộc chiến tranh đảo Mavinat, chiếm được quần đảo này, vì thế, bà ta xuống máy bay với thái độ vô cùng đắc ý.
    Ngày 24 tháng 9, bắt đầu cuộc hội đàm chính thức cao cấp, với dáng vẻ tự đắc, Thatchơ đến phòng khách Nhân dân đại hội. Đầu tiên bà ta được Đặng Dĩnh Siêu đón tiếp. Sau một lát trò chuyện với Đặng Dĩnh Siêu, nữ thủ tướng Anh đến dinh Phúc Kiến ở gần đó để  hội đàm với Đặng Tiểu Bình. Đi được nửa đoạn đường,  thấy cửa dinh Phúc Kiên vẫn đóng chặt, bà ta ngạc nhiên, có vẻ khó chịu, vì sao không thấy Đặng Tiểu Bình nghênh  tiếp? Khi bà ta  đến cách khoảng hơn 10m, cửa dinh bỗng mở, Đặng Tiểu Bình tươi cười bước tới, đến gần bắt tay nữ thủ tướng. Vừa mới trải qua cảm giác khó chịu, câu nói đầu tiên của Thatchơ là: “Tôi là đương kim thủ tướng nước Anh tới thăm Trung Hoa, rất vui mừng được gặp ông”. Thủ tướng Anh thêm hai chữ “đương kim” hoàn toàn không phải là ngẫu nhiên mà có ý nhắc nhở Đặng Tiểu Bình: Ông không thể thờ ơ được. Đặng Tiểu Bình phản ứng rất nhanh, lập tức trả lời: “Vâng, tôi đã nhận ra thủ tướng nước Anh, hoan nghênh bà tới thăm”.
    Trước khi tới thăm Trung Hoa, bà Thatchơ đã từng nói: “3  điều ước về Hương Cảng vẫn có hiệu lực. Ý của bà ta là, dựa vào 3  điều ước này, việc đảo Hương Cảng và bán đảo Cửu Long thuộc về nước Anh là không thể thay đổi. Đến năm 1997, Trung Quốc chỉ có thể thu hồi lại Tân Giới của nước Anh. Vì thế, khi cuộc hội đàm chính thức khai mạc, bà Thatchơ vẫn kiên trì lập luận “3 điều ước vẫn có giá trị”. Chúng ta đều biết, 3 điều ước  bất bình đẳng này là do nước Anh dùng vũ lực ép buộc chính phủ Mãn Thanh, nước Trung Hoa mới sau khi thành lập đã sớm tuyên bố không thừa nhận. Vì thế, Đặng Tiểu Bình đã hùng hồn trả lời: “Vấn đề chủ quyền không bao giờ là vấn đề có thể đem ra bàn bạc”, “Đối với vấn đề này, Trung Quốc không nhượng bộ”. Ông còn khẳng định: “Đến năm 1997, Trung Quốc không chỉ thu hồi Tân Giới mà còn thu hồi cả đảo Hương Cảng, Cửu Long”.
    Thátchơ nói với vẻ đầy sức mạnh: Nếu Trung Quốc tuyên bố thu hồi Hương Cảng làm  cho Hương Cảng mất đi sự phồn vinh Trung Quốc sẽ phải chịu ảnh hưởng như một tai nạn.” Đặng Tiểu Bình kiên định: “Nếu nói như bà  thu hồi Hương Cảng là một việc làm ảnh hưởng như một tai nạn thì chúng tôi cũng dũng cảm đối mặt với tai nạn này.” Đặng Tiểu Bình đã đề ra giới  hạn về thời gian của việc đàm phán: “Chúng tôi có thể chờ đợi 1, 2 năm thu hồi Hương Cảng, nhưng thời gian không thể là vô thời hạn. Nếu đàm phán cấp cao không đạt đến một hiệp nghị, Trung Quốc sẽ suy nghĩ để có một phương thức và thời gian thích hợp cho việc thu hồi Hương Cảng”.
    Lần thứ nhất trong hội đàm cấp cao tuy không có kết quả, nhưng Thatchơ đã thấy được sự lợi hại của Đặng Tiểu Bình, lập trường “3 điều ước vẫn còn giá trị” của bà ta về căn bản đã bị Đặng Tiểu Bình làm lung lay. Hội đàm kết thúc, nữ thủ tướng Anh từ  phòng khách Nhân dân đại hội đi ra, qua cửa lớn bước hai bậc một xuống tam cấp, không ngờ bị ngã. Đường đường  là thủ tướng, lại bị ngã trước mắt bao người nước ngoài, lại vừa mới kết thúc cuộc đàm phán, đây là một việc khiến cho có bao dự đoán và tin đồn trong các nhà báo quốc tế. Tóm lại, trong lần đàm phán này, Thátchơ không giữ được vẻ uy dũng sau chiến thắng Manvinat mà gặppr chịu sự thất vọng.
    Ý chí và nguyên tắc đanh thép của Đặng Tiểu Bình đã khiến cho Thatchơ phải thay đổi, tháng 3 năm 1983, bà ta viết thư cho thủ tướng Trung Quốc, đề xuất hướng chuẩn bị để trình với quốc hội vấn đề trao trả Hương Cảng về Trung Quốc. Đó là cơ sở để tiến hành hội đàm lần thứ hai. Ngày 17 tháng 3 năm 1983, Thátchơ lại đến thăm Trung Hoa. Bà ta  đề xuất: để đảm bảo sự bình ổn trong thời kỳ quá độ, kiến nghị thành lập một “tiểu tổ liên lạc liên hợp Trung – Anh” để hiệp thương các vấn đề cụ thể trong việc Hương Cảng trở về tổ quốc. Tiểu tổ liên hợp này bắt đầu làm việc từ 1 tháng 7 năm 1988, đến 1 tháng 1 năm 2000 thì giải thể. Tháng 9 năm 1994, tổ liên hợp Trung – Anh tuyên bố: Xác nhận từ ngày 1 tháng 1 năm 1997 khôi phục chủ quyền đối với Hương Cảng, thành lập  đặc khu Hương Cảng của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa.
    Ngày 13 tháng 4 năm 1987, hai chính phủ Trung – Bồ ký kết  “Tuyên bố liên hợp của chính phủ Cộng hoà nhân dân Trung Hoa và chính phủ Cộng hoà Bồ Đào Nha về vấn đề Áo Môn”, xác định từ ngày 20 tháng 12 năm 1999, khôi phục chủ quyền của Áo Môn, thành lập đặc khu Áo Môn.
Người dịch: Dương Đình Giao

SỰ KIỆN 97. HỘI NGHỊ TOÀN THỂ BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG LẦN THỨ BA KHÓA 11

 Mở đầu cho công cuộc cải cách mở cửa ở Trung Quốc, không thể không nhắc tới Hội nghị toàn thể Ban chấp hành trung ương lần thứ 3 khoá 11, sau Hội nghị này, những chính sách, phương châm, đường lối “tả khuynh” đã thay đổi để  thay bằng những chính sách, phương châm, đường lối phù hợp, hữu hiệu, vì một nước Trung Quốc mới, bước vào thời kỳ tăng tốc phát triển 10 năm, bây giờ nhìn lại, những sự thay đổi vẫn tiếp tục một cách tự nhiên. Có thể nói, Hội nghị toàn thể ban chấp hành trung ương lần thứ 3 khoá 11 đã chuẩn bị cơ sở tư tưởng quan trọng, đã đưa ra những chính sách có tính chất chỉ đạo.

Về cuộc thảo luận lớn tiêu chuẩn của chân lý

     Tháng 10 năm 1976, sau khi đập tan “bè lũ 4 tên”, phần lớn  cán bộ và quần chúng có yêu cầu bức thiết phải triệt để thanh tra và  đánh đổ hệ thống phe phái phản cách mạng “bè lũ bốn tên”, triệt phá tận gốc, sửa sai những án oan, thể hiện sự  mong muốn Đặng Tiểu Bình và Trần Vân tham gia công tác lãnh đạo của trung ương đảng. Nhưng chủ tịch đảng cộng sản Trung Quốc đương thời là Hoa Quốc Phong lại mượn cớ “Giương cao ngọn cờ Mao Trạch Đông”, ra sức bác bỏ và cản trở, đưa ra lý luận “phàm là  quyết sách của Mao Chủ tịch đưa ra, chúng ta đều kiên quyết ủng hộ, phàm là những tiêu chuẩn  của Mao Chủ tịch, chúng ta trước sau đều tuân theo vô điều kiện”.
    Sau khi “Cuộc cách mạng văn hoá” kết thúc, nhân dân cả nước  cấp thiết yêu cầu loại trừ những ảnh hưởng độc hại của Cách mạng văn hoá và đường lối khuynh tả, thực hiện nhiệm vụ lịch sử “diệt trừ phản loạn”. Nhưng sai lầm của “hai cái phàm là” đã khiến cho toàn đảng vầ cả nước trong trạng thái thiếu dứt khoát. Lúc này, các dân tộc cả nước có nhu  cầu bức thiết là giải phóng tư tưởng, thay đổi tư duy, hăng hái tinh thần, thúc đẩy lịch sử hướng tới phát triển..
    Ngày 10 tháng 4 năm 1977, Đặng Tiểu Bình gửi một bức thư cho Ban chấp hành trung ương đảng chỉ ra cần phải hoàn chỉnh và chuẩn xác tư tưởng Mao Trạch Đông để chỉ đạo toàn đảng và toàn dân tiến lên. Tháng 7 năm ấy, tại Hội nghị Ban chấp hành trung ương lần thứ 3, ông lại một lần nữa vạch rõ nguyên tắc này. Ngày 11 tháng 5 năm 1978, Quang Minh nhật báo  đã đăng bài “Thực tiễn là tiêu chuẩn thứ nhất kiểm nghiệm chân lý”, mở đầu cho cuộc thảo luận lớn. Ngày hôm đó, Tân Hoa xã cùng phát đi bài viết này. Ngày 12, Nhân dân nhật báo và Giải phóng quân báo đồng thời đăng tải, sau đó, tuyệt đại bộ phận báo chí của các tỉnh, thành phố, khu tự trị đều  đăng lại. Bài báo đã bàn luận về quan điểm  thực tiễn là hàng đầu của chủ nghĩa Mac Lênin, chỉ ra một cách chính xác bất cứ lý luận nào  cũng phải dựa vào sự khảo nghiệm của thực tiễn. Coi mọi thứ như kinh thánh là khuynh hướng sai lầm, là áp đặt sự trói buộc tinh thần cho mọi người, cần phải kiên quyết đánh đổ. Bài báo đã dẫn tới cuộc thảo luận lớn trong phạm vi cả nước vấn đề tiêu chuẩn của chân lý. Tuyệt đại đa số người trong và ngoài đảng đã bảo vệ và ủng hộ quan điểm này. Cuộc thảo luận này cũng cũng được trung ương đảng, chủ yếu là các đồng chí Đặng Tiểu Bình, Diệp Kiếm Anh, Lý Tiên Niệm, Trần Vân và nhiều đồng chí khác tích cực ủng hộ, khiến cho cuộc thảo luận từng bước phát triển  đến quy mô toàn quốc.
    Cuộc thảo luận vấn đề thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm nghiệm thứ nhất của chân lý là vấn đề có quan hệ đến tiền đồ và vận mệnh của toàn đảng và cả nước. Nó có tác dụng thúc đẩy rất lớn trong cuộc phê phán Lâm Bưu, “bè lũ bốn tên”, “diệt trừ phản loạn”, nó đã giải phóng toàn diện tư tưởng cho mọi người, nó giúp mọi người nắm vững một cách đầy đủ và chuẩn xác hệ thống chủ nghĩa Mac Lênin, tư tưởng Mao Trạch Đông, nó mở đầu cho Hội nghị Ban chấp hành trung ương lần thứ 3 khoá 11, nó xác lập đường lối tư tưởng chủ nghĩa Mac Lênin, và công tác chuyển giao quan trọng của đảng, xây đựng cơ sở tư tưởng đảng.
 Hội nghị toàn thể Ban chấp hành trung ương lần thứ 3 khoá 11
     Từ ngày 18 đến ngày 22 tháng 12 năm 1978, Hội nghị toàn thể Ban chấp hành trung ương đảng lần thứ 3 khoá 11 đã khai mạc ở Bắc Kinh, 168 uỷ viên trung ương, 112 uỷ viên dự  khuyết dự hội nghị, đại biểu các địa phương, phụ trách các bộ hữu quan cũng đến dự thính. Trước hội nghị này, từ ngày 10 tháng 11 đến ngày 15 tháng 12, Ban chấp hành trung ương đã khai mạc hội nghị  trù bị để chuẩn bị cho hội nghị này. Bế mạc hội nghị trù bị, Đặng Tiểu Bình đã tổng kết cuộc thảo luận và đề xuất “Giải phóng tư tưởng, thực sự cầu thị, đoàn kết nhất trí hướng về phía trước”, giải phóng tư tưởng là vấn đề  chính trị trọng đại trước mắt. Dân chủ là điều kiện quan trọng của giải phóng tư tưởng. Giải  quyết những vấn đề còn lại là hướng về phía trước. Phải nghiên cứu hoàn cảnh mới, giải quyết vấn đề mới. Nếu hiện tại không thực hiện cải cách, sự nghiệp hiện đại hoá và sự nghiệp xây đựng chủ nghĩa xã hội của chúng ta sẽ bị chôn vùi. Phải cho phép một  số địa phương, một số xí nghiệp, một bộ phận công nhân và nông dân từ gian khổ, do có cố gắng  đạt thành tích có thu nhập cao hơn, cuộc sống tốt hơn. Đây là một chính sách lớn. Bài nói này của Đặng Tiểu Bình là báo cáo chủ đề tại Hội nghị toàn thể Ban chấp hành trung ương đảng lần thứ 3 khoá 11.
    Hội nghị toàn thể ban chấp hành trung ương đảng cộng sản Trung Quốc lần thứ 3 khoá 11 đã xác định đường lối tư tưởng, đường lối chính trị chủ nghĩa Mac Lênin của đảng, phê phán phương châm sai lầm “hai cái phàm là”, xác định phương châm chỉ đạo giải phóng tư tưởng, thay đổi tư duy, thực sự cầu thị, đoàn kết nhất trí hướng về phía trước, quyết định một cách dứt khoát chấm dứt việc sử dụng khẩu hiệu “đấu tranh giai cấp”. Toàn hội nghị còn thống nhất phải sửa chữa một cách toàn diện những sai lầm trong cách mạng văn hoá và tả khuynh, chấm dứt  thái độ thiếu dứt khoát trong việc phê phán “bè lũ bốn tên” từ năm 1976 đến nay.
    Hội nghị đã thống nhất đưa công tác trọng tâm của toàn đảng đến chính sách  chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện đại hoá. Hội nghị cũng đề ra nhiệm vụ giải quyết tốt yêu cầu tỷ lệ sản lượng mất cân đối trong nền kinh tế quốc dân, quyết định gia tăng mức phát triển nông nghiệp, đồng ý thông qua “Quyết định một số vấn đề về gia tăng mức phát triển nông nghiệp của trung ương đảng cộng sản Trung Quốc” (sửa đổi) và “Điều lệ công tác công xã nhân dân nông thôn” (sửa đổi chính thức). Hội nghị đã thảo luận và đồng ý nguyên tắc kế hoạch sắp xếp nền kinh tế quốc dân năm 1979 – 1980. Hội nghị cũng chỉ ra những khuyết điểm nghiêm trọng của quyền lực tập trung tồn tại trong thể chế quản lý kinh tế và khẳng định cần phải cải cách tình trạng này. Phải kiên quyết dựa vào những quy luật kinh tế, tôn trọng tác dụng của quy luật giá trị, Hội nghị còn đề ra nhiệm vụ kiện toàn nền dân chủ xã hội chủ nghĩa  và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
    Hội nghị đã xác lập đường lối tổ chứảyc chủ nghĩa Mac Lênin, nghiêm chỉnh thảo luận một số sự kiện trọng đại phát sinh trong “đại cách mạng văn hoá” và một số vấn đề mà lịch sử để lại, quyết định huỷ bỏ và văn kiện sai lầm của “sự kiện Thiên An Môn”, sửa đổi những kết luận sai lầm đối với Bành Đức Hoài, Đào Chú, Bạc Nhất Ba, Dương Thượng Côn, sửa sai cho “tập đoàn phản bội 61 người”.
     Hội nghị đã bầu cử bổ sung Trần Vân làm phó chủ tịch trung ương đảng cộng sản Trung Quốc, bổ sung Đặng Dĩnh Siêu, Hồ Diệu Bang, Vương Chấn làm uỷ viên Bộ chính trị. Do thực tế của sinh hoạt đảng và nhu cầu bức thiết của công tác trước mắt, Hội nghị quyết định áp dụng biện pháp lâm thời, bổ sung Hoàng Khắc Thành, Tống Nhiệm Vụ, Hồ Kiều Mộc, Tập Trọng Huân, Vương Nhiệm Trọng, Hoàng Hoả Thanh, Trần Tái Đạo, Hàn Quang, Chu Huệ làm uỷ viên trung ương Ban chấp hành trung ương đảng khoá 11. Hội nghị bầu Trần Vân làm Bí thư thứ nhất của Uỷ ban kiểm tra và kỷ luật của đảng.
    Hội nghị toàn thể Ban chấp hành trung ương lần thứ 3 khoá 11 đã chấm dứt những sai lầm nghiêm trọng của sai lầm tả khuynh, uốn nắn những tư tưởng chỉ đạo của đảng, đã xác lập đường lối tư tưởng chủ nghĩa Mac Lênin, đường lối chính trị và đường lối tổ chức, đã thực hiện việc chuyển hướng lớn có ý nghĩa lịch sử sâu sắc trong sự nghiệp xây đựng đất nước của đảng cộng sản Trung Quốc, bảo đảm sự phát triển căn bản lành mạnh trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đây là sự chuyển biến  có ý nghĩa trọng đại, mở đầu hình thành vai trò hạt nhân của Đặng Tiểu Bình trong tập thể lãnh đạo thế hệ thứ hai, đưa nước ta bước vào thời kỳ mới xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện đại hoá.
 Đặng Tiểu Bình nắm quyền lãnh đạo
     Trở thành người lãnh đạo đất nước, Đặng Tiểu Bình có hai thành tựu lớn, một là đã khiến cho Trung Quốc tăng tốc trên con đường phát triển kinh tế, hai là đưa Trung Quốc hoà nhập vào dòng chảy của đời sống quốc tế. Về phương diện phát triển kinh tế, cống hiến chủ yếu của ông là coi lãnh đạo kinh tế trở thành công tác trọng điểm của toàn đảng, đã mở cánh cửa lớn của Trung Quốc. Ông còn lần đầu tiên đề xuất chính sách “mở cửa đối với nước ngoài”, việc phát triển kinh tế đặc khu cũng được đặc biệt chú ý, khiến cho kinh tế đặc khu trở thành minh chứng lớn cho chính sách mở cửa.
    Công cuộc cải cách do Đặng Tiểu Bình đề xướng và thúc đẩy đã đạt được những thành tựu khiến người ta kinh ngạc. Trong 13 năm từ 1980 đến 1992, tổng sản phẩm kinh tế quốc dân của Trung Quốc mỗi năm tăng 8%, đây là tốc độ phát triển ngang với sự phát triển của “4 con rồng châu Á”, tốc độ phát triển vượt qua nước Úc. Từ 1980 đến 1990 mậu dịch đối ngoại của Trung Quốc từ  38 tỷ đôla tăng lên 115 tỷ đôla, Trung Quốc từ một quốc gia kinh tế đối ngoại rất yếu kém trở thành một nước nền kinh tế đối ngoại trở thành động lực cho sự phát triển. Đồng thời, Trung Quốc cũng hấp dẫn được vốn đầu tư nước ngoài của  những nước phát triển. Đến năm 1990, tư bản nước ngoài đã đầu tư mới và mở rộng hơn 3 vạn xí nghiệp, với số vốn hơn 2 tỷ đôla, điều kiện sống của nhân dân đã có cải thiện.
    Từ năm 1950 đến 1972 trước khi Nichxơn thăm Trung Quốc, Trung Quốc với thế giới vẫn có khoảng cách, quan hệ giữa thế giới với Trung Quốc ngày càng ít, sự hiểu biết của thế giới với Trung Quốc ngày càng hạn hẹp. Đặng Tiểu Bình đã thay đổi tình trạng này. Dưới sự lãnh đạo của ông, Trung Quốc đã hoà nhập cùng  tiền vốn, kỹ thuật và hoạt động công thương nghiệp, đã  đáp ứng đầy đủ nhu cầu thực hiện hiện đại hoá. Đồng thời, ông còn  giải quyết các vấn đề tranh chấp quốc tế và khu vực, phát huy ảnh hưởng của Trung Quốc với các nước. Ông còn thay đổi cách nhìn đối với một số vấn đề của Trung Quốc, không  nhấn mạnh đến chiến tranh và cách mạng. Ông còn góp phần giải quyết một số vấn đề khẩn cấp của thế giới, khiến cho một số “điểm nóng” trở thành hoà dịu. Trung Quốc còn gia nhập rất nhiều tổ chức quốc tế trong đó có   Quỹ tiền tệ thế giới,
    Ngày 18 tháng 3 năm 1978 ở Bắc Kinh đã khai mạc đại hội khoa học toàn quốc, Đặng Tiểu Bình đã đọc một bài diễn văn quan trọng, đưa ra quan điểm “Khoa học đang trở thành động lực sản xuất ngày càng quan trọng”, nhấn mạnh vai trò của trí thức, vai trò của nhân tài. Ông nói: “Trong thế kỷ 20, thực hiện hiện đại hoá nông nghiệp, công nghiệp, quốc phòng và khoa học, xây dựng nước ta trở thành cường quốc xã hội chủ nghĩa hiện đại hoá, đó là sứ mệnh lịch sử vĩ đại của nhân dân ta”, “4 hiện đại hoá, quan trọng hàng đầu là hiện đại hoá khoa học kỹ thuật, không có khoa học kỹ thuật hiện đại sẽ không thể xây dựng được nông nghiệp hiện đại, công nghiệp hiện đại, quốc phòng hiện đại. Đại hội khoa học toàn quốc khai mạc là tiếng kèn thúc giục tiến quân vào 4 hiện đại hoá, là biểu thị sự nghiệp khoa học kỹ thuật và sự nghiệp hiện đại hoá bước vào thời kỳ mới.
Người dịch: Dương Đình Giao

SỰ KIỆN 96. ĐÁNH ĐỔ BÈ LŨ BỐN TÊN

  Ngày thứ tư, 6 tháng 10 năm 1976 là một ngày rất bình thường như biết bao những ngày bình thường khác. Nhưng ngày bình thường này đã được lịch sử lựa chọn. Ở Hoài Nhân Đường, một nơi  nổi tiếng trong và ngoài nước, một cuộc chiến đấu đặc biệt ảnh hưởng to lớn đến lịch sử Trung Quốc đã diễn ra một cách thầm lặng. Tập đoàn “bè lũ bốn tên” trong ngày này đã bị tiêu diệt, sự diệt vong của “bè lũ bốn tên” đã tuyên bố kết thúc 10 năm “đại cách mạng văn hoá”.
 “Bè lũ bốn tên” một lũ hề bắng nhắng.
     Tập đoàn “bè lũ bốn tên” xuất hiện trong quá trình phê phán “Hải đoan bãi quan” năm 1965. Sau khi “đại cách mạng văn hoá” bắt đầu, Giang Thanh, lúc đó là tổ phó tổ Văn cách trung ương, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên dựa vào lực lượng của Giang Thanh cũng gia nhập tiểu tổ Văn cách, hình thành lực lượng hạt nhân của tập đoàn Giang Thanh. Về sau, chúng lại dựa vào quyền thế, nhân sự hỗn loạn của “Văn cách”, “giũa vuốt tô lông”, câu kết với những kẻ thân tín, tiến hành chắp nối xây dựng  hệ thống phe phái trong toàn quốc. Bọn người này, trước “Văn cách” đều là một bọn vô danh tiểu tốt không ai biết đến, “Văn cách” đã khiến họ nổi tiếng, trở thành những nhân vật   uy quyền mọi người đều biết.
    Trương Xuân Kiều kém Giang Thanh 3 tuổi, từng có bút danh là Địch Khắc trong các bài phát biểu công kích Lỗ Tấn. Tháng 1 năm 1938, Trương Xuân Kiều đến Diên An, rồi đến Thạch Gia Trang công tác, sau đó lại  cùng với Kha Khánh Thi đến phương nam, trước “Văn cách” là bí thư thị uỷ Thượng Hải. Đầu năm 1958, chiều theo khuynh hướng tả trong tư tưởng đương thời, Trương Xuân Kiều đã viết bài “Đánh đổ pháp quyền của giai cấp tư sản”, từ đó được  Mao Trạch Đông chú ý. Năm 1963, ông ta lại tìm mọi cách lấy lòng Giang Thanh, giúp Giang Thanh tổ chức phê phán văn chương “Lý Tuệ Nương”, do đó, được Giang Thanh tín nhiệm. Trong cuộc chiến văn chương phê phán “Hải đoan bãi quan”, Trương Xuân Kiều lại lập được chiến công. Giang Thanh hiểu  những mưu kế của Trương Xuân Kiều, coi ông ta là “quân sư”.
    Diêu Văn Nguyên trước “Văn cách” là một anh chàng vô danh tiểu tốt, công tác ở phòng nghiên cứu chính sách của thị uỷ Thượng Hải, từng viết một số bài bình luận văn nghệ đăng trên “Giải phóng nhật báo” Thượng Hải,  chuyên  chụp mũ  thô bạo. Năm 1965, hiểu được ý đồ của Giang Thanh, Diêu Văn Nguyên đã viết một số bài báo, trở thành người đi đầu trong trận chiến văn chương “Bình kịch lịch sử tân biên” (“Hải đoan bãi quan”), Diêu Văn Nguyên từ đó lập công trở thành thành viên của tiểu tổ “Văn cách” trung ương, thành người có ích đối với Giang Thanh.
    Vương Hồng Văn 16 tuổi đã gia nhập hồng quân, sau khi phục viên là người có công trong việc bảo toàn 17 xưởng bông ở Thượng Hải, trước “Văn cách”, chẳng qua chỉ là  phó trưởng phòng bảo vệ. Khi “Văn cách” nổi lên, Vương Hồng Văn tìm được cơ hội, dựa vào những nhà tạo phản, trở thành tư lệnh của bộ tư lệnh tạo phản cách mạng Thượng Hải, người đã tạo ra các “sự kiện an ninh”, “sự kiện đường Khang Bình”, lại làm ầm ĩ chuyện “nhất nguyệt phong phồn”, giành được quyền trong đảng và chính quyền ở Thượng Hải, lên đến chức Bí thư thứ 3 thành phố Thượng Hải. Sau khi Lâm Bưu sụp đổ, Mao Trạch Đông chọn Vương Hồng Văn làm người kế tục, năm 1972,  Vương được đưa về trung ương. Sau khi về trung ương, Vương Hồng Văn cùng bọn Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên cấu kết thành “bè lũ bốn tên”.
    Những âm mưu hành động của Giang Thanh đã được Mao Trạch Đông lưu ý và phê phán nghiêm khắc. Trong hội nghị Bộ chính trị, Mao Trạch Đông đã phê phán Giang Thanh rõ ràng: “Không thể có hai xưởng, một gọi là xưởng thép, một gọi là xưởng bông, dù sao cũng không được chụp mũ cho người khác”.  Còn khuyên họ không được lập “nhóm bốn người”. “Các đồng chí phải chú ý không được hình thành một phái nhỏ có bốn người”. “Bè lũ bốn tên” không những  đã không nghe, ở Thượng Hải, lại còn  giở trò chuẩn bị  đưa những cán bộ  mới xuất thân công nhân  chuẩn bị  nhận chức vụ ở các cấp uỷ.
 Chuẩn bị
     Ngày 8 tháng 1 năm 1976, thủ tưởng Chu Ân Lai kính yêu của nhân dân Trung Quốc lâm bệnh tạ thế. Sự ra đi của ông đã để lại cho toàn đảng và nhân dân cả nước lòng đau đớn vô hạn. Tháng 4 năm đó, trên phạm vi toàn quốc đã nổ ra sự kiện Thiên An Môn, các đại biểu tưởng nhớ thủ tướng Chu Ân Lai, cuộc vận động chống lại bè lũ bốn tên Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên, Vương Hồng Văn ngày càng lớn mạnh. Cuộc vận động này cũng ủng hộ Đặng Tiểu Bình, trở thành đại biểu lãnh đạo chân chính của đảng. Sau khi đánh đổ tập đoàn phản cách mạng Giang Thanh, nó xây dựng được  cơ sở quần chúng vững mạnh.
    Ngày 9 tháng 9, Mao Trạch Đông tạ thế, nỗi đau vô hạn bao trùm toàn đảng và nhân dân cả nước. Tháng 8 năm 1976, khi Mao Trạch Đông lâm bệnh nặng, Vương Chấn đã gặp Diệp Kiếm Anh, trong câu chuyện phiếm đã nói tới “bè lũ bốn tên”. Vương Chấn nói: “Tôi thấy nhất định phải bắt họ, vấn đề phải giải quyết thôi!”. Diệp Kiếm Anh cũng có suy nghĩ như vậy. Ngày 10 tháng 9, ngày thứ hai sau khi Mao Trạch Đông tạ thế, Diệp Kiếm Anh tới thăm Hoa Quốc Phong. Diệp Kiếm Anh ngầm bảo với Hoa Quốc Phong: “Mọi người thấy phải bắt khẩn cấp”, “Đã chú ý rồi lại càng phải chú ý”. Hoa Quốc Phong đã hiểu ý của Diệp Kiếm Anh nên không mặn mà câu chuyện, chuyển sang nói chuyện về việc bảo vệ di hài của Mao Trạch Đông.
    Ngày 12 tháng 9 Nhiếp Vinh Trăn nhờ Dương Thành Võ nói với Diệp Kiếm Anh: “Bọn bốn người vừa là phản cách mạng, vừa là bọn người xấu thì đã rõ rồi, phải hết sức cảnh giác đề phòng họ ra tay trước…Chúng ta phải ra tay trước, phải áp dụng những biện pháp kiên quyết mới có thể đề phòng được sự bất ngờ”. Sau đó mấy hôm, Diệp Kiếm Anh lại liên tục gặp Hoa Quốc Phong đến ba lần, nói về việc sau khi Xtalin tạ thế, Malencôp kế nhiệm, sau đó đã bị Bunganin đoạt quyền. Lần này, sau khi nghe, Hoa Quốc Phong  cười nói: “Chỉ cần lão đồng chí ủng hộ, tôi sẽ làm”.
    Tập đoàn Giang Thanh cũng hành động. Trương Xuân Kiều đã làm một đề cương cướp đảng đoạt quyền, chuẩn bị trấn áp và sát hại những cán bộ và quần chúng phản đối “bè lũ bốn tên”. Ngày 16 tháng 9 “bè lũ bốn tên” cùng nhau trù mưu bàn tính, viết xã luận “Mao Trạch Đông mãi mãi sống trong trái tim chúng ta”, lần thứ nhất tung ra  cái gọi là “Lời dặn dò phút lâm chung” của Mao Trạch Đông
     Đến tháng 10, chúng càng “giương cung rút kiếm” “rút cuộc càng lộ ra hết”, “bè lũ bốn tên” ráo riết “mài dao”, kế hoạch bạo loạn phản cách mạng đã sắp xếp xong xuôi. Diêu Văn Nguyên nói: “Tại sao không xử bắn tất cả bọn phản cách mạng? Chuyên chính đâu phải là cái đẹp?”. Vương Hồng Văn lại rêu rao: “Ở Thượng Hải tìm 100 con chó còn khó khăn, chứ tìm một vạn, 10 vạn tên phản cách mạng rất dễ dàng”. “Bè lũ bốn tên” cũng đã chuẩn bị tuyên cáo với nhân dân, chuẩn bị tuyên bố với thế giới sau chính biến, họ dựa vào sự hậu thuẫn của dân quân vũ trang Thượng Hải và Bắc Kinh, cuối cùng đã bắt đầu biểu diễn trò bẩn thỉu tranh đoạt quyền hành trên vũ đài chính trị. Ngày 1 tháng 10, Giang Thanh đến đại học Thanh Hoa vu cáo Đặng Tiểu Bình “bức hại Mao Chủ tịch”, lại yêu cầu “khai trừ Đặng Tiểu Bình khỏi đảng”, công bố lời thề “phải rèn luyện thân thể để đấu tranh với họ” chuẩn bị thượng đài. Sau khi Mao Trạch Đông tạ thế, “Bè lũ bốn tên”  còn  thay đổi hai tham mưu trưởng của hai sư đoàn bộ đội thiết giáp. Liên tiếp trong 3 ngày 7, 8, 9 tháng 10  đã có lời đồn  về những tin mừng, ở Thượng Hải lượng giấy đỏ và pháo được tiêu thụ mạnh.
    Hoa Quốc Phong với cương vị then chốt trong đảng và chính quyền cũng bị Giang Thanh đưa vào tình thế khó xử. Quyết tâm của Hoa ngày càng kiên định. Quân đội đã có sự chuẩn bị đầy đủ, có Diệp Kiếm Anh chủ trì quân uỷ và Uông Đông Hưng điều khiển bộ đội cảnh vệ trung ương. Vấn đề là làm vào lúc nào cho thích hợp, tốt nhất và hết sức hợp pháp. Chờ đến ngày này, Hoa Quốc Phong tìm từng người  để thuyết phục. Như vậy, việc bắt “bè lũ bốn tên” có thể nói là chấp hành quyết định của đa số trong Bộ chính trị, là hợp pháp.
 Đại quyết nhân tâm
     Để đảm bảo công việc thắng lợi, Diệp Kiếm Anh đã nhiều lần bàn bạc, bố trí tỉ mỉ,  không bỏ qua từng chi tiết nhỏ, đồng thời liên hệ chặt chẽ với lãnh đạo quân đội, nắm thật chắc cơ quan tổng bộ, lục không quân và biên phòng bờ biển. 7 giờ tối ngày 6 tháng 10, xe của Diệp Kiếm Anh đến Hoài Nhân Đường ở Trung Nam Hải. Bên trong đại sảnh Hoài Nhân Đường Hoa Quốc Phong và Diệp Kiếm Anh ngồi trên ghế sôpha, Uông Đông Hưng và cảnh vệ đứng sau tấm bình phong.
    Người đến đầu tiên là Trương Xuân Kiều, ông ta cặp một tập văn kiện vui vẻ bước vào, vừa tiến vào cửa, ông ta đã bị cảnh vệ giữ ở bên ngoài. Đến lúc này ông ta mới thấy có điều không bình thường. Vừa bước vào phòng, thấy Diệp Kiếm Anh ngồi, ánh mắt nghiêm khắc, Hoa Quốc Phong đứng dậy, nhìn ông ta nghiêm túc tuyên bố, tội lỗi của anh không thể tha thứ, Trung ương quyết định cách ly anh để thẩm tra, phải chấp hành ngay. Trương Xuân Kiều hai chân run cầm cập, chỉ dùng tay sửa sửa cái kính, không có một chút phản kháng, bị người giám hộ đưa đi.
    Tiếp theo là Vương Hồng Văn, Vương Hồng Văn phấn khởi bước vào cửa, thấy người phụ trách cùng mấy vệ binh tiến lại, Vương Hồng Văn thấy việc không bình thường, cao giọng hỏi: “Tôi  đến họp, các anh muốn gì?”, sau đó  rất nhanh chóng bị giữ hai tay đưa vào đại sảnh. Ông ta nhìn thấy Hoa Quốc Phong và Diệp Kiếm Anh đang ngồi, dự cảm thấy ngày tàn đã đến rồi bị đưa đi, bất đắc dĩ thốt lên: “Không ngờ lại nhanh như thế!” nhưng hối thì đã muộn.
    Diêu Văn Nguyên chậm chạp mãi 8 giờ 15 mới đến, với ông ta thì không cần khách khí, không cần đợi ông ta tiến đến đại sảnh, chỉ  mới tới hành lang, Hoa Quốc Phong cũng không cần xuất hiện, chỉ cần đội phó đội cảnh vệ trung ương tuyên bố, Diêu Văn Nguyên chưa rõ sự thể như thế nào, tay phường kèn này lập tức tay chân bủn rủn, bị mấy anh cảnh vệ áp giải đưa đi.
    Sự việc được tiến hành một cách khẩn trương ở Hoài Nhân Đường, chỉ có một tiểu tổ đến phòng 201 của Trung Nam Hải, Trương Diên Từ đội trưởng đội cảnh vệ trung ương thực hiện nhiệm vụ này, đến khi tuyên bố hoàn thành mệnh lệnh, Giang Thanh không dám hé một lời, hai mắt lườm nguýt. Bà ta ngồi trên ghế sôpha một lát mới chậm chậm đứng dậy, lấy một phong bì dán kín, trên đề 7 chữ “Đồng chí Hoa Quốc Phong tự mở”, giao  cho Trương  Diên Từ, rồi sau đó bị đưa đi trên một xe chuyên dụng.
    Còn Hoa Quốc Phong, Diệp Kiếm Anh đứng đầu trung ương đảng, không tốn một viên đạn, không đổ một giọt máu, đã đánh đổ được “bè lũ bốn tên”. Ngày hôm sau, bọn tay sai cho “bè lũ bốn tên” tiếp tục bị bắt giữ  và thẩm tra.
Người dịch: Dương Đình Giao