XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn Hóa Việt;. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn Hóa Việt;. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2026

NGƯỜI BÌNH ĐỊNH TẠI SAO GỌI LÀ "DÂN NẪU"



Năm 1578, chúa Nguyễn Hoàng cử Phù nghĩa hầu Lương Văn Chánh làm Trấn biên quan có bổn phận đưa lưu dân nghèo không sản nghiệp khai khẩn vùng đất mới từ nam đèo Cù Mông đến đèo Cả (tỉnh Phú yên bây giờ). Sau 33 năm khai phá vùng đất mới, hình thành làng mạc, năm 1611 chúa Nguyễn Hoàng thành lập phủ Phú Yên gồm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa. Năm 1629, chúa Nguyễn Phúc Nguyên nâng cấp phủ Phú Yên thành dinh Trấn Biên . Do đặc điểm của vùng đất mới còn hoang hóa, dân cư thưa thớt nên các đơn vị hành chính của vùng biên viễn có những nét đặc thù. Dưới cấp huyện có cấp Thuộc, dưới Thuộc là các đơn vị hành chính nhỏ hơn như Phường, Nậu , Man.
Phường là các làng nghề có quy mô như phường Lụa, phường Sông Nhiễu. Nậu là tổ chức quản lý một nhóm nhỏ cùng làm một nghề, người đứng đầu gọi là đầu Nậu.
Ví dụ: “Nậu nguồn” chỉ nhóm người khai thác rừng, “Nậu nại” chỉ nhóm người làm muối, “Nậu rổi” chỉ nhóm người bán cá, “Nậu rớ” chỉ nhóm người đánh cá bằng rớ vùng nước lợ, “Nậu cấy” chỉ nhóm người đi cấy mướn, “Nậu vựa” chỉ nhóm người làm mắm...
Do sự phát triển của xã hội Đàng Trong, năm 1726, chúa Nguyễn Phúc Chu (1697-1738) cử Đại ký lục chính danh Nguyễn Đăng Đệ quy định phạm vi, chức năng của các đơn vị hành chính. Các đơn vị hành chính như “Thuộc”, “Nậu” bị xóa bỏ.
Khái niệm thành tố chung cấp hành chính “Nậu” được biến nghĩa dùng để gọi người đứng đầu trong đám người nào đó và sau này dùng để gọi đại từ nhân xưng ngôi thứ ba.
Từ “Nậu” không xuất hiện độc lập mà chỉ có mặt trong các tổ hợp danh ngữ. Ví dụ:
Mất chồng như nậu mất trâu
Chạy lên chạy xuống cái đầu chôm bơm.
Tiếc công anh đào ao thả cá
Năm bảy tháng trời nậu lạ tới câu.
Ai về nhắn với nậu nguồn
Mít non gởi xuống cá chuồn gởi lên.
Từ chữ “Nậu” ban đầu, phương ngữ Phú Yên - Bình Định tỉnh lược đại từ danh xưng ngôi thứ ba (cả số ít và số nhiều) bằng cách thay từ gốc thanh hỏi. Ví dụ: Ông ấy, bà ấy được thay bằng: “ổng”, “bả”. Anh ấy, chị ấy được thay bằng: “ảnh”, “chỉ”.
Và thế là “Nậu” được thay bằng “Nẫu”.
Nẫu đã đi vào ca dao Bình Định, Phú Yên khá mượt mà, chân chất:
Ai về sông núi Phú Yên
Cho nẫu nhắn gở nỗi niềm nhớ quê
Phương ngữ Thuận Quảng (Thuận Hóa - Quảng Nam) với “mô, tề, răng, rứa, chừ”, vượt qua đèo Bình Đê (ranh giới Bình Định - Quảng Ngãi) được đổi thành “đâu, kia, sao, vậy, giờ”.
Và đặc trưng ngữ âm của vùng Nam Trung bộ (Bình Định - Phú Yên) không phân biệt rạch ròi cách phát âm dấu hỏi và dấu ngã. Đặc biệt, bà con vùng biển từ Hoài Nhơn (Bình Định) đến Gành Đỏ (Sông Cầu-Phú Yên), các âm dấu ngã đều phát âm thành dấu hỏi.
Riêng đồng bằng Tuy Hòa, khi phát âm không phân biệt được dấu hỏi và dấu ngã. Bởi vậy, “Nẩu” hay được phát âm là “Nẫu”.
Đồng bằng Tuy Hòa trù phú, nhiều nhà giàu trong vùng cho con cái đi học chữ phương xa. Các vị có chữ nghĩa viết chữ “Nẩu” theo phát âm quen miệng thành chữ “Nẫu”.
Nói nôm na, tiếng Nẫu là tiếng địa phương của vùng Bình Định và Phú Yên có nghĩa là họ, hay người ta, vì là “đại từ nhân xưng” nó nằm ở vị trí ngôi thứ ba vừa số ít mà cũng vừa số nhiều. Ví dụ thay vì hỏi “Hôm nay người ta đi đâu mà nhiều vậy? ” thì người dân Bình Định và Phú Yên hỏi là “Hôm nay nẫu đi đâu mà nhiều dậy?” hay “Cái nhà này là của họ” thì dân Nẫu sẽ nói là “Cái nhà nhà này là của nẫu”.
Chính vì vậy mà khi hòa cùng tất cả tiếng nói của mọi miền đất nước thì tiếng nẫu sẽ không lạc vào đâu được, thậm chí còn dùng những từ hoàn toàn khác với những từ thông dụng, ví dụ thay vì nói “Vào tận trong đó” thì nói là “Dô tuốt trỏng” hay hỏi "vậy hả?” thì hỏi là “dẫy na?”, “dẫy ngheng” (vậy nghen hay thế nhé), “dẫy á” (vậy đó), “chu cha wơi” (trời đất ơi)
....Người Việt mình từ văn minh lúa nước mấy ngàn năm đến giờ đã nổi tiếng là “nhà quê”, cho dù có ở thành thị thì vẫn là “dân nhà quê” so với các nước khác. Vậy thử hỏi trong đất Việt Nam mình, xứ nào là “nhà quê” nhứt? Đó chính là “xứ Nẫu”. Tôi đi khắp Việt Nam , ai hỏi tôi quê đâu? Tôi thưa rằng quê tôi xứ Nẫu, tôi dân Nẫu, Nẫu nè, Nẫu ơi…
Vì sao “quê”, vì ngay cái chữ “Nẫu” nghe nó đã quê rồi. Nó khởi thủy là chữ “nậu”, là một từ cổ ở miền Trung Nam Bộ, theo cụ Vương Hồng Sển, nó cổ đến mức gần như là nguyên thủy, ngày nay không còn ai dùng. Từ “nậu” để chỉ một nhóm người theo ngành nghề hoặc theo nơi ở: ví dụ: “Nậu nguồn” chỉ nhóm người trên rừng, “Nậu nại” chỉ nhóm người làm muối, “Nậu rổi” chỉ nhóm người bán cá, “Nậu rớ” chỉ nhóm người đánh cá bằng rớ, “Nậu cấy” chỉ nhóm người đi cấy mướn, “Nậu vựa” chỉ nhóm người làm mắm... mãi sau, bằng nguyên lý tăng âm đặc trưng của dân Việt mình: “ông + ấy = ổng”, “chị + ấy = chỉ”, thì cái “nậu + ấy= Nẫu”.
Xứ Nẫu bắt đầu từ Bình Định, Phú Yên và một phần của Khánh Hòa. Cũng như các vùng miền khác, mà gần nhất là xứ Quảng, giọng nói người xứ nẫu không lẫn vào đâu được. Người xứ Nẫu luôn nói lớn tiếng, giọng nặng và hầu hết các âm tiết đều bị biến dạng theo hướng nặng hơn, khó phát âm hơn…khó đến nỗi chỉ người xứ Nẫu mới nói được, làm như cái cấu tạo thanh quản của dân xứ Nẫu đã khác đi so với người xứ khác. Nẫu (người ta), rầu (rồi), cái đầu gấu (gối), trời tấu (tối), cái xỉ (muỗng), tộ (chén)…người xứ Nẫu nói cho người xứ Nẫu nghe, cho nên từ ngữ quê mùa cục mịch, đến mức câu ca dao mẹ hát ru con cũng nặng trình trịch, nhưng mà nặng nhất là cái tình:
Thương chi cho uổng công tình
Nẫu dzìa xứ nẫu, bỏ mình bơ vơ
Khi còn nhỏ, mỗi lần làm điều gì không đúng cha, mẹ, hay ông bà thường nói: “đửng làm dẫy, nẫu cừ” (đừng làm vậy, người ta cười). Dân Nẫu đúng như giọng xứ Nẫu, hiền nhưng cộc cằn, phóng khoáng nhưng ngang ngạnh, tình cảm nhưng hơi thô kệch…
Dân Nẫu đi đến đâu cũng là “dân nhà quê”, học hành đến mấy vẫn không trút được cái gốc “nẫu” của mình. Nẫu không khôn ngoan, khéo léo như người Bắc. Nẫu không dịu dàng, lịch lãm như người xứ Huế. Nẫu cũng chẳng rộng rãi, vô tư như người Nam. Nẫu là Nẫu. “Nẫu dzẫy” (nậu vậy), Dân Nẫu không quan tâm người khác nghĩ gì về mình, tốt xấu gì cũng mặc, “kệ nẫu”. Cho nên dân Nẫu đi xứ khác làm ăn bị thiệt thòi nhiều, ít bạn, nhưng nếu có bạn, nẫu sẽ sống chết với bạn...
Nguồn: Bình Định Xưa

Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2026

Không gian tiếp khách ba miền

 Trung

Nam
Bắc

Phòng khách của dân Bắc chỉ nằm trong khuôn khổ 2 - 4m2 tương đương diện tích sập gụ và tủ chè. Phòng khách của dân miền Trung thường từ 12-20 m2 thường kê một bộ xalon và vài cái ghế đôn. Phòng khách của dân nam bộ rộng hơn nhiều khoảng từ 24-32 m2. Tính cách nào của người dân và môi trường văn hóa nào đã tạo nên không gian giao tiếp này…???

Nhận xét rất thực tế và thú vị nếu xem “phòng khách” như một biểu tượng văn hóa, nhưng các con số 2 - 4m², 12–20 m² và 24–32 m² không nên hiểu là số liệu thống kê đại diện cho toàn bộ ba miền. Chúng có giá trị hơn khi dùng như một cách đọc về không gian giao tiếp truyền thống.
Điều đáng nói là: không gian tiếp khách không chỉ phản ánh nhà cửa; nó phản ánh quan niệm về người ngoài, người quen, cộng đồng, riêng tư, danh dự và mức độ cởi mở của một xã hội.
1. Bắc Bộ: “phòng khách 2 - 4m²” – văn hóa của khoảng cách và chiều sâu
Nếu lấy hình ảnh sập gụ – tủ chè làm biểu tượng thì phòng khách truyền thống Bắc Bộ thực ra không cần quá rộng.
Một gian giữa nhà ba gian có thể vừa là nơi thờ cúng, vừa là nơi tiếp khách, uống trà, nói chuyện. Không gian không lớn nhưng “chiều sâu xã hội” rất lớn.
Sập gụ không đơn thuần là chỗ ngồi. Nó là một thiết chế văn hóa thu nhỏ.
Người khách bước vào nhà thường bước vào một không gian đã có trật tự:
* Ai ngồi ở đâu?
* Ai được ngồi trên sập?
* Ai ngồi bên cạnh?
* Chủ nhà rót trà thế nào?
* Câu chuyện bắt đầu từ đâu?
* Điều gì nên nói và điều gì không nên nói?
Từ đó hình thành một kiểu giao tiếp đặc trưng:
gần về khoảng cách vật lý nhưng có khoảng cách về vai vế.
Đây là nét rất quan trọng của văn hóa Bắc Bộ.
Người Bắc truyền thống thường coi trọng lễ, thứ bậc, tuổi tác, học vấn và quan hệ xã hội. Vì thế, một căn phòng nhỏ không nhất thiết tạo ra sự gần gũi bình đẳng; ngược lại, nó có thể tạo ra sự gần gũi có trật tự.
Có thể nói vui:
Phòng khách Bắc Bộ nhỏ về diện tích nhưng lớn về “hàm lượng quan hệ”.
Một chén trà có thể kéo dài câu chuyện hàng giờ.
Một chiếc sập có thể chứa cả một thế giới quan hệ họ hàng, làng xóm, bạn bè, đồng môn và chức tước.
Vì vậy, nếu muốn tìm “tính cách” phía sau không gian ấy, tôi sẽ gọi là:
“Kín về không gian – sâu về quan hệ – chặt về lễ.”
Nhưng mặt trái cũng rất rõ:
kín đáo dễ thành khép kín; trọng lễ dễ thành câu nệ; coi trọng quan hệ dễ thành nặng chuyện quen biết và thứ bậc.
2. Miền Trung: phòng khách 12–20 m² – văn hóa của sự vừa đủ và chịu đựng
Hình ảnh anh đưa ra về miền Trung – một phòng khách khoảng 12–20 m², bộ salon và vài ghế đôn – nếu xem như một mô hình biểu tượng thì rất đáng suy ngẫm.
Miền Trung có một điều kiện tự nhiên đặc biệt:
đất hẹp, khí hậu khắc nghiệt, bão lũ nhiều, tài nguyên không dư dả như nhiều vùng Nam Bộ.
Không gian sống vì thế thường mang tính vừa phải, tiết chế và thực dụng.
Nhưng cái đặc biệt của phòng khách miền Trung không nằm ở số mét vuông.
Nó nằm ở cách con người sử dụng khoảng không ấy.
Một bộ salon, vài chiếc đôn, một ấm trà.
Không quá trang trọng như gian giữa nhà Bắc Bộ.
Cũng không cần mở rộng thành một không gian giao tiếp quá lớn.
Nó tạo ra một trạng thái:
đủ gần để nói chuyện, đủ xa để giữ ý.
Đây rất gần với một nét tính cách thường được gắn với miền Trung:
trọng nghĩa nhưng trọng thể diện; cởi mở nhưng có giới hạn; tình cảm nhưng không dễ bộc lộ hoàn toàn.
Miền Trung trong lịch sử lại từng là vùng đất của chiến tranh, chia cắt, thiên tai và nghèo khó. Con người vì thế có xu hướng coi trọng sự bền bỉ, tiết kiệm, chịu thương chịu khó và khả năng giữ gìn những gì mình có.
Một bộ salon không quá lớn cũng phản ánh một triết lý sống:
Không cần phô trương, nhưng phải tươm tất.
Không cần rộng, nhưng phải có chỗ cho khách.
Đó là văn hóa của sự vừa đủ.
Mặt trái của nó là:
tiết chế dễ thành khắt khe với bản thân; giữ ý dễ thành khó bộc lộ; trọng nguyên tắc dễ thành cứng rắn.
3. Nam Bộ: phòng khách 24–32 m² – văn hóa của không gian mở
Đây có lẽ là điểm thú vị nhất trong lập luận của anh.
Nam Bộ là vùng đất khai phá.
Không gian địa lý rộng.
Đất đai, sông nước, kênh rạch tạo nên một kiểu cư trú khác.
Cư dân đến từ nhiều vùng khác nhau, cộng đồng người Việt, Hoa, Khmer và nhiều nhóm cư dân khác cùng sinh sống.
Trong môi trường ấy, khả năng giao tiếp và tạo dựng quan hệ mới có giá trị rất lớn.
Người mới đến một vùng đất chưa chắc có họ hàng đông đảo.
Họ cần:
bạn bè, hàng xóm, bạn làm ăn, người cùng khai phá, người cùng chống chọi với thiên nhiên.
Vì vậy, không gian sống có xu hướng hướng ra ngoài.
Phòng khách rộng hơn không chỉ để “khoe nhà”.
Nó có thể là:
nơi uống trà, ăn uống, nói chuyện, làm ăn, kết bạn, tiếp bà con, hàng xóm và khách phương xa.
Từ đó hình thành hình ảnh văn hóa Nam Bộ:
rộng nhà – rộng lòng – rộng quan hệ.
Một người khách đến nhà có thể được mời ăn.
Một người quen có thể trở thành bạn.
Một người bạn có thể trở thành “anh em”.
Đó chính là chất hào sảng và trọng nghĩa tình thường được nhắc đến khi nói về Nam Bộ.
Nhưng mặt trái cũng tồn tại:
rộng lòng có thể thành dễ dãi; trọng tình có thể lấn át lý; thích giao du có thể dẫn tới quan hệ rộng nhưng không phải quan hệ nào cũng sâu.
4. Từ “phòng khách” có thể đọc ra ba kiểu văn hóa giao tiếp
Nếu dùng chính hình ảnh của anh làm một mô hình văn hóa, tôi sẽ khái quát như sau:
Bắc Bộ Trung Bộ Nam Bộ
Không gian biểu tượng Nhỏ Vừa Rộng
Biểu tượng Sập gụ – tủ chè Salon – ghế đôn Bàn ghế rộng, không gian mở
Quan hệ Sâu, có thứ bậc Có chừng mực Rộng, linh hoạt
Cách tiếp khách Trọng lễ Trọng tình và sự tươm tất Trọng sự tự nhiên, hào sảng
Tâm thế Giữ ý Giữ mình Mở lòng
Điểm mạnh Chiều sâu Bền bỉ Cởi mở
Mặt trái Câu nệ Cứng Dễ dãi
Nếu cô đọng thành ba câu:
Bắc Bộ: gần người nhưng giữ lễ.
Miền Trung: gần người nhưng giữ mình.
Nam Bộ: gần người thì mở lòng.
Tất nhiên đây là mô hình văn hóa, không phải quy luật áp dụng cho từng cá nhân.
5. Nhưng tại sao lại có sự khác nhau ấy?
Không thể chỉ giải thích bằng “tính cách”.
Không gian sống tạo tính cách, nhưng tính cách cũng quay lại tạo không gian sống.
Đây là quan hệ hai chiều.
Bắc Bộ: xã hội làng xã lâu đời
Làng xã tồn tại lâu đời, quan hệ họ hàng – làng xóm – dòng họ tương đối chặt.
Con người biết nhau lâu, biết gốc gác của nhau.
Khi ai đó bước vào phòng khách, họ không phải một “người lạ hoàn toàn”.
Họ thường là:
ông này, bác kia, chú nọ, đồng hương, họ hàng, đồng môn…
Vì vậy, không cần một không gian quá rộng để tạo quan hệ.
Quan hệ đã rộng và sâu từ bên ngoài căn phòng.
Miền Trung: văn hóa của sự tiết chế
Thiên nhiên không ưu đãi.
Bão lũ, hạn hán, đất hẹp và lịch sử nhiều biến động khiến con người phải tiết kiệm nguồn lực.
Không gian sống vì thế có xu hướng vừa đủ, bền chắc, hữu dụng.
Quan hệ xã hội cũng thường có tính chọn lọc.
Không phải ai cũng được đưa vào vòng thân tình.
Nam Bộ: xã hội khai phá
Ngược lại, vùng đất mới cần con người mở quan hệ để tồn tại và phát triển.
Người từ nơi khác đến phải kết nối.
Buôn bán cần kết nối.
Khai phá cần kết nối.
Làm ruộng, đi sông, mở chợ, lập làng đều cần kết nối.
Do đó:
không gian mở + xã hội mở + giao tiếp mở
có thể củng cố lẫn nhau.
6. Và đây là điểm sâu nhất: “phòng khách” thực ra là bản đồ của lòng người
Nếu nhìn theo cách này, diện tích phòng khách không còn đơn giản là chuyện kiến trúc.
Nó trở thành một ẩn dụ về bán kính xã hội của con người.
Phòng khách Bắc Bộ nhỏ nhưng quan hệ sâu.
Phòng khách miền Trung vừa phải nhưng quan hệ bền.
Phòng khách Nam Bộ rộng nhưng quan hệ mở.
Một bên coi trọng:
“Anh là ai? Thuộc quan hệ nào với tôi?”
Một bên thiên về:
“Anh có phải người đáng tin không?”
Một bên dễ hỏi:
“Anh đến đây thì mình cùng làm gì, cùng vui gì?”
Ba câu hỏi ấy tạo nên ba sắc thái giao tiếp.
Và thật kỳ lạ, chúng lại bổ sung cho nhau.
Bắc dạy người Việt biết giữ chiều sâu.
Trung dạy người Việt biết giữ khí chất.
Nam dạy người Việt biết mở cánh cửa.
Nếu chỉ có Bắc, xã hội có thể quá nặng về lễ và quan hệ.
Nếu chỉ có Trung, xã hội có thể quá cứng và tiết chế.
Nếu chỉ có Nam, xã hội có thể quá rộng và dễ dãi.
Nhưng khi ba dòng văn hóa gặp nhau, ta có một người Việt vừa:
biết lễ – biết nghĩa – biết tình;
biết giữ mình – biết chịu đựng – biết mở lòng.
Vì thế, tôi rất thích cách đặt vấn đề của anh, nhưng sẽ sửa một chữ:
Không nên nói “phòng khách của người Bắc chỉ có 2 m², miền Trung 12–20 m², Nam Bộ 24–32 m²” như một dữ kiện khoa học.
Nên nói:
“Nếu coi phòng khách truyền thống như một ẩn dụ văn hóa, thì từ không gian nhỏ, vừa đến rộng, ta có thể đọc được ba cách tổ chức quan hệ xã hội: Bắc thiên về chiều sâu và lễ nghĩa; Trung thiên về sự chừng mực và bền bỉ; Nam thiên về sự cởi mở và giao tiếp rộng.”
Và có thể kết luận bằng một câu khá đẹp:
“Nhìn vào phòng khách, ta tưởng đang đo diện tích căn nhà; nhìn kỹ hơn, ta đang đo bán kính của lòng người. Bắc giữ người trong chiều sâu, Trung giữ người trong nghĩa tình, Nam đón người bằng một cánh cửa rộng. Ba cách mở cửa khác nhau, cuối cùng cùng làm nên một căn nhà Việt Nam.”