XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG
Hiển thị các bài đăng có nhãn Dã sử Việt. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Dã sử Việt. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 26 tháng 4, 2023

Có hay không chuyện tư thông giữa công chúa Huyền Trân & Trần Khắc Chung?

 Hồ Ðắc Duy

Huyền Trần Công Chúa!

Đó là tên một con đường của Huế ngày xưa nên thơ nằm giữa một ngọn đồi thấp xanh mướt những tàng cây và sông Hương thâm trầm mơ mộng. Con đường cứ thế chạy mãi chạy mãi cuối cùng gặp một bức trường thành bằng đất đó chắn ngang gọi là Thành Lồi, chứng tích một thời vàng son của vương quốc Champa. Người Huế chọn tên công chúa để đặt tên cho con đường vô tình hay hữu ý đã lồng lấy số phận đầy kịch tính của một trang quốc sắc thiên hương lên số phận của con đường chăng?

Còn ở Sài Gòn con đường mang tên Huyền Trân hầu như không có nhà, thật ngắn với những hàng cây cao vút, nằm sau lưng dinh Norodome. Đêm đêm con đường vắng vẻ chính là nơi hò hẹn của những cặp tình nhân nên một thời nó được mệnh danh là con đường của tình yêu và tội lỗi!

Dư luận và một số sử gia lại gán ghép tên nàng vào một uẫn tình không có thật, đúng hơn là một mối ô nhục khi bảo rằng nàng đã tư thông với Trần Khắc Chung!

Tư thông là một từ mô tả việc quan hệ tình dục có sự đồng ý của cả hai phía một cách bất chính.

Bài viết này sẽ nêu ra những luận chứng mang tính khoa học không chỉ để minh oan mà còn đòi hỏi lịch sử phải trả lại sự vẹn toàn phẫm giá và tấm lòng trung trinh, danh dự không những cho công chúa, thượng hoàng Trần Nhân Tông cha của nàng và cả triều đình bấy giờ mà lẻ ra hậu thế phải tri ân thay vì ngộ nhận

Trần Khắc Chung là ai?

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư trang 64,113 chép: Trần Khắc Chung tên thật là Đỗ Khắc Chung người ở Giáp Sơn cùng quê với mẹ của vua Trần Hiến Tông và cũng là thầy dạy học của hai vị vua Trần Minh Tông, Hiến Tông.

Năm Ất DẬu, Thiệu BẢo năm thứ bảy (1285). Khắc Chung làm Chi hậu cục thủ có em ruột Đỗ Thiên Hư cũng là một người nổi tiếng đương thời từng được cử làm sứ thần sang Nguyên năm 1288.

Đỗ Khắc Chung lấy Bảo Hoàn. Khoảng đời TRùng Hưng, nguời Nguyên vào cướp, cha mẹ Bảo Hoàn hàng giặc, ruộng đất, tài sản đều bị tịch thu sung công. Đến khi vua lên ngôi, xuống chiếu trả lại.

Mùa hạ tháng 4 năm Kỷ Sửu (1289). Ông là một trong những người có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên năm 1285 được vua ban quốc tính nên đổi là Trần Khắc Chung và được phong chức Đại Hành Khiển (tương đương chức vụ Thủ Tướng Chính Phủ ngày nay), vào năm 1289 là lúc công chúa Huyền Trân vừa chào đời. Người đời đều khen ông là giỏi. Mất năm 1330 cùng với Trần Nhật Duật, được tặng chức thiếu sư, ,một chức đứng hàng thứ hai thời bấy giờ, được đưa về an táng ở Giáp Sơn.

Ông đã giữ nhiều chức vụ khác nhau và quan trọng trong suốt bốn triều đại (Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông, Trần Minh Tông, Trần Hiến Tông), ông đã từng là thuyết khách, tể tướng, thượng thư, ngự sử đại phu, đại an phủ kinh sư, quan nội hầu, sư bảo và là sứ giả cùng với an phủ sứ Đặng Vân chỉ huy chiến dịch cứu thoát công chúa Huyền Trân...

Ông là một người tu theo đạo Phật, môn phái Thiền tông, là người viết lời bạt cho tập "Tuệ Tung thượng sĩ" do nhà sư Pháp Loa biên tập và vua Trần Nhân Tông hiệu đính.

Ông thường được các vua TRần hỏi ý kiến và kính trọng, là cột trụ của nhiều triều đại hiển hách đời Trần, sống cùng thời với vua Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Mạc Đỉnh Chi...

Đánh giá về Trần Khắc Chung ĐVSKTT trang 52 chép rằng vua (hoàng đế Trần Nhân Tông) mừng nói rằng: "Ngờ đâu trong đám ngựa kéo xe muối lại có ngựa kỳ ngựa ký như thế!" (Ngựa kỳ, ngựa ký là chỉ những loại ngựa quý, ngựa tốt)

Còn Ô Mã Nhi là một tướng của quân Nguyên thì bảo với các tướng dưới quyền rằng: "Người này ở vào lúc bị uy hiếp mà lời lẽ tự nhiên, không hạ chủ nó xuống là Chích, không nịnh ta lên là Nghiêu, mà chỉ nói: "Chó nhà cắn người"; giỏi ứng đối. Có thể nói là không nhục mệnh vua. Nước nó còn có người giỏi, chưa dễ mưu tính được" (ĐVSKTT trang 52)

Lai lịch vua Chiêm Thành Chế Mân

Chế Mân là con trưởng của vua Jaya Indravarman V, là anh cả trong gia đình có 5 con trai (Kinh thế đại điển tự lục - NS, tờ 5a quyển 210)

Trong cuộc kháng chiến của dân tộc Chiêm Thành chống lại quân xâm lược Mông Cổ vào các năm 1282 - 1285 thì tất cả mọi quyền hành và các quyết định quan trọng nhất đều ở trong tay Chế Mân vì vua Chàm đã già rồi. Chế Mân là đại tướng cầm quân Champa đánh nhau với quân Toa Đô ở Vijaya (Qui Nhơn), kinh đô của Champa, một vị anh hùng trẻ tuổi của dân tộc Champa.

Trong tác phẩm Cuộc Kháng Chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII của Hà Văn Tấn - Phạm Thị Tâm, trang 130 dẫn chứng từ Nguyên Sử quyển 12, bản kỷ tờ 3b trang 4a đã viết về Chế Mân như sau: "...16 tháng 7 năm 1282 Hốt Tất Liệt ra lệnh điều động 5 nghìn quân của tỉnh Hoài Triết Phúc Kiến gồm 100 hải thuyền, 250 chiến thuyền giao cho Toa Đô chỉ huy chuẩn bị đánh chiếm Chiêm Thành... Một trong những nguời cương quyết chống lại âm mưu xâm lược của Hốt TẤt Liệt là thái tử Harijit (Chế Mân) con vua Indravarman V... Lúc bấy giờ vua Chiêm đã già. Chế Mân nắm tất cả trọng trách trong nước."

Marco Polo trong "Đến Chiêm Thành năm 1285" có viết: "Vua Jaya Indravarman V chống cự với Toa Đô trong các thị trấn và thành quách vững chắc, ông không sợ gì cả..." Và Marco Polo nhận định về Chế Mân: "...một người thanh niên anh hùng đó đã không chịu lùi bước trước kẻ thù".

Trong Chiêm Thành truyện trang 4a của Nguyên Sử thì đánh giá Chế Mân như sau: "Chế Mân con vua Chiêm chuyên giữ việc nước, cậy hiểm không phục."

Trong Kinh thế đại điển tự lục tờ 570 chép lời Hốt Tất Liệt nhận định về Chế Mân như sau: "...Lão vương (Indravarman V) không có tội gì, kẻ nghịch mệnh là con (Chế Mân) của y, nếu bắt được thì cứ theo như việc cũ của Tào Bân, trăm họ không giết một người."

Trong An Nam truyện của Nguyên Sử, quyển 109 trang 5b chép: "...ngày 16 tháng 4 năm 1284. An phủ sứ Quỳnh Châu là Trần Trọng Đạt nghe Trịnh Thiên Hựu nói rằng Giao Chỉ thông mưu với Chiêm Thành, sai 20000 quân và 500 thuyền ứng viện. Vua Trần Nhân Tông lại gởi thư đến hàng tỉnh, đại lược nói Chiêm Thành nội thuộc tiểu quốc, đại quân đến đánh thật đáng xót thương."

Xem như vậy giữa vua Trần Nhân Tông và Chế Mân đã có một sự gắn bó, liên kết với nhau trong một liên minh chống lại trong mưu đồ đánh chiếm vùng Đông Nam Á của quân Mông Cổ.

Tiểu sử của công chúa Huyền Trân

Công chúa là con gái út của vua Trần Nhân Tông, là em ruột của vua Trần Anh Tông và quốc phục thượng tể Trần Quốc Chẩn, nàng sinh vào khoảng năm Kỷ sưu Trùng Hưng năm thứ 5 (1289), năm mà Trần Hưng Đạo dùng kế để giết Ô Mã Nhi.

Năm 1306 gả công chúa Huyền Trân thì thượng hoàng Nhân Tông (1258 - 1308) khoảng 47 tuổi, vua Anh Tông (1276 - 1320) ở tuổi xấp xỉ 30 và công chúa độ 18, vua Chế Mân vào khoảng 35 đến 40 và Trần Khắc Chung 40-50.

Sở dĩ tính được như vậy vì trong cuộc kháng chiến chống Mông Cổ của Vương quốc Champa vào năm 1283 thì Chế Mân đã là thái tử cầm quân Champa đánh nhau với Toa Đô ở Thành Gỗ gần kinh đô Vijaya của Champa, còn Trần Khắc Chung lúc nhận nhiệm vụ thuyết khách, đi gặp tướng Mông Cổ Ô Mã Nhi vào tháng giêng năm 1285 ít nhất cũng phải trên 20 tuổi. Ở thời điểm gã công chúa Huyền Trân, Trần Khắc Chung khoảng 40 đến 50 tuổi.

Diễn biến của cuộc hôn nhân giữa vua Chàm Chế Mân và công chúa Huyền Trân

Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục trang 556 chép: Tháng ba năm Tân Sửu (1301), thượng hoàng Trần Nhân Tông sang chơi Chiêm T hành. Thựơng hoàng xuất gia ở núi Yên Tử, thường muốn đi chơi xem khắp núi sông nhân du lịch đến một địa phương tiện đường sang chơi Chiêm Thành (có hứa gả Huyền Trân cho Chế Mân).

Sách Biên Niên Lịch Sử Cô Trung Đại Việt Nam chép: "Tháng hai năm Ất Tỵ (1305), sứ bộ Chế Bồ Đà của vua Chiêm Thành đến dâng lễ vật cầu hôn vì thượng hoàng Nhân Tông năm 1301 sang chơi Chiêm Thành đã hứa gả công chúa Huyền Trân cho chúa Chiêm Thành Chế Mân."

Còn ĐVSKTT trang 86 viết: "Năm Ất Tỵ Hưng Long năm thứ 13 (1305), mùa xuân, tháng 2, Chiêm Thành sai Chế Bồ Đà và bộ đảng hơn trăm người dâng hiến vàng bạc, hương quý, vật lạ làm lễ cầu hôn. Các quan trong triều đều cho là không nên, duy có Văn Túc Vương Đạo Tái chủ trương bàn việc đó, Trần Khắc Chung tán thành việc đó mới quyết."

Năm Bính Ngọ Hưng Long năm thứ 14 (1306), mùa hạ, tháng 6, gả công chúa Huyền Trân cho chúa Chiêm Thành Chế Mân.

ĐVSKTT trang 91 viết: "Năm Đinh Mùi Hưng Long năm thứ 15 (1307, mùa hạ, tháng 5, Chế Mân chết.

Mùa thu, tháng 9 thế tử Chiêm Thành Chế Đa Da sai sứ thần Bảo Lộc Kê sang dâng voi trắng.

Mùa đông, tháng 10, sai Nhập nội hành khiển thượng thư tả bộc xạ Trần Khắc Chung, an phủ Đặng Văn sang Chiêm Thành đón công chúa và thái tử Đa Đa về.

Đại Việt Sử Ký Tiền Biên của Ngô Thì Sĩ trang 408 chép Mậu Thân Hưng Long năm thứ 16 (1308), mùa đông tháng 11 ngày mồng một, mặt trời có hai quầng, thượng hoàng băng ở am Ngọa Vân trên núi Yên Tử... Nhân Tông làm thiên tử lại làm thái thượng hoàng đi tu lên núi, ở am rồi mất. Việc trong thiên hạ có gì lớn hơn việc ấy...

Trong ĐVSKTT có đoạn chép như sau: Theo tục lệ Chiêm Thành, chúa chết thì bà hậu của chúa phải vào giàn thiêu để chết theo. Vua biết thế, sợ công chúa bị hại, sai bọn Khắc Chung, mượn cớ là sang viếng tang và nói với người Chiêm: "Nếu công chúa hỏa táng thì việc làm chay không có người chủ trương, chi bằng ra bờ biển chiêu hồn ở ven trời, đón linh hồn cùng về, rồi sẽ vào giàn thiêu". Người Chiêm nghe theo. Khắc Chung dùng thuyền nhẹ cướp lấy công chúa đem về, rồi tư thông với công chúa, đi đường biển loanh quanh chậm chạp lâu ngày mới về tới kinh đô.

CÓ THỂ NÀO TRẦN KHẮC CHUNG DÙNG THUYỀN NHẸ CƯỚP LẤY CÔNG CHÚA ĐEM VỀ, RỒI TƯ THÔNG VỚI CÔNG CHÚA ĐƯỢC HAY KHÔNG?

Đây là một câu hỏi mà người viết muốn nêu ra và xin các vị cùng góp ý

Để làm sáng tỏ nghi vấn này, thiết tưởng vấn đề là nên dựng lại, vẽ lại hiện trường chiến dịch giải cứu công chúa với các câu hỏi được trả lời hợp lý nhất:

1. Khắc Chung có thể dùng thuyền nhẹ cướp lấy công chúa được hay không?

2. Hay chuyện rước công chúa Huyền Trân trở về Đại Việt là kết quả của việc thương lượng giữa sứ giả Trần Khắc Chung với triều đình mới của Champa.

3. Lực lượng hải quân của Champa lúc bấy giờ ở các quân cảng của Champa (Sa huỳnh, Đà Nẵng, Thuận An, Cửa Việt), liệu có ngăn chặn việc giải cứu này nếu có hay không?

4. Phương tiện mà Trần Khắc Chung dùng là thuyền, vậy thuyền được thiết kế và đóng cách đây 700 năm liệu có đủ sức để... đi đường biển loanh quanh chậm chạp lâu ngày mới về tới kinh đô hay không? Thuyền dài và ngang bao nhiêu? Chắc chắn không phải là loại du thuyền hiện đại có gắn động cơ như ngày nay, mà chỉ có thể hình dung như một loại thuyền đánh bắt hải sản không gắn động cơ, có buồm dài khoảng 10 đến 12 mét, ngang khoảng 2m50 đến 3m50, không phải được thiết kế thân to như loại ghe bầu chạy trên sông, phải có mũi cao, đáy nhọn để cỡi lên sóng được.

Những lâu thuyền thời bấy giờ kích thước không lớn lắm, không phải được đóng như loại thuyền của Marco Polo hay loại thuyền cướp biển của Châu Âu, nó chỉ chạy cách bờ vài chục cây số.

5. Hệ thống tiếp tế nước ngọt và lương thực thực phẩm cho chuyến loanh quanh chậm chạp lâu ngày mới về tới kinh đô do ai cung cấp và nếu do các quan lại địa phương thì triều đình có biết không và họ có làm ngơ trước hiện tượng kỳ lạ này không?

6. Hệ thống ánh sáng dùng trên thuyền thời bấy gì là dầu phộng hay dầu dừa, liệu có đủ tiện nghi như là điện ngày nay không?

7. Khoang để cho công chúa ở trên thuyền ước chừng 2m5 x 3m là tối đa, lại có các hầu gái nữa. Thế tử Chế Đa Đa có cùng đi với công chúa hay ở lại Champa, nếu cùng đi thì thế tử ở đâu? Có cùng khoang của công chúa hay không?

8. Trên thuyền của công chúa có bao nhiêu thủy thủ, bao nhiêu tay chèo, bao nhiêu hầu gái thị nữ, đầu bếp... đi theo và liệu một chiếc thuyền nhẹ như thế có thể phục vụ cho một chuyến du dương trên biển loanh quanh chậm chạp lâu ngày mới về tới kinh đô?

9. An phủ sứ Đặng Vân và quần thần đi theo trong chiến dịch giải cứu có luôn luôn theo dõi và bảo vệ bên cạnh công chúa hay không? Họ có can gián hay đồng tình với hành động này của Trần Khắc Chung hay không?

10. Có bao nhiêu thuyền đi theo hộ tống chiến dịch này và họ có phải đi theo chuyến đi đường biển loanh quanh chậm chạp lâu ngày mới về tới kinh đô này hay không?

11. Ai là người chỉ huy cung cấp lương thực thực phẫm cho chuyến du dương trên biển lâu ngày này? Họ là ai?

Trần Khắc Chung với danh dự, địa vị xã hội, với chức vụ thủ tướng, với gia đình nhà cửa, vợ con dòng họ, với lòng tin của thượng hoàng Trần Nhân Tông và vua Anh Tông khi giao phó sự mệnh giải cứu này liệu ông có dám tư thông với công chúa hay không?

Trần Khắc Chung hiểu rõ cơn thịnh nộ khó lường được của nhà vua và triều đình nếu ông tư thông với công chúa. Một người khôn ngoan như ông, một người đã tu theo môn phái Thiền và đứng tuổi như ông chắc khó mà có một hành động nông nỗi, mất đạo lý như thế!

Với tâm lý, phương diện và môi trường như vậy e rằng cho dù Trần Khắc Chung dù có muốn thì cũng khó mà dám tư thông được!

VỀ PHẦN CÔNG CHÚA HUYỀN TRẦN THÌ CÔNG CHÚA CÓ THUẬN LÒNG TƯ THÔNG VỚI TRẦN KHẮC CHUNG HAY KHÔNG?

Sau chiến thắng quân Nguyên, tháng 8 năm Giáp Ngọ (1294), thượng hoàng Nhân Tông cất quân đánh Ai Lao như một lời nhắn nhũ các quốc gia trong vùng, và nếu ông muốn xâm chiếm các nước khác thì không phải là chuyện không làm được. Bấy giờ các quốc gia này mỗi năm đều có triều cống cho Đại Việt. Cho nên việc thượng hoàng Trần Nhân Tông gã công chúa Huyền Trân cho vua Champa ngoài việc thắt chặt bền vững thêm mối dây liên kết, tạo thêm sự hòa hiếu giữa hai nước, chắc chắn thượng hoàng Nhân Tông, một vị anh hùng dân tộc đã từng đánh bại quân xâm lược Mông Cổ hai lần, một nhà ngoại giao khôn khéo, một vị lãnh đạo tài ba và cũng là một vị thiền sư trầm mặc phải có một cái nhìn như thế nào về Chế Mân và hạnh phúc lứa đôi cho người con gái yêu dấu của mình khi ngài quyết định gả công chúa cho vua Champa lúc nàng mới lên 12 tuổi (1301). Sau khi hứa gả thượng hoàng Trần Nhân Tông chắc chắn đã phải sửa soạn cho công chúa một chế độ giáo dục đặc biệt, nhất là về ngôn ngữ, phong tục, văn hóa Champa.

Thượng hoàng chỉ cho phép thực hiện điều đó khi cô con gái cưng của ông đến tuổi trưởng thành, vững vàng trong cuộc sống vợ chồng và có một số vốn kiến thức văn hóa, phong tục, tập quán cũng như ngôn ngữ Champa.

Không biết vua Trần Nhân Tông có nghĩa rằng mình trở thành ông ngoại của vị hoàng đế của Champa trong tương lai hay không? Và ông có nghĩ là công chúa Huyền Trần sẽ thực sự trở thành Đệ nhất phu nhân của vương quốc Champa thay thế cho hoàng hậu vợ vua Chế Mân là công chúa nước Java đã chết trước đó nhiều năm?

Tháng 6 năm 1306 Chế Mân rước nàng về làm vợ, nàng vừa đúng 18 tuổi.

Tháng 5 năm 1307 Chế Mân chết.

Tháng 9 năm 1307 công chúa Huyền Trân sinh thế tử Chế Đa Da tại kinh đô Vijaya.

Mất một tháng cho chuyến hành trình rước dâu đi từ Thăng Long cho đến kinh đô Champa thì sớm nhất vể công chúa có mặt ở Champa và chung sống với Chế Mân cũng vào khoảng cuối tháng 7 hay trung tuần tháng 8 năm 1307.

Nếu tính sát sao như vậy, khi Chế Mân qua đời thì công chúa mang thai được 4 đến 5 tháng.

Theo phong tục vương triều Champa thì lễ trà tỳ cho vua là 7 đến 10 ngày sau khi vua băng hà.

Người ta không hỏa táng đối với phụ nữ đang mang thai, trẻ sơ sinh và những người vị thành niên vì người Bà la môn tin rằng phải chôn để cho những người này về với cát bụi, còn người trưởng thành thì hỏa táng để cho họ trở về với hư không và đó cũng là lý do tại sao công chúa không bị hỏa táng theo Chế Mân.

Tháng 10, an phủ sứ Đặng Vân và Trần Khắc Chung sang đón công chúa Huyền Trân, lúc đó công chúa đang ở trong thời gian hậu sản, công chúa vừa sinh xong tháng trước.

Thử phân tích tâm lý và tình trạng hậu sản của công chúa Huyền Trần lúc bấy giờ ta thấy có vài điểm cần lưu ý:

Chồng vừa mới chết.

Sinh con so, sinh con ở một nơi không có ai thân thuộc như mẹ, dì, chị em... ở một xứ có phong tục tập quán sinh nở khác với Đại Việt, điều này gây nên một tâm lý hoảng sợ lo âu cho sản phục, một ấn tượng sợ hãi có thể kéo dài trong nhiều tháng.

Công chúa đang ở trong thời gian hậu sản, về phương diện y học thì thời gian hậu sản này kéo dài vài tháng đến nửa năm, nếu như cách đây 700 năm với hiểu biết vệ sinh, phòng bệnh và các phương tiện, thuốc men chăm sóc cho một sản phụ sau khi sinh nở thì còn rất lạc hậu, đâu có cắt tầng sinh môn, đâu có trụ sinh, phòng cách ly vô trùng như bây giờ, vả lại đối với công chúa đây là lần sinh đầu tiên trong đời, sinh con so khó khăn gấp nhiều lần sinh con rạ, thời gian để lành vết thương hay rách âm đạo, thời gian để co hồi tử cung, hoặc nhiễm trùng hậu sản và phần phụ có thể kéo dài rất lâu, theo phong tục tập quán của người Việt Nam thời gian "phong long" là 3 tháng 10 ngày, người ta thường thường có thói quen treo trước phòng sản phụ một nắm lá cây xương rồng, đó là một dấu hêệu, nhắc nhở cho người đàn ông bêết chỉ được phép vào phòng vợ và tư thông sau khi cây xương rồng này khô đi!!! Đây chỉ là đầu thế kỷ XX mà thôi thì e rằng ở thế kỷ thứ XIV thời gian ở cử này còn lâu hơn nữa. Điều đó cho thấy về phương diện thuần túy Y Học khó thể có chuyện tư thông được.

Việc đưa Huyền Trân về Đại Việt có được thông báo cho nàng biết và có sự bằng lòng của nàng hay không?

VIỆC ĐƯA HUYỀN TRÂN RA BỜ BIỂN CHIÊU HỒN Ở VEN TRỜI, ĐÓN LINH HỒN CÙNG VE À, RỒI SẼ VÀO GIÀN THIÊU LÀ KẾT QUẢ CỦA VIỆC THƯƠNG LƯỢNG GIỮA SỨ THẦN TRẦN KHẮC CHUNG VỚI TRIỀU ĐÌNH MỚI CỦA CHAMPA HAY LÀ MỘT VỤ ĐÀO THOÁT.

Đại Việt là một quốc gia hùng mạnh và cường thịnh nhất vùng Đông Nam Á. Việc giao hảo Đại Việt Chiêm Thành ở vào một giai đoạn tốt đẹp nhất, hai nước đang cùng chung một chiến tuyến để chống quân xâm lược Mông Cổ. Người Chiêm Thành hiểu rõ hơn ai hết nếu công chúa Huyền Trân lên giàn hỏa thiêu để chết theo Chế Mân sẽ là một tai họa cho họ.

Nhiệm vụ của Trần Khắc Chung và ĐẶng Vân là phải thương thuyết làm sao cho mối bang giao giữa hai nước vẫn tốt đẹp mà phải đem công chúa về nước thật an toàn nhưng không làm thương tổn đến truyền thống đạo lý tôn giáo của Champa.

Giải pháp nào là giải pháp phù hợp nhất ắt có và đủ cho hai điều kêện đó mà không gây tổn thương cho hai nước?

Vậy, đưa công chúa ra bêển cầu hồn cho Chế Mân và làm lễ trà tỳ cho công chúa Huyền Trần là giải pháp tốt đẹp nhất vừa thực hiện đúng theo truyền thống Champa, vừa tiện lợi cho Trần Khắc Chung đưa công chúa về ăằng đường biển.

Giải pháp này cũng sẽ hợp lý nâất để cho thế tử Chế Đa Da ở lại Chiêm quốc vì thế tử là con vua Chế Mân vừa là một hoàng tử của Champa.

Chiêm Thành là một quốc gia có một dãi bờ biển khá dài, thạo về thủy chiến và có một đội chiến thuyền rất hùng hậu, điều đó có thể thấy được khi Chế Bồng Nga tấn công Đại Việt bằng thuyền chiến. Thuyền chiến của họ vào tận Thăng Long. Nếu Trần Khắc Chung dùng thuyền nhẹ để cướp thì liệu có dễ dàng vượt qua được hàng rào hải thuyền của Chiêm Thành không?

Việc đào thoát bằng đường biển liệu có an toàn cho sức khỏe công chúa hay không?

Thuyền của Khắc Chung nếu có thì đang ở trong vịnh Qui Nhơn (còn gọi là Thi bị, Thì Nại, hay Thị Nại) trước mặt kinh đô Vijaga như vậy là Khắc Chung đã vào sâu trong hải phận của Champa ít nhất là 600 cây số lúc đó (1285), biên giới của Chiêm Thành là tại Quảng Bình ngày nay.

Nếu có việc đánh tháo thì chắc chắn là có thể có sự rượt đuổi. Và liệu Khắc Chung có vượt qua một cách an toàn khi đi ngang qua cửa Qui Nhơn và các quân cảng của Chiêm Thành ở vùng Đại Lãnh, Hải VÂn, Cửa vịet hiện nay trước khi về Thăng Long?

Và nếu đi dùng ăằng cả mấy tháng thì có bị săn đuổi hay lấy lương thực thực phẩm ở đâu để tiếp tế?

Di chuyển bằng thuyền, đi trên biển đâu có phải nhẹ nhàng an toàn như trên sông hay trên mặt hồ!

Câu "Khắc Chung dùng thuyền nhẹ cướp lấy công chúa đem về, rồi tư thông với công chúa, đi đường biển loanh quanh chậm chạp lâu ngày mới về tới kinh đô". Câu này có vẻ như là một câu trong tiểu thuêết trữ tình hơn là xảy ra trên thực tế. Nếu đem phân tích trong điều kiện thực tế thì quả là thật gay cấn, riêng một chuyện tiếp tế lương thực, thực phẩm nước uống hay chống chọi lại một vài cơn bão, gió đổi mùa kiểu cấp 4, 5 là đủ xanh mặt rồi.

Thuyền chở công chúa với kỹ thuật đóng tàu thời bấy giờ có thể chịu nỗi để khỏi bị chìm?

Công chúa có bị say sóng không? Công chúa có thể dung dăng dung dẻ và tính chuyện tư thông?

Với một số sự kêện mà chúng tôi đưa ra thì có thể hình dung rằng khó có thể có chuyện tư thông giữa công chúa Huyền Trần và Nhập Nội Hành Khiển Thương Thư Tả Bộc Xạ Trần Khắc Chung được.

Nhưng tại sao ĐVSKTT lại chép chuyện này và sử thần Ngô Sĩ Liên lại lên án Trần Khắc Chung một cách quá nặng nề?

Trong ĐVSKTT trang 92, Ngô Sĩ Liên viết: "Thói gian tà của Trần Khắc Chung thật là quá quắt lắm! Không những hắn giỡ trò chó lợn ở đây mà sau này còn hùa vào với Văn Hiến vu hãm quốc phục thượng tể vào tội phản nghịch, làm chết oan đến hơn trăm người. Thế mà hắn được trọn đời phú quý. Khổng Tử nói: "Kẻ gian tà được sống sót là may mà được thoát tội chăng?"

Song sau khi hắn chết, gia nô của Thiệu Vũ Vương đào xác hắn lên mà vằm nhỏ ra thì lời thánh nhân càng đáng tin"

Hoặc ở trang 114 ông lại lên án một lần nữa: "Còn như Trần Khắc Chung cũng là nhân vật của một thời, vua trao cho hắn chức vị sư bảo, và đem việc nước hỏi hắn, đáng lẽ phải hết lòng trung khuyên can, để cho vua mình trở thành Nghiêu Thuấn mới phải. Thế mà lại hùa vào với kẻ quyền quý làm hại người ngay thẳng, đi theo bọn gian tà, đẩy người lành đến nỗi oan khiên, hãm đức vua việc tội lỗi. Việc ấy mà nhẫn tâm làm được, thì còn việc gì mà không nhẫn tâm làm được nữa. Sau lại xui vua cầu công đi đánh Chiêm Thành, thì cái thói nịnh hót lại hiện ra nữa. cho nên bậc làm vua khi chọn người hiền phải xét kỹ họ, là bở sợ rằng có đứa tiểu nhân như bọn Trần Khắc Chung có thể lọt vào trong đó vậy."

Chúng tôi xin hẹn kỳ sau sẽ tham luận tiếp. Một số câu hỏi chúng tôi muốn các bạn lưu ý là các đoạn viết về sự kiện Huyền Trân ở trong:

1. Bản Đại Việt Sử Ký thời nhà Trần vào khoảng năm 1310 có điều gì khác với Đại Việt Sử Ký Toàn Thư đơợc khắc in năm Chính Hòa thứ 18 không?

2. Bản Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (bản Chính Hòa năm 1697) mà chúng ta đang có, khác điều gì với những lời của sử thần Ngô Sĩ Liên bàn trước đó hơn 200 năm là vào những năm 1479 khi vua Lê Thánh Tông bổ nhiệm ông tu soạn Đại Việt Sử Ký Toàn Thư?

3. Ai là kẻ thù của Trần Khắc Chung?

4. Ai là kẻ thù của triều đại nhà Trần?

5. Các ngự sử trong triều đình Trần Anh Tông, Trần Minh Tông, Trần Hiến Tông liệu không có ai đàn hạch về chuyện tư thông này chăng?

6. Các nhân vật tên tuổi như Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu, Mạc Đỉnh Chi liệu không có ai lên tiếng về vấn đề này hay chăng?

7. Tại sao thượng hoàng Nhân Tông và vua Anh Tông im lặng trước chuyến đi đường biển loanh quanh chậm chạp lâu ngày mới về tới kinh đô? Có lẽ vua đã hiểu nỗi thống khổ, đau đớn, thời gian hậu sản kéo dài của cô con gái bất hạnh mong manh yếu ớt còn quá trẻ của mình?

Thứ Sáu, 24 tháng 3, 2023

CÂU CHUYỆN LỊCH SỬ: CÓ LẼ BẠN CHƯA BIẾT?


Khang Nguyen

Có đến 90% khả năng là bạn chưa biết gì về câu chuyện lịch sử này. Bởi vì...những bậc trí thức, học giả, những nhà nghiên cứu và giảng dạy lịch sử ở VN cũng không biết khi trả lời câu hỏi:

"Trước thế kỷ 20, cuộc xâm lược cuối cùng của Trung Quốc vào Việt Nam là cuộc xâm lược nào? Trong sự kiện ấy, ai là tổng chỉ huy của quân đội Trung Quốc? Ai là người đánh bại đội quân xâm lược đó?

Hầu hết người được hỏi đều trả lời: Đó là cuộc xâm lược của Mãn Thanh thời Hoàng đế Càn Long vào năm 1789, chỉ huy đội quân xâm lược là Tôn Sỹ Nghị, người đánh bại đội quân xâm lược đó là Hoàng đế Quang Trung.

Chỉ có một học giả duy nhất trả lời đúng: Cuộc xâm lược cuối cùng là vào thế kỷ 19, thời Từ Hy thái hậu của Mãn Thanh, chỉ huy đội quân xâm lược là Phùng Tử Tài, còn người đánh bại cuộc xâm lược đó của Trung Quốc là… thực dân Pháp.

Tại sao hầu hết những người am tường sách vở ở Việt Nam mà tôi có dịp được hỏi lại hoàn toàn không nhớ gì về cuộc xâm lược trong thế kỷ 19 này của Trung Quốc?

Vì nó hoàn toàn bị xoá khỏi lịch sử. Nó không được dạy trong chương trình sử ở cả bậc đại học lẫn trung học.

Cuối thế kỷ 19, Việt Nam đối diện với hai siêu cường, Pháp và Mãn Thanh, một bên đến từ phương Tây, mang theo nền văn minh của chủ nghĩa tư bản, một bên là thiên triều ngàn năm vẫn đang chìm đắm trong ảo giác mình là trung tâm của thế giới.

Ngay sau khi Pháp lấy Nam Kỳ, Mãn Thanh cũng lập kế hoạch đánh chiếm miền Bắc.

Mãn Thanh quyết tâm đánh chiếm Bắc Kỳ vì Việt Nam đã suy yếu, và nhằm bảo vệ mô hình thiên triều - chư hầu ngàn năm. Pháp thì quyết lấy nốt phần còn lại. Hai bên tất yếu bước vào một cuộc đụng đầu lịch sử, dần dần đi đến chỗ đánh nhau ác liệt ngay trên lãnh thổ Việt Nam, qua một loạt trận đánh như Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Hóa, Tuyên Quang năm 1883.

Mãn Thanh đã quyết tâm đến mức dốc tổng lực đánh bại Pháp trên đất liền, chiếm toàn bộ vùng trung du phía Bắc, áp sát khu vực đồng bằng sông Hồng. Thủ tướng Pháp phải từ chức. Nhưng quân Pháp lật ngược thế cờ bằng cách mở ra chiến trường trên biển, đánh chiếm đảo Đài Loan và huỷ diệt Bắc Dương hạm đội của Mãn Thanh ở Phúc Châu.

Mãn Thanh ban đầu thấy chỉ khả thi khi đặt mục tiêu giữ lại vùng Bắc Kỳ, nhưng khi phải ký vào Hiệp ước Thiên Tân 1885, Mãn Thanh buộc chấp nhận mất toàn bộ chư hầu Việt Nam.

Hiệp ước Thiên Tân 1885 giữa Pháp và Mãn Thanh đã tạo ra một bước ngoặt lịch sử cho cả Mãn Thanh và Việt Nam.

Nếu như việc phải nhượng địa Hong Kong cho nước Anh chỉ khiến Mãn Thanh thức tỉnh về khả năng kỹ thuật của phương Tây nhưng vẫn giữ vững niềm tin vào hệ thống thiên triều - chư hầu, thì đến khi mất chư hầu Việt Nam vào tay Pháp, ý thức hệ và cấu trúc thiên triều - chư hầu của họ bị đánh tận gốc rễ.

Việc Mãn Thanh không thể giữ Việt Nam trong cấu trúc thiên triều - chư hầu đã khiến Nhật Bản, lúc này đã trở thành một cường quốc, quyết định giành lấy một chư hầu khác của Mãn Thanh là Triều Tiên. Mãn Thanh tiếp tục mất Triều Tiên trong cuộc chiến Nhật Thanh 10 năm sau đó.

Từ đó, việc cấu trúc và ý thức hệ thiên triều - chư hầu bị sụp đổ toàn diện trong thế kỷ 19 trở thành một trong những nội dung chủ yếu của ý niệm “thế kỷ ô nhục” trong chủ nghĩa dân tộc Trung Hoa hiện đại.

Còn ở Việt Nam, do cuộc chiến Pháp - Thanh ảnh hưởng quá lớn đến số phận Việt Nam, nên dù xoá cuộc chiến này khỏi sách giáo khoa sử cho học sinh phổ thông, ngày nay, các sử gia ở Hà Nội vẫn phải dạy học sinh về một số điều liên quan đến cuộc chiến ấy: đội quân Cờ Đen của tướng Mãn Thanh là Lưu Vĩnh Phúc và Hiệp ước Thiên Tân 1885.

Đó là sự kiện không thể không dạy. Quân đội Lưu Vĩnh Phúc của Mãn Thanh đã lập hai chiến công là giết hai chỉ huy của Pháp trong hai trận ở Cầu Giấy, còn Hiệp ước Pháp - Thanh 1885 thì mở ra trang sử mới của Việt Nam.

Nhưng, nói về Lưu Vĩnh Phúc và Hiệp ước Pháp - Thanh mà lại không nói gì về cuộc chiến tranh quyết định quyền kiểm soát Việt Nam của hai nước Pháp - Thanh này, các sử gia của chúng ta đã cho học sinh phổ thông học một bức tranh lịch sử cận đại theo kiểu… Pháp xâm lược Việt Nam, rồi đột nhiên Mãn Thanh xuất hiện ký một hiệp ước quyết định số phận chúng ta.

Lưu Vĩnh Phúc vốn là quân Thái Bình Thiên Quốc, bị triều đình Mãn Thanh đánh bại, chạy sang Việt Nam làm thổ phỉ, gây ra vô số tội ác cho dân chúng. Triều đình Huế không thể đánh dẹp, phải nhờ Mãn Thanh đánh giúp. Nhưng khi triều đình Mãn Thanh cử quân đội vào Việt Nam để đụng đầu với Pháp, quân đội triều đình Mãn Thanh đã thâu nạp luôn đội quân thổ phỉ Lưu Vĩnh Phúc, ban cho phẩm hàm triều đình, thay vì tiêu diệt nó.

Sách giáo khoa sử lớp 7 hiện nay ở Việt Nam dùng khái niệm “quân ta” để gọi Lưu Vĩnh Phúc. Lối giáo dục này bắt đầu từ hơn 70 năm trước, khi sử gia Trần Văn Giàu và Trần Huy Liệu ở Hà Nội bắt đầu xây dựng bức tranh “lịch sử cận đại”. Lưu Vĩnh Phúc có tờ Hịch kêu gọi binh lính của mình đánh Pháp, trong đó, đoạn đầu tiên, ông nói rõ mục đích của cuộc chiến: "Việt Nam là chư hầu của Mãn Thanh, nay Pháp sang chiếm mất chư hầu của ta, ta và Pháp là kẻ thù không đội trời chung".

Sử gia Trần Văn Giàu làm gì khi trích dẫn bài Hịch này vào bộ sử “Bắc kỳ kháng Pháp”? Ông cắt bỏ đoạn mở đầu thể hiện rõ ý thức hệ và mục đích chiến tranh của họ Lưu đó đi. Nhờ thế, sử gia họ Trần dễ dàng gắn huân chương “tình hữu nghị chiến đấu của hai dân tộc Việt Trung” cho Lưu Vĩnh Phúc.

Xoá bỏ cuộc xâm lược của Mãn Thanh và cuộc chiến Pháp-Thanh vào thế kỷ 19, các sử gia miền Bắc xây dựng thế kỷ 19 theo mô hình phân đôi: một bên là thực dân Pháp xâm lược, nhà Nguyễn hèn nhát hàng giặc, một bên là “dân tộc” anh hùng kháng chiến chống ngoại xâm.

Trên cái nền bức tranh phân đôi con người làm hai tuyến, bên trái là “xâm lược phương Tây” và bên phải là “nhân dân anh hùng”, người ta lần lượt điêu khắc các nhân vật lịch sử sao cho "ăn khớp" với bức tranh ấy: Alexandre de Rhodes dĩ nhiên thuộc bên trái bức tranh, phong trào văn thân (vốn không có ý niệm về lòng ái quốc mà chỉ chống người theo đạo Thiên chúa để bảo vệ hệ thống phong kiến nơi họ có thể tìm thấy vị trí xã hội của mình) được xếp vào bên phải.

Vẽ bức tranh thế kỷ 19 theo cách ấy, các sử gia của Viện Sử học ở Hà Nội từ thập niên 1950 dễ dàng tiếp tục vẽ bức tranh của giai đoạn tiếp theo như cách chúng ta thấy trong các giáo trình “Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam” ngày nay: “nhân dân” tuy anh hùng nhưng không có đường lối đấu tranh đúng đắn, liên tục thất bại cho đến khi Đảng Cộng sản ra đời, mang về Việt Nam vũ khí tối tân là con đường cách mạng vô sản. Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân vật trung tâm của bức tranh. Lịch sử quốc gia thế kỷ 20 được đồng nhất với lịch sử Đảng.

Cách học ấy bắt đầu từ giữa thập niên 1950, đến nay đã kéo dài khoảng 4 thế hệ.

Trần Trọng Kim, người cha của sử học hiện đại Việt Nam, 1883-1953

Cuộc chiến Pháp -Thanh và sự thất bại của Việt Nam khi bị kẹt giữa hai siêu cường ấy đã được sử gia hiện đại đầu tiên của Việt Nam, Trần Trọng Kim, phân tích kỹ lưỡng trong “Việt Nam sử lược”, bộ sách giáo khoa lịch sử đầu tiên của nước Việt Nam, xuất bản vào 1919-1920. Cuốn sách này đã bị cấm ở miền Bắc sau 1954 và toàn quốc sau 1975. Nếu chấp nhận phục hồi ký ức về cuộc xâm lược của Mãn Thanh và cuộc chiến Pháp-Thanh thế kỷ 19, chúng ta sẽ phải chấp nhận bức tranh thế kỷ ấy như người cha của nền sử học Việt Nam đã khắc họa một cách khách quan: Đó là thế kỷ mà Việt Nam bị mắc kẹt vào hai gọng kìm Pháp-Thanh, bị giằng xé giữa hai mô hình “chư hầu của thiên triều phương Bắc” và “thuộc địa của thực dân phương Tây”, bị buộc phải lựa chọn giữa hai con đường “Tây phương hoá” hay “tiếp tục nằm trong vòng ảnh hưởng của vùng văn hoá chữ Hán”.

Điều đó có nghĩa là bức tranh lịch sử từ đầu thế kỷ 20 cũng cần được vẽ lại toàn bộ. Trong bức tranh này, vị trí của các lực lựợng chính trị, các phong trào xã hội, các vấn đề thuộc phạm vi tinh thần như lịch sử tư tưởng, văn hoá, văn học nghệ thuật… cũng sẽ được tái định vị một cách căn bản.

Năm 1987, sử gia Nhật Bản Tsuboi Yoshiharu xuất bản “Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa”, phân tích thế kỷ 19, trọng tâm là thời Tự Đức, như là thời đại Việt Nam mắc kẹt giữa hai siêu cường. Cuốn sách được các học giả Nguyễn Đình Đầu, Bùi Trân Phượng, Tăng Văn Hỷ, Vũ Văn Kính dịch ra tiếng Việt và Trần Văn Giàu là người viết lời giới thiệu. Trần Văn Giàu đã đánh giá cách tiếp cận của Tsuboi là “mới mẻ” mà “quên” mất rằng, cách hiểu ấy về thế kỷ 19 đã ra đời ngay từ đầu thế kỷ 20, trước sử gia Nhật Bản ấy đến bảy thập niên, trong “Việt Nam sử lược”, cuốn sách mà chính các sử gia kiêm chính trị gia ở Hà Nội đã cấm đoán từ thập niên 1950 để độc quyền một cách kể chuyện lịch sử duy nhất.

Nhận thức về lịch sử (trả lời câu hỏi “chúng ta đến đây từ đâu và như thế nào?”) và lựa chọn chính trị (trả lời câu hỏi “chúng ta làm gì bây giờ?”) chỉ là hai mặt của một tờ giấy. Hiểu theo cách đó, như ta thấy qua câu chuyện phản đối đặt tên đường cho Alexandre de Rhodes nói trên, những lựa chọn của người Việt Nam hôm nay vẫn chìm đắm trong một màn sương mù của tư duy được đình hình từ giữa thế kỷ trước bởi Ban nghiên cứu Văn Sử Địa.

Lãng quên bài học thất bại khi đối diện yêu cầu lịch sử phải lựa chọn giữa Pháp - Thanh với tư cách là hai mô hình, hai thế giới, Việt Nam ngày nay tiếp tục đối diện câu hỏi ấy một lần nữa.

(Nguồn: Khôi Nguyễn, Đại học Oregon).

Dung Tran

KieuHuong

Nguồn copy Hà Nội Tri Thức - Connaissance De Hanoï - Knowledge Of Hanoi

Invite

Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2020

LỮ GIA TỂ TƯỚNG

Tập một: Từ thuở lập quốc đến chấm dứt 1000 năm Bắc Thuộc

Biên soạn: Lê Nghị
Ảnh, tranh: sưu tầm

LỮ GIA TỂ TƯỚNG

1.Dẫn nhập: (dành cho người lớn trợ giảng)

Lữ Gia là nhân vật chính sử.
Phối hợp sử sách, các đền tích và văn tế lưu lại cho biết 30 năm sau khi Triệu Vũ Đế mất, người phò tá nhà Triệu là Lữ Gia một người Việt quê Thanh Hoá, vốn có tiếng là người nhân nghĩa, được Triệu Đà tuyển dụng làm quan triều đình Nam Việt tại kinh đô Phiên Ngung.

Tể tướng Lữ Gia là người đại diện cho phe chống lại âm mưu sáp nhập Nam Việt vào nhà Tây Hán. Triệu Minh vương bệnh nặng, bọn quyền thần do Hán mua chuộc đã xúi Minh vương vốn có người vợ thứ họ Cù người Hán, phế con trưởng người Việt, lập con Cù thị lên làm thái tử. Minh vương qua đời, Cù thị làm thái hậu, con làm vua hiệu Triệu Ai vương lên ngôi mới 6 tuổi. Cù thị nguyên trước khi vua Hán gã làm thiếp Minh Vương đã thông dâm với một tướng Hán tên An Quốc Thiếu Quý. Việc phế trưởng Việt lập thứ lai Hán gây chia rẻ triều đình.

Thấy thời cơ đã tới, vua nhỏ, thái hậu nội gián, vua Hán sai người tình Thiếu Quý cùng sứ giả đến Phiên Ngung gọi là viếng tang, với nhiệm vụ đặt bàn mưu sáp nhập. Cù thị lưu giữ Thiếu Quý trong cung tiếp tục mây mưa. Lữ gia ngăn cản không được. Cù, Quý âm mưu ám sát Lữ Gia không thành. Ông làm bố cáo hạch tội bán nước , giết cả đoàn sứ, Cù thị và Ai Vương. Lập con trưởng người Việt lên làm vua hiệu là Triệu Dương Vương. Vua Hán sai tướng Hàn Thiên Thu đem quân trừng phạt bị quân Nam Việt diệt gọn khi mới vào tới biên thuỳ.

Nhà Hán sử dụng biện pháp mua chuộc U Việt hứa cho giữ độc lập và đất cả Mân Việt. Lại mua chuộc phái đối lập với vua Mân Việt vốn là liên minh với Nam Việt hứa cho giữ độc lập. U Việt mở đường cho đại quân Hán đi qua, phe phản chủ Mân Việt đầu hàng, quân Hán dưới sự chỉ huy của Lộ Bác Đức tấn công Phiên Ngung, Triệu Dương Vương thủ thành hy sinh.Hán sử cho rằng cũng bắt được Lữ Gia khi chạy ra biển, nhưng cũng mất 6 tháng mới dẹp được kháng chiến gây thiệt hại nặng cho nhà Hán ở Âu Lạc cũ.

Nhưng truyền thuyết lại cho rằng Lữ Gia cùng hai người vợ rút về Sông Lô, Phúc Yên kháng chiến. Ông bị Chu Năng, một quan lang đóng ở tiền phương phản bội, nửa đêm đưa quân Hán bất ngờ tập kích, Lữ Gia xông trận thét lên câu nói lưu truyền: "Ta sống làm tướng chết làm thần".
Ông tử trận và họ Lữ miền Bắc giỗ ông vào ngày 25/ 3 Âm lịch hàng năm.
Lưu truyền hai bà vợ trả thù đem quân bao Chu Năng, nhưng lực mỏng không giết nổi Chu Năng, ông hiện ra trên trời cưỡi ngựa dùng kim đao chém rụng đầu Chu Năng. Từ câu thét của ông và câu truyện chém Chu Năng, ông được dân thời đó tôn hiển thánh.

Cảnh Quan Vũ hiển thánh Thời Tam quốc trong Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa hơn 400 năm sau giống như là bản sao của Lữ Gia hiển thánh.

Qua truyện ta thấy suốt một 96 năm, Tàu luôn âm mưu đợi thời cơ nuốt chửng Nam Việt. Do vậy vua Trần Nhân Tông trước khi qua đời đã dặn dò con cháu không bao giờ mất cảnh giác với Bắc quốc.

2.Bài học: (dành cho trẻ em)

Xét nhân vật khi không còn sử
Bởi ngàn xưa mưu dữ ngoại bang
Bao nhiêu sách sử tro tàn
Phải thêm đền tích nhân gian tỏ bày (1)

Lữ Gia vốn thẳng ngay hào khí
Tuổi thanh xuân đã trị gian tà (2)
Hiền tài ắt tiếng đồn xa
Từ quê Thanh Hoá lan ra triều đình (3)

Thật xứng bậc anh minh tể tướng
Ba đời vua đều hưởng tam công (4)
Bốn phương dân chúng hài lòng
Tuổi cao: nghiêng ngữa non sông, phải đành

Luận bán nước rành rành bố cáo
Chém sứ Tàu rõ báo ơn vua
Một phen độc lập thắng thua
Vẹn tình non nước sau xưa mấy người

Tục cáo chết đầu thời quay núi (5)
Giao Chỉ quê trận cuối hậu phương.
Một lòng theo chí tiên vương
Chấp khi vận nước cùng đường đầu rơi
************************
Hiện uy nghi lưng trời cưởi ngựa
Quét kim đao chém đứa phản thần (6)
Người xưa muốn ngụ ý rằng
Diệt phường bán nước: lòng dân ý trời

Tướng nước Nam nghìn đời hiển thánh
Vượt dũng - trung sau sánh Quan Công (7)
Dũng - Nhân giòng giống Tiên rồng
Sử xanh lưu tiếng dân đồng khói hương (8)

3. Chú: (dành cho trẻ em)

1. Đến nay chưa biết nhà Triệu đã ghi chép lịch sử như thế nào. Nhà Hán học gương Tần Thuỷ Hoàng luôn cho đốt sách vở , thư tịch gốc khi xâm chiếm một nước để sau dễ lung lạc lịch sử. Đời nhà Minh xâm lược nước ta đã cho gom sử sách đốt hết lần nữa .Nguyễn Trãi có nhắc lại trong Bình Ngô đại cáo. Do đó phải dựa thêm vào đền tích và truyện lưu truyền.

2. Khoảng tuổi 20, Lữ Gia giết quan ức hiếp dân lành : Trịnh Đào bộ trưởng Vũ Ninh, bắc sông Hồng.Triệu Đà biết tiếng sử dụng.

3. Triều đình lúc đó đóng ở Phiên Ngung (Quảng Đông nay). Lữ Gia gốc Âu Lạc, chứng tỏ nhà Triệu không hề xâm lược, trọng hiền tài .

4. Tam công: thái sư , thái phó, thái uý là ba chức vụ cao nhất sau vua thời đó. Suốt 3 đời vua sau Triệu Đà, Lữ Gia nằm hàng tam công. Lữ Gia được người Việt kính nể hơn cả vua các đời sau, chỉ xếp sau Triệu Đà. (theo Hán sử)

5. Thái hậu: mẹ Triệu Ai Vương, gốc Hán, mưu với sứ Tàu nhập Nam Việt vào Hán quốc.Hai mẹ con ,toàn bộ sứ Tàu và quân lính tuỳ tùng âm mưu giết Lữ Gia không thành, Lữ Thừa tướng bố cáo luận tội và giết hết, lập người con trưởng mẹ Việt tên Kiến Đức lên làm vua, hiệu Triệu Dương Vương.

6. Thành ngữ quen thuộc của người Việt : cáo chết quay đầu về núi, ý chỉ lòng hướng về quê cha đất tổ.

7. Hậu phương: Triệu Đà sáp nhập Âu Lạc là ý đồ chiến lược có hậu phương hùng mạnh để giữ vững độc lập, nhờ vậy Nam Việt tồn tại gần 100 năm.

8.Tương truyền hai bà vợ người Việt họ Hùng kháng chiến vùng Sông Lô, vây Chu Năng quan lang phản bội và Lữ Gia cưởi ngựa từ trời quét đao chém rớt đầu Chu Năng.

9. Quan Vũ theo Lưu Bị, từng hàng kẻ thù Tào Tháo thời tam quốc, (sau Lữ Gia khoảng hơn 400 năm) cải lời quân sư, lầm mưu chết trận cũng được tôn hiển thánh bên Tàu.

Đền thờ Lữ Gia, hai người vợ người vợ Việt họ Hùng và cả một người vợ người Việt của Triệu Đà, được dân chúng lập đền thờ rải rác Bắc bộ, kèm văn tế , lời ca ngợi có giá trị.
Sưu tầm trên Facebook
Xem thêm: Thừa tướng Lữ Gia cùng nươc Nam Việt của Nhà Triệu