XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG

Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2026

PHÁP GIA TRONG TRIẾT HỌC TRUNG HOA - NƯỚC TẦN


Hôm trước có đọc được một bài viết về Tần quốc nổi lên, nay tôi xin giới thiệu với các bạn một nghiên cứu khá nổi tiếng về Pháp gia (hay còn gọi là Legalism) của nhà Hán học người Dai Thó gốc Ukraine là Yuri Pines. Đây cũng là nghiên cứu chung tiếng tăm bậc nhất bằng tiếng Anh về trường phái này. Vì quá dài nên tôi sẽ trích chủ yếu là mục 4 và 5 trước, bạn nào cần đọc đầy đủ thì có thể lên mạng tìm tên tác giả.
I. Trước tiên cần phải làm rõ 1 số hiểu lầm trước & Tóm tắt phần đầu bài viết của Yuri Pines :
- Khác với định nghĩa "Pháp quyền" của Phương Tây, Pháp gia là một trường phái không chỉ có nghĩa là áp đặt pháp luật, hay ủng hộ, xây dựng, coi trọng pháp luật. Pháp thường có thể chỉ “chuẩn mực,” “mô hình,” “quy phạm,” “phương pháp,” và những thứ tương tự; đôi khi nó chỉ toàn bộ các thiết chế chính trị. Điều này sẽ được chứng minh ở dưới khi ngay cả các nhà pháp gia như Hàn Phi cũng phản đối việc áp dụng pháp luật máy móc hoặc đặt kiểm soát xã hội lên trên tất cả;
- Pháp gia vốn không có một hệ thống tư tưởng được xây dựng, và kinh điển chặt chẽ qua thời gian: Thuật ngữ Pháp gia chỉ lần đầu được đặt ra bởi cha của Tư Mã Thiên, Tư Mã Đàm trong “Bàn về những yếu chỉ của sáu trường phái tư tưởng." Một thế kỷ sau, danh mục các tài liệu Pháp gia mới được sáng tạo ra: Một viên quản thủ thư viện nhà Hán là Lưu Hướng áp dụng cách gọi này cho mười văn bản trong thư viện của nhà Hán. Từ đó thì cách gọi Pháp gia cho các nhà tư tưởng này mới trở nên phổ biến - mà rõ ràng không phải vì họ đã ở trong một "trường phái" trước đó, mà chỉ bởi vì các tác phẩm của họ có những đặc điểm giống nhau;
- Tần là nước Pháp gia?
Tính từ Tần Hiếu Công (người dùng Thương Ưởng) đến Tần Thủy Hoàng, nước Tần đã trải qua 7 đời vua:
  • Tần Hiếu Công (361-338 TCN)
  • Tần Huệ Văn Vương (338-311 TCN)
  • Tần Vũ Vương (310-307 TCN)
  • Tần Chiêu Tương Vương (306-250 TCN)
  • Tần Hiếu Văn Vương (250 TCN- chỉ 3 ngày)
  • Tần Trang Tương Vương (249-247 TCN)
  • Tần Thủy Hoàng (247-210 TCN)
Người ta cho rằng kể từ thời Tần Hiếu Công và Thương Ưởng, Tần là nước đã áp dụng và đề cao Pháp gia. Tuy nhiên, theo như các nghiên cứu ngày nay, mặc dù Thương Ưởng và Thân Bất Hại (sau này có cả Thận Đáo) luôn được gộp chung vào với Hàn Phi, và mặc dù có những người sống cách xa đó rất lâu như Quản Trọng cũng được xếp vào Pháp gia, nhìn chung thì Hàn Phi vẫn là đại diện tiêu biểu nhất của Pháp gia, kể từ thời Hán, và là người triển khai, cũng như phân tích, biện luận thêm các ý tưởng của Thương Ưởng và Thân Bất Hại.
Vậy nên có những nhà nghiên cứu cho rằng nước tần từ thời Tần Hiếu Công đến Tần Thủy Hoàng (và Hàn Phi/Lý Tư) là Proto-Legalism (Proto-Pháp Gia). Đặc biệt nếu xét tới việc dưới thời Tần Thủy Hoàng (và từ trước đó), nước Tần đã đi ngược lại với rất nhiều các chính sách được quảng bá bởi Hàn Phi như: Vua quá tự tin vào năng lực của mình (đọc Lã Tư Miễn để biết nhận định này có cơ sở), can dự sâu vào chính trị, thể hiện sự thiên lệch, yêu-ghét rõ ràng với các đại thần, không có cơ chế kiểm soát đại thần, áp dụng hình ngục/kiểm soát xã hội ngày càng chặt chẽ, v...v...
-------------------------------------------------------
II. Văn bản: Legalism in Chinese Philosophy
4. Sắp xếp bộ máy quan liêu
Để cai trị và kiểm soát dân chúng một cách hiệu quả, chính quyền nên dựa vào một bộ máy quan liêu rộng lớn; nhưng bản thân bộ máy quan liêu này đến lượt nó phải được bố trí nhân sự một cách thích đáng và bị giám sát chặt chẽ. Chính trong phương diện này mà các nhà tư tưởng Pháp gia đã có đóng góp lâu dài cho tư tưởng hành chính và thực tiễn hành chính của Trung Quốc. Sự nghi ngờ được thể hiện rất mạnh mẽ của họ đối với các đại thần mưu mô và các quan chức ích kỷ đã góp phần dẫn tới việc ban hành những phương tiện phi cá nhân trong tuyển dụng, thăng chức, giáng chức, và kiểm soát hiệu suất. Những phương tiện này trở nên không thể thiếu đối với bộ máy quan liêu của Trung Quốc trong nhiều thiên niên kỷ về sau (Creel 1974).
4.1 Tuyển dụng và thăng chức: Mô hình công trạng trị của pháp gia
Một trong những vấn đề chính mà các nhà cai trị thời Chiến Quốc phải đối mặt là vấn đề tuyển dụng người vào phục vụ trong chính quyền. Trong thời kỳ Xuân Thu quý tộc, tuyệt đại đa số quan chức là hậu duệ của các dòng họ khanh tướng thế tập; chỉ trong những trường hợp ngoại lệ thì người ngoài mới có thể gia nhập chính quyền. Tình hình này đã thay đổi vào cuối thế kỷ thứ năm TCN, khi các dòng họ quý tộc phần lớn bị loại bỏ trong các cuộc đấu tranh nội bộ, và các thành viên của tầng lớp quý tộc thấp hơn - cái gọi là “kẻ sĩ” hay shi 士 - có thể tiến lên trên nấc thang quan trường. Chính khi đó, diễn ngôn dựa trên công trạng về việc “đề cao người xứng đáng” (shang xian – Thượng hiền – 尚賢) lan rộng, và sự chuyển dịch cấp bậc xã hội theo hướng từ dưới đi lên mới được chấp nhận chính thức (Pines 2013c). Tuy vậy, ai là “người xứng đáng” và làm thế nào để xác định giá trị của một người lại là vấn đề có rất nhiều bất định và hỗn loạn.
Một mô hình được Nho gia đề xuất. Đó là một mô hình từ dưới lên. Giá trị của một người với tư cách là “quân tử” chủ yếu được xác định bởi đạo đức của người đó; và những người có thể phán đoán đạo đức ấy chính là những người đồng cấp với họ. Trên thực tế, điều này có nghĩa là quân chủ nên nghe theo ý kiến của tầng lớp tinh hoa và bổ nhiệm những người đã có danh tiếng về phẩm chất đạo đức (Hiếu liêm). Đối với các nhà tư tưởng Pháp gia - đây là một ảo tưởng nguy hiểm. Trong mắt họ, sự mơ hồ của định nghĩa về “hiền tài” đã được cố ý cài vào mô hình Nho gia nhằm mở ra cơ hội thăng tiến cho những kẻ nói suông vô dụng. 《Thương Quân thư》 làm rõ:
Cái mà thiên hạ gọi là “hiền tài” là người được xác định là ngay thẳng; nhưng những kẻ xác định hắn là tốt và ngay thẳng lại chính là bè đảng của hắn. Khi ngươi nghe lời hắn nói, ngươi cho rằng hắn có năng lực; khi ngươi hỏi bè đảng của hắn, họ tán thành điều đó. Vì thế, một người được phong tước trước khi có bất cứ công lao nào; một người bị trừng phạt trước khi phạm bất cứ tội nào.
(Thương Quân thư 25.1, “Chú ý đến pháp luật”)
Tác giả đã nhận ra rất sắc bén vấn đề của các chiến dịch PR, trong đó năng lực và giá trị của người được bổ nhiệm được quyết định bởi danh tiếng của anh ta, mà danh tiếng ấy đến lượt nó lại được tạo ra bởi bè đảng của anh ta, hoặc một “phe nhóm” (dang – Đảng – 黨). Kết quả là sự sinh sôi của những “hiền tài” fake. Sự sinh sôi này trở nên khả dĩ bởi vì quân chủ rất dễ bị thao túng và dẫn dắt sai lạc bởi những kẻ che giấu lòng ích kỷ của mình đằng sau các tuyên ngôn cao đẹp. Thận Đáo còn cảnh báo quân chủ rằng nếu ông quyết định việc thăng chức và giáng chức dựa trên ấn tượng cá nhân của mình, điều này sẽ gây ra những kỳ vọng bị thổi phồng hoặc sự oán giận quá mức trong đám bề tôi:
…(Đoạn trích của Thận Đáo – Đại khái nói rằng quân chủ không nên dựa vào tình cảm/quan điểm cá nhân để thưởng, phạt, mà phải dựa trên 1 hệ thống nhất định).
Để tránh sai lầm, để loại bỏ những “hiền tài” giả, và để tránh sự oán giận, quân chủ tuyệt đối không nên dựa vào phán đoán riêng của mình. Thay vào đó, việc thăng chức và giáng chức chỉ nên dựa trên các chuẩn mực phi cá nhân. Hàn Phi làm rõ:
Vì vậy, đối với quan lại của một vị quân chủ sáng suốt: các đại thần đứng đầu và tể tướng phải đi lên từ hàng quan lại địa phương; các tướng lĩnh dũng mãnh phải đi lên từ hàng ngũ binh sĩ. Người có công thì phải được thưởng: khi đó tước vị và bổng lộc sẽ dồi dào, và họ sẽ càng được khích lệ hơn. Người được thăng tiến và đi lên các chức vụ cao hơn thì trách nhiệm quan chức của người ấy tăng lên, và người ấy thực hiện nhiệm vụ của mình ngày càng có trật tự hơn. Khi tước vị và bổng lộc lớn, còn trách nhiệm quan chức được sắp xếp tốt — đó là Đạo của [chân] quân chủ.
(Hàn Phi tử 50.5, “Hiển học”)
Hàn Phi đề xuất một hệ thống trọng dụng theo công trạng, một hệ thống không phụ thuộc vào khái niệm mơ hồ về “hiền tài”, mà vận hành theo các tiêu chuẩn khách quan về công lao. Các quan chức hành chính và quân sự sẽ được thăng tiến từ các cấp thấp hơn trong bộ máy quan liêu và quân đội; họ sẽ được đánh giá theo thành tích, và nếu thành công, sẽ được trao cho những chức vụ ngày càng quan trọng hơn. Dù hệ thống này còn lâu mới hoàn hảo - nó không giải thích người dân sẽ gia nhập bộ máy hành chính ngay từ đầu bằng cách nào - nó vẫn tinh vi hơn nhiều so với bất cứ điều gì được đề xuất trong các văn bản khác thời Chiến Quốc. Nó có sự tương đồng rõ rệt với các quy tắc thăng tiến trong những hệ thống trọng dụng theo công trạng hiện đại như quân đội hoặc giới học thuật. Và đó là hệ thống dễ được liên hệ nhất với tình trạng hiện nay ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
4.2 Giám sát quan lại: các thuật trị quốc
Thiên “Định pháp” của Hàn Phi tử nổi tiếng vì đã phê phán Thương Ưởng quá tập trung vào Pháp - trong ngữ cảnh này nghĩa là kiểm soát xã hội - trong khi không quan tâm đầy đủ đến các vấn đề cai trị bộ máy chính trị. Trái lại, Hàn Phi - cũng như Thân Bất Hại, người mà nhiều tư tưởng đã được Hàn Phi tiếp thu - lại dành sự chú ý chủ yếu cho vấn đề ở sau. Nhận xét của Hàn Phi rằng “bậc thánh nhân chỉnh đốn quan lại, chứ không phải dân chúng” (Hàn Phi tử 35.4.1) là một nhận xét sâu sắc. Không vấn đề nào có thể được xử lý thỏa đáng trừ khi quân chủ sở hữu một bộ máy quan liêu hiệu quả và biết phản ứng.
Xử lý giới quan liêu đặt ra hai vấn đề. Thứ nhất, Hàn Phi giả định rằng quan lại thông thường sẽ làm mọi điều có thể để phục vụ nhu cầu ích kỷ của mình, dẫn đến bê trễ chức trách, tham nhũng, và kết quả là làm suy yếu khả năng cai trị. Thứ hai, và đây là điểm đặc thù hơn của Hàn Phi tử, văn bản này liên tục cảnh báo rằng vấn đề thực sự của quan lại không chỉ là tham nhũng và kém hiệu quả. Đúng hơn, các quan lại quyền thế có xu hướng lật đổ quyền lực của quân chủ, thậm chí công khai tiếm ngôi. Một quân chủ thận trọng phải xử lý thỏa đáng cả hai mối đe dọa — gián tiếp và trực tiếp. Để làm điều đó, ông phải dành sự chú ý tối đa cho “thuật trị quốc” (shu – Thuật - 術).
Thuật ngữ Thuật có hai khía cạnh. Thứ nhất, nó chỉ một loạt công cụ quan liêu nhằm giám sát thành tích của quan lại. Ví dụ: “Thuật là trao chức vụ dựa trên trách nhiệm cụ thể, đòi hỏi thành tích dựa trên danh phận/chức danh, nắm giữ các đòn bẩy sinh tử, và khảo xét năng lực của các đại thần” (Hàn Phi tử 43.1.2, “Định pháp”). Đây là những cơ chế hợp lý có thể được sử dụng thỏa đáng trong quản trị hiện đại. Điều tương tự cũng đúng với sự nhấn mạnh của văn bản rằng quân chủ phải giữ quyền kiểm soát tuyệt đối đối với thưởng và phạt. Tuy nhiên, còn có một khía cạnh thứ hai, và gây vấn đề hơn, của Thuật: nó chỉ một loạt phương tiện nhằm bảo vệ quyền lực của quân chủ trước các thuộc hạ mưu mô của ông. Mối quan ngại nền tảng này hiện lên rất rõ trong thảo luận của Hàn Phi về nguyên tắc “hình danh” (xingming 形名) — một trong những yếu tố then chốt trong tư tưởng hành chính của ông, đối với thuật ngữ Hình danh, xem Makeham 1990–91; Indracollo sắp xuất bản. Hàn Phi tử giải thích:
Một vị quân chủ muốn trấn áp sự phản trắc thì phải khảo xét và đối chiếu thành tích, hoặc hình (xing 形), với chức danh/tên gọi, hoặc danh (ming 名). Hình và danh chỉ sự khác biệt giữa đề xuất và nhiệm vụ. Đại thần trình bày đề xuất của mình; quân chủ giao nhiệm vụ cho người ấy theo đề xuất đó, và chỉ dựa trên nhiệm vụ ấy để xác định công lao [của đại thần]. Khi công lao khớp với nhiệm vụ, và nhiệm vụ khớp với đề xuất, [đại thần] được thưởng; khi công lao không khớp với nhiệm vụ và nhiệm vụ không khớp với đề xuất, người ấy bị phạt. … Vì vậy, khi vị quân chủ sáng suốt nuôi dưỡng bề tôi của mình, đại thần không được nhận công bằng cách vượt quá [phạm vi chức trách] của chức vụ mình, cũng không được trình bày đề xuất không khớp với [nhiệm vụ của mình]. Người vượt quá [chức trách của] chức vụ mình thì chết; người [có đề xuất] không khớp với [nhiệm vụ] thì bị phạt; như vậy các đại thần không thể kết thành phe cánh và bè đảng.
(Hàn Phi tử 7.2, “Nhị bính” — “Hai đòn bẩy”)
Goldin (2020: 214) so sánh khái niệm “hình danh” với việc kêu gọi đấu thầu hiện đại. Một đại thần đưa ra đề xuất dựa trên chức trách chính thức của mình; thành tích thực tế của ông ta sau đó được đối chiếu với đề xuất ấy, và kết quả — thưởng hay phạt — được xác định tương ứng. Dù người ta có chấp nhận logic của phong cách quản trị này hay không, có thể nói an toàn rằng về nguyên tắc nó không gây tranh cãi. Tuy nhiên, ở trên nó được đặt trong bối cảnh cuộc đấu tranh của quân chủ chống lại sự phản trắc của đại thần, chống lại bè phái và phe nhóm. Điều này đưa chúng ta tới khía cạnh gây vấn đề hơn trong Thuật của Hàn Phi: bản chất bí mật và xảo thuật của chúng. Hàn Phi giải thích:
Về thuật trị quốc, chúng được giấu kín trong lồng ngực. Đó là thứ nhờ đó ngươi đối chiếu tất cả các đầu mối khác nhau và từ nơi bí mật của mình điều khiển các đại thần. Vì vậy, pháp luật (Pháp) tốt nhất là khi chúng rõ ràng, còn thuật thì không nên bị nhìn thấy.
(Hàn Phi tử 38.8.2, “Nạn tam” — “Vấn nạn 3”)
Lý do đằng sau sự bí mật này là các thuật trị quốc không chỉ nhằm giúp quân chủ hoàn thiện cơ chế quan liêu, mà cấp bách hơn, nhằm bảo vệ ông trước những phụ tá thân cận nhất. Hàn Phi tử kiên quyết trong những cảnh báo lặp đi lặp lại dành cho quân chủ: hãy đề phòng tất cả mọi người; đặc biệt là các đại thần của ngươi. Ví dụ, thiên 8, “Dương quyền”, nêu rằng:
Hoàng Đế nói: “Mỗi ngày có một trăm trận chiến diễn ra giữa bề trên và thuộc hạ của mình.” Thuộc hạ che giấu [lợi ích] ích kỷ của họ, cố thử thách bề trên; bề trên sử dụng chuẩn mực và thước đo để hạn chế thuộc hạ. Vì thế, khi chuẩn mực và thước đo được thiết lập, chúng là báu vật của quân chủ; khi phe cánh và bè đảng hình thành, chúng là báu vật của các đại thần. Nếu một đại thần không giết quân chủ của mình, đó là vì phe cánh và bè đảng chưa hình thành mà thôi.
(Hàn Phi tử 8.8 )
Thật đáng kinh ngạc, Hàn Phi - bản thân ông là một người đang khao khát trở thành đại thần - kết luận rằng các đại thần, theo định nghĩa, là kẻ thù sinh tử của quân chủ. Nếu họ chưa thực hiện việc ám sát, đó chỉ là vì họ chưa chuẩn bị đầy đủ; hoặc, như văn bản giải thích ở chỗ khác, vì quân chủ đủ thận trọng để đánh lừa họ thông qua việc áp dụng đúng các thuật trị quốc. Quan điểm của Hàn Phi vang vọng đánh giá của Thân Bất Hại rằng kẻ thù thực sự của quân chủ không phải là những kẻ bên ngoài, “quân xâm lược và đạo tặc”, mà là một kẻ bên trong: một đại thần, kẻ “bằng cách giới hạn điều quân chủ nhìn thấy và hạn chế điều quân chủ nghe thấy, chiếm đoạt chính quyền của ông, độc chiếm mệnh lệnh của ông, sở hữu dân chúng của ông và đoạt lấy quốc gia của ông” (Creel 1974: 344, bản dịch có sửa đổi).
Tư duy chống đại thần rất rõ nét này của các nhà tư tưởng Pháp gia là nền tảng cho một số khuyến nghị đáng nghi ngờ nhất của Hàn Phi dành cho quân chủ, chẳng hạn như “ban ra mệnh lệnh gây bối rối” hoặc “nói điều ngược lại với điều ngươi muốn nói” (Hàn Phi tử 30.0.0, “Nội trữ thuyết thượng: Thất thuật”). Sự va chạm giữa tính công bằng và minh bạch của Pháp với tính xảo trá và bí mật của Thuật hiện rõ nhất ở đây. Song Hongbing gợi ý rằng điều này phản ánh sự nhận thức của Hàn Phi về bản chất bẩn thỉu của các cuộc đấu tranh chính trị, trong đó các quy phạm công bằng và minh bạch của Pháp không thể áp dụng. Thật vậy, nếu chúng ta chấp nhận kỳ vọng u ám của Hàn Phi rằng gần như mọi tác nhân chính trị đều chỉ bị thúc đẩy bởi lợi ích ích kỷ, thì chính trị trở thành một cuộc chiến sinh tồn trường kỳ. Dù vậy, đôi khi nhà tư tưởng này cũng tự tiết chế sự hoài nghi cay độc của mình và chỉ ra rằng thông qua việc sử dụng đúng các phương tiện mà ông có trong tay, quân chủ có thể duy trì sự cai trị mà không cần đi tới cực đoan. Vì thế, sau khi so sánh các đại thần với những con hổ ăn thịt quân chủ, Hàn Phi giải thích:
“khi việc áp dụng pháp luật và hình phạt là đáng tin cậy, những con hổ sẽ biến thành người, trở về trạng thái thật của chúng” (Hàn Phi tử 8.7; “Dương quyền”).
Rốt cuộc, đại thần cũng là con người, và họ có thể phục vụ quân chủ tốt. Điều duy nhất cần nhớ là quan hệ quân chủ - đại thần không dựa trên sự tận hiến và trung thành, mà dựa trên sự tính toán thuần túy về lợi ích. Chừng nào quân chủ còn dựa vào thuật trị quốc và sử dụng các lợi thế của quyền lực vị thế của mình - xem mục 5.1 bên dưới - đặc biệt là quyền kiểm soát thưởng và phạt, thì các đại thần sẽ phục vụ ông một cách trung thành. Họ làm vậy không phải vì họ có cam kết đạo đức đối với quân chủ hay chính thể, mà vì một tính toán đơn giản về lợi ích cá nhân. Đây lại là một biểu hiện khác của ưu thế của việc cai trị bằng các chuẩn mực công bằng/phi thiên vị.
5. Quân chủ
Các nhà tư tưởng Pháp gia nói chung, và Hàn Phi nói riêng, thường bị lên án là những người bảo vệ “chế độ chuyên chế quân chủ” và “chủ nghĩa độc đoán tuyệt đối” (Hsiao 1979: 386, 417). Dù nhận định này không phải hoàn toàn được nhất trí - chẳng hạn Angus C. Graham cho rằng hệ thống của Hàn Phi chỉ có ý nghĩa “nếu được nhìn từ quan điểm của quan liêu chứ không phải từ (quan điểm) của người đứng đầu)” - nó vẫn khá phổ biến. Xét tới lập trường chống đại thần sâu sắc của các nhà tư tưởng Pháp gia, quả thực dễ kết luận rằng họ hoàn toàn chỉ tận tụy với quân chủ. Tuy nhiên, sự ủng hộ của họ đối với quân chủ không phải là không có sự mâu thuẫn sâu xa bên trong. Các nhà tư tưởng Pháp gia tận tụy với quân chủ như một thiết chế, như người bảo đảm duy nhất của trật tự xã hội và chính trị, nhưng không nhất thiết tận tụy với một vị quân chủ cá nhân, người mà họ hiểu rất rõ các điểm yếu. Đặc biệt trong Hàn Phi tử, sự căng thẳng này giữa quân chủ trừu tượng và quân chủ cụ thể đạt tới những mức độ thật sự bi kịch.
5.1 Sự ưu việt của quân chủ
(Đoạn này cũng không có gì lắm, nên có thể tóm tắt bằng 2 câu sau):
Nguyên tắc quân chủ luận, tức niềm tin rằng hòa bình và ổn định chỉ có thể đạt được dưới một vị quân chủ duy nhất và toàn năng, có thể được xem là sợi chỉ thống nhất tư tưởng chính trị thời Chiến Quốc (Liu Zehua 2013–14; Pines 2009: 25–107).
Các nhà tư tưởng Pháp gia không phải ngoại lệ trong vấn đề này, mà chỉ thẳng thắn hơn trong việc biện hộ cho tính tuyệt đối của quyền lực quân chủ.
5.2 Quân chủ bị mắc kẹt?
Hình ảnh các nhà tư tưởng Pháp gia như những người ủng hộ kiên định nền chuyên chế cần được điều chỉnh khi chúng ta chú ý tới quan điểm không mấy đẹp đẽ của họ về các quân chủ ngoài đời thực. Thương Quân thư và Hàn Phi tử liên tục nhắc tới “quân chủ đương thời” (shizhu - Thế chủ - 世主) như hiện thân của sự thiển cận và tầm thường. Điều này không phải ngẫu nhiên. Các nhà tư tưởng Pháp gia - giống như các đối thủ trí thức của họ - nhận ra rằng hệ thống kế vị cha truyền con nối thông thường không thể sản sinh ra các nhà lãnh đạo kiệt xuất. Do đó, kỳ vọng của họ đối với quân chủ là thấp. Hãy lấy ví dụ hàng chục giai thoại lịch sử rải rác khắp Hàn Phi tử, liên tục kể không chỉ về những quân chủ thiếu thận trọng bị thuộc hạ vô lương tâm lừa gạt, mà còn về những người bác bỏ lời khuyên tốt của phụ tá và tự đem tai họa đến cho bản thân cũng như quốc gia của họ. Những giai thoại này đặt vấn đề, nếu không nói là trực tiếp làm xói mòn, khuynh hướng thường thấy của văn bản là đứng về phía quân chủ chống lại đại thần. Hàn Phi “buộc phải tích hợp sự thật không thể tránh khỏi của sự phục tùng tuyệt đối đối với một cá nhân mà phần lớn thời gian hoàn toàn không đủ tư cách để thực thi quyền chỉ huy tối cao” (Graziani 2015: 162).
Làm sao giải quyết thế bế tắc này? Các nhà tư tưởng Pháp do dự. Đôi khi họ nói tới một lý tưởng về quân chủ “thánh” (sheng 聖) hoặc “minh” (ming 明, thường được dịch là “sáng suốt/enlightened”). Trong một vài thiên của Hàn Phi tử, nhà tư tưởng này dường như khuyến nghị đặt quân chủ vào quá trình “tự tu dưỡng trí tuệ nghiêm ngặt” (Lewis, sắp xuất bản). Tuy nhiên, nhìn chung, ý tưởng tu dưỡng cá nhân như một giải pháp cho các vấn đề chính trị vẫn khá xa lạ với các văn bản Pháp gia.
Một lựa chọn thay thế, phù hợp hơn với hệ tư tưởng Pháp gia, là dựa vào các thiết chế chính trị được thiết kế hoàn hảo đến mức có thể dung nạp những kẻ tầm thường trên ngai vàng. Điểm này được nói rõ trong thiên 40, “Nạn thế” - “Phản bác quyền lực vị thế” - của Hàn Phi tử. Hàn Phi giải thích rằng hệ thống ông thiết kế phải phục vụ nhu cầu của các quân chủ trung bình hoặc tầm thường (zhong – Trung - 中), không phải các mẫu mực đạo đức, cũng không phải những bạo chúa quái vật. Hệ thống này sẽ đạt kết quả tốt chính vì nó không kỳ vọng quân chủ có bất cứ phẩm chất phi thường nào (Pines 2020a). Quản tử tiếp tục làm rõ:
Bậc quân chủ thánh minh dựa vào pháp luật, không dựa vào trí tuệ cá nhân; dựa vào phương pháp, không dựa vào lời thuyết phục; dựa vào sự công bằng, không dựa vào lòng ích kỷ; dựa vào Đại Đạo, không dựa vào những việc vụn vặt. Khi đó, ông có thể an nhiên mà thiên hạ sẽ được trị tốt.
(Quản tử 45, “Nhậm pháp”; xem thêm Rickett 1998: 144)
Văn bản bề ngoài nói về một quân chủ thánh minh, nhưng sự thánh minh của quân chủ này thể hiện ở việc tuân theo các quy phạm công bằng/phi thiên vị và gạt bỏ năng lực riêng của mình, cũng như các lời nói của những kẻ thuyết phục. Hết lần này đến lần khác, quân chủ được cảnh báo rằng ông không bao giờ được để ý thích cá nhân, sự thiên vị, yêu ghét của mình ảnh hưởng đến việc ra quyết định. Thay vào đó, ông phải bất khả xâm phạm tuân theo pháp luật, phương pháp (shu - Thuật - 數), thuật trị quốc, và các quy phạm công bằng/phi thiên vị khác. Nhân cách của ông hoàn toàn không được có bất kỳ tác động nào lên sự vận hành của nhà nước. Đây là điểm cốt lõi của việc “an nhiên”: quân chủ đơn giản là nên tránh can thiệp vào các công việc chính quyền thường nhật.
Điểm sau này làm sáng tỏ một khía cạnh lớn nhưng ít được chú ý hơn trong quan điểm Pháp gia về quyền cai trị. Cùng những văn bản khăng khăng rằng quân chủ phải giữ chắc quyền đưa ra quyết định cuối cùng, giám sát thành tích của quan lại, thưởng và phạt — cũng kiên quyết không kém rằng ông không bao giờ nên can thiệp vào các vấn đề chính trị hằng ngày. Sự phi cá nhân hóa quân chủ này đạt tới đỉnh điểm trong Hàn Phi tử. Hết lần này đến lần khác, văn bản nhấn mạnh rằng quân chủ phải tránh mọi biểu hiện cảm xúc cá nhân, vứt bỏ ham muốn cá nhân, tránh biểu hiện thiên vị, và không tin vào năng lực riêng của mình. Nhà tư tưởng này tóm lược:
Đạo của vị quân chủ sáng suốt: hãy để người trí dốc hết suy tư của họ và dựa vào họ để quyết định công việc - khi đó quân chủ không bị hao tổn trí tuệ. Hãy để người hiền dùng hết tài năng của họ và dựa vào họ, giao việc cho họ tương ứng - khi đó quân chủ không bị hao tổn năng lực. Khi có thành công, quân chủ sở hữu danh tiếng hiền minh; khi có thất bại, đại thần chịu trách nhiệm. Vì thế quân chủ không bị hao tổn [danh] tốt. Do đó, dù không hiền, ông vẫn là chủ của những người hiền; dù không trí, ông vẫn là người sửa sai cho những người trí. Đại thần làm việc, còn quân chủ sở hữu thành tựu: điều này được gọi là nền tảng của vị quân chủ hiền minh.
(Hàn Phi tử 5.1, “Đạo của quân chủ”)
Đoạn này có phần mỉa mai. Trong khi quân chủ được gọi là “sáng suốt”, ông đồng thời cũng được giả định là có thể không hiền và không trí. Bằng cách từ bỏ mọi biểu hiện của khuynh hướng và năng lực cá nhân, quân chủ hưởng lợi hai lần. Thứ nhất - như đã bàn trong phần trước của đoạn trích - ông tránh được các cạm bẫy của những đại thần mưu mô; và thứ hai, ông có thể thao túng họ và đạt được vinh quang cùng danh tiếng không xứng đáng. Lời hứa sau - một sự kêu gọi không hề che giấu tới lòng ích kỷ của quân chủ - nhằm dụ ông chấp nhận các khuyến nghị của Hàn Phi. Khi gợi ý khả năng rằng quân chủ, dù không hiền và không trí, sẽ trở thành thầy và người sửa sai cho các thần dân hiền tài của mình, Hàn Phi một lần nữa bộc lộ kỳ vọng cuối cùng rất thấp của ông đối với đạo đức và trí tuệ của quân chủ. Điều này làm cho những lời liên tục viện dẫn “quân chủ sáng suốt” trong văn bản trở nên cần được hiểu có điều kiện.
Kết luận cuối cùng thật khó hiểu. Quân chủ được cho là phải đủ khôn ngoan để đưa ra các quyết định định mệnh và giám sát các quan lại mưu mô; nhưng đồng thời ông liên tục bị khuyên không nên tin vào năng lực của mình và không nên can thiệp vào các quá trình chính trị. Graham kết luận một cách táo bạo rằng quân chủ trong hệ thống của Hàn Phi “không có chức năng nào mà một máy tính sơ cấp không thể thực hiện. … Thậm chí có thể nói rằng trong hệ thống của Hàn Phi, chính các đại thần mới là những người cai trị hay không?” (Graham 1989: 291). Quả thực, có một vài thiên trong đó Hàn Phi dường như đặt hy vọng vào các đại thần hiền tài (Pines 2013b), nhưng các thiên này lại mâu thuẫn với những thiên khác, nơi định nghĩa các đại thần là kẻ thù tệ hại nhất của quân chủ. Quân chủ vẫn cô độc trong nỗi khốn khổ của mình.
Nghịch lý về một quân chủ bị mắc kẹt, người hưởng quyền năng toàn năng như thần thánh, nhưng lại bị yêu cầu phải kiềm chế mọi chủ động hành động để bảo toàn sự toàn năng ấy, có thể phản ánh nhận thức của Hàn Phi về điểm yếu thường trực của hệ thống trong đó một cá nhân duy nhất - có khả năng là người bất tài - đóng vai trò siêu nhân. Việc nhận thức tỉnh táo này đến từ một nhà tư tưởng từng được gọi là “nhà lý thuyết tinh vi nhất của chế độ chuyên chế” (Wang và Chang 1986:12) là điều đáng được chú ý tối đa.
---------------------------------------
Pines, Yuri, "Legalism in Chinese Philosophy", The Stanford Encyclopedia of Philosophy (Summer 2023 Edition), Edward N. Zalta & Uri Nodelman (eds.)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét