ĐỐI VỚI CÁC NGÀNH TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM;
Như trải qua và đã biết bất cứ ngành, nghề nào trong nền kinh tế quốc dân Việt Nam cũng không vượt ngưỡng hưng thịnh 12 năm (nhiều nhất), một số ít ngành chỉ hưng thịnh được (ít nhất) 6 năm còn lại hầu hết là phục hưng và suy tàn;
Có thể chỉ ra một số như sau: Các chuyên ngành bao cấp như (Lương thực, thực phẩm, thương nghiệp, ngoại thương, vật tư, vật liệu, chất đốt,…) hưng thịnh nhất 1976 – 1988 đến 1991 phá sản, xóa bỏ; Các ngành an ninh, quốc phòng, lực lượng võ trang (Quân đội, công an) hưng thịnh từ 1991 – 2003 (Từ lúc trả lương cho quân đội công an cao hơn công chức 2,1 lần đến lúc luật đất đai ra đời), Bưu điện hưng thịnh từ 2000 – 2012 (tách và xoá bỏ độc quyền Viễn thông), xây dựng hưng thịnh 1983 – 1995 (tư nhân hóa xây dựng mỗi tỉnh thành chỉ để lại 1 công ty phát triển nhà), Thuỷ Nông hưng thịnh từ 1996 – 2008 (hoạt động công ích thu TLP bằng sản lượng sản phẩm Nông nghiệp; Giáo dục từ 1996 -2008 (đào tạo và tuyển giáo viên đông nhất); Ngành Thống kê từ 2008 – 2020 (kể từ ngày được sáp nhập vào Bộ Kế hoạch đầu tư năm 2008); Thủy Lợi từ 1982 - 1994 (Bỏ Bộ Thủy Lợi sáp nhập vào Bộ Nông nghiệp); Thuỷ Điện từ 1994 - 2006 (cơ bản chặn hết sông có tầng nước thế năng), Thi đua khen thưởng từ 2003 - 2015 (bắt đầu phát hiện giả và không đúng sự thật); Dầu khí từ 2006 - 2018 do ảnh hưởng của sự kiện Biển Đông năm 2014 hạn chế quyền khai thác các mỏ mới;
Nay sang kỷ nguyên mới (kỷ nguyên chuyển mình) ngành nào phát triển nhất và ngành nào trên đà hưng thịnh và ngành nào từng bước suy tàn thu nhập kém dễ bị sáp nhập hoặc bị xoá bỏ ? Thống kê trên phản ánh một hiện tượng có thật trong kinh tế Việt Nam: nhiều ngành nghề từng có “thời hoàng kim”, rồi suy giảm khi mô hình quản lý, công nghệ hoặc cấu trúc quyền lực thay đổi. Tuy nhiên, quy luật “12 năm” có lẽ không phải quy luật cứng, mà giống một chu kỳ chuyển đổi chính sách – công nghệ – nguồn lực mềm của Việt Nam.
Nhìn lại các ví dụ đã nêu, có thể thấy một mẫu số chung:
* Khi Nhà nước ưu tiên nguồn lực thì ngành đó bùng nổ.
* Khi cơ chế thay đổi, tài nguyên cạn kiệt hoặc công nghệ thay đổi thì kéo theo ngành suy giảm rất nhanh.
* Ngành nào sống nhờ “độc quyền – thủ tục – bao cấp” thường ngắn hạn (nhiều lắm chỉ 6 năm).
* Ngành nào sống nhờ “tri thức – công nghệ – nhu cầu thật” thường bền hơn sống lâu hơn thậm chí là bội số của 12 năm;.
Ví dụ:
* Bưu điện từng là “vua”, nhưng internet và di động khiến mô hình cũ tan rã.
* Thuỷ lợi, xây dựng, dầu khí đều từng là “trụ cột đầu tư công”. Sau giảm mạnh do tài nguyên cạn, chính sách và nguồn lực thay đổi;
* Giáo dục từng bùng nổ vì nhu cầu phổ cập và mở rộng biên chế.
* Ngành thi đua khen thưởng suy giảm giá trị khi xã hội bắt đầu nghi ngờ “thành tích giấy”.
Riêng ngành thuế đã nêu ở trên cũng không sai ở một góc độ:
* Khi hóa đơn điện tử, AI, dữ liệu ngân hàng, định danh số phát triển, thì các khâu “màu mè”, “linh hoạt”, “xin – cho”, “điều chỉnh số liệu” sẽ bị thu hẹp rất mạnh.
* Giá trị của cán bộ thuế tương lai không còn ở quyền lực hành chính, mà ở năng lực phân tích dữ liệu, chống chuyển giá, kiểm toán số.
Nói rộng hơn, Việt Nam đang bước vào giai đoạn:
“Từ kinh tế quan hệ chuyển sang kinh tế dữ liệu.”
Vì vậy, các ngành sẽ phân hóa rất mạnh.
I/ Những ngành có thể bước vào thời kỳ hưng thịnh 2025–2037
1. Công nghệ số – AI – dữ liệu
Đây có lẽ là “siêu ngành” mới.
Bao gồm:
* AI
* An ninh mạng
* Bán dẫn
* Điện toán đám mây
* Dữ liệu dân cư
* Tự động hóa
* Robot
Lý do:
* Nhà nước ưu tiên chuyển đổi số.
* Dân số trẻ.
* Việt Nam muốn thoát bẫy gia công giá rẻ.
Nhưng:
* Người chỉ biết thao tác đơn giản sẽ bị AI thay thế rất nhanh.
* Người biết vận hành hệ thống AI sẽ rất có giá.
2. Năng lượng mới
Dầu khí truyền thống có thể giảm dần, nhưng:
* Điện gió,
* Điện mặt trời,
* LNG,
* Lưu trữ điện,
* Lưới điện minh sẽ còn tăng mạnh.
Vì:
* Nhu cầu điện của AI và trung tâm dữ liệu cực lớn.
* Việt Nam thiếu điện nền dài hạn.
3. Logistics – cảng biển – chuỗi cung ứng
Khi Trung Quốc bị phân tán chuỗi sản xuất:
* Việt Nam hưởng lợi vị trí địa lý.
* Các tỉnh ven biển sẽ tăng mạnh.
Ngành này âm thầm nhưng rất bền.
4. Y tế và chăm sóc người già
Việt Nam đang già hóa rất nhanh.
Sau 2030:
* Dưỡng lão,
* Phục hồi chức năng,
* Y tế tại nhà,
* Công nghệ sức khỏe sẽ bùng nổ.
Đây là ngành dài hạn hàng chục năm.
5. Nông nghiệp công nghệ cao
Không phải kiểu “trồng nhiều”.
Mà là:
* Nông sản sạch,
* Truy xuất nguồn gốc,
* Chế biến sâu,
* Xuất khẩu chất lượng cao.
Ai còn làm kiểu nhỏ lẻ sẽ rất khó sống.
II/ Những ngành đang trên đà suy giảm:
1. Ngành trung gian giấy tờ
Bao gồm:
* Nhập liệu thủ công,
* Kế toán sơ cấp,
* Hành chính giấy tờ,
* Thống kê kiểu cũ,
* Công chứng đơn giản,
* Khai báo thủ tục.
AI và dữ liệu số sẽ thay thế cực nhanh.
2. Một phần giáo dục truyền thống
Không phải giáo dục chết, mà:
* Dạy thuộc lòng,
* Học để thi,
* Đào tạo đại trà,
sẽ mất giá.
Người học kỹ năng thực chiến sẽ lên ngôi.
3. Báo chí và truyền thông kiểu cũ
Truyền hình truyền thống đang mất dần ảnh hưởng.
Người sáng tạo nội dung cá nhân mạnh hơn nhiều cơ quan lớn.
4. Một phần ngành bất động sản đầu cơ
Thời “mua đất là giàu” có thể khó lặp lại như 2000–2020.
Tương lai sẽ phân hóa:
* Đất có công nghiệp – hạ tầng chắc chắn còn tăng,
* Đất thổi giá sẽ rất nguy hiểm.
Một quy luật đáng chú ý hơn “12 năm”
Có lẽ quy luật thật là:
“Ngành nào càng dựa vào quyền lực phân phối thì càng chóng tàn.
Ngành nào dựa vào công nghệ và nhu cầu thật thì sống lâu.”
Thời bao cấp:
* Quyền phân phối hàng hóa là sức mạnh.
Thời số hóa:
* Dữ liệu và thuật toán mới là sức mạnh.
Nhiều ngành hiện nay nhìn rất mạnh, nhưng nếu:
* AI làm được,
* Robot làm được,
* Dữ liệu tự động hóa được, thì vị trí trung gian sẽ biến mất rất nhanh.
Ngược lại, những nghề:
* Sáng tạo,
* Nghiên cứu,
* Công nghệ lõi,
* Chăm sóc con người,
* Quản trị hệ thống phức tạp sẽ ngày càng có giá trị.
Nói tóm lại:
“Kỷ nguyên mới không diệt nghề, mà diệt phần giả trong nghề”. Kỷ nguyên
mới làm cho ngành dựa vào công nghệ và nhu cầu thật phát triển vượt bậc và đồng
thời cũng làm cho ngành dựa vào quyền lực và quan hệ dần lụi tàn và biến mất”
03.5..2026

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét