Bức đại thạch tự “Thanh Kỳ Khả Ái” trên núi Xuân Đài, thuộc xã Vĩnh
Ninh, huyện Vĩnh Lộc (nay là xã Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa). Xung quanh tác giả
của 4 chữ này có nhiều ý kiến khác nhau, cả trước và nay, cả Tây và Ta. Để hiểu
rõ vấn đề này và đi đến thống nhất, tôi xin cung cấp thông tin như sau.
Tại núi Xuân Đài có chùa Du Anh, còn gọi
là chùa Thông, ngôi chùa được tương truyền là nơi tu hành của một công chúa đời
Trần. Chùa cũ đã bị phá hủy, dấu tích chỉ còn tấm bia bằng đá, văn bia do Hoàng
Giáp Phùng Khắc Khoan soạn vào năm 1605. Từ chùa Du Anh lên động Hồ Công khoảng
700m, khoảng giũa đường có có phiến đá cao khoảng gần 2m, khắc 4 đại tự “Thanh
Kỳ Khả Ái”.
Về tác giả của 4 đại tự này đã có nhiều ý
kiến khác nhau. Sách Hoàng Việt thi văn tuyển của Bùi Huy Bích (1744 – 1818)
cho rằng đây là bút tích của chúa Trịnh Tùng (1548 – 1623). Một số nhà nghiên
cứu cho rằng đây là bút tích của Trạng
Nguyên Lương Thế Vinh (1442 - ?) trong một lần tháp tùng vua Lê Thánh Tông về
Lam Kinh bái yết sơn lăng đã ghé qua đây và dâng bút để vua đề 4 chữ trên.
Trong tác phẩm Tỉnh Thanh Hóa, học giả người Pháp H. Le Breton khẳng định kèm
theo bức ảnh chụp đây là những chữ khắc trên đá theo lệnh của vua Lê Thánh Tông
(1460 – 1497).
Trong cuốn sách: Những bút tích Hán – Nôm
hiện còn ở các hang động vách đá núi xứ Thanh, hai tác giả Võ Hồng Phi và Hương
Nao được NXB Thanh Hóa phát hành năm 2018 đã làm rõ tác giả của 4 đại tự này.
Năm 1996, trong chuyến khảo sát bút tích chữ Hán đề trước cửa động Hồ Công, hai
tác giả đã dịch một bút tích như sau:
Phiên âm:
“Ngã Ái Châu hưng vương chi địa, sơn
xuyên đa kỳ ái. Tạc nhân bái yết Sơn lăng, viên phỏng tiên nham nhận cổ
xát, vân bình phiêu diêu khung lung chân
thị Hồ Công nhất đại thắng, khái hứng thành thất ngôn chấp luật nhất thủ, đặc
thư: Ngọc Hồ” nhị tự, “Thanh kỳ khả ái” tứ tự, mệnh khắc vu thạch vân.
Tằng tằng nham kính chuyển bàn vu
Cao xứ hàm nha ngọc nhất Hồ
Thạch hóa cựu thiềm châu ảnh tán
Đan dư chân tượng tuyết nhan cù
Vân tung tiêu hốt hành tiên tích
Nhất quật an bài đại tạo lô
Phúc địa cổ lai đa thắng tích
Hà
lao điểm xuyết “Võng Xuyên” đồ.
Nhật Nam nguyên chủ đề
Canh Dần tiểu xuân. Thần Cao Bác
phụng tả.
Dịch nghĩa và dịch thơ:
Châu Ái ta là đất phát vương, núi sông
nhiều nơi kỳ lạ đáng yêu. Hôm qua, ta nhân đi bái yết Sơn lăng, đến thăm núi
tiên, xem các bài thơ. Khói mây trải đều, nhà đá khum khum, thật là một nơi Hồ
thiên đại nhất thắng, bỗng cao hứng làm một bài thơ thất ngôn thể Đường luật.
Đặc biệt, viết hai chữ “Ngọc Hồ” và bốn chữ “Thanh Kỳ Khả Ái”, sai khắc vào đá.
Trập trùng nẻo đá lượn quanh co
Đỉnh núi nhô cao một Ngọc Hồ
Đá hóa cóc già châu tỏa sáng
Son phai tượng cũ tuyết loang mờ
Bóng mây chấp chới hình tiên bước
Hang nắng lung linh dáng hỏa lò
Đất phúc xưa nay bao thắng tích
Ngọc chi tô điểm “Võng Xuyên đồ”.
Nhật Nam nguyên chủ (Trịnh Sâm) đề
Đầu Xuân Canh Dần, bề tôi Cao Bác phụng
ghi
Nhờ bút tích này nên đã xác định được chắc
chắn 4 đại tự “Thanh Kỳ Khả Ái” và 2 đại
tự “Ngọc Hồ” trên núi Xuân Đài và động Hồ Công là của chúa Trịnh Sâm.
Nghĩa của 4 đại tự “Thanh Kỳ Khả Ái” có thể dịch: “Thanh tú kỳ lạ”, “Màu xanh kỳ lạ đáng yêu” (như tác giả dịch sách: Hoàng Văn thi văn tuyển) hoặc “Xứ Thanh kỳ lạ đáng yêu”. Nhưng theo tôi, khi đứng giữa đất trời xứ Thanh, thốt lên “Thanh Kỳ Khả Ái” đã trở thành một lời cảm thán khái quát đầy đủ về bản sắc xứ Thanh. Đó là một vùng đất hội tụ vẻ đẹp trong sáng, mang tính độc đáo nổi bật có sức hấp dẫn sâu sắc đối với con người, nơi vẻ đẹp tự nhiên, chiều sâu lịch sử và tâm thế con người hòa quyện với nhau. Vì vậy, dịch: “Xứ Thanh kỳ lạ đáng yêu” là thỏa đáng nhất..
Nguồn: facebook Ngo Hoai Chung




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét