Ngô Thị Ngọc Dao (1420 – 1496) còn gọi là Quang Thục hoàng hậu hay Thái Tông Ngô hòang hậu, là một phi tần của Lê Thái Tông, mẹ đẻ của Lê Thánh Tông của triều đại nhà Hậu Lê. Bà quê ở làng Động Bàng, huyện Yên Định (nay thuộc Thanh Hóa). Xuất thân trong một gia đình có thế lực và danh vọng. Cha bà là Ngô Từ, một vị quan có đóng góp trong cuộc kháng chiến chống quân Minh và được phong tước Bảng Văn Hầu.
Khoảng những năm 1437-1438, Ngô Thị Ngọc Dao được tuyển vào cung, trở thành một trong các Thứ phi của vua Lê Thái Tông. Bà nổi tiếng là người hiền hậu, đoan trang, được nhà vua sủng ái. Tháng 6 năm 1440, Ngọc Dao được phong Tiệp Dư, cho ngự ở cung Khánh Phương. (Tiệp Dư là bậc cung tần sau tam phi và cửu tần, đứng đầu sáu chức cung giai, lo việc tiếp khách trong cung, phẩm cấp tương đương tước Hầu của triều đình). Ngọc Dao dạy con em các nhà trong triều tư cách cử chỉ ăn nói, biết lễ nghi, phép tắc đối với người trên, lấy ân đãi người dưới … Nhà vua rất yêu quý. Bà sinh con đầu lòng là Công chúa Diên Trường, đến năm 1442 sinh Tư Thành, sau này là vua Lê Thánh Tông.
Cuộc đời của Ngô Thị Ngọc Dao gắn liền với những âm mưu và biến cố chính trị thời kỳ đầu nhà Lê sơ, đặc biệt là sự đối đầu ngầm với Nguyễn Thị Anh (mẹ của Thái tử Lê Bang Cơ, tức vua Lê Nhân Tông).
Khi Ngọc Dao đang mang thai, có tin đồn là bà mộng thấy Kim đồng đầu thai, Thị Anh ghen ghét bèn xúc xiểm với Nhà vua là Ngọc Dao đang có âm mưu giết Thái tử. Lại tính ra Ngọc Dao có thai đã quá 10 tháng mà chưa sinh, rõ ràng là yêu quái hiện vào báo hại Hoàng gia. Nguyên Long cả nghe xúc xiểm, sai cung nỏ nhằm bụng chửa của Ngọc Dao mà bắn để trừ ma quỷ. Vừa lúc có vị Hoàng thân biết chuyện, can thiệp nên Ngọc Dao không bị bắn mà chuyển tội voi dày. Nguyễn Trãi bảo Nguyễn Thị Lộ can gián, Nguyễn Thị Lộ khuyên nhà vua không nên nghe lời xúc xiểm không đâu mà làm một việc quá ư thất đức. Nhà vua nghe lời Thị Lộ, cho Ngọc Dao được ra ở chùa Huy Văn trong kinh thành Đông Kinh (nay là chùa Dục Khánh, ngõ Văn Chương, phố Tôn Đức Thắng, Hà Nội).
Sau cái chết đột ngột của Lê Thái Tông (Vụ án Lệ Chi Viên năm 1442), Thái tử Lê Bang Cơ (Lê Nhân Tông) lên ngôi khi mới 1 tuổi. Nguyễn Thị Anh trở thành Hoàng Thái hậu và nắm quyền nhiếp chính. Bà Thái hậu này là người có quyền lực tuyệt đối và bắt đầu giai đoạn điều hành chính sự hơn 10 năm của mình.
Trong những năm tháng lưu lạc, tính mạng của hai mẹ con Ngô Thị Ngọc Dao được bảo toàn nhờ sự che chở của các công thần trung lương, đặc biệt là Nguyễn Xí. Nguyễn Xí nhận thấy Lê Tư Thành là người thông minh, có tướng mạo đế vương, nên đã bí mật bảo vệ, giúp đỡ hai mẹ con, tạo điều kiện cho Tư Thành học hành và lớn lên an toàn ngoài tầm kiểm soát của triều đình.
Đến năm Tư Thành bốn tuổi thì Tuyên Từ thái hậu Nguyễn Thị Anh mới ăn năn cho người đi tìm, rước mẹ con bà Ngọc Dao về Kinh, phong cho Tư Thành làm Bình Nguyên Vương, bà Ngọc Dao được thăng làm Sung Viên cho ra phụng sự nhà Thái miếu.
Năm 1459, Bang Cơ ở ngôi được 17 năm, một biến cố lớn xảy ra: Chính biến Thiên Hưng. Anh cùng cha khác mẹ của Lê Nhân Tông là Lạng Sơn Vương Lê Nghi Dân (người bi truất ngôi thái tử trước đây) đã đột nhập cung cấm, giết chết vua Lê Nhân Tông và Thái hậu Nguyễn Thị Anh, sau đó tự xưng đế.
Triều đại của Lê Nghi Dân không được lòng dân và các đại thần. Chỉ vài tháng sau, các đại thần như Nguyễn Xí, Đinh Liệt đã phát động binh biến lật đổ Lê Nghi Dân.
Nhận thấy Hoàng tử Lê Tư Thành (con trai Ngô Thị Ngọc Dao) là người tài đức và được lòng dân, các đại thần đã tôn ông lên ngôi, tức là Vua Lê Thánh Tông (1460).
Ngay khi con trai lên ngôi, Ngô Thị Ngọc Dao được tôn làm Hoàng Thái Phi, sau đó là Quang Thục Hoàng Thái Hậu. Bà từ một người phụ nữ bị thất sủng, sống lưu lạc bên ngoài cung cấm, đã trở thành người phụ nữ quyền lực và tôn quý nhất Đại Việt.
Là mẹ của vua Lê Thánh Tông – vị vua tạo ra thời kỳ Hồng Đức Thịnh trị (thời kỳ cường thịnh nhất của chế độ phong kiến Việt Nam), Ngô Thị Ngọc Dao có ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng và chính sách của con trai mình:
Việc bà từng bị hại và được các công thần bảo vệ có thể là một trong những động lực khiến Lê Thánh Tông rất chú trọng đến công lý. Chính ông là người đã minh oan cho Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ (Vụ án Lệ Chi Viên) vào năm 1464, và minh oan cho Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo.
Bà đóng vai trò là chỗ dựa tinh thần cho nhà vua, giúp nhà vua giữ vững kỷ cương trong cung đình và chính trị. Bà sống một cuộc đời vinh hiển, chứng kiến con trai mình thực hiện công cuộc cải cách toàn diện, mở rộng lãnh thổ, và đưa Đại Việt lên đỉnh cao.
Bà thường về ở Đông Triều, ăn chay niệm phật thanh đạm, sáng suốt, khỏe mạnh sống lâu rất là vui vẻ, lấy kiệm cần mà răn dạy người đời, lấy nhân hậu mà nhắc nhủ vua.
Năm Hồng Đức thứ 27 (1496), bà cùng vua về Lam Kinh rồi mắc bệnh lỵ, Lê Thánh Tông và Thái tử Lê Tranh ngày đêm chầu chực bên giường bệnh, thuốc thang cơm nước tự nếm trước. Trong thì cúng tổ tiên, ngoài thì nghe dân chúng cầu khấn các thần không thiếu nơi nào.
Ngày 26 tháng 2, Thái hậu qua đời, thọ 75 tuổi. Lê Thánh Tông đau buồn, truy tôn bà làm Quang Thục hoàng thái hậu. Việc khâm liệm, phạm hàm đều do Hoàng đế tự làm, viết điếu văn, đặt quan tài ở điện để viếng, định tháng 10 rước về Sơn Lăng, nhưng Thánh Tông sau đó cũng băng hà nên chưa làm lễ an táng được.
Ngô Thị Ngọc Dao là một ví dụ điển hình cho thấy vai trò của người phụ nữ trong việc định hình lịch sử, không chỉ qua quyền lực trực tiếp mà còn qua việc bảo vệ và nuôi dưỡng nhân tài, tạo ra một triều đại thịnh trị.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét