XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG

Thứ Hai, 26 tháng 1, 2026

HUYỆN MƯỜNG LÁT TỈNH THANH HOÁ TRƯỚC 01/7/2025








       MƯỜNG LÁT (Bài của Ngo Hoai Chung)

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

                      Nhà thơ Quang Dũng

       Chắc không ít người yêu thơ Quang Dũng cho rằng những địa danh Sài Khao, Mường Lát trong bài thơ Tây Tiến là ở các tỉnh Tây Bắc. Không, đây là những tên đất thuộc tỉnh Thanh Hóa. Sài Khao là tên một bản của huyện Mường Lát. Còn Mường Lát là tên một Mường cổ nổi tiếng, có từ xa xưa trên đất châu Quan Hóa. Lát là tên ngọn núi nằm ở trung tâm mường, được chọn để đặt cho tên mường: Mường Lát. Và, năm 1996, danh xưng mường Lát được dùng để đặt tên cho huyện mới được tách ra từ huyện Quan Hóa, đó là huyện Mường Lát.

      Ban đầu, Mường Lát là phần đất của 6 xã được tách ra khỏi huyện Quan Hóa là: Trung Lý, Tén Tằn, Quang Chiểu, Tam Chung, Pù Nhi và Mường Chanh. Đến năm 1999 thành lập thêm xã Mường Lý trên phần đất tách ra từ xã Trung Lý. Năm 2003 thành lập thị trấn Mường Lát trên phần đất tách ra từ xã Tam Chung. Năm 2009 thành lập thêm xã Nhi Sơn trên cơ sở điều chỉnh xã Pù Nhi. Năm 2019, sáp nhập xã Tén Tằn vào thị trấn Mường Lát. Đến trước thời điểm xóa bỏ cấp huyện, Mường Lát có 7 xã và 1 thị trấn. Đó là thị trấn Mường Lát và các xã: Mường Chanh, Mường Lý, Nhi Sơn, Pù Nhi, Tam Chung, Quang Chiểu và Trung Lý.

      Huyện Mường Lát có vị trí địa lý giáp tỉnh Sơn La về phía bắc, huyện Quan Hóa về phía đông và đông nam, giáp CHDCND Lào về phía tây và nam. Huyện Mường Lát có diện tích 812km2, dân số có 42.983 người, trong đó dân tộc Mông khoảng 19.501, dân tộc Thái có 18.223 người, dân tộc Mường có 1.342 người, dân tộc Kinh có 1.980 người, dân tộc Khơ Mú có 1.067 người, dân tộc Dao có 870 người (số liệu 12/2024).

    Là huyện miền núi cao, nằm ở cực tây của tỉnh, cách trung tâm tỉnh lỵ 236km, ở độ cao hơn 700m, Mường Lát có địa hình chia cắt phức tạp, cảnh quan núi rừng hùng vĩ, khí hậu mát mẻ quanh năm. Mường Lát có 96km đường biên giới, có cửa khẩu quốc gia Tén Tằn – Xốp Bâu, nơi thông thương với tỉnh Hủa Phăn nước CHDCND Lào. Cửa khẩu cũng là điểm cuối cùng của quốc lộ 15C trên đất Thanh Hóa và là điểm đầu tiên đón sông Mã (Nậm Ma) chảy vào đất Việt. Tuyến giao thông quan trọng nhất của Mường Lát là tỉnh lộ 20 có chiều dài 97km chạy qua huyện.

     Tách ra từ Quan Hóa, quá trình hình thành và tên gọi xa xưa của Mường Lát giống như huyện Quan Hóa. Giáp với Lào và các tỉnh Tây Bắc nước ta nên Mường Lát núi non hiểm trở. Nhiều khối núi từ  Lai Châu, Sơn La và Lào chạy theo địa hình tây bắc  - đông nam kéo về Mường Lát chạy ven sông Mã có độ dốc cực lớn, dựng thành thẳng đứng bên sông. Có thể kể đến các ngọn núi như: Núi Cù Bay ở xã Pù Nhi cao gần 1.000m, xã Tam Chung có đỉnh Hin Phăng cao trên 1.000m và đỉnh Hốc cao 1.418m. Trên đường tỉnh lộ 20 từ Quan Hóa đi Mường Lát phải qua địa dannh Cổng Trời ở xã Trung Lý và dốc Pù Nộc Cộc (đại bàng) rất cao, cheo leo bên vực thẳm. Nhiều bản làng của Mường Lát không có đường giao thông tiếp cận, muốn đến phải đi xuồng máy ngược sông Mã.

     Trong những năm tháng công tác tại Tỉnh đoàn Thanh Hóa từ 1990 – 2000, các huyện miền núi luôn là ưu tiên trong các chuyến công tác của tôi. Mỗi chuyến đi Mường Lát là sự kiện của cơ quan nên việc chuẩn bị phương tiện và cán bộ phải được tính toán cẩn thận. Mặc dù chỉ hơn 200km nhưng do đường xấu, vượt dốc, trèo đèo, lội suối nên phải đi 2 ngày ròng rã mới đến. Thời bấy giờ chỉ xe U oát mới có thể chạy được tuyến đường Mường Lát. Xuất phát từ thị xã Thanh Hóa từ sáng sớm, dừng ăn trưa ở Ngọc Lặc, chạy xẩm tối mới đến Hồi Xuân (Quan Hóa). Chọn quán ăn tối và đặt chủ quán làm xôi, luộc gà và không thiếu can rượu cho chuyến đi hôm sau. Sáng sớm ăn sáng, xách đồ quán làm sẵn lên xe và lầm lũi chạy giữa rừng núi, những năm ấy gần như hoang vu. Quá trưa, đoàn vượt Cổng Trời, ghé vào con suối ven đường, dọn đồ ăn trưa. Sau khi ngả lưng độ 1h, cả đoàn lại tiếp tục hành trình, đến khoảng 16 – 17h là đến Pom Buôi, trung tâm huyện Mường Lát. Những năm Tỉnh đoàn thực hiện cuộc vận động “Xây dựng 50 phòng học cho học sinh vùng cao”, trong đó có xã Pù Nhi, ngôi trường có anh hùng lao động ngành Giáo dục Nguyễn Xuân Trạc làm Hiệu trưởng, hầu  như tháng nào tôi  cũng đi Mường Lát. Thời bấy giờ từ Pom Buôi đi xã Mường Chanh chưa có đường ô tô nên phải đi bộ 3 ngày đường. Còn bây giờ đường nhựa rộng và bằng phẳng, xuất phát từ trung tâm tỉnh lỵ, 6 tiếng sau đã có mặt tại huyện.

     Năm 2002, khi về nhận nhiệm vụ tại Sở Văn hóa – Thông  tin Thanh Hóa, trong chuyến đi công tác Mường Lát tôi đã làm bài thơ:  Mường Lát:

Đường lên Mường Lát

Mây trời dưới chân

Gặp cành ban trắng

Đứng chờ bâng khuâng

Hết đồi là nương

Hết rừng là suối

Còn bay về đâu

Cánh chim đắm đuối

Bản nhỏ ngủ say

Giữa lưng chừng dốc

Vẳng dưới thung xa

Mõ trâu lốc cốc

Gặp em lên  rẫy

Mắt tình lung liêng

Khăn Piêu khoe sắc

Dấu nụ cười duyên

Bưng bát  rượu ngô

Trưởng bản cười lớn

Ta thức đêm nay

Cho tình ngất say

Ngọt ngào tiếng khặp

Đong đưa đất trời

Níu vào câu hát

Đừng về  người ơi

Trên đường về xuôi

Mang theo câu hát

Trái tim bỏ quên

Ở trên Mường Lát.

      Mường Lát cũng là nơi đón sông Mã từ Lào chảy vào đất Việt. Đây là vùng thượng nguồn, sông Mã nhỏ và nông, chảy xiết qua vách đá dựng đứng giữa hai bờ, nhiều ghềnh thác. Huyện Mường Lát còn có suối Sim, một phụ lưu của sông Mã, bắt nguồn từ Lào qua Mường Chanh, Quang Chiểu, Tén Tằn để nhập vào sông Mã.

     Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu thuộc địa bàn 2 huyện Quan Hóa và huyện Mường Lát. Khu bảo tồn có tổng diện tích rừng đặc dụng là 23.835,96 ha, trong đó phần diện tích trên địa bàn xã Trung Lý (Mường Lát) là 7.374, 05 ha. Do có địa hình hiểm trở lại bị chia cắt rất mạnh với độ cao trung bình khoảng 800 - 1.000 m và độ dốc trung bình từ 250 - 300 nên khu vực quy hoạch Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hu vẫn còn giữ được một phần nguyên sơ của hệ sinh thái rừng núi đất cao. Nằm trong Khu bảo tồn Thiên nhiên Pù Hu, xã Trung Lý có tỷ lệ độ che phủ rừng lên đến 72-75% với hệ động-thực vật khá đa dạng. Ngoài ra, một số bản ở Trung Lý cũng có hệ thống suối bắt nguồn từ rừng nguyên sinh Pù Hu: suối Pừm (dài khoảng 15km), suối Quặc (dài khoảng 13km) thuộc bản Tà Kóm; suối Vành dài khoảng 5km, suối Y dài khoảng 12km (thuộc hai bản Cánh Cộng và bản Ca Giáng) chảy ra suối Kép dài khoảng 16km; suối Lìn (bản Lìn) dài khoảng 9km; suối Hộc dài khoảng 10km.

      Núi Pha Đén, tên tiếng Mông là Sinh Hua, nằm trên địa bàn xã Pù Nhi, cách trung tâm huyện Mường Lát khoảng 13km. Pha Đén là một trong những dãy núi cao nhất vùng miền Tây Thanh Hóa, có độ cao gần 1.500m, được coi là “nóc nhà xứ Thanh”. Trong tiếng Thái, “Pha Đén” nghĩa là đỉnh núi cao có ánh nắng chiếu sớm, một tên gọi diễn tả hoàn toàn chính xác đặc điểm của ngọn núi này. Giữa lưng đỉnh núi là bản Pha Đén nơi sinh sống của 81 hộ đồng bào dân tộc Mông, bản người Mông cư trú cao nhất ở huyện Mường Lát. Bản Pha Đén còn có tên là bản Sinh Hua, trong tiếng Mông có nghĩa là đỉnh núi cao nhiều sương mù. Định danh Pha Đén phần nào nói lên đặc trưng khó lẫn của dãy núi này. Pha Đén nổi bật không chỉ nhờ độ cao lớn mà còn vì cảnh quan hùng vĩ, thơ mộng. Từ trung tâm xã Pù Nhi, hành trình chinh phục Pha Đén thách thức và lôi cuốn bất kì ai lần đầu được trải nghiệm. Liên tục trèo dốc thẳng đứng với nhiều khúc cua trên những đoạn đường gồ ghề, hiểm trở, Pha Đén dần mở ra trước mắt lữ khách dáng vẻ đại ngàn bất tận. Đứng trên bản Pha Đén có thể nhìn thấy thung lũng và làng bản dưới bầu trời mờ sương và bóng núi sừng sững, Pha Đén dễ đem lại cho du khách cảm giác tự do tự tại, bình yên giưa thiên nhiên tươi đẹp.

     Đền thờ Tư Mã Hai Đào, còn có tên khác là đền phò mã Tén Tằn, nằm trên địa phận bản Tén Tằn, xã Tén Tằn. Đền thờ Tướng quân Tư Mã Hai Đào. Theo một số cuốn sách cổ và tài liệu ghi lại, Hai Đào là người ở Mường Đào - Mường Khô xưa (nay thuộc huyện Bá Thước). Từ nhỏ ông đã bộc lộ tư chất thông minh, tướng mạo phi phàm, dáng người cao lớn và võ luyện tinh tài. Khi nghe tin triều đình mở hội đấu võ chiêu mộ anh tài, phò vua diệt giặc ngoại xâm ông lập tức xuôi về kinh kỳ dâng sớ tấu trình, xin được tham gia hội đấu võ. Trong võ đài năm ấy, ông đã thắng tuyệt đối các đối thủ khác và được nhà vua tác thành gả công chúa. Từ chàng trai nghèo, Hai Đào trở thành phò mã đúng vào thời điểm giặc ngoại xâm quấy nhiễu và xâm chiếm vùng biên ải của đất nước. Phò mã Hai Đào xin vua cho trở về quê hương lên vùng biên cương để trừ giặc. Với khí phách của người anh hùng, với mưu mẹo và võ nghệ tinh thông, quân sĩ của Phò mã Hai Đào tiến đến đâu, quân giặc bỏ chạy đến đó. Chỉ trong thời gian ngắn, vùng biên cương rộng dài phía Tây tỉnh Thanh Hóa không còn bóng giặc, cư dân các mường lại được sống trong yên bình và trở lại thôn bản làm ăn. Khi Tư Mã Hai Đào mất tại Mường Xia, nhân dân Tén Tằn vô cùng thương tiếc và lập đền thờ ông trên đất bản làng mình. Đền thờ Tư Mã Hai Đào ở Tén Tằn, trước kia là ngôi nhà sàn ba gian bằng gỗ kiên cố nằm trong khu rừng lát, gần sông Mã và suối Xim, kề sát đường biên giới Việt - Lào. Đền lợp tranh, bốn phía thưng gỗ, ngoài bàn thờ còn có giáo, mác, gươm bằng gỗ. Dưới gầm sàn có tượng một con lợn bằng đá. Ngôi đền thờ không may bị thiêu rụi trong lúc bà con đốt nương làm rẫy. Hiện ở Tén Tằn vẫn còn lưu giữ được một số vật dụng được cho là của quan Tư Mã Hai Đào và đồ thờ sau khi ngôi đền bị cháy rụi. Đó là chiếc bát hương, chiếc cồng đồng, thanh kiếm ngắn và cái bát. Đền thờ Tư Mã Hai Đào hiện nay, được khởi công xây dựng ngày 18 tháng 7 năm 2019. Đền được xây dựng trên khu đất rộng khoảng 1000m2, nằm cạnh trục đường đi vào cửa khẩu Tén Tằn, phía trước là ruộng bậc thang Tén Tằn và sông Mã, phía sau là trung tâm xã Tén Tằn cũ. Đền gồm chính điện và phần hậu điện, rộng 7,5m sâu 12m, diện tích khoảng 90m2. Đền có mặt chính theo hướng đông nam, nhìn về thị trấn Mường Lát; mái đền lợp ngói vảy, trên nóc có trang trí đôi rồng chầu, trước là hai cột chính cao gần 5m, phần hậu điện cao 3,5m rộng 2,5m. Khuôn viên đền thờ còn có sân lát gạch rộng và khu vực trồng cây cảnh. Hàng năm, cứ vào ngày 29 tháng Chạp (âm lịch), bà con Mường Lát lại tổ chức lễ hội để tri ân Tư Mã Hai Đào và mong cầu ông phù hộ cho bản làng no ấm, cuộc sống an lành, mùa màng tốt tươi, con người và vạn vật sinh sôi, nảy nở

      Lễ hội đền Tư Mã Hai Đào được tổ chức ở bản Tén Tằn là lễ hội quan trọng nhất với các cộng đồng người miền núi Mường Lát, đặc biệt là người Thái, để tưởng nhớ một danh nhân vùng đất, mà huyền thoại về ông, vượt qua khỏi phạm vi một thành hoàng một làng hay một mường. Đồ tế lễ là cơm gạo tẻ, thịt trâu đen và thịt lợn. Trâu dâng thần được mổ tại bến sông Mã ngay cạnh đền, 10 cô gái đội mâm lễ đến chân cầu thang, các ông Ậu trên nhà đón lễ rồi sắp đặt để lễ thần. Lễ vật dâng cúng Tư Mã Hai Đào gồm 10 mâm, trong đó có 5 mâm lễ mặn, 5 mâm hoa quả, hai chĩnh rượu cần được bày tại hai gian thờ: gian chính và gian phụ trong đền. Khi lễ vật đã bày biện xong, có 10 người hành lễ. Ậu Mo có 10 người, trong đó có 2 Ậu Mo đảm nhiệm chính, 7 ông phụ việc, 1 ông đánh cồng... Sau khi tế lễ, dân bản và khách thập phương múa hát trong 3 ngày. Tại sân đền, các trò chơi, trò diễn được tổ chức vui tươi, nhộn nhịp như: mắc tó lẹ, tung còn, hát khặp....Điều đáng chú ý trong khi cúng tế là đàn bà, con gái không được bước vào đền, chỉ có đàn ông đảm đương mọi việc.

      Lễ hội xên bản, xên mường là một lễ hội lớn và quan trọng của người Thái, người Khơ Mú ở bản Đoàn Kết nói riêng, người Thái Mường Lát nói chung. Tùy theo từng bản làng, lễ hội có thể diễn ra vào cuối tháng 9 đầu tháng 10 âm lịch hoặc vào tháng 2 đầu năm mới. Theo định kỳ khoảng ba năm một lần, tổ chức Lễ hội xên bản, xên mường, người Thái muốn tạ ơn trời đất, thần linh đã ban mưa thuận gió hòa, giúp việc trồng ruộng trồng nương tươi tốt, cư dân ấm no, sung túc. Chính hội vào mùa xuân, không còn quá vướng bận việc mùa nên Lễ hội xên bản, xên mường trở thành sự kiện được chờ trông bậc nhất của nhiều người. Một thầy mo uy tín sẽ đứng ra làm chủ lễ. Vào sáng sớm ngày tổ chức lễ, sẽ có một đám rước từ nhà trưởng bản (trước đây là nhà tạo mường) ra khu vực tổ chức (có trường hợp sẽ ra miếu thờ thần bản trước rồi quay lại khu vực tổ chức). Đi đầu đám rước là trưởng bản, rồi các chức sắc, các cao niên của bản, kế đó là 6 nam thanh 6 nữ tú khiêng giàn trống. Lễ vật quan trọng là con lợn mổ chia làm bốn phần: chân, thủ, lòng, mông. Ngoài ra, còn có gà, cơm xôi, rượu cần, bánh chưng, bánh dầy. Trong khi cúng, mọi người ngồi xung quanh mâm cỗ. Nghi lễ cúng có khi kéo dài đến 2 - 3 tiếng, nội dung chủ yếu vẫn là lòng biết ơn trời đất đã ban cuộc sống bình yên, no ấm cho bản mường, cầu mùa cầu phúc cho tất cả cư dân; cầu việc nuôi trâu nuôi bò không bị mất, nuôi lợn nuôi gà phát triển sinh sôi. Sau khi cúng xong, thầy mo và trưởng bản sẽ trân trọng mời một số bậc cao niên uy tín của bản thưởng thức lễ vật (tom bản, tom mường). Đấy là niềm vinh dự vì họ là những người đầu tiên được thụ lộc của trời đất. Sau đó, trưởng bản mới cho phép dân làng hạ lễ ăn uống. Buổi chiều, dân làng vào hội. Tất cả mọi người cùng hát khặp, khua luống, chơi cù quay, ném còn…

   Bản Lách ở vùng cực tây của huyện Mường Lát. Dân cư bản Lách chủ yếu là người Khơ Mú (chiếm 98%). Ngôn ngữ được sử dụng chung là tiếng Khơ Mú. Trên địa bàn bản có hang Cồng Chiêng (Thắm Háng Rồm - Thắm Cồng Chiêng). Bà con trong bản chủ yếu trồng rừng, canh tác ruộng nước, chăn nuôi gia súc, gia cầm. Nghề đan lát và dệt thổ cẩm vẫn được duy trì và phát triển trong bản. Người Khơ Mú bản Lách có nhiều nét văn hóa độc đáo trong các lễ tục, lễ hội như cúng hồn lúa (hmạl hngọ), cúng cơm mới (kăm mệ). Tiêu biêu nhất là lễ tục cầu mưa (Ru hừn tạ prư dồng). Vào những năm thời tiết khắc nghiệt, hạn hán kéo dài, không có mưa, cây trồng trên nương khô héo, đồng bào tiến hành làm lễ cầu mưa, cầu cho mưa xuống, cây cối tươi tốt, vạn vật phát triển… Ở Bản Lách còn tập tục: người phụ nữ cúng cầu mưa sẽ lên một nương rẫy đã khai hoang, ở đó, người ta đã chuẩn bị sẵn một hòn đá nhỏ và một ống nứa. (ống nứa được cắt một đầu, còn một đầu giữ nguyên mắt). Người phụ nữ sẽ lấy ống nứa cắm phần đầu chưa cắt xuống đất và bỏ hòn đá nhỏ vào đó, rồi bắt đầu khấn “Nếu trời cho mưa thì hãy mưa cho nước đầy ống, mưa mát cả đá này”.

      Bản Lát là bản du lịch cộng đồng nằm ở trung tâm xã Tam Chung. Bản Lát được đặt theo tên ngọn núi Lát, trước đây là Mường Lát. Bản Lát là nơi mật tập của người Thái, chiếm đến 90% dân số của bản. Bao quanh bản là những ngọn núi cao liên hoàn như núi Pha Pợ, núi Pha Lầu, núi Pha Bé, núi Lát…Núi cao và có độ dốc lớn đổ thẳng xuống khá nhiều con suối chạy xuyên qua bản như suối Lát (chạy từ bản Ón, qua bản Poọng, chảy đến bản Lát rồi hòa vào sông Mã), suối Pén, suối Phăng Phi, suối Nà Chọn, suối Áng, suối Kha Ni, suối Sui…Các con suối vừa cung cấp nguồn nước sinh hoạt thường ngày vừa phục vụ trồng trọt, nhất là các thửa ruộng bậc thang. Bản Lát có đặc trưng cho kiểu kiến trúc nhà ở, lối sinh hoạt và văn hóa Thái. Ngoài đường sá dễ đi lại, phần nhiều được bê-tông hóa, nhà cửa ở bản Lát nhìn chung khang trang, sạch sẽ. Đặc biệt, nhà ở đây hầu hết đều có vườn cây trồng xoài, đào, mận, táo, chuối,.. sum suê, tươi tốt, tạo nên những lớp màu xanh phủ kín. Ngay cả trong mùa hè, bản Lát cũng khá mát mẻ, thoáng đãng. Bản Lát còn gây ấn tượng vì còn lưu giữ khá nhiều phong tục, tập quán của người Thái. Ở đây, các lễ hội Xên bản, Xên Mường, lễ hội Chá chiêng, các trò chơi dân gian vẫn được tổ chức theo định kì hằng năm hoặc 2-3 năm một lần. Người Thái trong bản vẫn lưu truyền được kĩ năng dệt thổ cẩm, đan lát các đồ dùng thường ngày.

        Bản Mờng là bản có 100% dân cư là dân tộc Thái. Diện tích tự nhiên của Bản Mờng khá lớn, lên đến 378,3ha nhưng diện tích trồng lúa nước chỉ 17,9ha. Lí do vì ở đây diện tích đồi núi chiếm phần lớn với nhiều đỉnh núi như núi Tén Kéo, Xổ Lộ, Phá Máy, Pù Lạn…Tuy nhiên, do nằm dọc theo bờ suối Xim, suối Mờng và nằm dưới chân đồi Tén Kéo nên bản Mờng lại có cánh đồng ruộng bậc thang đẹp nổi bật trên đường đi vào xã Quang Chiểu. Ruộng bậc thang bản Mờng có diện tích khoảng hơn 2ha, hình dáng tựa như một mâm xôi, uốn cong theo dòng chảy của suối Xim. Khác với ruộng bậc thang Tén Tằn nằm khá cao trên sườn núi, ruộng bậc thang Bản Mờng có địa thế thấp và bằng phẳng hơn. Bề mặt ruộng không bị giật cấp quá cao mà chỉ gối lên nhau như nếp gấp mềm mại, chỉ cách mặt suối khoảng 2m. Vì thế, nếu quan sát từ trên cao, cánh đồng này tựa như chiếc lá sen khổng lồ nhoài mình ra phía dòng nước cuồn cuộn phù sa. Giữa đại ngàn trùng điệp, đứng ngắm quang cảnh ruộng bản Mờng, du khách sẽ không khỏi ngạc nhiên bởi sự sắp đặt có phần ưu ái của tạo hóa và sự kì công chăm chút của con người. 

        Bản du lịch cộng đồng Pom Khuông ở xã Tam Chung, chủ yếu là đồng bào dân tộc Mông. Nét độc đáo nổi bật của bản Pom Khuông chính là những ngôi nhà hoàn toàn làm bằng đất nện, hay còn gọi là nhà trình tường. Với sự mật tập của nhà trình tường, bản Pom Khuông xứng đáng là quần thể kiến trúc - nhà ở mang đậm nét văn hóa cũng như quan niệm cư trú, quan niệm sống của người Mông. Một ngôi nhà trình tường có tuổi thọ lên đến nhiều chục năm dù điều kiện thời tiết, khí hậu khắc nghiệt. Nhà trình tường ở Pom Khuông là một đóng góp có giá trị nhiều mặt của người Mông Mường Lát, cho thấy kĩ thuật xây dựng trình tường tưởng đơn giản nhưng lại kì công với nhiều công đoạn, đòi hỏi sự tính toán chính xác và sự tỉ mỉ, cẩn thận, trau chuốt. Nhà trình tường không cần chi phí quá lớn vì có thể xây dựa trên nguồn vật liệu tự nhiên, sẵn có tại chỗ. Nhà trình tường Pom Khuông gắn với lối sống giản dị, thân thiện, hài hòa của người Mông, của văn hóa Mông coi trọng thiên nhiên đại ngàn. Pom Khuông là bản có số lượng nhà trình tường nhiều nhất huyện Mường Lát.

      Bản Sài Khao ở xã Mường Lý, dân cư trong bản 100% là người Mông và họ Vàng là họ chủ yếu. Sài Khao là một trong những địa danh nổi tiếng khi xuất hiện trong bài thơ Tây Tiến giàu âm điệu bi tráng, lãng mạn của nhà thơ Quang Dũng. Có thể nói những câu thơ tài hoa của Quang Dũng đã mô tả một cách chính xác đến ngỡ ngàng đặc điểm của Sài Khao và Mường Lát: “sương lấp, hoa về, đêm hơi”. Sài Khao, điểm cuối cùng của con sông Mã hùng vĩ chảy qua địa bàn Mường Lát, cảnh quan và địa hình hầu như không thay đổi so với cảm nhận của Quang Dũng mấy chục năm về trước. Đặc biệt, khi đứng trên đỉnh cao Sài Khao, du khách có thể quan sát được dãy Pha Luông kỳ vĩ ẩn hiện trong mây trắng. Đại ngàn Pha Luông có độ cao gần 2000m, án ngữ khu vực biên giới Việt - Lào, nằm ở phía đông huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La, cách thị trấn Mộc Châu khoảng 30km. Khung cảnh thơ mộng của Pha Luông “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” như tôn thêm điểm nhấn cho Sài Khao, giúp du khách trải nghiệm trọn vẹn cảm giác “Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống”, “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm” và “Heo hút cồn mây súng ngửi trời”mà Quang Dũng đã nhắc đến.

        Khu tưởng niệm Tây Tiến được xây dựng trong khuôn viên Nhà văn hóa thị trấn Mường Lát, do Hội Cựu chiến binh Tây Tiến phối hợp với huyện Mường Lát và sự giúp đỡ của UBND Thành phố Hà Nội, Công ty Đầu tư phát triển Điện lực và Hạ tầng (PIDI) xây dựng, khánh thành vào dịp kỉ niệm 60 năm ra đời Trung đoàn 52 Tây Tiến (1947-2007). Đài tưởng niệm Tây Tiến ở Mường Lát có hình dáng là một tòa bảo tháp Phật giáo, thân tháp cao 9 tầng, phần đế tháp hình lục giác, phần đỉnh tháp có hình bông sen cách điệu. Tầng tháp thứ nhất đặt trên đài sen, các tầng tháp tiếp theo nhỏ dần, khoảng cách giữa các tầng tháp khoảng 70cm. Mặt chính diện của đế tháp khắc in lời đánh giá của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Tinh thần Tây Tiến sống mãi với non sông đất nước”. Các mặt khác khắc in một số khổ thơ trong bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng. Toàn bộ tháp được làm bằng đá xanh, phần chân và đế tháp còn có chạm trổ hoa văn đơn giản. Nhìn tổng thể, Đài tưởng niệm Tây Tiến ở Mường Lát không có quy mô lớn nhưng phần nào thể hiện được tinh thần hào hoa, bi tráng cũng như lòng hàm ơn ghi nhớ công lao các chiến sĩ Trung đoàn 52-Tây Tiến.

     Thực hiện sắp xếp chính quyền địa phương 2 cấp, huyện Mường Lát từ 7 xã 1 thị trấn được chuyển đổi thành 8 xã. Khác với  tất cả các huyện trong tỉnh, là huyện biên giới, điều kiện đặc biệt khó khăn nên Mường Lát là huyện duy nhất không sáp nhập xã. Chỉ có thị trấn Mường Lát được đổi tên thành xã Mường Lát, còn các xã giữ nguyên trạng, không thực hiện sắp xếp.

   Tôi nhớ lại năm 2003, khi tỉnh Thanh Hóa có chủ trương mỗi Sở Ngành nhận giúp  đỡ một bản khó khăn của miền núi Thanh Hóa, Sở VHTT được giao bản Tà Kóm, xã Trung Lý, huyện  Mường Lát. Để lên Tà Kóm không có đường bộ mà phải thuê xuồng máy chày ngược sông Mã từ bến Co Lương, trên đất tỉnh Hòa Bình. Trong chuyến đi này tôi đã cảm xúc sáng tác bài thơ: Tà Kóm.  Bài thơ này đã được nhạc sĩ Thế Việt và nhạc sĩ Mạnh Thống phổ nhạc. Xin chép lại bài thơ để kết thúc bài viết về huyện Mường Lát và cũng là kết thúc chuỗi bài viết về 27 huyện, thị, thành phố của tỉnh Thanh Hóa, được khởi bút từ tháng 3/2025.

     TÀ KÓM

Một lần ngược sông Mã

Lên Tà  Kóm lên trời

Vượt qua bảy ngọn thác

Trèo qua chín quả đồi

Gặp câu thơ Quang Dũng

Đang khỏa nước bến sông

Thấp thoáng đoàn Tây Tiến

Giữa đại ngàn mênh mông

Sông cứ trôi mải miết

Rừng cứ đứng trầm tư

Chỉ lòng người da diết

Cuộc đời và hư vô

Giữa ngát xanh rừng núi

Dòng sông cuốn phù sa

Giữa hai bờ bồi lở

Dòng đời trôi trong ta

Em là dòng sông trẻ

Anh  cánh rừng già nua

Ầm áo và lặng lẽ

Tìm  nhau từ xa xưa

Một lần lên Tà Kóm

Sông núi cũng đa tình

Ngọn gió xannh em thả

Làm rối bời lòng anh.

Ps: Một số hình ảnh Mường Lát

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét