XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG

Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2026

Tp THANH HOÁ BỐN HƯỚNG ĐỀU DO DANH TỪ BỊ PHƯƠNG NGỮ DÙNG LÀM ĐỘNG TỪ ÁN NGỮ


(Bắc Cầu LÈN, Nam núi CHẸT. Đông Cầu CỐC, Tây Núi NHỒI).

1. Về phương ngôn – phương ngữ: địa danh được “động từ hoá”.
Trong tiếng Việt cổ và phương ngữ Bắc Trung Bộ (đặc biệt Thanh – Nghệ), có hiện tượng rất rõ:
Danh từ địa hình = động tác / trạng thái
Các từ:
• Lèn
• Chẹt
• Cốc
• Nhồi
đều không thuần là danh từ, mà vốn là động từ hoặc tính từ chỉ hành động – cảm giác – thế đất.
Giải nghĩa từng hướng quanh thành Thanh Hoá
Đi về Bắc gặp LÈN (cầu Lèn)
• Lèn trong tiếng địa phương: đá dựng đứng, chèn ép, nổi lên đột ngột
• Nghĩa động: lèn vào, lèn chặt, ép lại
Thế đất phía Bắc: dựng, chặn, án ngữ
→ Bắc là hướng “đầu”, cần có sơn án để che gió, chặn khí xung.
Đi về Nam gặp CHẸT (núi Chẹt)
• Chẹt: bị bóp, bị siết, bị kẹt lại
• Nghĩa động: chẹt lối, chặn đường
Phía Nam tuy là hướng mở (minh đường), nhưng núi Chẹt không cao mà nằm thấp, ngang, tạo cảm giác khóa – giữ – không tràn khí.
Đi về Đông gặp CỐC (cầu Cốc)
• Cốc: lõm xuống, trũng, úp, hõm
• Nghĩa động: cốc đầu, úp xuống
Phía Đông là thủy khẩu, nơi nước vào – ra
→ “Cốc” cho thấy khí và nước tụ lại, không tán, rất tốt cho sinh khí.
Đi về Tây gặp NHỒI (núi Nhồi)
• Nhồi: dồn nén, tích lại, ép chặt
• Nghĩa động: nhồi nhét, nén khí
Phía Tây có núi đá vôi lớn, giữ nhiệt, giữ khí, chắn nắng gắt
→ Tây “nhồi” để không tản lực, không khô kiệt.
Điểm đặc biệt:
Người Thanh không gọi đất bằng “tên chết”, mà gọi bằng trạng thái đang diễn ra.
Đất đang lèn – đang chẹt – đang cốc – đang nhồi
→ Đó là tư duy động, rất cổ.
2. Về phong thuỷ: một “tứ trấn sống”
Nếu nhìn theo phong thuỷ cổ truyền:
Hướng Địa danh Trạng thái Vai trò
Bắc Lèn Dựng – chặn Sơn án
Nam Chẹt Khóa nhẹ Minh đường có kiểm soát
Đông Cốc Tụ – lõm Thủy khẩu
Tây Nhồi Dồn – giữ Hậu chẩm
Thành phố Thanh Hoá nằm trong thế “tứ hướng đều giữ”, không để khí thoát nhanh, cũng không bí bách.
Đây là đất ở – đất cư dân – đất lâu bền,
không phải đất đế đô phô trương, mà là đất nuôi người.
3. Về lịch sử: dấu vết Việt cổ – không phải ngẫu nhiên
Những địa danh kiểu:
• Lèn
• Cốc
• Nhồi
• Chẹt
đều có gốc Việt cổ, có trước Hán – Nôm.
Điều này cho thấy:
• Người Việt định cư rất sớm
• Đã quan sát kỹ địa hình
• Gọi tên theo cảm nhận cơ thể, không theo mỹ từ.
Người xưa sống cùng đất, nên đặt tên như nói chuyện với đất.
4. Về văn hoá – tâm thức xứ Thanh
Từ cách gọi địa danh có thể thấy:
• Người Thanh thực tế
• Ít hoa mỹ, nhiều “đụng chạm”
• Gọi đúng cái đang xảy ra, không né tránh
Đất thế nào thì nói thẳng thế ấy:
• Chặn thì nói chặn
• Bóp thì nói chẹt
• Tụ thì nói cốc
• Dồn thì nói nhồi
Điều này phản ánh tính cách con người xứ Thanh:
Kiệm lời – chắc gân – chịu nén – bền bỉ
5. Kết luận ngắn gọn
Hệ địa danh quanh thành phố Thanh Hoá:
• Là ngôn ngữ Việt cổ còn sống
• Là bản đồ phong thuỷ bằng lời nói
• Là lịch sử cư trú lâu dài
• Là tính cách văn hoá được “đóng dấu” vào đất.
Không phải ngẫu nhiên mà xứ Thanh sinh nhiều người chịu đựng, làm việc lớn, bền gan, vì đất đã “lèn – chẹt – cốc – nhồi” con người từ ngàn năm.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét