SƠN THỦY HỮU TÌNH, VĂN HÓA ĐẶC SẮC
Được tách ra từ huyện Quan Hóa vào năm 1996, Quan Sơn là một trong những huyện sinh sau đẻ muộn của tỉnh Thanh Hóa. Tên Quan Sơn được định danh cho huyện mới là ghép từ tố “Quan” có gốc từ địa danh Quan Hóa và “Sơn” là núi để đặt tên huyện Quan Sơn, bởi vì đây là vùng đất tách ra từ Quan Hóa và có núi rừng trùng điệp liên chi.
Huyện Quan Sơn có diện tích tự nhiên 944km2, chiều dài gần 80km, nơi rộng nhất 40km. Quan Sơn giáp Bá Thước, Lang Chánh về phía đông; Quan Hóa về phía Bắc, tỉnh Hủa Phăn (CHDCND Lào) về phía tây và nam. Quan Sơn là huyện vùng núi cao, trước khi xóa bỏ cấp huyện có 11 xã và 1 thị trấn. Huyện Quan Sơn có 4 dân tộc anh em với dân số là 43.370 người, trong đó người Thái 34.967 người, người Mường 3.173 người, người Kinh 3.075 người và người Mông 1.070 người (số liệu đến 31/12/2024).
Huyện Quan Sơn có quốc lộ 217 chạy theo chiều dài từ đầu đến cuối huyện, nối với nước bạn Lào tại cửa khẩu quốc tế Na Mèo. Huyện có 68km đường biên giới giáp với nước CHDCND Lào. Quan Sơn là vùng đất tách ra từ huyện Quan Hóa nên quá trình hình thành và tên gọi đến khi thành lập huyện giống như đã viết ở huyện Quan Hóa.
Đặc điểm tự nhiên của Quan Sơn đúng như tên huyện, một vùng đất núi non san sát, sông suối hấp dẫn, hang động kỳ thú, sơn thủy hữu tình, văn hóa đặc sắc.
Trong “Đại Nam nhất thống chí tỉnh Thanh Hóa”, tập thượng có chép duy nhất ngọn núi của châu Quan Hóa xưa, nay thuộc Quan Sơn: “Lư Sơn (núi Lư) ở phía tây châu Quan Hóa. Đá núi toàn trắng, cây cỏ xanh om, dưới có một con sông nhỏ. Trong núi có động, trong động có đền. Thỉnh thoảng thấy có hai con tê, một con trắng, một con đen, sừng sáng như bó đuốc. lại thường có một đàn linh dương (dê rừng) ra vào cửa động, dân ở đó không dám sắn bắn bao giờ”.
Núi Pù Mằn ở xã Quan Sơn, có độ cao 1.247m so với mực nước biển, là ngọn núi có hệ động - thực vật rất phong phú. Về động vật, có khỉ, vượn, sóc, gấu, nai, lợn lòi, hổ, báo, đười ươi... Về thực vật, có nhiều loại gỗ quý như: sa mu, đinh hương, táu, sến, lát hoa, lát chun, chò chỉ, dổi, vàng tâm, re hương, song, mây, nứa, vầu, bương. Pù Mằn là rừng đầu nguồn suối Ngàm và động Nang Non, những danh thắng độc đáo của vùng đất Quan Sơn.
Dãy núi Pha Phanh kéo dài từ bản Na Hồ, bản Sủa xã Sơn Điện xuống huyện Quan Hóa cũ dài hơn 30km. Pha Phanh là dãy núi có nhiều loại gỗ quý như: pơ mu, thông, tre, dổi, chò chỉ, vàng tâm, re thơm, trai, nghiến... Động vật nơi đây có sơn dương, gấu, khỉ, vượn, rùa, hoẵng, nai, lợn lòi. Ngoài ra, các loại chim như: trĩ, hồng hoàng, gà lôi, chim cút và các loại bò sát, gặm nhấm ở đây cũng rất nhiều.
Pha Hen, Pha Dua là hai dãy núi đá đối diện nhau ở địa phận bản Bơn, xã Mường Mìn ở giữa có con sông Luồng chảy qua, núi Pha Hen nằm ở phía bắc, núi Pha Dua nằm ở phía nam. Nơi đây chính là ranh giới giữa mường Mìn và mường Xia xưa (ngày nay là xã Mường Mìn và xã Sơn Thủy). Gọi tên núi là Pha Hen vì trên đường vào Sơn Thủy bên bờ sông Luồng phải ngửa mặt mới thấy đỉnh núi. "Ngửa mặt" tiếng Thái gọi là “hen ná” hoặc “hen khò” (ngửa cổ). Do vậy, người Thái nơi đây đặt tên núi là Pha Hen. Gọi tên núi là Pha Dua (“Dua” tiếng Thái có nghĩa là nhô ra, vươn ra) vì dãy núi này vươn ra sông Luồng. Do hai dãy núi này đối diện và sát gần nhau nên dân gian đã liên tưởng như chiếc cầu bắc qua sông Luồng nối liền 2 bờ từ Pha Hen và Pha Dua: “Pha Hen cặp Pha Dua cai cầu khúa lạn” (Núi Hen và núi Dua bắc cầu nhịp đá). Núi Pha Dua thơ mộng và linh thiêng, gắn với nhiều huyền thoại lưu truyền trong dân gian, trong đó đặc sắc nhất là truyện tình Pha Dua. Núi Pha Dua là núi đá cao, có nhiều động vật quý hiếm như: gấu, khỉ, vượn, sơn dương, chim đại bàng mỏ sừng cổ vàng.
Sông Luồng và sông Lò là hai con sông chi lưu của sông Mã đều phát nguyên từ Lào và chảy về Việt Nam ở Quan Sơn. Sông Luồng dài 117km chảy qua xã Sơn Thủy, Sơn Điện rồi chảy về Quan Hóa cũ, đổ vảo sông Mã tại xã Hồi Xuân. Sông Lò chảy vào huyện Quan Sơn tại xã Tam Thanh gần song song với sông Luồng có chiều dài 95km, bên phía Việt Nam là 58km. Sông Lò đổ vào sông Mã tại xã Hồi Xuân.
Suối Sàng nằm ở bản Na Mèo, xã Na Mèo, chảy theo hướng đông bắc - tây nam, dài khoảng 4km được hợp thành nhiều con suối nhỏ đổ ra sông Luồng. Lưu vực suối Sàng có nhiều gỗ quý với trữ lượng lớn như: dổi, lát hoa, dẻ thơm, bi, sú….Nước suối Sàng trong xanh, mát rượi, là nguồn nước sạch phục vụ cho gần 1.000 hộ dân bản Na Mèo và các cơ quan đóng trên địa bàn Cửa khẩu Na Mèo. Từ cửa suối (bờ sông Luồng) theo suối Sàng vào khoảng 1,5km có một thác cao, nước tung bọt trắng xóa, mát rượi. Đó chính là thác 20 sải ở suối Sàng, Thác cao khoảng 40 m. (với người Thái, những thác nước cao đồng bào đều gọi là thác 20 sải). Suối Sàng là điểm tham quan hấp dẫn với những du khách muốn khám phá vẻ đẹp của miền sơn cước.
Suối Pa (còn có tên khác là suối Cá) nằm ở xã Tam Thanh, huyện Quan Sơn. Suối Pa bắt nguồn từ Lào chảy về Việt Nam qua các bản: Pa, Cha Lung, Phe, Piềng Pa rồi đổ ra sông Lò tại bản Piềng Pa, xã Tam Thanh. Suối dài trên 25km, lưu lượng nước khá lớn do có nhiều khe suối dồn nước về nên càng về hạ lưu lượng nước càng nhiều và tạo ra các vụng sâu như vằng Hừa (hay còn gọi là vằng Ngước (vụng Thuồng Luồng) tại Piềng Pa. Suối chạy qua các dãy núi đá tạo thành các thác nước, các hang hốc dưới nước như vằng Hu Ngước (vụng Hốc Thuồng Luồng) ở bản Cha Lung, cánh Pa Tốt (thác Cá Dừng) ở bản Pa, cánh Sào Va (thác 20 sải) cách bản Pa 3km về phía thượng nguồn. Suối Pa từ ngoài vào có thể gặp Vằng Hừa (hay còn gọi là vằng Ngước) là một vụng nước sâu trong xanh ở ngay bản Piềng Pa. Vằng Hừa là tên gọi trong tiếng Thái: “vằng” là vụng nước, “hừa” là thuyền. Vằng Hừa có rất nhiều cá. Có người chui vào đó bị mất tích luôn nên đồng bào cho là bị thuồng luồng bắt, vì vậy Vằng Hừa còn gọi là Vằng Hu Ngước (vụng Hốc Thuồng Luồng). Theo dòng suối Pa vào phía trong, có một thác dựng đứng khá cao trên dòng suối Pa. Vì vậy, cá từ hạ lưu suối Pa lên không thể qua thác này được. Cách bản Pa khoảng 3km về phía thượng nguồn có một thác cao, nước tung trắng xóa rất đẹp, người Thái gọi là Kánh Sào Va (Thác 20 sải). Nhờ lưu thủy của suối Pa mà các bản Pa, Cha Lung, Phe, Piềng Pa có nước sinh hoạt dồi dào, nước tưới ruộng, làm ao thả cá.
Suối Bóng thuộc đất bản Chiềng, xã Mường Mìn dài gần 10km bắt nguồn từ Pù Kút xuôi về bản Huối Bóng rồi ra sông Luồng tại cầu suối Bóng. Lưu vực suối Bóng liên tiếp có nhiều khe suối đổ về, lại có nhiều cây cối tạo cảnh quan đẹp. Suối Bóng khá bằng phẳng, lưu lượng nước khá lớn nên đến mùa cá lên (tháng 3 - 6 hàng năm) hàng đàn cá từ sông Luồng vào cư trú, sinh đẻ ở suối. Dưới suối, ngoài cá còn có tôm, cua, ba ba… Trước đây, quanh khu vực suối Bóng cũng có rất nhiều nai, hoẵng, lợn lòi, khỉ, vượn, còn có cả công, trĩ, gà lôi và chim thú khác.
Động Bo Cúng nằm ở bản Chanh, xã Sơn Thủy nằm ở độ cao trung bình từ 350m đến 600m so với mực nước biển. Đặc điểm nổi bật của địa hình nơi đây là có những dãy núi đá chạy dài xen kẽ các khối núi đá vôi với nhiều hang động; nhiều khe suối đan xen tạo nên cảnh sắc thơ mộng. Động Bo Cúng có độ sâu khoảng 800m, rộng từ 20 - 50m, trần động cao thấp khác nhau khoảng từ 20 - 30m. Toàn bộ lòng động được chia thành 10 khoang lớn nhỏ. Tại mỗi khoang là tập hợp hàng loạt các nhũ đá là tạo tác kỳ thú của tạo hóa. Nơi đây xưa kia còn có cả một khe suối mỗi khi mùa mưa, lũ, từ trong khe chảy ra rất nhiều tôm. Bởi đặc điểm ấy mà người dân bản Chanh đã gọi động này là Bo Cúng theo tiếng Thái nghĩa là Mó Tôm. Khu vực động Bo Cúng là một quần thể núi đá rộng với diện tích hàng nghìn héc ta, kéo dài từ bản Chanh về gần bản Khà dọc theo hai bên suối Xia. Trong các dãy núi đó, nhiều hang động có chim, thú cư ngụ như: Hang Dơi, Hang Gấu, Hang Cọp, Hang Khỉ, Hang Vượn... Trên những núi đá có nhiều loại gỗ quý như trai, lý, nghiến, lát hoa, lát chun (ở trên núi), chò chỉ, dổi, vàng tâm, sâng, sú (ở chân núi).
Động Nang Non ( tên khác là Thắm Pha Su Lú) ở xã Tam Lư có diện tích khoảng 17,5ha. Muốn đến động Nang Non phải dùng thuyền, bè qua sông Lò. Từ bờ sông Lò lên khoảng 100m rẽ về phía trái là đến cửa động. Hiện nay, đường lên động đã có bậc và tay vịn lên xuống với hơn 300 bậc bê tông. Động rộng chừng 10m, sâu vào khoảng 70m, cao trên 17m rồi chia thành 2 nhánh, 2 tầng. Tầng trên có một tràn đá tạo thành phản nhũ đá có hình tựa như cô gái đang nằm ngủ. Người Thái đã gọi động này theo hình dáng của tràn đá đó là Thắm Pha Su Lú (tiếng Thái có nghĩa là Nang Non). Trong lòng hang hẹp là một khoảng không gian rộng có những thạch nhũ lớn từ trần hang rủ xuống, có một hồ nhỏ nước trong vắt và có một con suối nhỏ chảy qua.
Quần thể hang động Sa Ná nằm ở bản Sa Ná, xã Na Mèo như hang Trùng, hang Bó. Hang Trùng nằm ở phía dưới cửa suối Son khoảng 50m, trong hang, theo nhiều thợ săn kể lại, trước đây có nhiều quan tài cũ và đồ vật cũ (nhiều cái đã hư hỏng) của người Thái như: bế, mâm gỗ.... Tại sao có đồ vật ở đó và có từ bao giờ không ai biết được. Hang Bó nằm trong núi đá, đồng bào gọi là Pha Bó. Trèo lên Pha Bó ở độ cao khoảng 150m sẽ đến cửa hang khá rộng và càng đi sâu vào càng đẹp. Trong hang có Nà Kàng Koi (ruộng của người lùn) bằng đá nhũ giống như những thửa ruộng bậc thang; có khối đá như bầu sữa mẹ trên cao khoảng 2,5m như đang nhỏ sữa xuống đầu đứa con (hòn đá nhỏ cao khoảng 50cm) ở phía dưới.
Thác bản Nhài nằm ở suối Nhài, thuộc bản Nhài, xã Sơn Điện. Thác bản Nhài có cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, thác nước đẹp, người dân địa phương gọi là thác 20 sải. Thác cao gần 40m, đứng ở dưới chân thác nhìn lên thấy nước đổ xuống trắng xóa và “màn sương” tỏa ra xung quanh rất đẹp, hấp dẫn du khách tham quan, ngắm cảnh. Thác Bản Nhài cùng suối Nhài, sông Luồng và núi Pha Đón cao ngất đã tạo nên cảnh quan danh thắng hấp dẫn những du khách muốn khám phá cảnh đẹp của núi rừng nơi đây.
Quần thể thác nước bản Xày thuộc xã Trung Hạ là quần thể thác nước rất đẹp với các thác tiêu biểu là thác bản Xày, thác Tiên, suối Din ... Dòng suối Bá chảy từ bản Xanh, ra đến bản Bá về địa phận bản Xày thì đổ nước xuống sông Lò từ trên cao hàng trăm mét, tạo nên thác nước bọt nước tung trắng xóa. Đứng dưới chân thác nước nhìn lên cảm giác dòng nước như đổ ào ạt như từ trên trời xuống. Suối Tiên chảy từ xã Lâm Phú (huyện Lang Chánh) qua bản Đôn, bản Cháo, bản Tiên về xã Trung Hạ, qua bản Xày rồi đổ ra sông Lò thuộc địa phận bản Xày. Suối Tiên đổ từ trên cao xuống tạo thành thác nước rất đẹp. Nhân dân gọi thác nước này là Kánh Tiên (thác Tiên). Suối Din ở phía bắc sông Luồng, đối diện với Piềng Din (bản Din). Suối bắt nguồn từ dãy Pha Phanh giáp xã Nam Tiến (huyện Quan Hóa) chảy theo hướng Tây bắc - Tông nam đổ về sông Lò tại Piềng Din, bản Din. Suối có độ dài khoảng 4km. Khi ra gần sông Lò khoảng 500m suối tạo thành nhiều thác liên tục tung bọt trắng xóa, tỏa hơi nước ra xung quanh mát rượi.
Là vùng đất có tới 81% dân số là người dân tộc Thái nên đến bất cứ bản làng nào của Quan Sơn ta cũng gặp đậm đặc dấu ấn văn hóa Thái. Cũng giống như Quan Hóa, huyện Quan Sơn đa số là người Táy Đăm, khác với các huyện Thường Xuân, Như Xuân, Như Thanh là người Táy Dọ. Người Thái không phân biệt sắc tộc, họ gọi nhau theo danh mường.
Tập quán cư trú của dân tộc Thái là lập bản dựng mường ở các thung lũng vùng núi cao, bên các con sông, ven khe suối để canh tác lúa nước. Các bản làng người Thái quây quần đông vui, trù phú, sinh hoạt có lệ riêng. Người Thái ở nhà sàn vững chắc và rất rộng rãi khang trang do bố trí ít cột trong sàn nhà. Trong hoạt động kinh tế, người Thái chủ yếu là làm lúa nước nên rất chú ý đến “mương – phai – lái – lín”, làm nương theo lối “dao canh hỏa chủng” (canh tác bằng dao, đốt bằng lửa), chăn nuôi và đánh bắt hái lượm.
Người Thái có chữ viết và sắc phục riêng, trong đời sống văn hóa có rượu cần, khặp Thái, khua luống là những đặc trưng văn hóa nổi trội. Trang phục của người Thái rất phong phú, phân biệt giới tính và lứa tuổi, địa vị xã hội trong ăn mặc. Đặc biệt phụ nữ Thái có áo, váy, khăn, thắt lưng là những thứ trang phục không thể thiếu. Gạo nếp, gạo tẻ là lương thực của người Thái ở Quan Sơn, trong đó gạo nếp là chính.
Trong di sản văn hóa tộc người, cùng với người Thái ở các huyện miền núi Thanh Hóa, người Thái Quan Sơn cũng sở hữu kho tàng văn học thành văn, thơ, ca, hò vè, văn học dân gian phong phú. Đó là thơ, hát, dân ca trữ tình “Khặp” (Khắp), một loại hình văn hóa dân gian vừa đặc sắc vừa dân dã, chan chứa tình yêu thiên nhiên, bản mường, nam nữ. “Ước gì được yêu em như hoa yêu vườn/ Được yêu em như chàng Lú yêu nàng Ủa/ Ước gì đôi ta được ăn xôi, chung chõ, được ăn rêu đá nấu cùng nồi/ Vì thế, khi đã yêu/ Dù đường xa trắc trở/ Dù núi ngăn không sờn/ Và khi yêu nhau thì “tam tứ núi cũng trèo”/ Lòng yêu em quản chi đường rậm/ Đường rậm cây, đem chín nghìn dao đến phát/ Đường dài, anh vác chín nghìn rìu đến đẵn thu ngắn lại/Suối cách ngăn, ghép bè tre anh vượt/ Nước cản đường, phát lối khác anh đi”. Ngoài Khặp, người Thái còn có các loại hình: hát Sắng, hát Sềnh, Mo. Do biến thiên thời gian, nhiều viên ngọc dân ca Thái bị vùi lấp, thất truyền. Nhiều trí thức người Thái tâm huyết đã dày công sưu tầm, tập hợp lại vốn cổ của dân tộc mình. Đó là các ông Hà Văn Ban với Ú Thêm, Hà Nam Ninh với Báo Xao, Bùi Tiên với Tục ngữ dân ca Thái, Vi Lập Công với Khặp Thái, Cầm Bá Lai với Tục ngữ Thái, Ngân Đức Minh với Ính Lài và gần đây NS nhiếp ảnh Trần Đàm cho biết ông Hà Văn Thương đang hoàn thiện Trường ca đại sự Mường Ca Da. Cùng với dân ca, người Thái tự hào có diễn xướng dân gian Kin Chiêng Boóc mạy, Xằng Khàn, Cá Sa.
Phương ngôn tục ngữ của người Thái Quan Sơn cũng rất phong phú, đặc sắc thể hiện triết lý sống, đối nhân xử thế của mình. “Có thóc lúa, có mọi thứ’, “Thóc gạo ngồi trên/ Vàng bạc ngồi dưới”, “Người lười lấy vợ xa/ Người chăm được vợ trong bản”, “Lúc làm không thấy mặt/ Nghe mổ gà chạy đến”, “Quý thóc, thóc về/ Quý cá, cá lên”, “Muốn no cơm, gắng làm ruộng/ Muốn ăn cá, phải đắp bờ khơi mương”, “Gái đẹp qua mắt quan/ Chửa hoang qua mắt tạo”, “Cồng không đánh cồng câm/ Con không dạy dỗ một đời con hư”, “Hút thuốc phiện trời biết/ Ngoại tình trời thấy”…Người Thái Quan Sơn cũng như dân tộc Thái của các huyện vùng cao Thanh Hóa có nhiều lễ hội, lễ tục truyền thống như: tết của người Thái, tết Kin pá, lễ cầu Mường, hội cầu mưa, lễ hội xíp xi, hội ném còn, làm vía, tục ở rể, lễ cưới… Trong văn hóa ẩm thực, người Thái Quan Sơn có nhiều món ăn rất đặc trưng của dân tộc mình như cá đồ, cơm lam, thịt chua, canh lam, món chẻo, măng chua héo, canh uôi, măng đắng, canh môn da trâu, thịt trâu gác bếp, cá nướng, canh nhái om măng, rau rừng như tóc tiên, tầm bốp…
Trong các di sản văn hóa nổi bật, niềm tự hào của người Thái Quan Sơn, có sức hút với cả vùng là đền thờ và lễ hội gắn với nhân vật Tư Mã Hai Đào.
Đền thờ Tư mã Hai Đào ở bản Chung Sơn, xã Sơn Thủy thờ Tướng quân Tư Mã Hai Đào. Theo truyền tụng dân gian, Hai Đào nổi tiếng thông minh, nhanh nhẹn, có những phẩm chất hơn người như võ thuật, múa kiếm, chơi đu, chọi cù từ lúc còn nhỏ. Nhờ thắng trong cuộc thi tài ở kinh thành, Hai Đào được công chúa yêu mến và trở thành phò mã. Tên gọi Tư Mã Hai Đào có từ đấy. Đúng vào lúc ấy, vùng biên giới nước ta bị giặc ngoại xâm rình rập, cướp phá, nhân dân đói khổ lầm than, phò mã Hai Đào lập tức xin phép vua cha cho được cầm quân diệt giặc, giữ yên vùng biên giới. Vua đồng ý sắc phong Tướng quân cho chàng và cấp lương thực, vũ khí, voi, ngựa để chàng đánh giặc. Đoàn quân của Hai Đào đánh thắng nhiều trận giòn giã và đuổi lũ giặc ra khỏi biên cương. Đất nước trở lại thanh bình, Tư mã Hai Đào được vua phong tước Tư mã Biên phòng. Từ đó, Hai Đào trở thành quan Châu Xia cai quản ba vùng gồm: mường Chu Sàn, mường Chu Gia và mường Chu Sang, trong đó mường Chu Gia và mường Chu Sang thuộc tỉnh Hòa Bình và Sơn La ngày nay. Trong thời gian trấn ải biên cương, Hai Đào đã qua lại nhiều lần trên đất mường Xia, thấy cảnh đẹp hữu tình, đất đai trù phú nên ông đã chọn mường Xia làm thủ phủ. Sau khi ông mất, người dân mường Xia, mường Mìn tôn thờ Tư Mã Hai Đào xem ông là Thần giữ vía cho cả Mường, lập đền ông tại bản Chung Sơn, xã Sơn Thủy. Trải qua thời gian, ngôi đền cũ trở thành phế tích. Năm 2009, ngôi đền mới được xây dựng trên nền móng cũ bằng gạch ngói, có kết cấu hai tầng mái, tọa lạc trên khu đất cao, chung quanh có cây xanh bao bọc, lưng tựa vào dãy núi đá trùng điệp. Trước đền là không gian rộng rãi, thuận tiện cho tổ chức lễ hội và hoạt động vui chơi giải trí của bản, mường. Trong đền có hương án, ngai thờ, đồ tế khí bằng gỗ, sơn thiếp theo kiểu cổ. Đền có hồ nước, cây đa và gốc gạo, hiện vật gốc của đền xưa. Đặc biệt, hòn đá vía (cột trụ của mường Xia, Chu Sàn) vốn trước đây đặt ở bãi rộng, nơi làm sân vận động của bản Chung Sơn cách đền thờ Tư Mã Hai Đào khoảng 150m về phía bắc, khi khánh thành đền mới, được chuyển về sân đền thờ Tư Mã Hai Đào cho đến ngày nay. Hằng năm cứ đến ngày 15/3 âm lịch, UBND xã Sơn Thủy lại tổ chức cho nhân dân và đồng bào xa gần đến thăm viếng và 5 năm một lần, huyện Quan Sơn tổ chức lễ hội mường Xia để tri ân Tướng quân Tư Mã Hai Đào.
Lễ hội Mường Xia là lễ hội lớn nhất của mường Xia thời xưa, được tổ chức hàng năm để tri ân tướng quân Tư Mã Hai Đào phù hộ cho bản làng no ấm, cuộc sống an lành, mùa màng tốt tươi, con người và vạn vật sinh sôi nảy nở. Một nét riêng biệt của lễ hội Mường Xia khác với các lễ hội khác là phần tế lễ được tổ chức tại 5 điểm trên địa bàn của đất Mường Xia bao gồm: cúng thần mường (tại đền thờ tướng quân Hai Đào); cúng vía chung cho cả đất Mường Xia (tại nơi chôn hòn đá vía và đền thờ tướng quân Hai Đào); cúng Sần Cuống ở Sộp Xia (tại nơi giao hòa của suối Xia và sông Luồng); cúng Sần Phiềng Phay (bên bờ sông Luồng, gần thủ phủ Hai Đào); cúng Sứa Tú Năm (tại hang Dua dưới núi Pha Dua, nơi gắn với chuyện tình Pha Dua và phong tục tung còn). Hằng năm vào dịp 10-3 âm lịch bà con trong vùng, du khách thập phương lại tụ hội về đây để dâng hương, vãn cảnh và tham gia các hoạt động của lễ hội
Làng nghề dệt thổ cẩm Chung Sơn ở xã Sơn Thủy là nghề truyền thống nơi đây. Dưới ngôi nhà sàn ở bản Chung Sơn, nhà nào cũng có một đến hai khung cửi, con gái lớn lên phải biết dệt vải, tự làm được chăn, đệm, quần áo trước khi về nhà chồng. Khi về nhà chồng, của hồi môn người con gái mang theo là bộ chăn đắp, đệm trải, đệm ngồi, gối... không chỉ đủ dùng cho 2 vợ chồng mà còn tặng cho bố mẹ chồng, anh và em của chồng, cô cậu bên nhà chồng. Cũng vì thế các cô gái trong bản đều biết dệt vải từ rất sớm. Trước đây, việc dệt vải phải tự xe sợi dệt vải từ cây bông, tự nuôi tằm lấy sợi dệt vải, tự nhuộm màu bằng các loại cỏ cây hái trong rừng. Ngày nay, sợi dệt được bán rộng rãi, đa dạng màu sắc, chất liệu ở các khu chợ nhưng hoa văn dệt vẫn mang đậm nét truyền thống.
Những năm gần đây, vùng đất Quan Sơn xa xôi có nhiều khởi sắc nhờ giao thông được nâng cấp, đi lại thuận tiện. Những tài nguyên du lịch được khai thác để thành những sản phẩm hấp dẫn du khách, nhất là du lịch cộng đồng. Quan Sơn hiện có các bản Hậu, bản Ngàm, bản Khạn là những bản du lịch cộng đồng có cảnh quan đẹp, nhiều nét độc đáo về văn hóa của người Thái với những phong tục tập quán, ẩm thực rất đặc sắc. Khi đến thăm bản, du khách được thưởng thức các nhạc cụ truyền thống như khèn bè, sáo ôi, khua luống, trống chiêng, bóng bu, xem các cô gái Thái nhảy sạp, hát khắp.
Quan Sơn cũng chính là vùng đất khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, năm 1529 Hữu vệ điện tiền Tướng quân Nguyễn Kim đã chạy về Quan Sơn để qua Ai Lao, được vua Lào là Sạ Đẩu cấp cho đất Sầm Châu (Sầm Nưa – Hủa Phăn) làm căn cứ để từ đó trung hưng khôi phục nhà Lê. Trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, Quan Sơn là vùng đất gắn với chiến khu cách mạng Viêng Xay để bảo vệ, nuôi dưỡng cách mạng Lào khi còn trứng nước. Tại cầu Phả Lò, quân và dân Quan Hóa đã bắn rơi máy bay Mỹ năm 1966.
Trên đất Quan Sơn có cửa khẩu Quốc tế Na Mèo – Nặm Xôi. Tại cửa khẩu có hai cầu bắc qua suối Xôi thông thương giữa nước ta với CHDCND Lào. Phía đông cầu là trạm kiểm soát cửa khẩu liên hợp của Việt Nam gồm các lực lượng: biên phòng, hải quan, kiểm dịch, thuế vụ... Phía tây cách đầu cầu khoảng 150m là trạm kiểm soát liên hợp của nước bạn Lào. Các cơ quan đóng ở cửa khẩu gồm: Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Na Mèo ở trên đồi (đơn vị gần cửa khẩu nhất), Trạm kiểm soát liên hợp ở ngay Cửa khẩu, phía đông cầu Nặm Xôi (suối Xôi), Chi cục Hải quan Na Mèo, Cửa hàng Thương nghiệp miền núi, Bưu điện Na Mèo, khách sạn Cửa khẩu, Hạt giao thông Na Mèo, Phòng khám Đa khoa Na Mèo. Qua cửa khẩu quốc tế Na Mèo du khách cũng có thể đi thăm "thủ đô cách mạng Lào" Viêng Xay rồi qua Sầm Nưa tới Xiêng Khoảng bước vào con đường di sản nổi tiếng của Lào.
Thực hiện cuộc cách mạng về tinh gọn bộ máy, tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, huyện Quan Sơn từ 11 xã và 1 thị trấn được sắp xếp thành 8 xã mới, trong đó có 5 xã không sắp xếp. Đó là các xã: Quan Sơn, Tam Lư, Trung Hạ, Mường Mìn, Na Mèo, Sơn Điện, Sơn Thủy và xã Tam Thanh.
Trong những năm công tác tại Thanh Hóa tôi đã có nhiều dịp đến Quan Sơn,
trước và sau khi thành lập huyện. Có chuyến về Quan Sơn công tác, có chuyến đi
thăm tỉnh Hủa Phăn phải đi qua đất Quan Sơn và cửa khẩu quốc tế Na Mèo. Nhưng
lâu nhất là những năm 1998 – 2.000, khi phát động phong trào xây dựng 50 phòng học cho học sinh vùng cao
khó khăn, trong đó có Quan Sơn, tôi đã nhiều lần về Quan Sơn. So với các huyện
miền núi Thanh Hóa, rừng và cảnh quan Quan Sơn được bảo tồn khá tốt. Dọc quốc lộ 217 là những
cánh rừng nguyên sơ xanh mướt, sông suối hiền hòa, bản làng yên ả, thật là vùng
đất sơn thủy hữu tình, thanh bình tươi đẹp. Và, với cảnh quan như tranh vẽ, con
người hiền hòa, văn hóa đặc sắc, lại có quốc lộ chạy qua và cửa khẩu quốc tế,
chắc chắn vùng đất 8 xã của huyện Quan Sơn cũ sẽ là điểm đến yêu thích của
những người ưa khám phá miền Tây xứ Thanh rộng lớn và bí ẩn.
Ngo Hoai Chung
Ps: Hình ảnh động Bo Cúng, cửa khẩu QT Na Mèo - Nặm Xôi, khua luống và cảnh quan Quan Sơn.






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét