XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG

Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2026

CHÀO BÍNH NGỌ – MƯỜI HAI KHỔ ĐỊA CHI

Đêm Tý sinh mưu nơi cửa kín,

Chữ nghĩa lên bàn đã méo cong,

Ngựa chưa kịp hí vang ngoài gió,

Hồ sơ nằm sẵn, bút chờ mong.

Sửu

Sửu chịu cày sâu quen nhẫn nhục,

Đất dày mà lúa vẫn không xanh,

Người mang thật thà làm vốn sống,

Thường hay đứng cuối những phân tranh.

Dần

Dần gầm khí phách rừng uy mãnh,

Tiếng nói vang xa động núi đồi,

Nhưng hổ lạc vào vòng phép tắc,

Móng vuốt thu rồi… luật gọi thôi.

Mão

Mão nhẹ bước quanh bờ sự thật,

Tai nghe, mắt thấy vẫn phân vân,

Một lời lệch giọng liền ghi chép,

Đủ dựng thành sai giữa thế nhân.

Thìn

Thìn vốn biểu linh cho chính khí,

Rồng bay nhưng lưới giăng ngang trời,

Bay cao chạm trần quyền lực cũ,

Rồng thành cá chậu lúc sa đời.

Tỵ

Tỵ uốn thân dài quanh chữ nghĩa,

Luận điều phải trái rất tinh vi,

Một câu nói thật thành nguy hiểm,

Rắn hóa dây thừng lúc gỡ đi.

Ngọ

Đến Ngọ – chữ BÍNH bỗng run rẩy,

BÍNH xoay thành BIẾN giữa công đường,

BIẾN xong gắn nhãn là sai trái,

Sai rồi thì BỊ TÙ cho gương.

Mùi

Mùi hiền nhẫn nhịn quen cam phận,

Ngước mắt nhìn Ngọ đã xa xôi,

Ngựa đứng trong tranh còn tung vó,

Người ngoài song sắt biết kêu ai?

Thân

Thân khôn lanh lợi thời xoay chuyển,

Biết né, biết luồn, biết cúi đầu,

Thấy chữ BÍNH thành bia nhắm sẵn,

Khỉ trèo cột khác để yên lâu.

Dậu

Dậu gáy bình minh nghe chát chúa,

Đánh thức lương tri vẫn ngủ dày,

Gà gáy ngoài sân không ai hỏi,

Chuồng kín người kêu… vọng gió bay.

Tuất

Tuất giữ cổng đời bằng trung tín,

Sủa vang khi thấy kẻ gian tà,

Nhưng ai canh cửa cho công lý,

Khi chính người canh bị khóa nhà?

Hợi

Hợi khép vòng chi – đời lặng lại,

Bụi thời gian phủ kín oan khiên,

Ngựa còn phi mã trong huyền sử,

Người mang chữ BÍNH… vẫn nằm yên.

CHÀO BÍNH NGỌ – NGỰA VÀ CHỮ BÍNH



Chào Bính Ngọ, chào thời lộng chữ,

Ngựa còn phi trong sách cổ xưa,

Mã đáo thành công treo miệng thế,

Người mang chữ Bính đã bao mùa.


Ngựa có tướng, người sao chẳng xét?

Bá Nhạc soi xương, lọc vó chân,

Đầu vuông, mắt sáng – ngôi thiên tử,

Còn kẻ mang danh… hỏi mấy phần?


Tam luy loại ngựa phàm sa sút,

Ngũ nô ghi rõ phận thấp hèn,

Ngựa xấu loại ra không cần xử,

Người tốt nhiều khi vẫn giam rèn.


Hàn Cán vẽ ngựa không vẽ cốt,

Vẽ da mà thấy thấu hồn xương,

Còn người thời nay soi hồ sơ,

Chữ ký thay dao, án dựng đường.


Chiếu Dạ bạch đồ ngựa của vua,

Một vó tung trời át gió mưa,

Ngựa quý giữ tranh trong bảo tàng,

Người mang chính kiến giữ song thưa.


Bát Tuấn nhà Chu – tám quyền lực,

Mỗi vó một hướng dẫn cơ đồ,

Ngựa chạy cho vua qua thế cuộc,

Người nghĩ cho dân… bị gạch hồ.


Triệu Phủ, Bi Hồng ngựa còn sống,

Tranh ngựa tung hoành vượt kiểm duyệt,

Còn người nói thật về nhân thế,

Một chữ lạc dòng đủ kết huyệt.


Từ BÍNH ban đầu là thiên can,

Chẳng tội, chẳng hình, chẳng án oan,

Qua miệng quyền uy thành BIẾN dạng,

Biến tư tưởng, biến cả lương tâm.


BÍNH đã BIẾN khi lời trái ý,

Biến thành hồ sơ, biến cáo can,

Biến thành kết luận viết sẵn trước,

Biến luôn nhân cách giữa công đàn.


Và bước cuối cùng – không cần lý:

BIẾN xong thì BỊ TÙ cho yên,

Ngựa gỗ còn vào thành Troy được,

Người thật không qua nổi cửa quyền.


Ngựa trong tranh vẫn phi ngoài luật,

Không còng, không số, chẳng song sắt,

Người ngoài tranh đứng nhìn ngựa chạy,

Chữ BÍNH treo đầu – án đã đặt.


Chào Bính Ngọ, chào cơn chính luận,

Ngựa còn thì hãy giữ hồn ngựa,

Kẻo mai đến lượt người mang chữ,

Chưa kịp phi đời đã khóa cửa.

CHÀO BÍNH NGỌ – TẢN MẠN NGỰA

Chào Bính Ngọ, gió qua miền cổ tích

Mã đáo vang câu mộng ước người

Nhất ngôn đã hứa nghìn cân nặng

Bốn vó truy hoài… chẳng kịp lời.


Tuổi Ngọ mê ngựa từ trang sách

Xích Thố, Đích Lư rực sử xanh

Troy gỗ ngàn năm còn nhắc mãi

Thánh Gióng phi thiên dựng đất lành.


Bá Nhạc xem ngựa bằng xương thịt

Đầu vuông, mắt sáng, dáng hiên ngang

Mũi mang chữ Vương, chân tròn cứng

Tai vếnh, vai dày – tướng đế vương.


Tam luy, ngũ nô phân hay dở

Cổ lớn đầu thon mới khác thường

Xương yếu, bụng phềnh – đà sa sút

Đùi nhỏ móng to – phận đoạn trường.


Thi ca nói ngựa quen lời chữ

Họa đạo vẽ ngựa khó ai tường

Hàn Cán một đời tranh thở vó

Vẽ da mà thấy cả hồn xương.


Chiếu Dạ bạch – ngựa vua Đường cưỡi

Cuộn lụa năm thước gió tung trời

Một vó giậm vang nghìn năm sử

Bảo tàng đất khách vẫn còn hơi.


Tô tử luận tranh sâu tựa biển

“Không học ai đâu – ngựa dạy người”

Chuồng vạn con kia là minh sư cả

Thịt da thành đạo, cốt vô lời.


Bát Tuấn nhà Chu mang tám ý

Quyền uy, mộng ước, lối công danh

Ngựa chạy thay người qua thế sự

Mỗi vó in hằn một chữ “thành”.


Sau Hàn Cán, ngựa còn đi tiếp

Triệu Phủ, Bi Hồng nối nét quen

Ngựa vẫn tung hoành trong tranh cổ

Người thì gò bó giữa kim tiền.


Riêng chữ BÍNH thời nay lạ lắm

Bính xoay thành biến tự bao giờ

Biến rồi thành bị tù oan nghiệt

Ngựa đứng trong tranh, người ngẩn ngơ.


Ngựa vẽ thì bay ngoài luật thế

Người mang chữ Bính lại lao đao

Bính Ngọ chào nhau trong tản mạn

Ngựa còn phi – mà kiếp nghẹn nào?

Thứ Năm, 1 tháng 1, 2026

HỌP LỚP NĂM MƯƠI NĂM

Năm chục năm rồi gặp lại nhau,
Ôm chầm chẳng hỏi kém hay giàu.
Không còn sang hèn hay chức phận,
Chỉ còn bè bạn thuở ban đầu.
Nụ cười chan chứa bao thương mến,
Nước mắt lăn dài chuyện khổ đau.
Bạn vui ta mừng như chính mình,
Bạn buồn tim cũng chợt nghẹn sâu.
Tuổi đã xế chiều thôi so sánh,
Danh lợi giờ đây nhẹ tựa mây.
Hỏi nhau sức khỏe còn yên ổn,
Con cháu nên người, dạ có hay?
Năm mươi năm ấy đông người nhất,
Vì đã về già, chẳng bon chen.
Vắng mặt chỉ vì thân đau yếu,
Hoặc danh ô trọc sợ gặp quen.
Non sông dễ đổi câu còn đó,
Bản tính theo người đến bạc đầu.
Nghề nào mang nghiệp nghề nấy cả,
Họp lớp nhìn ra đủ sắc màu.
Lính quen kể chuyện ngày xông trận,
Nặng nỗi trong lòng khó tỏ bày.
Công an nói năng như hỏi tội,
Đôi lúc trầm ngâm ngẫm tháng ngày.
Thầy giáo giảng hoài quen miệng nói,
Lặng im lại sợ lỗi gieo đời.
Thầy thuốc nhìn đâu toàn vi trùng,
Quên bệnh chính mình giữa cuộc chơi.
Quan chức quen họp, quen lời nước,
Nói nửa vời sao cũng hiểu xuôi.
Doanh nhân coi đời là đối tác,
Nhiều tiền mà nghĩa lại vơi vơi.
Nông dân, công nhân quen chịu đựng,
Nghề cay nhưng dạ vẫn hiền lành.
Ô sin phận bóng người thành đạt,
Mất bóng rồi đau một kiếp mình.
Có kẻ háo danh dùng mưu kế,
Che mình quân tử giữa trần ai.
Về già danh rỗng thành nỗi sợ,
Khổ nhất là mơ chẳng được ai.
Người làm nhiều nghề đời nhìn rộng,
Dẫu nghèo nhưng dạ dễ bao dung.
Nhất nghệ tinh rồi thân mới vững,
Câu xưa còn đúng đến sau cùng.
Năm mươi năm lẻ đường ai nấy,
Thật – giả nhìn ra chẳng cần lời.
Người ác thường không còn hiện diện,
Hoặc ngồi mà lạ với mọi người.
Họp lớp ngẫm ra đời công bằng,
May – rủi chia đều khắp thế gian.
Thiện ác sớm muộn rồi cũng trả,
Sai càng lớn giá trả càng tàn.
Ai sống khỏe, đi nhanh, nhẹ của,
Nhiều người thương mến, ít ưu phiền,
Ấy là hạnh phúc đời người nhất,
Năm mươi năm họp lớp ngẫm hiền.

ĐỊA CHÍ HUYỆN NHƯ THANH- TỈNH THANH HOÁ

I. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ – ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH

Huyện Như Thanh là đơn vị hành chính miền núi thấp của tỉnh Thanh Hóa, nằm ở khu vực chuyển tiếp giữa miền núi cao phía tây và đồng bằng ven biển phía đông nam tỉnh.

Huyện có địa giới hành chính:

 • Phía Bắc giáp huyện Triệu Sơn

 • Phía Đông giáp huyện Nông Cống và thị xã Nghi Sơn

 • Phía Tây giáp huyện Như Xuân và huyện Thường Xuân

 • Phía Nam giáp tỉnh Nghệ An

Khoảng cách từ trung tâm huyện Như Thanh đến thành phố Thanh Hóa khoảng 35km, giao thông thuận lợi, nằm trong vùng kinh tế động lực Nam Thanh – Bắc Nghệ.

Tên gọi Như Thanh được ghép từ hai yếu tố địa danh Như Xuân và Thanh Hóa, phản ánh rõ nguồn gốc hình thành và mối liên hệ lịch sử – hành chính của vùng đất.

II. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH – BIẾN ĐỘNG HÀNH CHÍNH

Ngày 18/11/1996, Chính phủ ban hành Nghị định số 72/CP về điều chỉnh địa giới hành chính các huyện Quan Hóa, Như Xuân, Đông Sơn và Thiệu Yên. Theo đó, huyện Như Thanh được thành lập trên cơ sở tách một phần diện tích và dân cư từ huyện Như Xuân.

Như Thanh là một trong những huyện có tuổi đời trẻ nhất của tỉnh Thanh Hóa. Tính đến thời điểm 01/7/2025, khi cấp huyện chính thức chấm dứt hoạt động theo chủ trương cải cách bộ máy hành chính, huyện Như Thanh tồn tại tròn 30 năm.

Trước khi giải thể, huyện có 13 xã và 1 thị trấn Bến Sung. Sau ngày 01/7/2025, địa bàn được tổ chức lại thành 6 xã:

Như Thanh, Xuân Du, Mậu Lâm, Yên Thọ, Thanh Kỳ, Xuân Thái.

III. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

1. Địa hình – Núi sông

Như Thanh thuộc vùng đồi núi thấp, địa hình thoải dần từ tây sang đông, xen kẽ núi, đồi, thung lũng và hồ đập tự nhiên.

Các núi tiêu biểu:

 • Núi Lâm Động (xã Thanh Kỳ)

 • Núi Voi (xã Yên Thọ)

 • Núi Nam (xã Xuân Du)

Hệ thống sông suối của huyện là nơi bắt nguồn của sông Yên và sông Bạng, cung cấp nguồn nước quan trọng cho các huyện Quảng Xương, Nghi Sơn.

2. Hồ sông Mực – Vườn Quốc gia Bến En

Nổi bật nhất trong cảnh quan tự nhiên Như Thanh là hồ sông Mực, nằm trong Vườn Quốc gia Bến En, diện tích khoảng 2.000 ha, với hơn 100 đảo lớn nhỏ.

Hồ được bao bọc bởi rừng nguyên sinh, hệ động thực vật phong phú, tạo nên quần thể sinh thái đặc sắc, được mệnh danh là “Hạ Long trên cạn của xứ Thanh”.

IV. DÂN CƯ – DÂN TỘC

Theo số liệu năm 2022, huyện Như Thanh có 106.690 người, gồm 4 dân tộc:

 • Kinh

 • Mường (23,43%)

 • Thái (19,21%)

 • Thổ (0,58%)

Các dân tộc cùng chung sống lâu đời, tạo nên không gian văn hóa đa dạng, hòa hợp, mang đặc trưng Việt – Mường – Thái rõ nét.

V. DI SẢN THIÊN NHIÊN – DANH THẮNG

1. Hang Ngọc

Hang Ngọc nằm tại làng Xuân Tiến, thuộc vùng đệm Vườn Quốc gia Bến En. Hang dài khoảng 700m, cấu trúc đá vôi nguyên sơ, có dòng suối ngầm quanh năm không cạn, thạch nhũ đa dạng hình thù. Trung tâm hang là khối nhũ lớn gọi là Hòn Ngọc, tạo nên tên gọi hang.

Theo tín ngưỡng dân gian, nước suối trong hang có khả năng gột rửa bụi trần, mang ý nghĩa thanh lọc tâm linh.

2. Hệ thống hang động – rừng – hồ

Ngoài hang Ngọc còn có hang Cận, hệ thống núi đá vôi, rừng nguyên sinh, đảo hồ… tạo nên tiềm năng lớn cho du lịch sinh thái – nghỉ dưỡng.

VI. DI TÍCH LỊCH SỬ – TÍN NGƯỠNG

1. Dấu tích khởi nghĩa Lam Sơn

Như Thanh là vùng đất gắn liền với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Bình Định Vương Lê Lợi từng trú quân tại đây trong quá trình chuyển quân đánh vào Nghệ An.

2. Đền Đức Ông (Khe Rồng)

Đền thờ một vị tướng Lam Sơn mất trong quá trình hành quân. Hiện nay đền được xây dựng lại theo kiến trúc truyền thống, lễ hội tổ chức vào mồng 1 tháng Giêng và mồng 1 tháng 3 âm lịch.

3. Đền Bạch Y công chúa (Mậu Lâm)

Thờ Bạch Y thần nữ, gắn với tín ngưỡng Mẫu Thượng Ngàn, có 4 đạo sắc phong thời Nguyễn. Đền mang kiến trúc chữ Đinh, lễ hội chính vào 18 tháng Giêng âm lịch.

4. Na Sơn động phủ (Phủ Na – Xuân Du)

Quần thể tín ngưỡng lớn, thờ Mẫu Tứ Phủ, Bà Triệu, kết hợp tín ngưỡng Việt – Mường. Lễ hội Phủ Na diễn ra hai đợt mỗi năm, là trung tâm tâm linh lớn của xứ Thanh.

5. Đền Phủ Sung

Thờ Tam Tòa Thánh Mẫu, xây dựng từ năm 1897, hiện còn nhiều hiện vật gốc quý giá thời Nguyễn.

VII. DI TÍCH CÁCH MẠNG

Lò cao kháng chiến Hải Vân (Đồng Mười)

Xây dựng từ năm 1949, sản xuất gang thép phục vụ kháng chiến chống Pháp. Đây là cơ sở công nghiệp quân giới quan trọng, gắn với tên tuổi GS Trần Đại Nghĩa.

Ngày 18/4/2013, di tích được công nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia.

VIII. VĂN HÓA PHI VẬT THỂ

 • Lễ múa cây bông (Séc Booc Mạy) của người Thái – di sản nghi lễ nông nghiệp đặc sắc

 • Trò đẩy gậy – biểu trưng sức mạnh cộng đồng

 • Trò tung còn – sinh hoạt văn hóa – giao duyên đầu xuân

Các lễ hội phản ánh đậm nét tín ngưỡng phồn thực, nông nghiệp và cộng đồng.

IX. KINH TẾ – SINH HOẠT

Chợ Bến Sung là trung tâm giao thương lớn của vùng, nơi hội tụ sản vật núi rừng, thủ công truyền thống, đồng thời là không gian giao lưu văn hóa đa tộc người.

X. HIỆN TRẠNG VÀ GIÁ TRỊ LỊCH SỬ

Từ 01/7/2025, huyện Như Thanh không còn là đơn vị hành chính. Tuy nhiên, vùng đất Như Thanh với cảnh quan, lịch sử, văn hóa và cộng đồng cư dân vẫn tồn tại bền vững, tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong không gian phát triển Nam Thanh – Bắc Nghệ.

KẾT LUẬN

Như Thanh là một huyện trẻ về mặt hành chính nhưng giàu trầm tích lịch sử, văn hóa và thiên nhiên. Dù tên gọi hành chính không còn, địa danh Như Thanh vẫn là một thực thể văn hóa – lịch sử bền vững trong ký ức và đời sống của xứ Thanh.