XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG

Thứ Bảy, 11 tháng 10, 2025

ĐỊA CHÍ HUYỆN HẬU LỘC

(Viết trước ngày giải thể huyện)

LỜI DẪN
Hậu Lộc – vùng đất ven biển phía Bắc tỉnh Thanh Hóa – từ lâu đã được xem là một trong những vùng quê giàu truyền thống lịch sử, văn hóa và cách mạng. Với vị thế địa lý đặc biệt, nơi giao thoa giữa đồng bằng sông Mã và biển Đông, Hậu Lộc vừa là vùng nông nghiệp trù phú, vừa là cửa ngõ hướng ra biển lớn, mang đậm sắc thái văn hóa biển của xứ Thanh.
Trải qua nhiều biến thiên của lịch sử, con người nơi đây vẫn giữ được cốt cách cần cù, hiếu học, trọng nghĩa và nhân hậu, góp phần tạo nên bản sắc riêng biệt, độc đáo trong dòng chảy văn hóa dân tộc.
Bản địa chí này được biên soạn trước ngày huyện Hậu Lộc giải thể hành chính, nhằm ghi lại diện mạo tự nhiên, lịch sử, văn hóa, kinh tế và con người – như một ký ức địa văn hóa tập thể, lưu dấu một miền quê anh hùng và nghĩa tình.
MỤC LỤC
I. Khái quát tự nhiên
II. Lịch sử hình thành và phát triển
III. Hành chính và dân cư
IV. Kinh tế và đời sống xã hội
V. Văn hóa – giáo dục – tín ngưỡng – di tích
VI. Con người và danh nhân Hậu Lộc
VII. Hậu Lộc trong tiến trình phát triển và hội nhập hiện đại
I. KHÁI QUÁT TỰ NHIÊN
Hậu Lộc nằm ở phía Bắc tỉnh Thanh Hóa, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp huyện Hà Trung, phía Nam giáp Hoằng Hóa, phía Bắc giáp Nga Sơn. Với diện tích tự nhiên hơn 140 km², Hậu Lộc là vùng đất địa hình phong phú, bao gồm đồng bằng, đồi thấp và dải ven biển dài hơn 12 km.
Khí hậu Hậu Lộc thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Đất đai màu mỡ, hệ thống sông ngòi dày đặc, đặc biệt là sông Lèn, sông Trường, sông Nhà Lê… tạo điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản phát triển.
Dải ven biển có nhiều cửa lạch như Lạch Trường, Lạch Sung, Lạch Lèn, không chỉ giàu tiềm năng khai thác hải sản mà còn gắn liền với lịch sử và văn hóa biển lâu đời của cư dân địa phương.
II. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
Hậu Lộc là vùng đất có lịch sử lâu đời. Từ thời Tiền – Sơ sử, nơi đây đã có dấu tích cư trú của người Việt cổ, với nhiều di chỉ khảo cổ phát hiện dọc sông Lèn và vùng ven biển.
Thời kỳ phong kiến, Hậu Lộc thuộc phủ Hà Trung, trấn Thanh Hóa, là vùng có vị trí chiến lược quan trọng, từng là phên giậu phía Đông của kinh đô Lam Kinh. Nhiều danh nhân lịch sử, tướng lĩnh và thiền sư của các triều đại Lý, Trần, Lê từng để lại dấu ấn trên mảnh đất này.
Đặc biệt, xã Triệu Lộc là quê hương của Anh hùng dân tộc Triệu Thị Trinh (Bà Triệu), người đã phất cờ khởi nghĩa chống quân Ngô vào thế kỷ III, để lại danh tiếng lưu truyền muôn đời.
Trải qua các thời kỳ kháng chiến, nhân dân Hậu Lộc luôn thể hiện tinh thần yêu nước, đoàn kết, kiên cường. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Hậu Lộc vừa là hậu phương lớn, vừa là địa bàn chiến đấu kiên cường, góp phần vào thắng lợi chung của dân tộc.
III. HÀNH CHÍNH VÀ DÂN CƯ
Trước khi giải thể, Hậu Lộc có 27 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 1 thị trấn (Hậu Lộc) và 26 xã. Dân số trên 180.000 người, sinh sống tập trung ở ba vùng rõ nét: vùng đồng bằng trung tâm, vùng ven biển và vùng gò đồi phía Tây.
Người dân Hậu Lộc chủ yếu là người Kinh, có truyền thống lâu đời về canh tác nông nghiệp, đánh bắt và chế biến hải sản. Mật độ dân cư cao, các làng xã có cấu trúc chặt chẽ, gắn bó cộng đồng, giàu tính tương trợ.
Sự phân bố dân cư phản ánh đặc trưng văn hóa – kinh tế của từng vùng: nông nghiệp ở vùng đồng bằng, ngư nghiệp ở vùng biển, và tiểu thủ công nghiệp ở các làng nghề truyền thống.
IV. KINH TẾ VÀ ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
Hậu Lộc có cơ cấu kinh tế đa dạng, gồm nông nghiệp, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
Về nông nghiệp, huyện có truyền thống trồng lúa và hoa màu, với các xã nổi tiếng về thâm canh như Cầu Lộc, Thành Lộc, Hoa Lộc, Quang Lộc… Nhiều mô hình canh tác hiệu quả và xây dựng nông thôn mới đã được triển khai.
Ngư nghiệp và kinh tế biển là thế mạnh nổi bật. Các xã Ngư Lộc, Minh Lộc, Đa Lộc, Hải Lộc có đội tàu đánh bắt xa bờ hùng hậu, nghề chế biến hải sản và làm muối phát triển mạnh. Lễ hội Cầu Ngư, tín ngưỡng thờ cá Ông và các làng chài cổ là những nét văn hóa độc đáo gắn liền với đời sống kinh tế.
Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chủ yếu là chế biến hải sản, sản xuất vật liệu xây dựng, mộc dân dụng, cơ khí nhỏ. Thương mại – dịch vụ phát triển nhanh, đặc biệt tại thị trấn Hậu Lộc và khu vực ven biển Hải Tiến, tạo sức sống mới cho kinh tế địa phương.
Đời sống nhân dân ngày càng nâng cao, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” lan tỏa mạnh mẽ, góp phần gìn giữ thuần phong mỹ tục và xây dựng cộng đồng văn minh.
V. VĂN HÓA – GIÁO DỤC – TÍN NGƯỠNG – DI TÍCH
Hậu Lộc là vùng đất giàu truyền thống văn hóa – tín ngưỡng, nơi hội tụ nhiều giá trị vật thể và phi vật thể tiêu biểu của xứ Thanh.
Các lễ hội truyền thống như Lễ hội Đền Bà Triệu, Lễ hội Cầu Ngư ở Ngư Lộc, Hội làng Cầu Lộc, Hoa Lộc, Minh Lộc… vẫn được duy trì hàng năm, thu hút đông đảo nhân dân và du khách.
Hệ thống đình, chùa, đền, miếu phân bố khắp địa bàn, tiêu biểu là Chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh (xây từ thời Lý), Đền Cầm Bá Thước, Đền Bà Triệu, Chùa Hưng Phúc, vừa là di sản tôn giáo, vừa là biểu tượng tâm linh của cộng đồng.
Giáo dục Hậu Lộc có truyền thống hiếu học, tỷ lệ học sinh vào đại học, cao đẳng cao trong tỉnh. Phong trào “Khuyến học – khuyến tài” phát triển mạnh, góp phần bồi dưỡng nhân lực cho quê hương.
Tín ngưỡng dân gian và tôn giáo (Phật giáo, Thiên Chúa giáo) cùng tồn tại hài hòa, phản ánh tinh thần nhân ái, cởi mở và khoan dung của người dân Hậu Lộc.
VI. CON NGƯỜI VÀ DANH NHÂN HẬU LỘC
Con người Hậu Lộc mang trong mình phẩm chất cần cù, hiếu học, trọng nghĩa, kiên trung – kết tinh từ lịch sử và thiên nhiên vùng đất này.
Tiêu biểu có:
• Anh hùng dân tộc Bà Triệu (Triệu Thị Trinh) – biểu tượng bất khuất của dân tộc.
• Thiền sư Nguyễn Nhân Bản – người để lại văn bia cổ ở Chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh.
• Cầm Bá Thước – lãnh tụ nghĩa quân Cần Vương, người con trung nghĩa của Văn Lộc.
Trong thời hiện đại, nhiều người con Hậu Lộc đã trở thành trí thức, nhà giáo, văn nghệ sĩ, cán bộ cách mạng, doanh nhân tiêu biểu, tiếp nối truyền thống cha ông, góp phần xây dựng quê hương, đất nước.
VII. HẬU LỘC TRONG TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ HỘI NHẬP HIỆN ĐẠI
Trước ngày giải thể hành chính, Hậu Lộc đã đạt nhiều thành tựu trong công cuộc đổi mới. Kinh tế phát triển bền vững, nông thôn đổi mới, du lịch biển Hải Tiến trở thành điểm sáng của vùng Bắc Trung Bộ.
Cùng với đó, bản sắc văn hóa, tinh thần đoàn kết và lòng yêu quê hương vẫn được giữ vững trong mỗi người dân. Dù sau này tên gọi hành chính có thể thay đổi, nhưng tinh thần Hậu Lộc – tinh thần của một vùng đất anh hùng, nhân văn và hiếu học – sẽ mãi trường tồn.
VIII. KẾT LUẬN
Hậu Lộc – vùng đất “địa linh nhân kiệt” của xứ Thanh – đã, đang và sẽ mãi là biểu tượng của truyền thống, nghĩa tình và khát vọng vươn lên.
Bản địa chí này không chỉ là tư liệu khoa học về tự nhiên, lịch sử, văn hóa và con người, mà còn là một bản giao hưởng tinh thần – ghi lại hồn cốt của một vùng quê Việt Nam trước khi bước vào trang mới của lịch sử hành chính./.

IX. TÀI LIỆU THAM KHẢO (trích dẫn trong văn bản)

• Đại Nam nhất thống chí;
• Đồng Khánh dư địa chí (mục tổng — xã, phong tục, sản vật);
• Thanh Hóa tỉnh chí;
• Tập thơ, văn bia, thơ ngự chế các triều đại (trích dẫn ghi trong phần mô tả danh thắng).
* Facebook Ngo Hoai Chung “Các huyện tỉnh Thanh Hoá trước ngày giải thể huyện 01/7/2025”


ĐỊA CHÍ HUYỆN NÔNG CỐNG

(Viết trước ngày giải thể huyện)
(Nguồn tư liệu: bài viết của Ngo Hoai Chung + tài liệu sử liệu hiện có từ các nguồn công khai như Wikipedia, các trang di tích, cơ quan chính quyền tỉnh Thanh Hóa)
I. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
Huyện Nông Cống trước khi giải thể thuộc tỉnh Thanh Hóa, nằm ở phía đông nam tỉnh. Theo Wikipedia, huyện có diện tích tự nhiên khoảng 284,91 km², dân số năm 2022 là 210.002 người, mật độ khoảng 737 người/km².
Về vị trí địa lý:
• Phía bắc giáp huyện Triệu Sơn và thành phố Thanh Hóa
• Phía đông giáp huyện Quảng Xương
• Phía tây giáp huyện Như Thanh
• Phía nam giáp thị xã Nghi Sơn
Địa hình huyện chủ yếu là đồng bằng, xen đồi thấp. Theo Wikipedia, vùng đồi chiếm khoảng 37% diện tích của huyện.
Một điểm địa lý nổi bật là dãy núi Nưa (còn gọi là Na Sơn), là một dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, kéo dài khoảng 20 km, thuộc ba huyện Triệu Sơn, Nông Cống, Như Thanh. Núi Nưa là điểm cao và di tích thiên nhiên – văn hóa nổi bật của huyện.
Trên núi Nưa có đỉnh cao khoảng 538 m so với mực nước biển (theo các bài viết gần đây).
Truyền thuyết cho rằng trên núi Nưa có Am Tiên – quần thể kiến trúc tâm linh, đền Nưa, động, thung lũng bao quanh.
Về thủy hệ, các sông chính chảy qua hoặc nhập trong huyện gồm: sông Yên (đoạn sông Yên chạy qua địa bàn Nông Cống); các dòng sông nhỏ như sông Lãng Giang được ghi nhận trong các bản đồ địa lý cũ. Ngoài ra, huyện có mạng lưới kênh mương phục vụ tưới tiêu nông nghiệp.
Về giao thông, quốc lộ 45 đi qua huyện Nông Cống, đường sắt Thống Nhất có tuyến chạy qua, và từ ngày 1/7/2025, huyện Nông Cống được chia lại 7 xã theo Kết luận của Bộ Chính trị.
Theo Cổng Thông tin huyện, từ 1/7/2025, huyện Nông Cống có 7 xã (Nông Cống, Trung Chính, Thắng Lợi, Thăng Bình, Công Chính, Trường Văn, Tượng Lĩnh) sau sáp nhập tinh gọn hành chính.
Xã Nông Cống mới được thành lập từ các xã (Vạn Thắng, Vạn Hòa, Minh Khôi, Minh Nghĩa, Vạn Thiện và thị trấn Nông Cống) vào ngày 1/7/2025.
II. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ TÊN GỌI
1. Tên gọi và nguồn gốc
Theo các sử liệu cũ, vùng đất Nông Cống từng là một phần thuộc huyện Cư Phong (thời Hán), rồi là Di Phong (thời Tam Quốc), thuộc huyện Cửu Chân (thời Tùy – Đường)
Tên Nông Cống xuất hiện từ thời nhà Trần (năm Quý Hợi 1323) khi có chép đến “xã Cổ Định, huyện Nông Cống” trong sử.
Thời Minh, huyện Nông Cống thuộc châu Cửu Chân. Thời Lê, đổi phủ Hà Trung. Dưới triều Nguyễn, huyện được duy trì tên Nông Cống.
Trong “Đại Nam nhất thống chí”, huyện Nông Cống được mô tả: phía đông giáp Ngọc Sơn, phía tây tới Lôi Dương, phía nam giáp Ngọc Sơn – Nghĩa Đàn (Nghệ An), phía bắc tới Đông Sơn. Huyện Nông Cống từng rất rộng, bao gồm Nông Cống, Triệu Sơn, Như Thanh và một phần Thường Xuân.
Năm 1837 (Minh Mạng 18), tách tổng Như Lăng khỏi Nông Cống để hợp với Thọ Xuân lập châu Thường Xuân.
Năm 1893 (Thành Thái 5), tách tổng Xuân Du và Lãng Lăng để lập châu Như Xuân.
2. Hành chính thời Nguyễn – thời cận đại – trước khi giải thể
Theo “Đồng Khánh địa dư chí” (cuối thế kỷ XIX), Nông Cống thời Đồng Khánh gồm 12 tổng, với 221 đơn vị như xã, thôn, trại. Tổng Cổ Định 25 đơn vị, Đông Xá 21, Yên Định 21, Đô Xá 11, Lai Triều 13, Lân Du 7, Lãng Lăng 5, Văn Xá 28, Cao Xá 26, Lạc Thiện 26, Vạn Thiện 23, La Miết 22. (bản gốc bạn gửi)
Theo “Đại Nam nhất thống chí”, huyện Nông Cống thuộc phủ Tĩnh Gia. Huyện rộng 64 dặm đông – tây, 78 dặm nam – bắc. Thời Nguyễn, Nông Cống có 12 tổng, sau tách thành 10 tổng, 189 xã thôn. (bản gốc)
Trong lịch sử gần đây, tháng 2/1965, 20 xã của Nông Cống và 13 xã huyện Thọ Xuân được cắt để lập huyện Triệu Sơn. Sau đó, lấy 7 xã của huyện Tĩnh Gia nhập vào Nông Cống. (bản gốc)
Wikipedia ghi: sau 1945, huyện Nông Cống có 15 xã là An Nông, Công Chính, Đồng Tiến, Hoàng Sơn, Hợp Tiến, Khuyến Nông, Minh Khôi, Minh Nông, Tân Ninh, Tân Phúc, Tế Lợi, Thăng Bình, Trung Chính, Tứ Dân và Vạn Thiện.
Cũng theo Wikipedia, năm 1987 thành lập thị trấn Nông Cống (huyện lỵ) trên cơ sở tách phần đất – dân số từ các xã Minh Thọ, Vạn Thiện, Vạn Hòa.
Cũng theo thông tin mới từ chính quyền tỉnh: từ 1/7/2025, huyện Nông Cống được tổ chức lại còn 7 xã (theo tinh gọn bộ máy).
III. DÂN CƯ, PHONG TỤC VÀ ĐỜI SỐNG
1. Dân cư
Người dân huyện Nông Cống chủ yếu là dân tộc Kinh. Theo Wikipedia, dân số năm 2022 đạt khoảng 210.002 người trên diện tích 284,91 km².
Trong bản gốc bạn trích: thời Đồng Khánh, dân có học và sản xuất chủ yếu tập trung ở các tổng Cổ Định, Đông Xá, Yên Định, Đô Xá, Văn Xá, Cao Xá. Một số nơi có người Thổ xen cư.
2. Phong tục tập quán
Theo “Đồng Khánh địa dư chí”, cư dân Nông Cống “quê mùa chất phác”, việc học hành có ở các tổng như Cổ Định, Đông Xá, Yên Định, Đô Xá, Văn Xá, Cao Xá; cưới hỏi, tang ma, thờ cúng không quá xa hoa cũng không keo kiệt; trong các hương ấp đều có đình, chùa, miếu, văn chỉ; tín ngưỡng Thiên Chúa giáo ít, chỉ một xã Côn Cương.
Văn hóa dân gian Nông Cống rất phong phú: ca dao tục ngữ, trò chơi dân gian, lễ hội địa phương.
3. Sản vật và khoáng sản
Theo bản gốc bạn cung cấp:
• Lúa thu nhiều, lúa hè ít. Các cây như khoai, đậu, bông, vải mọc rải rác.
• Vùng rừng có cây gỗ tốt, mây song ở Lai Triều, Lãng Lăng, Lân Du.
• Quặng khoáng như cromit được phát hiện, đá secspangtin để sản xuất phân lân, quặng ba dan đen, sét trắng, quặng sắt.
Cần bổ sung: Núi Nưa có thành phần địa chất là đá mắc ma biến chất (gabbro-diabaz), một phần thuộc đới ophiolit Sông Mã, có tuổi khoảng 470 triệu năm.
IV. DI TÍCH VÀ DANH THẮNG
1. Núi Nưa – Di tích thiên nhiên và tín ngưỡng
Núi Nưa (Na Sơn) là biểu tượng lớn của Nông Cống, là dãy núi chạy qua ba huyện Triệu Sơn, Nông Cống, Như Thanh.
Trên dãy núi này có Am Tiên, đền Nưa – là quần thể di tích lịch sử – tôn giáo nổi tiếng.
Đỉnh Am Tiên là đỉnh cao nhất trong vùng đồng bằng phía nam Thanh Hóa, với chiều cao khoảng 538 m.
Dãy núi Nưa được người dân xem là “bức trường thành tự nhiên” ngăn cách vùng đồng bằng ven biển và vùng nội địa.
Truyền thuyết dân gian gắn với núi Nưa như câu chuyện “Người tiều phu ở núi Na” trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ.
Các bài viết về di tích núi Nưa – đền Nưa – Am Tiên nhấn mạnh tính linh thiêng, vượng khí của vùng đất này.
2. Di tích lịch sử, đền chùa và di vật
• Đền thờ Bà Triệu dưới chân núi Nưa – nơi người dân thờ hung thần nữ anh hùng của vùng Cửu Chân.
• Đền Võ Uy (thôn Ngọc Uyên, xã Tân Phúc) và đền Lê Hiểm – Lê Hiêu (thôn Thái Sơn) được công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
• Đền Lân Quốc công, Thái sư Phụ chính Đinh Liệt (làng Đông Cao, xã Trung Chính)
• Di chỉ khảo cổ núi Sỏi (xã Tân Phúc) – khu cư trú thời tiền sử, diện tích lớn (~910.000 m²), phát hiện nhiều đồ đồng, công cụ lao động.
• Di tích thành Hoàng Nghiêu (nối với núi Hoàng Nghiêu) – căn cứ lịch sử chống quân Minh do Nguyễn Chích lập, dựa vào thế núi.
• Đền thờ Đỗ Bí – người Nông Cống, khai quốc công thần nhà Lê, đền thờ tại làng Cung Điền, xã Minh Nghĩa.
• Đền thờ Lê Bật Tứ (Cổ Định) – văn bia năm 1629; vị quan gốc Nông Cống hiển đạt triều Lê.
V. NHÂN VẬT TIÊU BIỂU VÀ TRUYỀN THỐNG KHOA BẢNG
1. Danh nhân lịch sử
• Bà Triệu (Triệu Thị Trinh) – anh hùng dân tộc, truyền thuyết gắn với núi Nưa.
• Đỗ Bí – người Nông Cống, tướng nhà Lê, công thần khai quốc, có đền thờ ở làng Cung Điền.
• Lê Bật Tứ – gốc Cổ Định, đỗ Hoàng Giáp (1598), chức Thượng thư, tước Diễn Gia hầu.
• Lân Quốc công, Thái sư phụ chính Đinh Liệt – được thờ tại Đông Cao, xã Trung Chính.
• Nhiều người đỗ đạt qua các khoa thi: theo bản gốc bạn trích, có 19 vị đại khoa (Tiến sĩ, Hoàng Giáp) của Nông Cống trong lịch sử.
2. Truyền thống hiếu học
Nông Cống nổi tiếng là vùng đất hiếu học lâu đời. Qua 884 năm khoa cử, tỉnh Thanh Hóa có 2.898 người đỗ đại khoa, huyện Nông Cống có 19 vị.
Cổ Đôi (làng) nổi bật trong khoa bảng: có 11 người đỗ đại khoa.
VI. KINH TẾ – ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
Nông Cống vốn là huyện nông nghiệp trọng điểm của tỉnh. Đất phù sa đồng bằng chiếm phần lớn – thuận lợi trồng lúa. Vùng phía nam núi Nưa là đất đỏ bán sơn địa thích hợp cây công nghiệp.
Sản vật: lúa, khoai, đậu, cây dừa, nghề mây song ở các tổng Lai Triều, Lãng Lăng, Lân Du; cá mè, rươi, cáy ở các con sông nhỏ; cây kè (loại cây bản địa công dụng).
Khoáng sản: huyện có cromit Cổ Định, đá secspangtin (phân lân), quặng ba dan đen, sét trắng, quặng sắt…
Về đời sống: người dân sống chủ yếu bằng nông nghiệp, xen canh ruộng + rừng + nghề thủ công. Khi huyện có đường cao tốc, quốc lộ, giao thông tốt hơn sẽ mở ra tiềm năng phát triển công nghiệp – dịch vụ.
VII. TƯƠNG LAI VÀ GIẢI THỂ HUYỆN
Theo Kết luận 157/KL-TW ngày 25/5/2025 của Bộ Chính trị và Nghị quyết địa phương, từ 1/7/2025, huyện Nông Cống được điều chỉnh tổ chức bộ máy: chỉ còn 7 xã: Nông Cống, Trung Chính, Thắng Lợi, Thăng Bình, Công Chính, Trường Văn, Tượng Lĩnh.
Xã Nông Cống mới được thành lập từ các xã Vạn Thắng, Vạn Hòa, Minh Khôi, Minh Nghĩa, Vạn Thiện và thị trấn Nông Cống.
Dù huyện sẽ không còn theo mô hình cũ, bản sắc Nông Cống – núi Nưa, đền Nưa, truyền thống hiếu học, văn hóa dân gian, danh nhân – sẽ vẫn là tài sản tinh thần lớn.
Những tiềm năng về du lịch tâm linh (núi Nưa – Am Tiên – đền Nưa), phát triển kinh tế kết hợp giữa nông nghiệp và dịch vụ, khai thác khoáng sản bền vững – là những hướng phát triển cho vùng đất này.
KẾT LUẬN
Nông Cống là miền đất hội tụ giữa đồng bằng và núi non, giữa truyền thống lâu đời và khát vọng vươn lên. Qua các thời kỳ, từ vùng đất rộng lớn đến khi điều chỉnh hành chính, Nông Cống vẫn giữ được bản sắc riêng: núi Nưa linh thiêng, truyền thống hiếu học, di tích đền chùa trang nghiêm, nhân dân cần cù.

TÀI LIỆU THAM KHẢO (trích dẫn trong văn bản)  • Đại Nam nhất thống chí;  • Đồng Khánh dư địa chí (mục tổng — xã, phong tục, sản vật);  • Thanh Hóa tỉnh chí;  • Tập thơ, văn bia, thơ ngự chế các triều đại (trích dẫn ghi trong phần mô tả danh thắng). * Facebook Ngo Hoai Chung “Các huyện tỉnh Thanh Hoá trước ngày giải thể huyện 01/7/2025”

Thứ Sáu, 10 tháng 10, 2025

ĐỊA CHÍ HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ


I. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

1. Vị trí địa lý

Huyện Thạch Thành nằm ở phía tây bắc tỉnh Thanh Hóa, thuộc vùng trung du miền núi.
Phía bắc giáp tỉnh Ninh Bình,
phía nam giáp huyện Vĩnh Lộc,
phía đông giáp huyện Hà Trung,
và phía tây giáp huyện Cẩm Thủy.

Tọa độ địa lý khoảng từ 19°50’ đến 20°10’ vĩ độ Bắc, và từ 105°25’ đến 105°45’ kinh độ Đông.
Trung tâm huyện lỵ đặt tại thị trấn Kim Tân, cách thành phố Thanh Hóa khoảng 45 km theo quốc lộ 45.

2. Địa hình

Thạch Thành là vùng bán sơn địa, địa hình nghiêng dần từ tây sang đông, xen kẽ các dãy núi đá vôi và thung lũng hẹp.
Vùng núi chiếm khoảng 60,1% diện tích, tập trung ở các xã Ngọc Trạo, Thạch Quảng, Thành Vinh; vùng đồi thấp và đồng bằng chiếm khoảng 39,9%, phân bố dọc sông Bưởi và vùng Kim Tân – Vân Du.
Đây là khu vực chuyển tiếp giữa dãy Trường Sơn Bắc và đồng bằng sông Mã.

3. Khí hậu

Thạch Thành mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt: mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) và mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau).
Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23–25°C, lượng mưa trung bình 1.700–1.900 mm.
Vùng núi cao như Thạch Quảng, Ngọc Trạo có khí hậu mát mẻ hơn, thuận lợi cho phát triển du lịch sinh thái.

4. Thổ nhưỡng và tài nguyên thiên nhiên

Đất chủ yếu là feralit đỏ vàng trên đá mác-ma và đá vôi, độ phì khá, thích hợp trồng mía, cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày.
Tài nguyên rừng phong phú, có nhiều gỗ quý, tre nứa, mây song; động vật hoang dã như khỉ, chồn, cầy, chim rừng.
Khoáng sản chủ yếu gồm đá vôi, đá xây dựng, cát sỏi, nước khoáng thiên nhiên.

Hệ thống sông suối khá dày đặc, nổi bật là sông Bưởi, dài 130 km, đoạn chảy qua huyện khoảng 64 km, là nguồn nước chính phục vụ tưới tiêu và sinh hoạt.

5. Danh thắng thiên nhiên

Hai danh thắng nổi tiếng của huyện là Thác Voi (xã Vân Du) và Thác Mây (xã Thạch Quảng), nằm trong vùng rừng nguyên sinh, cảnh quan hùng vĩ, được khai thác phục vụ du lịch sinh thái.
Ngoài ra còn có hang Con Moong, hang Lý Chùn, hang Diêm, hồ Đồng Vụ, hồ Cửa Đạt (liền kề Cẩm Thủy) – là các điểm du lịch, khảo cổ và nghiên cứu sinh học quan trọng.

II. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ HÀNH CHÍNH

1. Thời cổ – trung đại

Theo Địa chí Thanh Hóa (NXB Văn hóa – Thông tin, 2000), vùng Thạch Thành thời Hán thuộc huyện Dư Phát.
Đến thời Tam Quốc – Lưỡng Tấn – Nam Bắc triều, thuộc các huyện Phù Lạc và Kiến Sơ.
Thời Tùy – Đường thuộc huyện Nhật Nam, sau đổi là Ái Châu.
Đến thời Đinh – Lê – Lý vẫn giữ địa danh như cũ.

Thời Trần – Hồ, vùng này thuộc hai huyện Tế Giang và Yên Lạc.
Năm 1460 (niên hiệu Quang Thuận, triều Lê Thánh Tông), đổi tên huyện Yên Lạc thành Thạch Thành, lệ phủ Thiệu Thiên.
Huyện Tế Giang đổi tên lần lượt thành Bình Giang, Quảng Bình, Quảng Bằng, Quảng Tế.

Năm Thành Thái thứ nhất (1889), triều Nguyễn cho nhập huyện Quảng Tế vào Thạch Thành, lập thành huyện Thạch Thành thống nhất, thuộc phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

2. Thời cận – hiện đại

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, huyện Thạch Thành thuộc khu hành chính Thanh – Nghệ – Tĩnh, sau đó về tỉnh Thanh Hóa.
Năm 1977, theo chủ trương tinh giản, huyện sáp nhập với Vĩnh Lộc thành huyện Vĩnh Thạch.
Năm 1982, chia tách, khôi phục tên cũ Thạch Thành.

Từ sau năm 2020, thực hiện Nghị quyết sắp xếp đơn vị hành chính, Thạch Thành được tổ chức lại thành 06 đơn vị hành chính cấp xã, gồm: Kim Tân, Vân Du, Ngọc Trạo, Thạch Bình, Thành Vinh và Thạch Quảng.

III. DÂN CƯ, VĂN HÓA VÀ PHONG TỤC

1. Dân cư

Thạch Thành là vùng đất cư trú lâu đời của người Mường, người Kinh và một số ít dân tộc khác.
Người Mường chiếm khoảng 48% dân số, tập trung ở các xã Thạch Quảng, Thành Vinh, Ngọc Trạo; người Kinh tập trung ở vùng Kim Tân, Vân Du.
Cư dân sống xen kẽ, đoàn kết, tạo nên sắc thái văn hóa Việt – Mường đặc trưng.

2. Văn hóa dân gian

Vùng Mường Thạch Thành là nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hóa phi vật thể như Mo Mường, hát rang, hát ví, trò diễn dân gian, và sử thi “Đẻ đất đẻ nước”.
Các Mường cổ như Mường Đòn, Mường Đẹ, Mường Vồn còn bảo tồn nhiều phong tục cổ: lễ cầu mùa, lễ xuống đồng, tục cưới hỏi, tang ma theo nếp Mường truyền thống.

Lễ hội tiêu biểu là Lễ hội Mường Đòn (18 tháng Giêng âm lịch), gồm phần lễ rước thần, tế thần, và phần hội với các trò chơi dân gian: ném còn, đánh chiêng, hát bội, múa sạp.

3. Văn học dân gian – tri thức bản địa

Ca dao, tục ngữ, dân ca Mường Thạch Thành phản ánh sâu sắc triết lý sống, tinh thần đoàn kết và đạo lý bản mường.
Một số tục ngữ tiêu biểu:

“Giàu không bỏ họ, khó không bỏ bản mường.”
“Đói không ăn lúa giống, rét không đun bã sàn.”
“Ăn khi đói, nói khi tỉnh.”

Ẩm thực địa phương có nhiều đặc sản: vịt Trạc Nhật, mía tím Kim Tân, cơm lam, rượu cần, cùng các món chế biến từ rau rừng, lá đu đủ, măng, cá suối – biểu trưng cho sự hòa hợp giữa con người và tự nhiên.

IV. DI TÍCH LỊCH SỬ, VĂN HÓA VÀ CÁCH MẠNG

1. Di tích văn hóa – tín ngưỡng

Đền Phố Cát (xã Vân Du): thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh – một trong “Tứ bất tử” của tín ngưỡng dân gian Việt Nam.
Theo truyền thuyết, đây là nơi Mẫu giáng sinh lần thứ hai. Cảnh quan đền nằm giữa thung lũng núi An Lão, có hồ nước và tháp Vọng Ngư, là trung tâm tín ngưỡng Đạo Mẫu lớn nhất miền Bắc Trung Bộ.
Lễ hội Phủ Cát được tổ chức hằng năm vào tháng 3 âm lịch, thu hút đông đảo du khách thập phương.

2. Di tích khảo cổ học

Hang Con Moong (xã Thành Vinh) là di chỉ cư trú của người nguyên thủy, có niên đại kéo dài khoảng 10.000 năm, liên tục qua ba nền văn hóa: Sơn Vi – Hòa Bình – Bắc Sơn.
Đây là một trong những di tích tiêu biểu của thời tiền sử Việt Nam, được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt và đang được đề cử UNESCO công nhận Di sản văn hóa thế giới.

3. Di tích cách mạng

Chiến khu Ngọc Trạo (xã Ngọc Trạo) – nơi thành lập Đội du kích Ngọc Trạo (19/9/1941), tiền thân của lực lượng vũ trang Thanh Hóa.
Khu di tích hiện có tượng đài, nhà truyền thống, đền tưởng niệm – là điểm đến giáo dục truyền thống cách mạng quan trọng.
Ngoài ra, Thạch Thành còn lưu giữ nhiều di tích kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, gắn với phong trào du kích và cơ sở hậu cần thời chiến.

V. KINH TẾ – XÃ HỘI VÀ PHÁT TRIỂN HIỆN ĐẠI

1. Kinh tế

Thạch Thành có lợi thế về nông nghiệp, lâm nghiệp và công nghiệp chế biến.
Từ năm 1997, Nhà máy Đường Việt – Đài (Kim Tân) đi vào hoạt động, công suất 6.000 tấn mía/ngày, tạo vùng nguyên liệu rộng trên 12.000 ha, đóng vai trò hạt nhân kinh tế nông nghiệp hàng hóa của huyện.

Ngoài ra, huyện phát triển nghề chế biến lâm sản, khai thác đá, sản xuất vật liệu xây dựng và nuôi trồng thủy sản.
Dịch vụ – du lịch ngày càng mở rộng với các tuyến tham quan: Phủ Cát – Thác Voi – Hang Con Moong – Ngọc Trạo.

2. Giáo dục và văn hóa – xã hội

Truyền thống hiếu học của người Thạch Thành được hình thành từ lâu đời.
Trong kháng chiến chống Mỹ, nơi đây từng là căn cứ sơ tán của Trường Đại học Sư phạm Vinh (1965–1969).
Nhân dân địa phương đã hết lòng giúp đỡ cán bộ, sinh viên nhà trường dạy và học, góp phần gìn giữ nền giáo dục trong thời chiến.
Ngày nay, huyện có hệ thống trường phổ thông hoàn chỉnh, trung tâm giáo dục nghề nghiệp, cùng nhiều hoạt động văn hóa, thể thao và phong trào xây dựng đời sống văn hóa cơ sở.

VI. KẾT LUẬN

Thạch Thành là vùng đất có vị trí chiến lược, giàu tiềm năng tự nhiên, đậm đà bản sắc văn hóa Việt – Mường, và giàu truyền thống cách mạng.
Từ quá khứ đến hiện tại, đất và người Thạch Thành luôn thể hiện tinh thần kiên cường, cần cù, đoàn kết, góp phần tô đậm thêm bản sắc văn hóa và lịch sử của xứ Thanh.

VII. TÀI LIỆU THAM KHẢO (trích dẫn trong văn bản)
 • Đại Nam nhất thống chí;
 • Đồng Khánh dư địa chí (mục tổng — xã, phong tục, sản vật);
 • Thanh Hóa tỉnh chí;
 • Tập thơ, văn bia, thơ ngự chế các triều đại (trích dẫn ghi trong phần mô tả danh thắng).
* Facebook Ngo Hoai Chung “Các huyện tỉnh Thanh Hoá trước ngày giải thể huyện 01/7/2025”

Thứ Tư, 8 tháng 10, 2025

HUYỆN THẠCH THÀNH

Toàn cảnh khu vực hang Con Moong
Lòng hang Con Moong.

    Nhìn trên bản đồ, hình thể huyện Thạch Thành (cũ) gọn gàng như một đoạn tường thành chữ nhật trải dài bên sườn tây nam của dãy núi Tam Điệp, ngăn cách Thanh Hóa với tỉnh Ninh Bình. Tuy nhiên cái tên Thạch Thành, theo nghĩa Hán - Việt là “thành đá”, không phải xuất phát từ hình thể của huyện giống bức tường thành. Qua tìm hiểu sử cũ, tên Thạch Thành xuất hiện năm 1460 dưới thời vua Lê Thánh Tông và cũng không có bất cứ mối liên hệ nào giữa tên Thạch Thành với tòa thành đá Tây Đô do Hồ Quý Ly xây dựng năm 1397 ở huyện Vĩnh Lộc, chỉ cách đó hơn 10km. 

     Trong những năm công tác tại tỉnh nhà, tôi đã có nhiều dịp về  Thạch Thành. Tôi nhớ, đâu khoảng năm 1990 trong chuyến đi công tác về Thạch Thành được anh Nguyễn Ngọc Sinh, Bí thư huyện ủy lúc ấy cho thưởng thức món “lạ”. Chả là sau khi làm việc xong, huyện bố trí cơm trưa tại nhà ăn huyện ủy. Trước khi vào mâm, anh Sinh vòng ra sau nhà cầm vào một nắm lá đu đủ non, cười tủm tỉm, ăn hay lắm đấy!  Xé từ cuống lá ra một mảnh, cuộn lại cho gọn rồi chấm mắm tôm đưa lên nhai thử. Cảm nhận vị hơi nhần nhận đắng, vị đắng của lá át hẳn vị nồng của mắm tôm nhưng lại rất hợp đưa cay chai cuốc lủi huyện đãi khách. Chỉ đơn giản thế mà vị đắng ấn tượng đến bây giờ, sau 35 năm!

   Trong những năm 2008-2010, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa phối hợp với Viện Khảo cổ học tiến hành thám sát, khai quật hang Con Moong và hang Lai phục cho việc lập hồ sơ trình UNESCO công nhận Di sản văn hóa thế giới hang Con Moong (con thú), tôi cũng có dịp về Thạch Thành. So với các huyện miền núi Thanh Hóa, đi Thạch Thành thuận lợi hơn vì địa hình khá bằng phẳng. Địa  điểm khai quật nằm trong khu vực quản lý, bảo vệ của vườn quốc gia Cúc Phương. Rừng được giữ, cây lá xanh tươi, các làng bản hiền hòa với ruộng mía, vườn ngô mướt xanh, bình yên dưới các thung lũng núi đá, đẹp đến nao lòng. 

       Là vùng đất chuyển tiếp từ núi rừng Tây Bắc đất nước xuống trung du và đồng bằng Thanh Hóa, Thạch Thành có 2 loại địa hình đặc trưng. Một là dải núi đá vôi Tam Điệp như xương sống của huyện, kéo dài từ xã Thạch Quảng đầu huyện đến cuối huyện là xã Ngọc Trạo. Dải núi này chiếm tới 60,1% tổng diện tích tự nhiên của huyện. Hai là vùng ven sông Bưởi và vùng đồi thấp, chiếm 39,9% tổng diện tích của huyện.

     Lần lại tài liệu cũ về Thạch Thành, sách “Đồng Khánh địa dư chí” có chép: “Huyện Thạch Thành thuộc phủ Quảng Hóa, do phủ kiêm lý. Huyện hạt phía đông giáp huyện Tống Sơn, phía tây giáp huyện Quảng Tế, phía nam giáp huyện Vĩnh Lộc, phía bắc giáp huyện Phụng Hóa phủ Nho Quan tỉnh Ninh Bình. Đông tây cách nhau 40 dặm. Năm bắc cách nhau 64 dặm. Huyện có  tổng gồm 59 xã thôn”. Đó là các tổng: Văn Lung 6 xã, Tự Cường 11 xã, trại, Hòa Luật 11 xã, Trạc Nhật 16 xã, Ngọc Động 9 xã,, Bỉnh Bút 9 xã. Về phong tục: “Trong huyện, người Kinh ít, người Thổ (Mường) nhiều.  Người Kinh thì tiếng nói, quần áo, đồ dùng, ăn uống đều chất phác, không học đòi thói kiêu hoa xa xỉ. Ngoài việc cày cấy, đốn  củi, chỉ còn biết săn bắn mà thôi. Còn người Thổ (Mường) làm nhà thì gác gỗ làm nhà sàn mà ở, viết chữ thì liền câu mà viết ngang. Ăn mặc thì chất phác, công việc thì chỉ có cầy cấy và đốn củi. Việc cưới xin, tang ma, thờ cúng ngày nay cũng dần dần học theo người Kinh, cũng hơi biết lễ độ. Theo Thiên chúa giáo chỉ một xã Pháp Ngữ toàn tòng mà thôi. Sản vật lúa thu nhiều, lúa hè ít. Khoai đậu cũng có. Thổ sản thì có tre, vầu, nứa mà thôi”. (Đồng Khanh địa dư chí, Bản dịch của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Ngô Đức Thọ, Nguyễn Văn Nguyên, Philippe Papin, trang 1135, 1136)

     Tại sách “Đại Nam nhất thống chí” khi chép về vị trí địa lý Thạch Thành không khác so với thời Đồng Khánh. Tuy nhiên, sách có nói cụ thể hơn về quá trình đặt tên gọi cho huyện: “Đời Quang Thuận triều Lê mới đặt tên huyện này, thuộc vào phủ Thiệu Thiên, do viên Thổ tù (khuyết họ) quản trị. Triều Nguyễn vẫn để theo cũ. Năm Minh Mạng 16, đổi sang thuộc quyền thống hạt phủ này, và bắt đầu bổ quan cai trị. Năm Tự Đức thứ 3 đổi làm kiêm lý của phủ. Năm đầu Thành Thái lại đặt ra tri huyện, kiêm nghiếp huyện Quảng Tế , thuộc vào phủ bây giờ. Hiện lãnh 6  tổng, 55 xã thôn trang trại. Nơi đây núi rừng tri trít, khe suối dọc ngang, đường lối  hiểm hóc, lam chướng nặng nề. Lâm phận nhiều mà bình nguyên ít, cư dân phần nhiều lập trại dưới chân núi, bắc sàn để ở. Xã lớn 20, 30 nóc nhà, xã nhỏ chỉ độ mươi nhà”. (Đại Nam nhất thống chí tỉnh Thanh Hóa - tập thượng, Văn hóa tùng thư,  NXB NVH, Bộ QGGD XB, 1960, tr16)

   Sách “Địa chí Thanh Hóa, tập I, phần Địa Lý và Lịch sử” chép về quá trình hình thành và tên gọi huyện Thạch Thành: “Thời thuộc Hán là miền đất thuộc huyện Dư Phát. Thời Tam Quốc, Lưỡng Tấn, Nam – Bắc triều là miền đất thuộc huyện Phù Lạc và huyện Kiến Sơ. Thời thuộc Tùy Đường là miền đất thuộc huyện Nhật Nam. Thời Đinh - Lê – Lý vẫn theo như thời thuộc Tùy Đường. Thời Trần – Hồ, miền đất này nằm gọn trong hai huyện Tế Giang và Yên Lạc. Huyện Thạch Thành ngày nay vốn ghép hai huyện Tế Giang và Yên Lạc thời Trần Hồ mà thành. Quá trình ghép huyện ấy diễn ra như sau: 

      1, Huyện Yên Lạc thời Lê Quang Thuận (1460) đặt làm huyện Thạch Thành, cho lệ vào phủ Thiệu Thiên (nay là phần đất thuộc đông nam huyện Thạch Thành bây giờ). 

      2, Huyện Tế Giang thuộc lưu vực sông Bưởi (còn gọi là sông Bảo, cũng tức là Tế Giang). Đời Lê Quang Thuận đổi tên huyện Tế Giang là huyện Bình Giang, đời Trung Hưng đổi là huyện Quảng Bình, Tây Sơn đổi là huyện Quảng Bằng, đầu thời Nguyễn lại đổi là huyện Quảng Bình, Minh Mệnh thứ 2 (1821) đổi tên là huyện Quảng Địa, sau lại đổi là huyện Quảng Tế. 

    Năm Thành Thái thứ 1 (1889) cho huyện  Quảng Tế lệ vào huyện Thạch Thành, tên Quảng Tế mất và hình thành huyện Thạch Thành ngày nay. 

    Năm 1977, ghép hai huyện Thạch Thành và Vĩnh Lộc thành huyện Vĩnh Thạch, năm 1982 tách hai huyện như cũ và lấy lại tên cũ là huyện Thạch Thành”. (Địa chí Thanh Hóa, tập I, Lịch Sử và Địa lý, NXB VHTT, 2000, tr422, 423)

      Tuy là huyện miền núi, dựa lưng vào dãy núi đá vôi Tam Điệp, lại có một phần diện tích rừng Cúc Phương nằm trên địa bàn nhưng Thạch Thành có địa hình khá bằng phẳng, ít núi cao, dù “Đại Nam nhất thống chí” nhận định: “núi rừng tri trít… lâm phận nhiều mà bình nguyên ít”. Có lẽ thời Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn bộ Đại Nam nhất thống chí ( từ năm Tự Đức thứ 18 (1865) đến năm Tự Đức thứ  35 (1882) nhận định như thế bởi thời ấy Thạch Thành đang hoang sơ, nhiều vùng đất chưa  được khai phá. 

     Trong “Đại Nam nhất thống chí” chỉ ghi nhận Thạch Thành có hai ngọn núi cao trong phần viết về sơn xuyên tỉnh Thanh Hóa, đó là núi An Lão và núi Cốc Sơn.

   “Núi An Lão ở xã phố Cát, phía đông bắc huyện Thạch Thành, tiếp liền với địa giới  huyện Phụng Hóa, tỉnh Ninh Bình. Dưới núi có con đường chia 3 ngã, phía  tây nam thông sang châu Lang Chánh, phía đông xuống  huyện Tống Sơn, phía bắc  thông ra tỉnh Ninh Bình, là một nơi hiểm yếu trên miền thượng du, trước đây vẫn có đồn đóng ở đấy”. (Đại Nam nhất thống chí, tr 64) 

    “Cốc Sơn (núi hang) ở xã Phú Ổ, phía bắc huyện Quảng Tế (Thạch Đồng hiện nay – NV). Thế núi bắt  đầu từ huyện Yên Lạc, cao mấy trăm trượng, dưới có khe chẩy, giồn lại thành một cái hồ sen. Đỉnh núi có ngôi chùa, chùa có cửa đá, phải nghiêng mình mới có thể vào được. Trước chùa có hai viên đá thiên nhiên, một tựa hình con voi, một tựa hình con ngựa. Lên cao ngắm trông bốn mặt, thấy rõ các núi đối trĩ với nhau, cảnh trí rất là đẹp mắt” (Đại Nam nhất thống chí, tr 64). 

      Về hệ thống sông suối, Thạch Thành chỉ có sông Bưởi là đáng kể. Sông Bưởi, (còn gọi là Tế Giang, sông Báo, sông Bái, sông Định, sông Sỏi) là con sông lớn nhất của huyện, bắt nguồn từ Tân Lạc, Hòa Bình đổ vào Thạch Thành tại xã Thạch Quảng và chảy dọc huyện rồi nhập vào sông Mã ở xã Vĩnh Lộc. Sông Bưởi dài 130km, đoạn chảy qua Thạch Thành dài 64km, chia huyện thành 2 phía tả - hữu sông. Sông Bưởi có đặc điểm là lòng sông hẹp, cắt sâu, chảy quanh co, uốn khúc gấp, đầu nguồn nước chảy nhanh, cuối nguồn tiêu nước chậm nên thường xuyên gây nên tình trạng úng ngập, đe dọa lũ tràn vỡ đê mỗi mùa mưa lũ. 

   Thạch Thành là huyện cửa ngõ nối vùng Bắc Bộ và Trung bộ của tỉnh Thanh Hóa nên giao thông thuận lợi.  Huyện có quốc lộ 45 và đường Hồ Chí Minh chạy qua. Mặc dù là huyện miền núi nhưng tất cả các xã đều có thể đi ô tô đến trung tâm xã. 

    Dân cư Thạch Thành gồm người Mường và người Kinh, trong đó người Mường chiếm khoảng 48% dân số của huyện. Theo nhiều tư liệu để lại, Thạch Thành là một trong những vùng đất gốc của người Mường trong, nơi phát tích của sử thi Đẻ đất đẻ nước, quê hương của truyền thuyết Nàng Nga – Đạo Hai Mối, Út Lót - Hồ Liêu nổi tiếng của dận tộc Mường. Thạch Thành có những Mường nổi tiếng như mường Đòn, mường Đẹ, mường Vồn. Mường Đòn có lễ hội mường Đòn được tổ chức vào ngày 18 tháng giêng âm lịch. Ngoài phần tế lễ tại lễ hội có nhiều hoạt động giao thoa văn hóa Việt – Mường như cồng chiêng, đánh mảng, thi hát Mường, ném còn, diễn tuồng, hát bội, văn hóa ẩm thực… Hiện nay ở mường Đủ  (xã Thạch Bình) có đền thờ Nàng Nga và dòng họ Lưu xưng là con cháu của Cun Đủ - Già (bố nàng Nga), thờ ông làm ông tổ dòng họ. 

   Cũng như người Mường ở các huyện miền núi Thanh Hóa, người Mường Thạch Thành có đời sống văn hóa tinh thần phong phú. Các loại hình văn học dân gian như truyện kể, tục ngữ, ca dao, dân ca được lưu giữ là niềm tự hào của dân tộc Mường. Câu tục ngữ: “Dưới chợ Truyện Kiều, Phương Hoa/ Trên mường Nàng Nga – Hai Mối” đã chứng tỏ trong tiềm thức dân gian người Mường truyện này quan trọng nhường nào. Ngày nay, nhiều vùng mường Thanh Hóa, trong đó có Thạch Thành vẫn còn những người hát rang về Nàng Nga – Đạo Hai Mối vào những dịp đám cưới, mừng nhà mới, mừng cháu mới…

     Trong văn hóa dân gian, người Mường Thạch Thành có cả một kho tàng tục ngữ, trong đó có tục ngữ về văn hóa ứng xử. Có thể kể đến các câu tục ngữ được nhiều người biết đến như: “Của mình làm ra như nước vó nguồn/ Của bố mẹ để lại mòn dần như hoa chuối rừng xanh”, “Đào giếng mà uống, vỡ ruộng mà ăn”, “Của mình làm ra ăn no, của người cho ăn nếm”, “Thấy khốn khó đừng vội núng nao/ Đời còn có lúc ngồi giường cao, chiếu rộng”, “Chín chìm, chín nổi, chín lênh đênh/ Mười hai gập ghềnh mới nên thân người”, “ Làm người thì khó, làm chó thì dễ”, “Giàu không bỏ họ, khó không bỏ bản mường”, “Nói cây lau đau cây sậy”, “Ăn khi đói, nói khi tỉnh”, “Ăn đi nên bả nên hèm/ Đem biếu láng giềng thành chỗ anh em”, “Đói không ăn lúa giống/ Rét không đun bã sàn”, “Mất bố mất trại cơm, mất mẹ mất áo thơm”, “Vợ già lắm vốn, chồng già tốn cơm”, Chúa khách ngồi bên ngoài/ Chúa nhà ngồi bên trong”, “Nợ vịt chưa qua, nợ gà đã tới”, “Cơm chồng thì ngon, cơm con chan nước mắt”, “Củi mục cháy nhà/ Người già lắm lời”…Vùng đất Thạch Thành còn có những đặc sản nổi tiếng như mía Kim Tân, vịt Trạc Nhật. 

      Thạch Thảnh là vùng đất không nhiều di tích lịch sử văn hóa nhưng lại có những di tích nổi tiếng, có giá trị đặc biệt. Đó là di tích tâm linh đền phố Cát, di tích khảo cổ hang Con Moong và di tích cách mạng chiến khu Ngọc Trạo. 

          Đền Phố Cát “thắng địa đệ nhất”, nơi hiển thánh của Thượng Thiên Thánh Mẫu Liễu Hạnh, vị thần chủ trong tín ngưỡng thờ Đạo Mẫu của người Việt Nam. Di tích Phố Cát nằm trên địa bàn xã Vân Du. Đại Nam nhất thống chí  (tập II, NXB KHXH, Hà Nội – 1990) có ghi “Lũy phố Cát: ở bên núi An Lão…tương truyền nhà Lê đặt trạm ở đây, gọi là trạm Cát” như vậy tên Cát có từ thời nhà Lê, đến thời Nguyễn do đặt đồn, trạm ở đây nên gọi là phố Cát. Vì vậy, đền thờ Mẫu gọi là đền Phố Cát. Mẫu Liễu Hạnh là một trong tứ bất tử (cùng với Thánh Gióng, Chử Đồng Tử và Tản Viên Sơn Thánh) của tín ngưỡng dân gian người Việt. Câu “Tháng 8 giỗ Cha, tháng 3 giỗ Mẹ” đã đi vào tâm thức người dân, thể hiện Mẫu Liễu Hạnh được sùng tín hàng đầu, là “Mẫu nghi thiên hạ” trong đời sống tâm linh của người Việt. Tại vùng núi An Lão, nơi có phố Cát nằm trên đường thượng đạo Bắc - Nam, chính là nơi hiển thánh của Liễu Hạnh. Trong tín ngưỡng Đạo Tam Phủ của người Việt, Thánh Mẫu Liễu Hạnh là  vị thần trung tâm và là linh hồn của  tín ngưỡng thờ Mẫu. Trong ba di tích gốc thờ Mẫu có Phủ Dày nơi mẫu giáng sinh lần thứ nhất, Phố Cát nơi mẫu giáng sinh lần thứ hai và Sòng Sơn, nơi hiển thánh. Đền Phố Cát nằm ở lưng chừng ngọn núi Dết, hai bên tả hữu có hai gò đất tạo thế tay ngai, phía trước có 3 ngọn núi  đá Tam Thai làm bình phong. Nơi đây có dòng suối nhỏ chảy quanh co, len lỏi qua các hòn đá non bộ, đến trước cửa đền tạo thành hồ nước, dưới hồ có rất nhiều “cá thần” bơi lội tung tăng. Tại đây, Tổng đốc Thanh hóa thời Bảo Đại đã cho xây dựng tháp Vọng Ngư hình lục lăng để nhà vua mỗi khi Bắc tuần qua đây chiêm bái Mẫu và ngắm cá. Tại đền Phố Cát còn tương truyền trong dân gian bài thơ ca ngợi cảnh đẹp nơi đây:

    "Khách thập phương tới đền Phố Cát

      Ngắm non sông bát ngát một vùng

     Chín tầng thác dội lòng trong

     Cây đa trước miếu, cá vùng kín khe

      Nhìn non nước bốn bề như vẽ

     Đều khen rằng cảnh Mẹ xinh thay”…

      Đền Phố Cát có các công trình kiến trúc như cung đệ nhất, cung đệ nhị, cung đệ tam, sân rồng, nghinh môn, tháp vọng ngư, cầu bắc qua suối đến đền quan Giám sát và đền Bùi (thờ Mẫu Thoải), nhà khách, nhà tiếp lễ. Năm 1953, Pháp bỏ bom nên đã phá hủy hầu hết các công trình kiến trúc. Hiện nay, di tích đang được đầu tư xây dựng lại cung đệ nhất, tam quan, tháp vọng ngư, cầu đá bắc qua suối. 

      Hang Con Moong (con thú) ở bản Mọ, xã Thành Vinh, thuộc địa phận vườn  quốc gia Cúc Phương. Tháng 1/1975, Viện Khảo cổ học tiến  hành thăm dò xác minh di  tích đã phát hiện các công cụ mài lưỡi, ghè đẽo và kết luận di tích thuộc văn hóa Hòa Bình. Tháng 4/1975 Viện khảo cổ học tiến hành khai quật di chỉ với diện tích 40m2, tầng văn hóa dày khoảng 3,50m đã cho kết quả 3 tầng văn hóa. Tầng văn hóa I nằm trên sinh thổ và dưới lớp đất đỏ nâu, ở độ sâu 2,8m trở xuống. Cấu tạo lớp văn hóa I bằng đất xen vỏ ốc, các công cụ chặt hình rìu, công cụ cuội ghè đẽo và nhiều mảnh tước công cụ. Tầng văn hóa II ở độ sâu 1,2 – 2,8m nằm dưới lớp đất nâu. Cấu tạo tầng văn hóa II chủ yếu là ốc, xen kẽ vệt than trắng, tìm thấy công cụ chặt hình hạnh nhân, rìu ngắn, công cụ kiểu ở tầng văn hóa I cùng với mảnh tước. Tầng văn hóa III gồm các lớp đất dày 0,8 – 1,2m ở độ sâu 0,25 – 1,25m. Lớp này có đất nâu lẫn ốc, vỏ nhuyễn thể, dấu vết bếp lửa, xương thú, 3 mộ táng nguyên thủy, tìm thấy rìu mài lưỡi, mảnh gốm thô sơ, và một số công cụ kiểu Hòa Bình. Như vậy, di chỉ hang con Moong có 3 tầng văn hóa, có cấu tạo và đặc điểm di vật khác nhau. Căn cứ vào địa tầng, đặc trưng kỹ thuật loại hình  công  cụ, các nhà khảo cổ học đã kết luận cư dân cổ định  cư ở con Moong liên tục 10.000 năm, trong đó nhóm cư dân Sơn Vi tồn tại 6.500 năm (từ 17.000 - 10.5000 năm), nhóm Hòa Bình điển hình tồn tại 2.000 năm (từ 10.500 -  8.500 năm) và nhóm Hòa Bình phát triển kéo đến Bắc Sơn tồn tại 1.500 năm (từ 8.500 – 7.000 năm). Qua kết quả khai quật, niên đại của di chỉ hang con Moong kéo dài từ hậu kỳ đá cũ đến sơ kỳ đá mới.  Như vậy, hiếm có di chỉ khảo cổ nào, nếu không nói là độc nhất vô nhị, thời gian cư trú của cư dân nguyên thủy kéo dài liên tục qua ba nền văn hóa: Sơn Vi, Hòa Bình và Bắc Sơn. Đây cũng là cơ sở khẳng định giá  trị nổi bật mang tính toàn cầu để Việt Nam lập hồ sơ đệ trình UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới đối với hang Con Moong.

        Bản Ngọc Trạo, tổng Trạc Nhật xưa (nay là xã Ngọc Trạo) là vùng đất đồi núi chuyển tiếp giữa vùng rừng núi của Thạch Thành với vùng đồng bằng thuộc huyện Hà Trung, lại thuận lợi đi sang huyện Vĩnh Lộc và theo  đường tắt qua Phố Cát sang Ninh Bình. Năm 1941, Tỉnh ủy Thanh Hóa lựa chọn nơi đây để thành lập chiến khu cách mạng hưởng ứng khởi nghĩa Bắc Sơn. Ban lãnh đạo chiến khu được thành lập do ông Đặng Châu Tuệ phụ trách, xây dựng lực lượng vũ trang kết hợp với xây dựng lực lượng chính trị, vận động nhân dân che chở, cung cấp lương thực. Tháng 9/1941 tại hang Treo dội du kích  Ngọc Trạo được thành lập có 24 đội viên, do ông Đặng Châu tuệ làm đội trưởng. Ngày 19/10/1941 thực dân Pháp chia làm 3  cánh quân tấn công chiến khu Ngọc Trạo, lực lượng du kích chiến khu đã giao chiến với quân Pháp. Một số đội viên du kích đã hy sinh anh dũng trong chiến đấu. Do chênh lệch lực lượng, Ban lãnh đạo chiến khu đã quyết định rút lui khỏi chiến khu, phân tán lực lượng về các vùng trong tỉnh, xây dựng lực lượng chờ thời. Ngày nay, tại Ngọc Trạo, chiến khu xưa đã được công nhận là di tích cách mạng kháng chiến cấp quốc gia. Các công trình như tượng đài du kích Ngọc Trạo, bảo tàng Ngọc Trạo, khu mộ 3 liệt sĩ, đền thờ Tống Duy Tân, hang Treo, đồi Ma Mầu.. đang là chứng tích cho sự  ra đời của chiến khu và lực lượng vũ trang đầu tiên của tỉnh Thanh Hóa.

      Thực hiện chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy, chính quyền địa phương hai cấp, huyện Thành Thành được sắp xếp từ 24 xã, thị trấn thành  6 xã. Đó là các xã: Kim Tân, Vân Du, Ngọc Trạo,  Thạch  Bình, Thành Vinh, Thạch Quảng. Phương châm sắp xếp là lấy tên một xã đại diện trong các xã hợp nhất để đặt tên xã. Như vậy, các địa danh quen thuộc và nổi tiếng của Thạch Thành cũ như  Kim  Tân, Ngọc Trạo, Vân Du đều được chuyển tiếp trong thời kỳ mới. Chỉ tiếc một điều, cái tên Thạch Thành hay thế, đã tồn tại từ thời vua Lê Thánh Tông, cách đây gần 600 năm đã không được chọn để định danh cho xã nào.

     Viết về Thạch Thành làm tôi nhớ lại, năm 2007 Sở VHTTDL Thanh Hóa được giao thực hiện đề tài khoa học cấp tỉnh “Sưu tầm, nghiên cứu đề xuất các giải pháp bảo tồn, khôi phục và phát huy văn hóa phi vật thể người Mường Thanh Hóa”. Ban chủ nhiệm đề tài đã về các làng bản Mường điền dã, khảo sát và sưu  tầm văn hóa phi vật thể của người Mường, trong đó có Thạch Thành. Kết thúc đề tài, căn cứ vào kết quả sưu tầm đã xuất bản cuốn “Truyền thuyết dựng bản, lập mường Thanh Hóa” để lưu lại những viên ngọc quý của xứ Mường trong. Trong cuốn sách này, những tên làng bản, ca dao tục ngữ, dân ca, xường của người Mường Thạch Thành có  vị  trí quan  trọng. Dẫu không còn huyện nhưng Thạch Thành cùng với các địa phương có người Mường sinh sống, những bản Mường tươi đẹp, văn học dân gian Mường phong phú, người Mường mến khách nồng hậu sẽ mãi mãi là mảng mầu tươi sáng trong bức tranh đa sắc màu của tỉnh Thanh trong kỷ nguyên mới.

Ảnh: Toàn cảnh khu vực hang Con Moong

          Lòng hang Con Moong.

Bài của Ngo Hoai Chung