XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG

Chủ Nhật, 21 tháng 9, 2025

ĐỊA CHÍ HUYỆN BÁ THƯỚC


1. Vị trí địa lý và đơn vị hành chính
Bá Thước là huyện miền núi phía tây bắc tỉnh Thanh Hóa, cách trung tâm tỉnh lỵ Thanh Hóa khoảng 80 km theo đường chim bay. Phía bắc huyện giáp các huyện Mai Châu, Tân Lạc và Lạc Sơn (tỉnh Hòa Bình); phía đông giáp huyện Cẩm Thủy và Ngọc Lặc; phía nam giáp huyện Thạch Thành và huyện Lang Chánh; phía tây giáp huyện Quan Hóa.
Trên địa bàn có hai tuyến quốc lộ quan trọng là quốc lộ 15A và quốc lộ 217, cùng dòng sông Mã chảy xuyên qua, tạo thuận lợi cho giao thông và giao lưu kinh tế – văn hóa. Diện tích tự nhiên toàn huyện là 775,22 km², chiếm 6,96% diện tích toàn tỉnh, đứng thứ 5 trong số các huyện rộng nhất Thanh Hóa.
Theo sắp xếp hành chính đầu thế kỷ XXI, huyện hiện có 8 đơn vị hành chính cấp xã, gồm: Văn Nho, Thiết Ống, Bá Thước, Cổ Lũng, Pù Luông, Điền Lư, Điền Quang và Quý Lương.
2. Lịch sử hình thành và biến đổi hành chính
Vùng đất Bá Thước có lịch sử lâu đời. Thời Lý – Trần thuộc huyện Lỗi Giang; thời Lê sơ thuộc huyện Cẩm Thủy, phủ Thiệu Thiên. Sang thời Nguyễn, vùng này vẫn thuộc huyện Cẩm Thủy, phủ Quảng Hóa.
Đến thời Thành Thái (1902–1905), bốn tổng Cổ Lũng, Thiết Ống, Sa Lung và Điền Lư lần lượt được cắt nhập vào các châu Quan Hóa và Lang Chánh. Năm Khải Định thứ 10 (1925), triều đình thành lập châu Tân Hóa trên cơ sở 4 tổng này, gồm 30 xã, 221 bản.
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, chính quyền cách mạng đổi tên châu Tân Hóa thành châu Bá Thước (11/1945), vinh danh thủ lĩnh người Thái – Cầm Bá Thước, lãnh tụ phong trào Cần Vương ở Thanh Hóa. Năm 1946, đơn vị hành chính này chính thức mang tên huyện Bá Thước.
3. Điều kiện tự nhiên
Bá Thước nằm trong khu vực đồi núi phức tạp, đặc trưng bởi địa hình núi thấp, đồi cao, khe suối dày đặc. Sông Mã chảy từ tây sang đông, chia huyện thành hai vùng:
• Phía bắc sông Mã: địa hình chủ yếu là núi đá vôi, trùng điệp theo hướng tây bắc – đông nam, tiêu biểu là dãy Pù Luông với đỉnh Pha Phứng cao 1.598 m. Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông nằm tại đây, nổi tiếng với hệ sinh thái đa dạng và cảnh quan hấp dẫn.
• Phía nam sông Mã: địa hình đồi thấp, xen các thung lũng rộng, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, nổi bật là vùng Pù Đền, gắn với nhiều huyền thoại văn hóa Mường.
Khí hậu mang tính nhiệt đới gió mùa núi cao, phân hóa theo độ cao. Vùng Son – Bá – Mười (Lũng Cao) có độ cao trên 1.000 m, khí hậu mát mẻ quanh năm, được ví như “Đà Lạt xứ Thanh”.
Tài nguyên thiên nhiên phong phú: rừng nguyên sinh, thảm thực vật quý, động vật hoang dã, hệ thống hang động karst, suối và thác nước (thác Hiêu, thác Muốn) giàu tiềm năng du lịch.
4. Dân cư và xã hội
Bá Thước là địa bàn cư trú của ba dân tộc chính: Thái, Mường, Kinh. Trong đó Thái và Mường là cư dân bản địa lâu đời, chiếm tỷ lệ lớn. Người Kinh chủ yếu di cư từ vùng đồng bằng lên từ thập niên 1960 theo các chính sách khai hoang, kinh tế mới.
Các cộng đồng Thái, Mường hình thành bản – mường theo lãnh thổ cư trú, do các dòng họ lớn như họ Hà, Trương, Phạm (người Mường) và các thổ ty, tạo (người Thái) cai quản theo luật tục kết hợp bộ máy hành chính truyền thống.
5. Lịch sử – khảo cổ
Vùng đất Bá Thước có dấu tích cư trú sớm của người tiền sử. Nhiều di chỉ khảo cổ học đã được phát hiện: mái đá Điều, hang Ma Xá, hang Lặn, hang Chuông… Di chỉ mái đá Điều được xếp hạng di tích quốc gia, minh chứng cho bước chuyển tiếp từ văn hóa Sơn Vi sang Hòa Bình.
Thời Đông Sơn, nơi đây phát hiện nhiều trống đồng, rìu đồng, giáo đồng, thạp đồng, tiêu biểu là trống đồng làng Cốc (xã Thiết Ống).
Trong khởi nghĩa Lam Sơn (thế kỷ XV), nhân dân Bá Thước có nhiều đóng góp về hậu cần và chiến đấu. Thời Cần Vương, đây là căn cứ chống Pháp quan trọng với lãnh tụ Hà Văn Mao (tổng Điền Lư) và Hà Văn Nho (tổng Thiết Ống). Đầu thế kỷ XX, Cầm Bá Thước cũng dựng căn cứ kháng Pháp tại vùng này.
6. Văn hóa
Bá Thước là cái nôi văn hóa của cả người Thái và người Mường, được gọi là vùng “Mường Trong” của xứ Thanh.
• Người Mường: lưu giữ sử thi Mo Mường, đặc biệt là Đẻ đất đẻ nước; nhiều dân ca, hát rang, hát xường, tục lệ yên nhà, lễ cầu vía, lễ hội Mường Khô.
• Người Thái: nổi bật với truyện thơ Khăm Panh, các điệu khặp, lễ hội Căm Mương, tục vía lúa, vía nước; trang phục thổ cẩm và kho tàng ca dao, tục ngữ phong phú.
Sự giao thoa văn hóa giữa hai dân tộc Thái – Mường đã tạo nên sắc thái đặc biệt: lối canh tác ruộng bậc thang, ẩm thực lam – đồ, tín ngưỡng thờ mó nước, thờ vía lúa.
7. Kinh tế
Nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp (trồng lúa nước, ngô, sắn, chăn nuôi trâu bò), khai thác lâm sản và tiểu thủ công. Những năm gần đây, du lịch sinh thái phát triển mạnh, nổi bật là Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông với các điểm du lịch cộng đồng ở Bản Đôn, Bản Hiêu, Son – Bá – Mười.
8. Nhân vật lịch sử tiêu biểu
• Hà Văn Mao: lãnh tụ Cần Vương, Tán lý quân vụ miền núi Thanh Hóa.
• Hà Văn Nho: thủ lĩnh khởi nghĩa chống Pháp, hy sinh anh dũng.
• Hà Nhân Chính, Hà Thọ Lộc: danh tướng thời Lê Trung hưng.
• Hà Công Thái: Quận công, Khâm sai lãnh đạo thượng đạo Thanh Hóa thời Nguyễn.#
• Các anh hùng LLVT nhân dân: Hà Văn Kẹp, Bùi Xuân Chúc, Lương Văn Xuân.
• Bá Thước có 34 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.
9. Hiện trạng và định hướng phát triển
Ngày nay, Bá Thước được định vị là huyện miền núi trọng điểm về bảo tồn thiên nhiên, phát triển du lịch cộng đồng, giữ gìn bản sắc văn hóa Thái – Mường. Với Pù Luông là “thương hiệu” quốc gia và quốc tế, Bá Thước đang từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông – lâm nghiệp sang dịch vụ – du lịch bền vững.

HUYỆN BÁ THƯỚC


Bài viết của Ngo Hoai Chung

NƠI ĐẺ ĐẤT ĐẺ NƯỚC

Bỏ sau lưng Hà thành

Ta trốn về  Bá  Thước

Rừng xanh níu bước chân

Reo trắng đầu thác nước

Sóng lúa xanh bậc thang

Buồm bay hay mây trắng?

Dưới thung bóng ai đi

Lấp lóa như đốm nắng…

(Trích bài thơ: Về thăm Bá Thước)

     Tháng 8/2022, tôi có chuyến đi cùng bạn bè từ Hà Nội về lại Bá Thước. Trước cảnh vật tinh khôi và thanh bình của núi rừng nơi đây, tôi đã viết bài thơ mở đầu bằng mấy câu trên. Và, lúc ấy cũng không nghĩ lại có lúc viết về vùng đất Bá Thước như hôm nay. Âu cũng là cái duyên với Bá Thước mà những năm còn ở tỉnh tôi đã "khiếp đảm” về lòng mến khách “bằng rượu” ở huyện này.

        Bá Thước là huyện miền núi, nằm giữa vùng núi cao và núi thấp của Thanh Hóa. Mặc dù là vùng đất có lịch sử lâu đời, nhưng Bá Thước lại là đơn vị hành chính cấp huyện khá trẻ. So với các huyện láng giềng, Bá Thước là huyện sinh sau đẻ muộn. Năm Khải Định thứ 10 (1925) châu Tân Hóa được thành lập trên cơ sở cắt 4 tổng Cổ Lũng, Thiết Ống, Sa Lung và Điền Lư của hai châu Lang Chánh và Quan Hóa. Sau cách mạng tháng Tám 1945, châu Tân Hóa được đổi tên là huyện Bá Thước. Định danh tên Bá Thước là cách chính thể mới vinh danh thủ lĩnh người Thái nổi tiếng của núi rừng xứ Thanh trong phong trào Cần Vương chống Pháp ở Thanh Hóa - danh nhân Cầm Bá Thước.

     Theo “Đồng Khánh dư địa chí” và “Đại Nam nhất thống chí”, vùng đất Bá Thước đầu thời Nguyễn thuộc huyện Cẩm Thủy, phủ Quảng Hóa. Huyện Cẩm Thủy có 9 tổng, 79 xã, thôn, trong đó có 4 tổng Điền Lư có 7 xã, Sa Lung có 5 xã, Cổ Lũng có 9 xã, Thiết Ống có 6 xã. 4 tổng này chính là phần đất của huyện Bá Thước sau này. 

   Theo “Địa Chí Thanh Hóa” tập I, Địa lý và Lịch sử: “Xa xưa, nơi đây là vùng rừng núi đại ngàn, chỉ có đồng bào dân tộc Mường sinh sống: Mường Ống, Mường Ai được coi là Mướng gốc. Thời Lý trở về trước là phần đất nằm trong huyện Đô Lung rồi Vô Biên (thuộc Hán); Cát Lung (thuộc Tề). Thời Trần, Hồ Là phần đất thuộc huyện Lỗi Giang. Thời thuộc Minh là phần đất thuộc huyện Lạc Thủy. Thời Lê Nguyễn, là phần đất thuộc huyện Cẩm Thủy (Lê Sơ có lúc đổi là huyện Ba Long, lại đổi là Đa Cẩm; Lê Quang Thuận mới đổi là Cẩm Thủy) thuộc phủ Thiệu Thiên. Đến Thành Thái cắt 4 tổng: Cổ Lũng, Thiết Ống, Sa Lung, Điền Lư thuộc huyện Cẩm Thủy để ghép vào châu Lang Chánh và châu Quan Hóa”.* 

    Như vậy, sách Địa chí Thanh Hóa chỉ nêu ngắn gọn thời Thành Thái cắt 4 tổng ghép vào châu Lang Chánh và châu Quan hóa, không nói năm nào và tổng nào về Quan Hóa, tổng nào về Lang Chánh. 

     Sách “Đất nước Việt Nam qua các đời” của tác giả Đào Duy Anh cho biết: “Năm Thành Thái thứ 14 (1902) trích tổng Cổ Lũng lệ vào châu Quan Hóa,  tổng Thiết Ống lệ vào châu Lang Chánh, năm thứ 17 trích hai tổng Sa Lung và Điền Lư lệ vào châu Quan Hóa”.** 

   Như trên đã nêu, đến năm Khải Định thứ 10 (1925) nhà Nguyễn lại cắt 4 tổng trên của hai châu Quan Hóa và Lang Chánh để thành lập ra châu mới là Tân Hóa. Châu Tân Hóa có 4 tổng, 30 xã, 221 chòm bản. 

    Đến năm 1943 lại tách châu Tân Hóa làm hai, tổng Điền Lư và Sa Lung nhập vào huyện Cẩm Thủy, Cố Lũng và Thiết Ống nhập vào châu Quan Hóa. Mặc dù các tổng thuộc hành chính châu huyện như vậy nhưng cơ bản quản lý, điều hành ở vùng đất này vẫn do các tổ ty, lang, đạo cai quản. Các thổ ty, thổ mục người Thái; lang, tạo (đạo) người Mường cai quản các mường vừa theo luật tục vừa là các chức dịch của bộ máy chính quyền, theo chế độ cha truyền con nối. Các dòng họ lớn cai quản các mường ở đây là họ Hà, họ Trương, họ Phạm. 

    Bá Thước là quê hương của ba dân tộc Thái, Mường Kinh cùng chung sống, trong đó người Thái và người Mường là hai dân tộc lâu đời và chiếm số lượng đông nhất. Người Kinh từ vùng xuôi nhập cư lên Bá Thước chủ yếu từ những năm thực hiện chính sách khai hoang, phát triển kinh tế miền núi đầu những năm 1960. 

     Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, với việc thành lập Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,  tháng 11/1945 Ủy ban Cách mạng lâm thời tỉnh Thanh Hóa đã quyết định đổi tên châu Tân Hóa thành châu Bá Thước. Địa danh Bá Thước xuất hiện từ đây với vị trí là đơn vị hành chính cấp huyện. Tháng 4 năm 1946 châu Bá Thước được đổi thành huyện Bá Thước với 7 xã: Quốc Thành, Ban Công, Long Vân, Hồ Điền, Quý Lương, Thiết Ống và Văn Nho. 

          Huyện Bá Thước nằm ở phía bắc của Thanh Hóa, theo đường chim bay cách trung tâm tỉnh lỵ hơn 80km. Phía bắc giáp các huyện Mai Châu, Tân Lạc và Lạc Sơn của tỉnh Hòa Bình, ba phía còn lại giáp các huyện của tỉnh Thanh Hóa. Bá Thước có 2 đường quốc lộ 15A và 217 chạy qua, lại có dòng sông Mã vắt ngang huyện nên thuận tiện trong giao thông, giao lưu với các vùng miền khác trong tỉnh, trong nước và nước bạn Lào. Với diện tích 775,22km2, chiếm 6,96% diện tích của tỉnh, Bá Thước đứng thứ 5 trong các huyện rộng nhất của tỉnh. 

     Theo các nhà chuyên môn về tài nguyên môi trường, Bá Thước có địa hình đồi núi chia cắt rất phức tạp, với đặc điểm chung là núi thấp, đồi cao, độ dốc lớn, khe suối nhiều, hang động lắm. Sông Mã chảy xuyên qua huyện Bá Thước, chia đôi huyện thành hai phần bắc và nam sông. Các dãy núi ở Bá Thước đều nghiêng, dốc và chạy theo hướng tây bắc -  đông nam. 

     Phía bắc sông Mã là dãy núi đá vôi liền mạch và núi đất đồ sộ chạy từ Phong Thổ, Lai Châu kéo về Bá Thước rồi trùng điệp dọc theo ranh giới Thanh Hóa với  Hòa Bình, Ninh Bình và kết thúc ở Nga Sơn. Nơi đây đã phát hiện ra nhiều hang động như: hang Chà Vài, Mái đá Điều, Hang Lặn. Ngọn núi cao nhất ở dãy Pù Luông là đỉnh Pha Phứng cao 1.598m.  Dãy núi Pù Luông lớn nhất vùng tây bắc Thanh Hóa, nơi có khu du lịch nổi tiếng Pù Luông (nghĩa là núi lớn) nằm ở khu vực này. Dân gian ở đây có câu: “Pù Mới bằng cái muông (giỏ đựng cá)/ Pù Luông bằng con bò/ Pha Dua bằng cái sọt” để so sánh mức độ lớn nhỏ giữa các ngọn núi.

      Phía nam sông Mã là các dãy núi đồi thấp, sườn thoải, có các thung lũng khá rộng và bằng phẳng bao quanh. Nơi đây là dãy núi Pù Đền, nơi có đồi Lai Li Lai Láng, vùng đất huyền thoại, nơi in đậm dấu ấn lịch sử văn hóa đặc sắc, có “cây Chu Đá, lá Chu Đồng, bông thau quả thiếc” trong bộ Mo Mường, sử thi “Đẻ đất đẻ nước” nổi tiếng. 

     Trong sinh cảnh núi đồi của Bá Thước, khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông là nơi có hệ động thực vật phong phú và đa dạng, có giá trị cao về bảo tồn cũng như về khoa học, du lịch và kinh tế. Vùng Son – Bá – Mười tại Lũng Cao nằm trong vùng lõi của khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, ở độ cao 1180, có khí hậu mát mẻ được coi là Đà Lạt của xứ Thanh. 

     Trong hệ thống sông suối hồ ở Bá Thước, sông Mã là con sông lớn nhất, hầu hết khe suối của huyện đều đổ về sông Mã. Các sông suối Bá Thước đều ngắn, dốc, nước chảy xiết, lắm ghềnh thác. Đó là suối Kế, suối Cha, suối Nga, suối La, suối Khô, suối Nủa…Trong hệ thống suối và thác nước Bá Thước, không thể không kể đến thác Hiêu, thác Muốn là những thác có giá trị về cảnh quan và du lịch sinh thái trải nghiệm khám phá. 

      Bá Thước là vùng đất đã có nhiều phát hiện lớn với hàng loạt  các di tích khảo cổ  học, một minh chứng cho người tiền sử cư trú rất sớm ở đây. Điều kiện tự nhiên thuận lợi, khí hậu mưa nhiều, cây cối xanh tươi, hệ thống núi đá vôi với nhiều hang động, sông Mã chảy qua cùng với hệ thống sông  suối lớn nhỏ đã tạo cho Bá Thước môi trường thuận lợi để người nguyên thủy chọn làm nơi cư trú. Đó là các di chỉ hang làng Tráng xã Lâm Xa, các di chỉ Mái đá Nước, hang Ma Xá, hang Anh Rồ, hang Chuông, Mái đá Điều thuộc xã Hạ Trung, hang Cuôn xã Tân Lập, hang Điền Hạ 1,2,3 ở xã Điền Hạ, hang Dơi xã Ban Công…Trong các di chỉ trên, di chỉ Mái đá Điều được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia. Đây là di tích cung cấp những thông tin về bước chuyển tiếp từ hậu kỳ đá cũ sang sơ kỳ đá mới, một bước chuyển quan trọng từ Văn hóa Sơn Vi lên Văn hóa Hòa Bình.

   Trong thời kỳ nhà nước Văn Lang, trên đất Bá Thước đã phát hiện nhiều di vật thuộc văn hóa Đông Sơn như rìu lưỡi xéo, thạp đồng, giáo đồng và trống đồng làng Cốc ở xã Thiết Ống. 

   Trong cuộc kháng chiến 10 năm chống giặc Minh của Lê Lợi, Bá Thước là vùng đất gần với Lam Sơn và Chí Linh,  cái nôi và địa bàn chiến lược cuộc khởi nghĩa, nên nhân dân Bá Thước có nhiều đóng góp quan trọng. Các địa danh vùng đất Lỗi Giang xưa (sông Mã), Bá Thước nay gắn liền với cuộc khởi nghĩa vẫn còn được truyền tụng trong dân gian như Chiềng Lẫm, Pù Tên, đền thờ Đon Ban, các trận đánh ác liệt tại Chiềng Lẫm, Bồ Mộng, Bồ Thị Lang, Điền Lư, đèo Ống. 

   Trong phong trào Cần Vương chống Pháp, Bá Thước là một trong những địa phương hưởng ứng chiếu Cần Vương và hình thành căn cứ chống Pháp sớm nhất của Thanh Hóa. Tiêu biểu cho những người con Bá Thước chống Pháp là Hà Văn Mao, người mường Khô, tổng Điền Lư. Bài vè “Nghe tiếng Cai Mao” ca ngợi Hà Văn Mao lưu truyền đến ngày nay cho ta biết về uy tín của ông và quy mô cuộc kháng chiến: 

    "Trông ra dãy phố hai hàng

   Đồn đây có tiếng một chàng Cai Mao

   Người này thật đấng anh hào

   Quân dư năm vạn, người cao bằng vời

   Bình yên thì cũng xuống chơi

   Đến ngày loạn lạc trấn nơi cửa rừng…

   Nghe tiếng tù trưởng cai Mao

   Mặc áo xống vào, vác súng lên vai

   Không súng thì tuốt dao mài

   Hay vác gậy dài, cầm nỏ, cầm gươm”

     Từ căn cứ Điền Lư, Hà Văn Mao đã tấn công quân Pháp tại đồn Bái Thượng (Thọ Xuân), La Hán, làng Si… “Người mường Khoòng đánh ra/ Người Ca Da đánh xuống/ Người mường Khô lên La Hán đánh đồn/ Mường Ai lập lũy hào luôn”. Trước uy tín của Hà Văn Mao và thế mạnh của nghĩa quân, Tôn Thất Thuyết thừa ủy nhiệm của vua Hàm Nghi đã trao chức vụ Tán lý quân vụ cho Hà Văn Mao để ông lãnh đạo phong trào chống Pháp ở miền núi Thanh Hóa. Hà Văn Mao không chỉ mở rộng địa bàn hoạt động ở miền núi mà còn xây dựng căn cứ Mã Cao (Yên Định), phối hợp với nghĩa quân Cầm Bá Thước ở miền tây Thanh Hóa, tràn xuống đồng bằng phối hợp với Tống Duy Tân khi nghĩa quân Ba Đình thất thủ lui về Mã Cao. Năm 1887, với khí tiết kiên trung lẫm liệt, khi bị bao vây để không rơi vào tay giặc Pháp Hà Văn Mao đã tự sát. Cùng với Hà Văn Mao, thủ lĩnh Hà Văn Nho người tổng Thiết Ống cùng với Tống Duy Tân tiếp tục kháng chiến chống Pháp tại châu Quan Hóa, đến năm 1892 khi Tống Duy Tân và Hà Văn Nho bị bắt, phong trào mới chấm dứt.

      Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, với vị trí giáp tỉnh Hòa Bình, là cửa ngõ vùng tự do Thanh- Nghệ -Tĩnh, Bá Thước là hành lang quan trọng để chi viện từ vùng tự do cho chiến khu Việt Bắc và nước bạn Lào. Để khống chế miền tây Thanh Hóa  và chốt chặn hành lang liên lạc tiếp tế, Pháp đã đánh vào Bá Thước, thiết lập đồn Cổ Lũng và La Hán tại đây. Tháng 5/1947, dân và quân Bá Thước đã phối hợp với bộ đội địa phương bao vây, tấn công và thu hồi đồn Cổ Lũng và La Hán từ tay Pháp. Về sau Pháp quay lại tái chiếm xây dựng đồn Cổ Lũng và sân bay Cổ Lũng  thành căn cứ kiên cố. Tháng 12 năm 1949, bằng bao vây và binh vận ta đã bức đồn Cổ Lũng phải đầu hàng. Từ năm 1950 đến chiến thắng Điện Biên Phủ, quân dân Bá Thước đã cùng với nhân dân Thanh Hóa làm tốt vai trò hậu cứ, xây dựng hành lang tiếp tế, tham gia dân công tiếp vận, góp phần quan trọng vào chiến dịch Quang Trung, chiến dịch Hòa Bình, chiến dịch Thượng Lào và đặc biệt góp phần quan trọng chi viện cho chiến dịch Điện Biên Phủ.

       Trong lĩnh vực văn hóa xã hội, diện mạo văn hóa của Bá Thước đậm đặc dấu ấn của hai dân tộc, chủ nhân của vùng đất này là người Thái và người Mường. Tập tính tộc người, thói quen canh tác và tập quán lâu đời của dân tộc Thái và Mường được thể hiện trước hết ở địa bàn cư trú, hình thành bản làng. Người Thái cư trú tập trung ở các thung lũng núi vùng cao của Bá Thước. Người Mường cư trú ở các thung lũng rộng, ven chân đồi thoải của vùng thấp trong huyện. Một trong những nét đặc sắc của không gian cư trú của người Thái - Mường là hình thành các lãnh thổ, cộng đồng tự quản do các lang, đạo đứng đầu gọi là các MƯỜNG. Mỗi “mường” gồm nhiều bản làng đứng chân trên không gian cư trú truyền thống, có luật tục, lễ hội riêng. Bá Thước được coi là thủ phủ của xứ Mường Trong, Thanh Hóa. Nếu xứ Mường Ngoài (Hòa Bình) tự hào với các mường gốc như “Nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động” thì Mường Trong (Thanh Hóa) có Mường Ống, Mường Ai, mường Khô, mường Tiền, mường Đèn của dân tộc Mường. Bộ sử thi đồ sộ “Đẻ đất đẻ nước” đã lý giải việc “đẻ mường” qua hình ảnh cây si thần buông cành, đổ xuống đất tạo nên các mường được phát tích tại mường Ống, mường Ai. Ở Bá Thước, người Thái có 3 mường lớn là mường Ký, mường Lau và mường Khoòng. Mường Khoòng là nơi ra đời truyện thơ Khăm Panh nổi tiếng của dân tộc Thái. Mặc dù nguồn gốc các dân tộc Thái, Mường sống ở các  mường khác nhau nhưng trong quá trình sinh sống và làm ăn, các dân tộc sống xen cư và hòa huyết, tạo nên mối quan hệ gắn bó khăng khít giữa các tộc người Bá Thước. Chính vì thế, giữa người Thái và người Mường quá trình giao thoa, tiếp nhận văn hóa là một tất yếu tự nhiên trong lịch sử. Quá trình xen cư, cộng canh, đói no cùng chia sẻ, hoạn nạn cùng gánh vác giữa các tộc người Thái - Mường đã diễn ra quá trình “Mường hóa”, “Thái hóa” lẫn nhau. Quá trình đó diễn ra lâu dài, qua nhiều thế hệ nên sự giao thoa, hòa nhập văn hóa, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, trở thành điểm tương đồng về văn hóa là không tránh khỏi. Điều này thể hiện trong kho tàng văn hóa phi vật thể rất phong phú của hai dân tộc nơi đây qua kiến trúc, ca dao, dân ca, trang phục, văn hóa ẩm thực, tập quán, lễ tục, lễ hội, tín ngưỡng, phương ngôn, tục ngữ, truyện thơ, trò chơi.. 

    Người Mường có câu: “Nơi thấp làm ruộng, nơi bằng làm bãi, nơi dốc dốc làm nhà ở”, thì người Thái có câu: “Cơm dưới chân bản dẻo hơn, nương sau lưng bản đẹp hơn”. Người Mường nói: “Mường Ống nhiều trâu, mường Ai nhiều sanh, nhiều niếng”, “Làm cơm, cơm có, làm lọ, lọ nên”, “Con gái thạo chỉ, thạo nương/ Trên nhà lọ (lúa) đầy đụn/ Dưới sàn lắm trâu, nhiều bò”, thì người Thái nói: “Nuôi bò cho đầy bờ phai/ Nuôi trâu cho đầy khúc  suối”. Kho tàng ca dao, tục ngữ, phương ngôn của hai dân tộc là rất phong phú, có thể điểm qua: “Người Thái dạy con không dùng roi/ Người Mường dạy con không dùng đòn”, “Con trai thổi khèn ban ngày là con trai nhác/ Con gái chơi đêm trong bản là con gái hư”, “Mười bản không bằng bản treo cau/ Sáu mường không bằng mường cắt rốn/ Nơi còn nhỏ bố mẹ bế bồng”, “Mẹ vợ mắng con rể thì gở/ Bố chồng chửi con dâu thì kiêng”, “Việc vừa sức không nhờ đừng làm/ Mở rượu cần, không mời đừng đến”, “Muốn ăn chim phải vót tên ná/ Muốn ăn cá phải sắm chài”, “Mương mường Ai/ Phai mường Khoòng”, “ Rẫy đầy đồng cỏ tranh không bằng một khoanh ruộng mạ”, “Ruộng nương bao la không bằng ruộng nhà một thửa”, “Muốn ăn cơm vào Mô, Má/ Muốn ăn cá ra bến Khô, Ai/ Muốn ăn thịt hoẵng, thịt nai lên mường Ký, Ống”, “Mường Ai họ Trương/ Mường Khô họ Hà/ Mường Khà họ Phạm”, “Bao giờ sấm dậy Mã Đà/ Sông Mã hết nước, họ Hà hết quan”, “Cá làng Song/ Mong đồi Muốn”, “Mưa núi Mốc thì trông/ Mưa núi Ông chớ mừng”, “Hay làm sang: lũng Xuội/ Hay cấy về cuối: làng Dồn/ lắm khoai môn: làng Chiết”, “To bụng làng Xay/ Hay ngủ ngày làng Mén”, “Lắm trái dẻ: núi Đòn/ Lắm chó con: làng Ráy”, “Nghênh ngang như lang đạo Măng Mòn”, “Thứ nhất đồng Ký, thứ nhì đồng Phấm, đồng Danh”, “Rượu trong thì ngọt/ Rượu bọt thì chua”…

    Trong tập quán ăn uống, người Mường thường dùng các món cơm đồ, cơm lam, canh đắng, canh loóng, rượu nếp cẩm, chè củ mài mật ong, cá nướng, ăn gỏi, măng mu… Đối với  người Thái,  cách chế biến thức ăn là nấu, nướng, đồ, lam từ các sản vật của núi rừng, nương rẫy bản mường. 

      Các lễ tục trong năm của người Mường, người Thái ở Bá Thước  rất phong phú, sắc thái văn hóa rất độc đáo. Người Mường có lễ yên nhà, tết cơm mới, lễ hạ điền, lễ thượng điền, lễ cầu vía lúa, thờ mó nước, lễ rửa lá lúa, lễ cầu yên... Lễ tục theo vòng đời có lễ Nạ Mụ, lễ cầu vía, lễ tục trong hôn nhân, làm vía số tuổi già, lễ kéo si, tang lễ, lễ Pôồn Pôông. Lễ tục của người Thái có lễ cầu mưa, lễ mừng lúa mới, lễ vía lúa, lễ cúng thần đất… Đặc biệt, tại vùng đất  này, lễ hội Mường Khô của người Mường, lễ hội Căm Mương của người Thái là những lễ hội lớn, có ảnh hưởng rộng rãi, thu hút người dân từ các mường tham dự.

      Trong kho tàng của người Mường Bá Thước, mo Mường có vị trí đặc biệt, trong đó mo “Đẻ đất đẻ nước” là bộ mo sử thi thần thoại đồ sộ, có giá trị lớn và thể hiện sức sáng tạo hết sức phong phú của văn hóa Mường. Truyện thơ nàng Ờm – chàng Bông Hương với mối tình đã được nhân hóa thành “cây bùa yêu” nơi đây. Người Mường còn có các loại hình dân ca có giá trị đặc sắc như rang, xường, bộ mẹng, hát ru, hát Séc bùa..

     Đối với người Thái, truyện thơ Khăm Panh là tài sản vô giá và niềm tự hào vốn cổ của dân tộc mình. Truyện thơ Khăm Panh xuất hiện ở vùng mường Khoòng, được lưu giữ bằng truyền miệng và chữ Thái, vốn được coi là truyện thơ Thái hay nhất Việt Nam. Cùng với truyện thơ, loại hình Khặp của người Thái là di sản văn hóa phi vật thể hết sức đặc sắc. Trong truyện thơ Khăm Panh, nàng Mứn với vẻ đẹp “Tóc nàng buông lượn sóng trên lưng/ Chân nàng bước như trống chim công nhảy múa/ Tiếng nàng nói như nước đùa dưới suối/ Gương mặt nàng tươi như lá trầu không”. Và khi nàng cất lời khặp thì “Nàng khặp bên suối, nước suối quên chảy, nàng khặp bên lửa, lửa đống to quên cháy, khặp trong rừng cây, hoẵng nai quên gặm cỏ”. 

      Bá Thước cũng là mảnh đất xuất hiện nhiều nhân vật xuất sắc, có công lao trong xây dựng và bảo vệ quê hương, bản làng. Thời phong kiến có những nhân vật như Hà Nhân Chính quê mường Khoòng, tổng Cổ Lũng, người có công giúp nhà Lê Trung hưng nên được phong chức Tư đồ, tước Thụy Quận công. Hà Thọ Lộc là con trai Hà Nhân Chính giúp vua Lê đánh thắng nhà Mạc, khôi phục nhà Lê, được giao làm Trấn thủ Thannh Hoa, phong chức Thiếu úy tước Lân Quận công. Trương Công Hãn người Ái Thượng, có công với nhà Nguyễn được phong tước 3 lần và cấp sắc phong thần. Phạm Công Chính được giao chức Tướng quân trấn ải sơn phòng Thung Chấn thời Lê Trung hưng. Hà Công Thái được vua Gia Long phong Quận công, khâm sai chánh thống lãnh thượng đạo trấn Thanh Hoa, khi mất được thờ tại chùa Mèo ở mường Khô (Điền Trung). Hà Văn Mao là cháu Hà Công Thái lãnh tụ phong trào Cần Vương ở miền núi Thanh Hóa trong chống Pháp. Hà Văn Nho người mường Ký (Văn Nho) hưởng ứng phong trào Cần Vương chống Pháp, bị địch bắt, tra tấn dã man nhưng không mua chuộc được ông nên bị chúng hành quyết. Về sau tên ông được lấy để đặt tên cho xã quê hương ông, xã Văn Nho.

     Thời kỳ hiện đại, Bá Thước tự hào có các anh hùng LLVT Hà Văn Kẹp người Kỳ Tân, anh hùng Bùi Xuân Chúc người Điền Quang, anh hùng Lương Văn Xuân người Lũng Cao. Bá Thước có 34 Bà Mẹ Việt Nam anh hùng. 

     Là địa bàn quan trọng về chính trị, văn hóa và an ninh quốc phòng, đến những năm đầu thế kỷ 21 Bá Thước có 21 xã thị trấn. Là vùng đất huyền thoại “Đẻ đất đẻ nước”, Bá Thước mang trong mình nguồn tài nguyên văn hóa rất phong phú và đặc sắc. Thực hiện cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy và chính quyền địa phương hai cấp, Bá Thước sắp xếp còn 8 xã, đó là: Văn Nho, Thiết Ống, Bá Thước, Cổ Lũng, Pù Luông, Điền Lư, Điền Quang, Quý Lương. Điều đáng mừng là cùng với các xã có tên từ lâu đời và tên Bá Thước vẫn được chọn để định danh cho xã, một số xã có tên mới cũng rất hay, góp phần định vị giá trị thương hiệu cho vùng đất này như xã Pù Luông, xã Quý Lương. Tôi xin được mượn mấy câu thơ của bài thơ đã mở đầu của bài viết để kết lại bài viết về vùng đất Bá Thước huyền thoại và tươi đẹp. 

Chén rượu mãi cầm tay

Điệu Khặp sao tình tứ

Rừng lặng lẽ trong đêm

Như say lời sơn nữ

Trở về thăm Bá Thước

Như gặp lại cố nhân

Dấu chân nào ngày trước

Đang đợi ta tần ngần!

Ghi chú:

*Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Thanh Hóa, Địa chí Thanh Hóa, Tập I, NXB VHTT, 2000, tr294.

* Đào Duy Anh, Đất nước Việt nam qua các đời, NXB Văn hóa, Hà Nội, 1964, tr 157 & 170.

Ảnh: sông Mã chảy qua Bá Thước

          Pù Luông (ảnh Hà Thu)

Thứ Sáu, 12 tháng 9, 2025

NGHÈO ĐÓI - BIẾNG LƯỜI - XẤU XÍ

Vương Trí Nhàn

Nhiều nhà nghiên cứu nghệ thuật thích viết rằng những người làm tranh Đông Hồ chỉ là những người nông dân lúc rỗi rãi thì vẽ thêm tranh. Trong thực tế thì không hẳn vậy. Nghề làm ruộng ở Đông Hồ đã mất từ lâu, làng có ruộng nhưng toàn nhờ người các làng khác cấy gặt .
Thế tại sao giới nghiên cứu nghệ thuật cứ viết khơi khơi như vậy? Mục đích của họ cốt cho người ta thấy nghệ thuật ở VN “gắn liền với đời sống“.
Có biết đâu làm thế chỉ là một cách tốt nhất để phô ra một sự thật: trong xã hội VN, người ta sống và làm việc thiếu chuyên nghiệp.
Kỹ thuật cổ lỗ. Sự phân công lao động được chăng hay chớ. Tình trạng của nghề làm tranh cũng là tình trạng của nghề dệt, nghề đúc đồng, nghề làm muối, nghề làm đồ gốm, cả nghề làm ruộng…
Chỗ nào người ta cũng thấy sự ngưng trệ. Năng suất thấp. Con người uể oải. Con người nhởn nhơ dông dài ngay trong sự chăm chỉ của mình.
“Cối xay tre, nặng nề quay, từ ngàn đời nay, xay nắm thóc“.
Trong lời thuyết minh viết cho phim Cây tre Việt Nam (1955), Thép Mới từng viết một câu văn xuôi mang đầy chất thơ để hằn sâu vào tâm trí của nhiều thế hệ học sinh tiểu học chúng tôi như vậy.
Vào những năm năm mươi của thế kỷ trước, nó gợi một cảm giác về sự nhẫn nại bất khuất kiên cường.
Nhưng sang đến thế kỷ XXI này, đọc lại, thấy dấu hiệu của một cuộc sống ù lì tăm tối.
ẢO TƯỞNG MỘT ĐẰNG CUỘC SỐNG MỘT NẺO
Không phải dân Việt xưa nay không hiểu đói nghèo dễ dẫn đến hư hỏng. Người ta tự nhủ "Đói cho sạch rách cho thơm".
Ảo tưởng thật. Mà nhắc lại mãi nghe như có lý.
Song khi người ta quá nghèo thì khó lòng giữ được sự tử tế.
Mạnh tử từng nói, có hằng sản mới hằng tâm.
Người châu Âu cũng hiểu thế.
Trong cuốn Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài 1688, (bản của NXB Thế giới, 2006), một nhà thám hiểm người Anh là W.Dampier ghi lại một số nhận xét có liên quan đến các hạng người ở đô thị Việt thế kỷ XVII.
Đây là tầng lớp trên và bộ sậu của họ: “Những kẻ quyền quý thì tỏ ra kiêu căng, hách dịch và tham lam trong khi đám lính tráng thì hỗn xược.”
Đây là những kẻ dưới đáy: “Cư dân lớp dưới lại hay trộm cắp làm cho nhà buôn và những người đến giao dịch ở đây bắt buộc phải canh gác cẩn thận về đêm“.
Theo W. Dampier, sự hư hỏng của con người bắt đầu bằng sự kém cỏi trong điều kiện sống mà người ta không cách gì thay đổi.
Nhà cửa người Việt ngay ở Kẻ Chợ, tức thủ đô, được tác giả mô tả là quá đơn sơ tầm thường. Nhà nhỏ và thấp. Mấy tấm phên che dột nát tạm bợ. Bên trong chia làm nhiều gian, mỗi gian có những cửa sổ để lấy ánh sáng thực chất là những lỗ đục xấu xí.
Theo lái buôn người Anh, nhà cửa như vậy thường làm mồi cho bọn người trộm cắp. Chúng có thể dễ dàng thực hiện mưu đồ đào tường khoét ngách.
SỰ CHĂM CHỈ BẤT ĐẮC DĨ
Trải qua trường kỳ lịch sử sự thấp kém về trình độ sản xuất đã để lại một dấu ấn kỳ lạ trong tính cách người Việt.
Đã xảy ra một tình trạng nước đôi. Người ta vừa yếu đuối vừa cứng cỏi, vừa chăm vừa lười, tốt đấy mà cũng xấu ngay đấy.
Rất phổ biến là cái công thức một chiều: người Việt khá chăm chỉ năng động.
Do có cái nhìn của con người biết rộng ra cả thế giới, Nguyễn Văn Vĩnh tỏ ra tinh nhạy hơn người khi nêu cùng lúc cái tình trạng nước đôi ấy: người Việt vừa cần cù, vừa cho người ta cảm thấy họ coi lao động là bất đắc dĩ, chẳng qua không có cách nào khác nên phải chân lấm tay bùn vậy.
“Nói tổng lại, trong nước Nam ta, cần mẫn nhất chỉ có người làm ruộng, nhưng mà sự cần mẫn ấy, nhà làm ruộng không biết lấy làm vinh hạnh. Tay cầm cây mạ, mà mắt vẫn trong bọn dài lưng tốn vải, lúc nào quăng được cái cày có ích mà cầm lấy cái bút lông thỏ vẽ hươu vẽ vượn tả cảnh trên trờ dưới biển, thì cũng quăng đi ngay.”
Trong mục Xét tật mình, người chủ trì Đông dương tạp chí đã làm cái việc mà sau ông chưa ai dám làm là bóc mẽ cái gọi là tính siêng năng của bộ phận chủ yếu trong cộng đồng như vậy.
DÙ THÓI LƯỜI ĐƯỢC SOI XÉT KỸ LƯỠNG ...
Cái nghèo kéo theo nhiều cái xấu khác.
Nhiều nhân vật trong những truyện cười dân gian là những chàng lười. Ca dao hóm hỉnh dựng lại một chân dung, rất sẵn trong nông thôn thời trung đại:
Con cò đậu cọc cầu ao
Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng
Chú tôi tốt tóc đen răng
Hay ăn làm biếng hay nằm ngủ trưa
Ngày thì ngóng những ngày mưa
Đêm thì ngóng những đêm thừa trống canh.
Xưa các tài liệu tuyên truyền và cả sách giáo khoa trong các nhà trường Hà Nội sau 1954 thường bảo những câu ca dao trên là để nói về bọn người giầu có. Có biết đâu đó cũng là để nói về lớp cùng đinh trong xã hội. "Giàu tham việc thất nghiệp tham ăn."
Mở rộng ra là để nói về người Việt nói chung.
Nhìn vào sách vở, người ta cũng bắt gặp các ý tương tự
Trong cuốn Lịch sử tự nhiên dân sự và chính trị xứ Đàng Ngoài in ở Paris 1778 ( Trích từ Tư liệu văn hiến Thăng Long Hà Nội – Tuyển tập tư liệu phương Tây, NXB Hà Nội 2010, nhà sử học Nguyễn Thừa Hỷ chủ trì) giáo sĩ Jerome Richard cho biết:
“(…) Nghèo khổ quá khiến người ta chỉ nghĩ đến sinh tồn tức là phó mặc mình cho sự biếng nhác bẩm sinh. Bộ máy hành chính sẵn sàng “vét cạn” các mầm mống tài năng. Bộ máy này ngu dốt và kiêu căng, nhưng có quyền lực. Họ đối xử với những người khéo tay hơn họ và giàu hơn như nô lệ."
...SONG SỰ HƯ HỎNG VẪN LÀ HẬU QUẢ TẤT YẾU
Nghèo đói quá lâu, lại do thiếu sự mở đường của trí tuệ, nên nhiều Việt cảm thấy đó là cả một định mệnh.
Thấy của thiên hạ cái gì cũng hơn mình. Bất lực. Cay đắng. Chán chường. Một niềm tự ti nằm rất sâu trong tâm lý, mang lại nhiều biến thái kỳ quặc.
Lo học nhưng chỉ học mót học lỏm.
Sợ người ta coi thường nên phải tìm cách nhấn mạnh cái riêng, và nhắc đi nhắc lại rằng mình chẳng kém gì mọi người.
Sống gồng lên ra vẻ thế nọ thế kia, sẵn sàng giả dối cốt sao khỏi bị mất mặt.
Xã hội thiếu đi sự năng động tìm tòi. Của chìm chủa nổi đầy rẫy chung quanh mà không biết khai thác.
Nhà nho xưa nhiều người kiêm cả thầy lang. Trong một lần so sánh văn hóa Trung quốc và Việt Nam, nhà nghiên cứu Phan Ngọc nhắc lại cái ý mà nhiều thế hệ nho sĩ truyền miệng với nhau. Đó là một nhận xét của người Tầu: người Việt sống trên cả đống nguyên liệu dùng làm cây thuốc nhưng vẫn chết vì thiếu thuốc.
W.Dampier, trong cuốn sách nói trên, còn ghi nhận một điều mà sau này các nhà nghiên cứu văn hóa từ Phan Kế Bính Đào Duy Anh tới Nguyễn Văn Huyên, Lương Đức Thiệp … đều chia sẻ, là thói máu mê cờ bạc quá nặng của người Việt. Khi rỗi rãi người ta lao đầu vào cuộc đỏ đen một phần là vì bế tắc trong cuộc sống.
Toan tính duy nhất ở đây là ngẫu nhiên tìm được một cơ may giữa cảnh đời tuyệt vọng.

Thứ Năm, 11 tháng 9, 2025

HUYỆN LANG CHÁNH



“Vua luồng” xứ Thanh

“Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần
Lúc Khôi huyện quân không một đội”
(Nguyễn Trãi – Đại cáo bình Ngô).
"Nhìn Linh Sơn cao vút nhớ những ngày gian khổ
Vỗ nghiệp vương bền vững, không một ngày xao lãng”
"Nguyễn Trãi – Chí Linh sơn phú).
"Một dải quanh co bao bọc, không thể hình trạng; thật cũng trời dành mà đất giấu, bí hiểm muôn vàn.
…Nghìn trượng đá cao, kể cũng kim thang chốn hiểm; lưng trời vách núi, xem tày bách nhị cửu quan, núi bày ngọn giáo, cây dựng cờ phan.
...Khen quả núi khéo chăm lo chức vụ, sắp cơ ngơi để đón rước xe loan”
"Nguyễn Mộng Tuân – Phú núi Chí Linh).
Khi đọc những vần thơ, phú trên đây hẳn có người sẽ không biết Linh Sơn chính là núi Pù Rinh (còn gọi là núi Chí Linh, Bù Rinh). Theo tiếng Thái, Pù nghĩa là đỉnh núi, Rinh là phiên âm của Linh. Pù Rinh, Bù Rinh, Chí Linh, Linh Sơn là một ngọn núi của huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa.
Theo “Đồng Khánh địa dư chí” thì huyện Lang Chánh lúc bấy giờ là châu Lang Chánh. Sách chép: “Châu Lang Chánh thuộc phủ Thọ Xuân (phủ Thọ Xuân miền núi, không phải Thọ Xuân hiện tại) do phủ kiêm nhiếp. Châu hạt phía đông giáp huyện Thụy Nguyên, phía tây giáp huyện Sầm Da, phía nam giáp châu Thường Xuân, phía bắc giáp huyện Cẩm Thủy. Đông tây cách nhau 141 dặm. Nam bắc cách nhau 62 dặm. Toàn châu có 8 tổng, gồm 43 xã. Tổng Hoài Chính 4 xã, tổng Thuận Chính 4 xã, tổng Quy Chính 6 xã, tổng Tòng Chính 9 xã, tổng Tam Lô 5 xã, tổng An Thọ 5 xã, tổng Nhân Sơn 5 xã, tổng Thiện Thổ 5 xã”.
Về phong tục của Lang Chánh “Đồng Khánh địa dư chí” ghi “cũng giống châu Thường Xuân”. Cụ thể là: “Trong hạt đều là dân Thổ (người Thái). Xưa gọi ái lạo là thổ ty, thổ mục, lang đạo, đời đời được cha truyền con nối làm chức đó. Tiếng Thổ gọi cha là bố, gọi mẹ là mạ, gọi anh là ái, gọi em là nùng, đàn ông là chi, đàn bà là hạo. Con trai là lục chi, con gái là lục hạo. Chữ Thổ viết thằng hàng mà nét ngang, ngoằn ngoèo như sâu bò, chữ nào cũng na ná giống nhau, chỉ thêm một hai nét chấm cho hơi khác để phân biệt. Họ không có sách vở, học được chữ chỉ đủ để đáp ứng công việc mà thôi. Nay nhà Lang đạo cũng mời người Kinh đến dạy cho con em học chữ Hán, còn dân thường thì cấm không cho học. Nhà ở thì năm ba nhà tụ lại với nhau rải rác trong các lũng núi, nhân theo núi bắc giá, chôn cột gác ván ngang làm nhà sàn mà ở, lên xuống thì trèo cầu thang. Bò, dê, lợn, gà thì quây chuồng nuôi dưới sàn. Cơm ăn hàng ngày thì ăn cơm nếp, gạo tẻ rất ít. Nấu cơm thì dùng nồi đồng, nồi đất, cũng có khi dùng ống tre cho gạo và nước vào rồi đem đốt, đốt chín thì bổ ống tre lấy cơm ra ăn. Thức ăn thì có thịt gà rừng, vịt nhà luộc chín chấm muối mà ăn, không biết cách điều hòa nấu nướng. Nhu dụng hàng ngày thì vào rừng săn bắn, xuống suối bắt cá đem về nhà tự nuôi sống mình, không có chợ búa trao đổi. Thuốc chữa bệnh thì truyền bảo cho nhau, lấy lá cây rễ cỏ vài chục thứ tùy theo bệnh mà chữa, thứ thì bôi, thứ thì uống, cũng phần nhiều khỏi bệnh. Làm ruộng thì cuốc núi làm ruộng, lấy dao làm cày, lấy lửa làm bừa (dĩ đao vi canh, dĩ hỏa vi nậu), đào đất trỉa hạt giống chứ không gieo mạ. Chỗ ruộng có nước thì lùa trâu bò vào dẫm đạp cho nát đất rồi gieo thẳng thóc giống xuống ruộng. Gặp năm đói nhà nào cất trữ được thóc gạo, khoai sắn thì các nhà khác cùng ăn chung, đói thì cùng đói, no thì cùng no, dù là nhà lang đạo cũng không dám giữ riêng cho mình. Quần áo đàn ông dùng vải thô màu xanh, đàn bà dùng lụa có vân (tục gọi là phá quất). Nhà lang đạo thỉnh thoảng mới mua được lụa quyến của các nhà buôn người Kinh để mặc. Cưới vợ gả chồng thì ngày ăn hỏi, nhà gái cho năm sáu người cầm roi đứng đợi dưới cầu thang, khi họ hàng nhà trai đến thì những người kia cầm roi quất tới tấp, bên nhà trai phải nhanh chân chạy vọt lên cầu thang thì mới khỏi, nếu chậm chân có khi bị đánh đau. Hai nhà coi đó là cuộc vui cười lớn. Việc tang ma thì đặt quan tài ở góc nhà mời thầy mo đến khấn khứa đọc chú đến 3 tháng, gọi là luyện thần. Quan tài để trong nhà như vậy 3 năm mới đem chôn. Chôn cất xong thì niệm chú nửa ngày để cho thần được yên. Phàm có gia sản gì thì chia một nửa bày ra ngoài mộ, gọi là lễ vật để tặng cho người chết. Thờ cúng thì mọi người trong nhà đều phải gác một cái sàn nhỏ ở góc nhà để thờ, gọi là thờ ma xó. Đồ thờ không có ghế, chiếu, mâm, chén gì cả, chỉ bày rượu và thức ăn ra sàn nhà để cho ma xó hưởng mà thôi. Mỗi năm chỉ ngày mùng một tết Nguyên đán làm lễ một lần rồi thôi, các lễ tiết như giỗ chạp, thanh minh, trung thu, trùng ngũ, trùng cửu … đều không cả. Tế thần bên ngoài thì chỉ làm 2 lễ là lễ thượng điền và lễ thường tân quét đất cúng thổ thần, mà không có đàn miếu như người Kinh. Dân không theo đạo mà cũng không theo Thiên chúa giáo”.
Trong sách “Đại Nam nhất thống chí tỉnh Thanh Hóa, tập thượng” có ghi: “Châu Lang Chánh ở phía tây tỉnh, cách 130 dặm. Phía đông tới châu Ngọc Lặc; phía tây giáp dân Mán huyện Sầm Tớ, thuộc phủ Trấn Man; phía nam tới châu Thường Xuân; phía bắc tiếp huyện Cẩm Thủy phủ Quảng Hóa. Thời cổ là đất của Ai Lao. Triều Trần gọi là Tẩm Mang, cũng gọi là Ái Lèo. Năm Quang Thuận triều Lê mới đặt tên châu, cho thuộc vào phủ Thanh Đô, do viên thổ tù họ Lê rõi đời quản trị. Đời Tây Sơn đổi ra là Lang Chánh. Khoảng đời Gia Long triều Nguyễn vẫn để theo cũ. Năm Minh Mạng thứ 16, đem đất huyện Thọ Xuân cũ gồm nhập cả vào và đặt ra tên châu hiện nay. Năm thứ 18, đổi các động sách ra làm xã thôn, bắt đầu đặt quan cai trị, rồi lại tách đất huyện Thọ Xuân cũ cho thuộc vào châu Thường Xuân. Năm Tự Đức thứ 3, bớt tri châu, cho thuộc vào phủ Thọ Xuân kiêm lý. Nguyên trước lãnh 8 tổng. Năm Thành Thái 12, đổi đặt chức Châu úy, lại tách ra tổng Nhân Sơn cho thuộc về châu Thường Xuân. Hiện nay lãnh 7 tổng, 37 xã thôn”.
Sách “Địa chí Thanh Hóa”, tập I, Địa lý và Lịch sử, trong phần chép về quá trình hình thành và tên gọi huyện Lang Chánh như sau: “Thời thuộc Hán về trước vùng dất Lang Chánh là rừng núi đại ngàn, dân thưa, việc quản lý hành chính chưa vươn tới. Thởi thuộc Hán miền đất này thuộc huyện Đô Lung và huyện Vô Biên. Đến Tề, lại tách Đô Lung ra mà đổi thành Cát Lung. Thời Tam Quốc đến Tùy là phần đất thuộc huyện Di Phong. Thời Đường là phần đất nằm trong huyện Trường Lâm. Thời Đinh, Lê, Lý có lẽ cũng như trên. Thời Trần, Hồ: đời Trần gọi là Mường Một thuộc huyện Nga Lạc trong châu Ái. Thời Lê, huyện Lang Chánh có 13 động là Lô Hạ, An Khương, Lương Sơn, Khương Chính, Thổ Nang, Cự Lạc, Bất Một, An Nhân, Lò Sưởi, Sơn Cao, Giao Lão, Lô Thượng, Thọ Nghĩa và Thốn Luận. Lê Quang Thuận thứ 10 (1469) mới đặt Châu Lang Chính cho lệ vào phủ Thanh Đô, thổ tù họ Lê nối đời quản lãnh. Thời Tây Sơn đổi là Lương Chính. Thời Nguyễn chia thành 4 tổng 8 Mường như sau: Tổng Yên Thọ có Mường Ngày, Mường Đeng, Mường Đôn. Tổng Thiên Thổ có Mường Bồ, Mường Nang, Mường Giao Lão. Tổng Tùy Chính có xã Tam Văn và một phần xã Quang Hiến (ngày nay). Tổng Quy Chánh có Mường Chính, Mường Khạt. Minh Mệnh 16 (1835) ghép huyện Thọ Xuân (cũ, không phải huyện Thọ Xuân ngày nay) với Lang Chánh và lấy tên cũ là Châu Lang Chính. Minh Mệnh 18 (1837) mới động và sách làm xã và thôn, cắt huyện Thọ Xuân (cũ) lệ vào châu Thường Xuân và đặt lưu quan. Năm Tự Đức thứ 3 mới bỏ Tri Châu và cho vào phủ Thanh Đô kiêm lý. Sau Cách mạng tháng Tám 1945 đổi thành huyện Lang Chánh. Năm 1977 ghép 2 huyện Lang Chánh và Ngọc Lặc thành huyện Lương Ngọc. Năm 1982 lại tách ra thành 2 huyện như trước”.
Như vậy, tên Lang Chánh giữa “Đại Nam nhất thống chí” thời Nguyễn và “Địa chí Thanh Hóa” ghi khác nhau. “Đại Nam nhất thống chí” chép “Đời Tây Sơn đổi ra Lang Chánh”, còn “Địa chí Thanh Hóa” ghi “Thời Tây Sơn đổi là Lương Chính” nhưng không ghi rõ tên Lang Chánh đặt vào triều đại nào. Lại chép năm Minh Mệnh 16 (1835) ghép huyện Thọ Xuân với Lang Chánh và lấy tên là châu Lang Chính. Như vậy, tên Lang Chánh được đặt dưới thời Tây Sơn như “Đại Nam nhất thống chí” đã ghi là đáng tin cậy hơn cả.
Lang Chánh là huyện có địa hình đồi núi chia cắt khá phức tạp, đặc điểm lớn nhất là núi thấp, đồi cao. Các dãy núi của Lang Chánh phần lớn chạy theo hướng tây bắc – đông nam, là tiếp nối của các dãy núi chạy từ Lào và huyện Quan Sơn về. Có hai ngọn núi cao được “Đại Nam nhất thống chí” của nhà Nguyễn ghi lại là núi Chí Linh và núi Biều Doanh (Địa chí Thanh Hóa ghi là núi Doanh Biều).
“Núi Chí Linh (Chí Linh Sơn) ở giáp với châu Lương Chính, phía tây nam huyện Thụy Nguyên (Theo Lam Sơn thực lục thì núi này ở về Mường Giao Lão, mà mường Giao Lão hiện nay thuộc về châu Lương Chính. Nghĩa là núi này ngang suốt cả hai châu huyện vậy). Theo sử nhà Lê, trước đây khoảng năm Mậu Tuất (1418), vua Lê Thái Tổ bị quân Minh tập kích, đã cùng các tướng sĩ nấp ở núi này” (Đại Nam nhất thống chí tỉnh Thanh Hóa, tập thượng).
Núi Chí Linh (Pù Rinh) là ngọn núi có độ cao là 1.291m, cao nhất và hiểm yếu nhất của Lang Chánh, trên địa bàn các xã Trí Nang, Giao An, Yên Khương (Lang Chánh) và Xuân Khao, Yên Nhân, Bát Mọt (Thường Xuân). Miền tây Thanh Hóa vẫn lưu truyền câu: “Pù Rinh là con chó, Pù Gió là con mèo, Pù Sèo là con chuột” để so sánh 3 ngọn núi ở đây. Sách “Lam Sơn thực lục” có ghi “Núi Chí Linh ở mường Giao Lão. Đối với nghĩa quân Lam Sơn, núi Chí Linh là căn cứ quan trọng sau đất Lam Sơn. Trong khoảng năm sáu năm đầu của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Bình Định vương rút về căn cứ Linh Sơn 3 lần để củng cố lực lượng, tránh đối đầu với giặc Minh người đông, ngựa khỏe”. Cũng chính tại núi Chí Linh đã xảy ra sự kiện Lê Lai “dịch bào thế quốc” đóng giả Lê Lợi, liều mình cứu Chúa để bảo toàn lực lượng và minh chủ của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.
Núi Biều Doanh (Biều Doanh Sơn) “thuộc về châu Lương Chính. Thế núi trùng điệp cao vót, là một ngọn trấn sơn trong cả một châu. Khi vua Thái Tổ nhà Lê khởi nghĩa, thường đóng quân ở đó, tới nay vẫn còn sót lại một ngôi cổ miếu. Núi này sản quế rất nhiều” (Đại Nam nhất thống chí tỉnh Thanh Hóa, tập thượng).
Do cấu tạo của địa hình nên các con sông trên đất Lang Chánh đều ngắn và dốc. Huyện có 3 con sông chính là sông Am, sông Cảy và sông Sạo. Đây là 3 con sông có vị trí đặc biệt quan trọng với cư dân Lang Chánh. Người dân Lang Chánh tụ cư dọc theo bờ 3 con sông này, sử dụng nước sông để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, nước sinh hoạt và đánh bắt thủy sản. Sông Âm là con sông lớn nhất huyện Lang Chánh, bắt nguồn từ Sầm Tớ (Lào) chảy từ tây sang đông huyện rồi đổ về Ngọc Lặc tại xã Vân Am. Sông Âm có chiều dài chảy qua địa phận Lang Chánh là 55km. Người Thái gọi là sông Âm là sông Nậm Pít, người Mường gọi là sông Um. Sông Âm là nhánh của sông Chu, trung bình hàng năm cung cấp khoảng 14% tổng lượng nước cho hệ thống sông Chu. Sông Cảy bắt nguồn từ sườn đông của núi Pù Rinh ở địa phận xã Trí Nang, nhập vào sông Âm tại làng Bắc Nậm. Sông Cảy có chiều dài khoảng 15km, chảy theo hướng tây – đông. Trên sông Cảy có ngọn thác Ma Hao đẹp nổi tiếng. Đây là ngọn thác tại bản Năng Cát (xã Trí Nang) có độ dốc cao 100m. Gắn liền với dấu tích của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn tại vùng đất này là các địa danh như Huổi Vớ, Huổi Láu, vườn cam trên núi Pù Rinh rất hấp dẫn khách du lịch. Nhà thơ người Mường Vương Anh đã viết về thác Ma Hao: “Như dải lụa trời mừng/ Trao nước lành cây, quả/ Thác muôn đời vẫn trẻ/ Tiếng quân reo dội về/ Như dải lụa trời chia/ Thác tung tăng, nước trẩy/ Ấm một thời Lê Lợi/ Luộc củ rừng nuôi quân”. Sông Sạo bắt nguồn từ làng Pọong (Giao Thiện) có chiều dài 17km và đổ ra sông Âm tại làng Um (Vân Am – Ngọc Lặc). Người Thái gọi là sông Sa Láo, người Mường gọi là sông Tháo.
Lang Chánh là vùng đất có truyền thống lịch sử lâu đời, đặc biệt là thời kỳ cùng với Lê Lợi trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh, giải phóng dân tộc. Trong mười năm (1418 – 1428) của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, vùng đất Lang Chánh là căn cứ đặc biệt quan trọng, vừa là hậu phương, vừa là chiến trường chính trong những năm đầu cuộc khởi nghĩa. Nhiều địa danh gắn với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn vẫn còn dấu ấn đến ngày nay. Thác Ma Hao theo tiếng Thái là chó ngáp, có truyền thuyết gắn với cuộc khởi nghĩa. Huối Vớ nghĩa là “suối lá chảy” gắn với tích Nguyễn Trãi thả lá “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần” ở đây. Huối Láu là “suối Rượu” tương truyền là nơi Lê Lợi và binh sĩ “hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”…
Là vùng đất cổ ở phía tây Thanh Hóa, cư dân Lang Chánh bao gồm người Thái, người Mường và người Kinh. Người Thái là cư dân có dân số lớn nhất, chiếm hơn 53% dân số của huyện. người Mường có dân số chiếm khoảng 35% dân số của huyện, bao gồm cư dân bản địa, từ Hòa Bình di cư vào đã có mặt lâu đời ở đây. Người Kinnh chiếm tỷ lệ 14% tổng số dân Lang Chánh, chủ yếu do chính sách phát triển kinh tế miền núi sau này.
Với đặc điểm tự nhiên, dân cư như vậy, sự giao thoa, tiếp biến văn hóa của vùng đất Lang Chánh diễn ra rất sớm và mạnh mẽ, trong đó nổi bật là văn hóa Thái – Mường. Với đặc điểm đó, các loại hình văn học dân gian, truyện kể, sự tích tên đất, tên làng, dân ca của người Thái (khặp, khắp), Xường của người Mường, tục ngữ, phương ngôn của Lang Chánh rất phong phú. Các phong tục trong giao tiếp cộng đồng, hôn nhân, tang ma, sinh đẻ, kiêng kị, lễ tục như lễ mừng lúa mới, lễ cầu mưa, lễ cúng vía lúa, lễ cúng cơm mới, lễ mừng thọ, mừng trẻ sơ sinh, mừng nhà mới, làm vía… ở Lang Chánh là hết sức độc đáo, thấm đẫm triết lý nhân sinh của các tộc người nơi đây. Các lễ hội tiêu biểu của Lang Chánh có Lễ hội Chá Mùn, lễ hội Chá Một của người Thái; lễ hội Pồn Pôông của người Mường.
Trong khặp Thái có khặp về lao động sản xuất, về xin rước dâu, về mừng nhà mới, về ca ngợi bản mường, hát đối đáp… Người Thái có thể khặp ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào nhưng đặc biệt là dịp mừng năm mới, ngày lễ hội, đám cưới, mừng nhà mới…Các bài khặp phần lớn là ngẫu hứng tự sáng tác của người Thái nên luôn mang hơi thở cuộc sống, xóa đi mệt mỏi trong lao động sản xuất, mang lại niềm vui sống cho người dân nơi đây.
Xường là loại hình dân ca rất đặc trưng, hấp dẫn, giàu bản sắc của người Mường. Xường có nhiều loại như xường chúc, xường kể, xường rang, xường trai gái… Hát Xường phần lớn được tổ chức trong dịp lễ tết, ngày xuân, đám cưới… Qua hát xường người Mường thể hiện tình yêu cuộc sống, bản mường, tình yêu nam nữ và tình cảm gắn bó với quê hương.
Từ cuộc sống lao động sản xuất, gắn bó với núi rừng bản mường, người Thái, người Mường Lang Chánh đã sáng tạo nên kho tàng tục ngữ, phương ngôn phong phú.
Những câu tục ngữ phương ngôn của người Thái như “Nương bao la không bằng ruộng nhà một thửa”, “Lúa dưới ruộng, cá dưới nước/ Khéo làm có ăn, siêng nằm chết đói”, “Sống rừng nuôi, chết rừng chôn”, “Học khôn học đến khi chết/ Học khéo học đến lúc già”, “Của xin không đủ ngày/ Của mua không đủ năm/ Chăm làm có ăn, siêng nằm chết đói”, “Một người nghĩ không nổi/ Một người lội không khắp”, “Nhiều mây trời mới đổ mưa/ Nhiều người mới nên làng, nên bản”, “Nói phải suy/ Đi phải nhìn”, “Khách đến nhà đừng đánh chó/ Có bạn đến chớ đánh con”, “Muốn ăn ngọt thì trồng chuối/ Muốn có tội thì trộm trâu/ Muốn mất đầu thì yêu vợ người khác”, “Hay ngủ đừng đốt củi mục/ Hay nói tục chớ ở gần đường”, “Gà đẹp do bộ lông/ Người sang do quần áo”, “Cây đổ còn gỗ/ Bố chết còn con”...
Người Mường Lang Chánh có vốn tục ngữ, phương ngôn phong phú, là kho tàng tri thức nói về cuộc sống lao động nơi đây. Có thể kể đến các câu: “Luồng châu Lang đổi vàng đổi bạc/ Thác Ma Hao chó ngáp cụt đường”, “Cơm Mường Đeng, canh Mường Mò”, “Rượu Chiềng Nưa, ruộng to Chiềng Khạt/ Vót lạt Chiềng Đôn, cơm ngon Chiềng Ngáy”, “Con gái đẹp Mường Nang/ Luồng vàng Châu Chếnh/ Cá dưới, cơm trên Mường Ban”, “Chóng mặt thì đến Yên Khương/ Đau ngực thì qua Mường Đáng”, “Cúng ma rước thầy mo làng Phống/ Giã luống thì lên tận Chiềng Nưa”, “Nhất chùa Hương, nhà chùa Hà, ba chùa Chu”, “Muốn vui thì về Quang Hiến/ Nghe chuyện dân gian thì về Giao An", “Lúa nếp Đồng Lương/ Luồng, bương Quang Hiến”, “Trống chiêng làng Ảng/ Khung dệt làng Giáng/ Mõ rộn làng Tiu”…
Về âm nhạc dân gian, Lang Chánh có các loại nhạc cụ như khua luống (quách loóng), cồng chiêng, gõ ống, kèn bè, sáo Ôi, sáo đứng, sáo ngang, sáo nghiêng, thổi ống, thổi lá, sáo ngắn… Qua đó thấy âm nhạc dân gian ở đây đa dạng về thể loại và đời sống âm nhạc rất phong phú, giàu bản sắc.
Trong Văn hóa ẩm thực ta thấy rất rõ bản sắc dân tộc của người Thái, người Mường qua các món ăn hàng ngày. Đó là các món cơm nếp đồ, cơm lam, rượu siêu, rượu cần, canh chua, canh môn, canh loóng, canh đắng, canh uôi, chẻo xịa, chẻo cá, măng chua, chẻo trám, nặm pịa, các món nướng như cá, thịt cuốn lá bưởi. Người Mường thường nấu các món cơm nấu, cá hấp, gà rang, thịt rang, cá kho, cá gỏi, cá muối. Người Mường ít dùng rượu cần, rượu siêu như người Thái mà chủ yếu dùng rượu nấu.
Là vùng đất gắn liền với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, mặc dù không có nhiều nhưng các di tích lịch sử của huyện Lang Chánh cũng đậm đặc dấu ấn của cuộc khởi nghĩa. Chùa Mèo thuộc xã Quang Hiến được dựng vào thời Nguyễn trên một ngọn núi, bên dòng sông Âm. Tương truyền chùa có từ thời Trần với tên gọi chùa Chu. Khi Lê Lợi khởi nghĩa có về chùa Chu thắp hương lễ Phật cầu cho cuộc kháng chiến thắng lợi. Khi đến đây Lê Lợi chỉ thấy trong chùa còn lại một con mèo nên đã mang theo. Về sau, khi kháng chiến thắng lợi, Lê Lợi cho xây dựng lại chùa và đổi tên là chùa Mèo. Hiện nay Bảo tàng Tỉnh Thanh Hóa còn lưu giữ chiếc chuông đồng của chùa Mèo, một bảo vật được đúc vào năm Vĩnh Thịnh thứ 14 triều Lê (1718). Năm 2005 chùa Mèo đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Thác Ma Hao thuộc làng Năng Cát, xã Trí Nang cũng được công nhận là danh thắng cấp tỉnh năm 2007. Suối Vớ thuộc xã Giao An, ngọn suối tương truyền là nơi Nguyễn Trãi thả lá cây “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần”. Tại làng Năng Cát, xã Trí nang có đền Lê Lợi vẫn được nhân dân hương khói.
Núi Chí Linh (Pù Rinh, Bù Rinh, Linh Sơn) là nơi lưu giữ dấu tích của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và đi vào thơ phú của nhiều nhà nho triều Hậu Lê. Nếu như Lam Sơn là đất tổ, nơi phát tích cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thì núi Chí Linh là căn cứ địa quan trọng, nơi hiểm yếu ẩn dấu, nuôi giữ và bảo toàn lực lượng khi cuộc khởi nghĩa đang còn trứng nước. Nguyễn Mộng Tuân đã viết: “Núi Lam phất cờ, núi Chí Linh đặt nền tảng/ Như Cối Kê, như Mang, Đãng, trước sau chói lọi ánh sáng”. Lý Tử Tấn cũng ca ngợi núi Chí Linh “Trời dựng núi mấy chừ cao ngất/ Hổ phục, rồng chầu chừ hai bên/ Nghiệp lớn muôn đời thịnh trị/ Xã tắc trăm họ bình yên/ Đây hình thế núi Chí Linh/ Án ngữ nơi miền tây nước Việt/ Sừng sững khoảng trời đất vô biên… Chí Linh cao ngất tuyệt vời/ Rồng chầu hổ phục đất trời khai thông/ Dài muôn dặm, cao muôn trùng/ Nền tảng nghiệp đế, bình phong nước nhà/ Miền Tây muôn thuở nguy nga/ Đây là cõi thọ, đây là đài xuân”.
Nói đến Lang Chánh không thể không nói đến đặc sản nổi tiếng của Thanh Hóa, đó là cây luồng. Mặc dù cây luồng có ở hầu hết các huyện miền núi xứ Thanh nhưng Lang Chánh vẫn là “Vua Luồng”. Câu ca “Gái Lang Chánh dao gài sau dón/ Sáng chặt luồng, chiều cuốn sông Âm” đã nói lên vẻ đẹp lao động nguyên sơ của con người và cảnh vật vùng đất nơi đây. Khóm luồng Thanh Hóa trồng bên lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Hà Nội chính là giống luồng mang ra từ Lang Chánh.
Trước khi thực hiện sắp xếp tổ chức theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, huyện Lang Chánh có 10 xã, thị trấn. Sau sắp xếp Lang Chánh còn 6 xã. Đó là các xã: Linh Sơn (thị trấn Lang Chánh và xã Trí Nang), Đồng Lương (xã Tân Phúc và xã Đồng Lương), Văn Phú (xã Tam Văn và xã Lâm Phú), Giao An (xã Giao An và xã Giao Thiện), Yên Khương (giữ nguyên) và Yên Thắng (giữ nguyên). Việc đặt tên xã mới Linh Sơn là rất tuyệt vời để ghi dấu ấn lịch sử của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn tại vùng đất này với ngọn núi thiêng của huyện. Tuy nhiên, thật tiếc khi cái tên Lang Chánh – một cái tên được đặt từ thời Tây Sơn, dưới triều vua Quang Trung – một cái tên được đặt cho Châu Lang Chánh - đã tồn tại từ thế kỷ thứ 18 đã không được dùng làm danh xưng cho bất cứ xã nào. Hơn nữa, chỉ có trường PT Dân tộc NT huyện được giữ được tên Lang Chánh, còn các trường Mầm non, Tiểu học, TH cơ sở mang tên Lang Chánh trước đây đều bị chuyển đổi thành tên Linh Sơn hoặc Chí Linh.
Là vùng đất lâu đời đậm dấu ấn lịch sử, vùng đất kết tinh đa sắc màu văn hóa, vùng đất với những danh thắng linh thiêng, huyện Lang Chánh dẫu không còn nhưng vẫn còn đó núi sông, con người, văn hóa nơi đây. Hy vọng cùng với sự sắp xếp lại hệ thống hành chính, khai thác nội lực còn tiềm ẩn và vươn lên trong lao động xây dựng quê hương bản làng, vùng đất này sẽ có chỗ đứng xứng đáng trong sự đi lên của xứ Thanh.
Ảnh: 1. Núi Chí Linh
2. Thác Ma Hao
3. Luồng Lang Chánh

Bài của Ngo Hoai Chung

Thứ Tư, 10 tháng 9, 2025

CÓ MỘT CUỘC CHIẾN KHÁC BÊN NGOÀI …THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ. SAU KHI XEM PHIM MƯA ĐỎ





Cái địa danh “Thành cổ Quảng Trị” trong phim Mưa Đỏ cũng như trong những câu chuyện về chiến tranh được hiểu là vuông đất lớn bằng khoảng mươi cái sân bóng đá, cụ thể là gần nửa km vuông hiện nay vẫn còn đó.
Bộ phim Mưa đỏ cũng khiến hàng triệu người xem tin tưởng vững chắc rằng, tất cả cảnh máu lửa trong phim là ở “Thành cổ Quảng Trị”
Và hiện nay đang có nhiều tranh luận, phân tích, chứng minh xung quanh chuyện này.
Năm 2007 tôi đã phỏng vấn cô thuyết minh phụ trách khu di tích Thành cổ, xem nhiều tranh, tượng trưng bày thì tôi thấy ngay có nhiều phiên bản sai sai về vị trí, xuất xứ.
Những cái đó là thật nhưng nó ở khắp thị xã (Lớn bằng thị xã Phú Thọ quê tôi) chứ không phải ở Thành Cổ Quảng Trị. Cô Thuyết minh không giải thích được vì cô ấy còn rất trẻ, cỡ tuổi cô Thượng tá Đạo diễn phim này.
Tôi đã viết “10 điểm sượng sạn trong phim Mưa Đỏ” cách đây 5 ngày và hiện còn trên trang này, nội dung được rất nhiều người tán đồng trong đó có cả những cựu chiến binh Quảng Trị mà tôi sẽ kể trong một stt khác.
Hôm nay tôi trân trọng giới thiệu một phần bài viết của Cựu chiến binh mặt trận này, ông Trịnh Hoà Bình để Quý bạn có cái nhìn thật nhất về trận chiến này cùng vài lời bình của tôi ở cuối đoạn trích.
Dưới đây là lời kể của CCB Trịnh Hoà Bình
………..
Dưới góc độ là PHIM LỊCH SỬ, tôi đánh giá Mưa đỏ chưa đạt yêu cầu. Đừng nói vì thời gian gấp gáp quá. Bởi hạn mức thời gian là do chúng ta tạo ra. Đừng nói vì kinh phí hạn hẹp, bởi có những điều không phải do kinh phí. Cũng đừng nói “Nữ đạo diễn làm được phim thế này là hay rồi”. Nói như vậy là bao biện và có hàm ý phân biệt giới tính.
Như tôi đã từng viết “những người chưa từng trải qua chiến trận, chưa từng qua chiến tranh, họ đến xem vì tò mò, vì tự hào dân tộc, vì sự lôi kéo của đám đông và truyền thông. Đối tượng này có lẽ là lớn nhất, làm đầy các phòng vé. Họ chấp nhận tất cả những gì kịch bản và đạo diễn đưa ra, như một đứa trẻ, như một trang giấy trắng. Bởi vậy, mỗi chi tiết trong phim phải thật cẩn trọng. Không cứ Mưa đỏ, mà phim nào trên thế giới cũng vậy. Ví dụ như anh chàng Michail trong phim Bố Già mà đeo đồng hồ điện tử là không ổn rồi. Những người chưa từng biết đến trận chiến bảo vệ thị xã Quảng Trị 1972, những người như trang giấy trắng, sẽ phải đón nhận những thông tin sai lệch về trận chiến này, và họ sẽ lưu giữ mãi điều đó”.
Điều thứ nhất tôi muốn nói, cuộc chiến đấu BẢO VỆ THỊ XÃ QUẢNG TRỊ là bao gồm thành cổ Quảng Trị và các làng xã xung quanh.
Đó là các địa danh: nhà thờ Trí Bưu, thánh địa La Vang, chợ Sải, làng Hạnh Hoa, ngã ba Long Hưng… mà thành cổ nằm ở trung tâm các địa danh ấy về phía Bắc, phía sau thành cổ là sông Thạch Hãn.
Từ những ngày đầu tiên của 81 ngày đêm bảo vệ thị xã Quảng Trị cho đến khoảng 10.9.1972, các trận đánh ác liệt giằng co chỉ diễn ra ở các làng xã xung quanh ấy, CHƯA BAO GIỜ TRONG LÒNG THÀNH CỔ!
Quân địch cũng từng muốn đặt chân lên thành cổ để tạo áp lực cho hội nghị tại Paris, nhưng không thể. Đêm 22 rạng sáng 23.7, một trung đội lính dù đã lẻn vào thành để tìm cách cắm cờ, nhưng đã bị tiêu diệt. Phải gần hai tháng sau, đến sáng ngày 15.9.1972, lực lượng Thuỷ quân Lục chiến với sự yểm trợ của pháo binh, xe tăng, máy bay mở một đợt tổng công kích vào khu vực trường Bồ Đề, từ đó tiến sát dinh Tỉnh trưởng tạo thế gọng kìm nhằm bao vây và tiêu diệt các lực lượng Quân giải phóng trong thành, thì cuộc chiến bên trong thành cổ mới diễn ra.
Tại trường Bồ Đề, một tiểu đội Quân giải phóng đã hy sinh toàn bộ sau nhiều giờ chiến đấu. Chiều 15.9.1972, một số xe tăng của địch đã tiến sát đến bờ sông khu vực dinh Tỉnh trưởng, thậm chí một chiếc M48 còn dừng ngay trên nóc hầm khẩu đội 12 ly 7 của đại đội 16, trung đoàn 95. Chiếc xe tăng này sau đó bị ta bắn cháy, một chiếc khác gần dinh Tỉnh trưởng phải lùi lại phía sau vì trời cũng đã tối.
Trong phim Mưa đỏ, các trận đánh đều diễn ra trong lòng thành cổ từ những ngày đầu tiên. Và điều đó là sai cơ bản với lịch sử.
Trong cuộc chiến đấu bảo vệ thị xã Quảng Trị, cần phải nhắc đến lực lượng không quân của Mỹ và VNCH.
Toàn bộ bầu trời thuộc về họ.
Giai đoạn đầu của chiến dịch, lực lượng phòng không của ta khá tốt, hạn chế được các cuộc ném bom. Một khẩu đội 12 ly 7 đã từng bắn cháy một máy bay trực thăng. Một khẩu đội 12 ly 7 khác bắn cháy một máy bay A.37. Nhưng càng về sau càng yếu do bị tiêu hao bởi pháo kích và bom.
Nhắc đến bầu trời Quảng Trị những ngày ấy, ai từng chiến đấu ở đó đều nhớ đến tiếng máy bay chỉ điểm OV.10 và L.19. Hết chiếc này đến chiếc kia thay nhau quần thảo lượn lờ nhòm ngó. Tiếng máy bay kêu o o rất sốt ruột.
Chỉ một sự khác biệt của quân ta trên mặt đất là lập tức có pháo khói chỉ điểm. Và ngay sau viên pháo khói là máy bay A.37 từ đâu đó hiện ra nhào xuống ném bom. Một chiếc A.37 mang theo 4-6 quả bom. Mỗi lần bổ nhào chúng chỉ ném một quả. Tiếng rít khi bổ nhào rất kinh khủng, như xoáy vào tai vào óc người lính. Hết bom, chúng lại bắn đại bác 40 ly vào nơi nghi ngờ.
Không có bom B.52 rải thảm trong thị xã Quảng Trị cũng như thành cổ vì quân ta và quân địch luôn ở thế cài răng lược.
Máy bay B.52 chỉ ném bên kia sông ở khu vực làng Nhan Biều và sân bay Ái Tử, nơi có bến vượt của quân ta. Và xa hơn là khu vực miền Tây Quảng Trị.
Quảng Trị năm 1972, nếu tự dưng không gian ắng đi tiếng máy bay F.4, tiếng máy bay OV.10 và L.19, thì có nghĩa là B52 sắp đến.
Trong phim Mưa đỏ không tạo được cảnh máy bay chỉ điểm OV.10, L.19 và máy bay ném bom A.37. Một vài cảnh máy bay ném bom có lẽ được tạo bởi AI xem hơi gượng.
Một điều nữa là pháo kích của quân lực VNCH. Có nhiều loại đạn pháo khác nhau: pháo bầy sát thương trên mặt đất, đạn bắn tới giống như một trận mưa rào thật to, đầy chết chóc; pháo khoan phá công sự hầm chữ A, mà khi mới gặp chúng tôi cứ nghĩ nó là pháo xịt, vì để lại một lỗ tròn trên mặt đất; pháo chụp nổ trên không, cách mặt đất khoảng 15-20 m, bắn những chiếc đinh có cánh xuống dưới và chiếc đinh này có thể xuyên thủng một tấm tôn, loại này rất nguy hiểm với người đang không ở trong hầm.
Tuy vậy, các loại pháo này đều có thể tránh nếu biết cách.
Với pháo bầy và pháo chụp, bao giờ cũng có một vài quả thử để tính toán phần tử bắn. Nếu có một cái hầm chữ A gần đó thì nên chui ngay vào để tránh. Hoặc phải tìm cách chạy thật nhanh ra khỏi khu vực chuẩn bị có pháo kích, vì khi đã có tiếng depar đầu nòng thì bạn không còn thời gian để tránh nữa. Cái kinh nghiệm “hai viên đạn không bao giờ rơi chồng vào nhau” của thế chiến 1 không áp dụng được ở đây. Vì pháo bầy là do hàng chục khẩu pháo bắn một lúc, và mỗi vết đạn có thể là do vài viên đạn nổ ở đó.
Phải công nhận rằng pháo binh của VNCH rất giỏi. Họ bắn rất chính xác, gây nhiều thương vong cho bộ đội ta.
Những ngày lính VNCH không đánh, thì thường là có pháo kích. Pháo bắn dai dẳng cả ngày. Đầu tiên là pháo bầy, khiến quân ta phải chui xuống hầm. Tiếp đó là pháo khoan, nhằm phá hầm, quân ta lại phải bỏ hầm để chạy ra hào ngồi. Quả pháo khoan khi trúng hầm sẽ khiến căn hầm bị phá huỷ.
Anh bạn Sâm “mèo” phố Lò Đúc của tôi ở đại đội 7 đã lĩnh trọn một quả pháo khoan như vậy. Thân hình anh tan ra thành từng mảnh. Chúng tôi vét phần xương thịt còn giắt trên các vì kèo của căn hầm chữ A, được một ca thịt đem chôn. Để rồi ngày hôm sau pháo kích lại bắn trúng, và ca thịt ấy bay đi đâu mất.
Với pháo bầy, pháo khoan hay pháo chụp thì còn có thời gian để tìm cách tránh, chứ với pháo tăng thì không. Khi một chiếc xe tăng bắn, tiếng nổ đầu nòng và điểm chạm nổ của viên đạn gần như là tức thời. Gia tốc của đạn là 1200 m/ giây. Khoảng cách gần cùng gia tốc của viên đạn không cho phép người lính kịp né tránh. Nếu viên đạn hướng trúng vào ta, thì ngay cả một tiếng kêu “mẹ ơi” cũng không kịp thốt ra.
Trong phim Mưa đỏ tôi chưa thấy cảnh pháo bầy, hoặc pháo khoan. Mà đó lại là một đặc trưng của chiến trường thị xã Quảng Trị. Và đặc biệt chưa mô tả sự choáng do một quả pháo tăng gây ra. Chúng ta mới thấy hình chiếc xe tăng gầm gừ, nhả đạn chớp loé đầu nòng pháo mà thôi. Giá như dựng được đoạn phim người lính choáng váng sau quả đạn pháo tăng nổ thì sẽ gây ấn tượng mạnh hơn cho người xem.
Một điều nữa là chiến hào và hầm chữ A. Chiến hào thường được đào sâu khoảng một mét, hoặc hơn một chút, rộng khoảng 7-80 phân. Không đào sâu quá, lúc cần nhảy lên sẽ rất khó. Còn đào rộng quá thì không có sức để đào. Đào hào xong thì đào hầm chữ A.
Hầm chữ A được học tập theo kinh nghiệm của chiến tranh Triều Tiên 1950, gồm một cây đòn nóc dài thật vững, gác lên đó những thanh tre hoặc gỗ, lát thêm miếng ván hoặc liếp tre rồi đổ đất vào lèn kỹ. Hai cửa hầm chữ A là nhánh hào râu tôm thông ra ụ chiến đấu. Hầm chữ A để tránh bom pháo rất tốt. Tôi từng thấy một căn hầm chữ A sát một hố bom, trơ cả khung như xương sườn một con trâu mà không bị sập.
Trong thị xã Quảng Trị năm 1972, những chiếc hầm chữ A cùng các ụ chiến đấu được ngụy trang rất kỹ nhằm tránh sự phát hiện của máy bay chỉ điểm OV.10 hay L.19.
Và cả xe tăng của địch nữa. Bất kỳ một mô đất nào nhô lên bất thường đều sẽ bị pháo dập cho tơi bời.
Xe tăng địch cũng sẽ ưu tiên nhằm bắn vào các ụ đất mà nó nghi ngờ. Bởi vậy, các đoạn hầm hào của quân ta trong Mưa đỏ được đắp bởi các bao cát là sai cơ bản. Chưa nói đến các bao cát thời ấy chỉ đựng khoảng 20 kg thôi, chứ không phải loại to đùng 5-70 kg như trong phim.
Chưa kể trong phim người ta còn kiếm được mấy tấm ghi lỗ để gác lên mái hầm. Ghi lỗ ấy vốn dùng để làm đường băng dã chiến, chỉ có ở khu vực sân bay, trong thành cổ không có loại này. Một cái hầm gác mấy tấm ghi lồ lộ thế, thì may được nửa ngày chứ đừng nói cả cuộc chiến.
Chiến dịch bảo vệ thị xã Quảng Trị là một chiến dịch phòng ngự. Mà đã phòng ngự thì ít di chuyển. Việc đeo cái tạp dề Bao-xe đựng băng đạn trong phòng ngự là không cần thiết. Vì các băng đạn được quân ta để rải rác trên vách hào, hết đạn là lấy được ngay.
Vả lại, mỗi khẩu AK bao giờ cũng lắp hai băng đạn ngược đầu nhau. Một trận đánh đâu phải lúc nào cũng dùng hết 60 viên đạn? Với điểm xạ hai viên một, thì vừa chính xác, vừa tiết kiệm đạn, vừa tạo uy lực áp đảo đối phương.
Thực tế, lính dù và sau này là lính Thủy quân lục chiến rất ngại những điểm xạ hai viên một của bộ đội ta. Nó thể hiện sự điềm tĩnh của người lính, thể hiện người bắn đã từng trải. Xem phim thấy tiểu đội trưởng Tạ là lính cựu mà không dùng hai băng AK cột ngược, hết đạn vẫn phải móc băng đạn mới trong tạp dề để thay thì buồn cười.
Chi tiết đó giảm đi sự sáng tạo, kinh nghiệm của người lính Giải phóng quân. Lúc mới vào thị xã Quảng Trị, tôi cũng từng đeo tạp dề. Vì nghĩ rằng nó cũng giống như miếng áo giáp, che chở cho mình. Nhưng sau vài ngày thấy vướng, cần thay đạn rất khó. Nên bỏ. Lúc bỏ, thấy da bụng nhăn nheo vì mồ hôi, ở giữa có đám hắc lào to gần bằng bàn tay.
Như tôi đã viết ở trên, các tiểu đoàn d4, d5, d6 của trung đoàn 95 và K3 Tam Đảo sau khi vượt sông ngày 22.7.1972 vào thị xã Quảng Trị thì lực lượng quân ta có 8 tiểu đoàn, trong đó trung đoàn 48 đã ở đó từ đầu chiến dịch.
Trung đoàn 48 của sư đoàn 320 còn có tên là đoàn Quang Sơn , với lời thề “Quang Sơn còn- Thành cổ còn”!
Trong Mưa đỏ, đạo diễn và tác giả kịch bản đã nhét lời thề này vào K3 Tam Đảo “Tam Sơn còn- Thành cổ còn”. Vậy là sai rồi. Chưa kể, tiểu đoàn K3 Tam Đảo đến ngày 22.7.1972 mới vượt sông vào thị xã Quảng Trị, chứ không phải từ đầu chiến dịch.
Cuộc rút quân đêm 15.9.1972 là do sự quyết đoán của BCH hỗn hợp lực lượng bảo vệ thị xã Quảng Trị sau nhiều ngày phân tích thế Địch-Ta.
Nên nhớ rằng mọi phương tiện thông tin liên lạc giữa thành cổ Quảng Trị với bờ Bắc đều đã bị cắt đứt từ trước đó nhiều ngày. Mãi đến chiều tối 15.9 khi có chỗ xe tăng địch nống sát đến bờ sông Thạch Hãn và sở chỉ huy, thì BCH mới ra quyết định này.
Tất cả đều bơi để vượt sông, không có thuyền nào đón cả. Đơn giản vì không còn chiếc thuyền nào nữa, bị địch bắn chìm trước đó cả rồi. Các thương binh nặng thì đành để lại, vì không thể đưa qua sông. Một vài nhóm nhỏ ở xa, mất liên lạc nên cũng bị rớt lại. Ngày 16.9 địch tiếp tục tấn công, nhưng không dám tiến nhanh vì không biết quân ta đã rút. Các nhóm nhỏ bị rớt lại và một số anh em thương binh vẫn tiếp tục chiến đấu. Nhiều người trong số đó đã hy sinh hoặc bị bắt, thậm chí bị giết khi súng hết đạn. Đêm 16.9 vẫn còn một số anh em từ trong thành vượt ra. Chính họ đã kể cho chúng tôi những gì đã xảy ra trong ngày 16.9 khi lính Thủy quân lục chiến tràn ngập Cổ thành.
Một người bạn của tôi còn kể lại rằng chiều ngày 16.9, bạn anh ấy (là lính VNCH) đã dùng ca nô để vớt những người lính GPQ đang kiệt sức và bị dòng lũ trên sông Thạch Hãn cuốn đi…
Trong chiến tranh, sẽ có những sai sót và tổn thất khó tránh. Không tô hồng và dám nhìn thẳng vào sự thật sẽ làm chúng ta mạnh mẽ hơn.
Vậy Mưa đỏ có phải là một bộ phim đáng xem?
Vâng.
MƯA ĐỎ LÀ MỘT BỘ PHIM NÊN XEM.
Ít nhiều, nó đã phản ánh được cuộc chiến đấu Bảo vệ thị xã Quảng Trị năm 1972. Những điều tôi viết ở trên chỉ làm rõ thực tiễn chiến trường lúc đó để những ai chưa từng trải qua sẽ hiểu thêm về Lịch sử của 81 ngày đêm khốc liệt ấy.
(Hết đoạn trích)
Lời bình Của Huy Cường:
Cuộc chiến chống Mỹ kéo dài 25 năm với những chiến công, gian khổ và tổn thất vô cùng to lớn nhưng cho đến giờ chưa có bộ phim nào mang tính Sử thi đúng nghĩa , chân thực là một món nợ lớn của ngành Điện ảnh VN.
Mưa Đỏ có bù đắp vào sự thiếu hụt ấy nhưng có những hạn chế như nói trên.
Để tới đây, có những phim về đề tài này ĐÁNG XEM hơn, thiết nghĩ các tác giả cần một sự hợp tác, hỗ trợ cần thiết VỚI CÁC CỰU CHIẾN BINH CỦA CẢ HAI PHÍA (kể cả quân nhân Mỹ) để tránh được những gì Mưa Đỏ dính phải.
Nhân đây, tôi muốn gửi vài lời chân thành đến một diện đặc biệt, đó là các bạn (phần lớn là bạn trẻ) comment trên FB của Tác giả Trịnh Hoà Bình với hàm ý phản đối nội dung trên, bênh vực cho e kip làm phim bằng một luận lý rất vô lý “Phim truyện thì nó phải thế !” .
Những người xem phim và bình luận như vậy không giúp gì cho điện ảnh nước nhà khá lên.
Thời gian đang kéo không gian chiến trận lùi xa, nếu không có những cây viết trung thực, quả cảm và khách quan như Trịnh Hoà BÌnh mà để thế hệ sau tin như đinh đóng cột “K3 còn, Thành cổ còn” thì thật đáng tiếc.
Mời các bạn chờ đón bài tới tôi viết về trận An Lộc có nhiều nét tương đồng với Mưa Đỏ nhưng ác liệt hơn nhiều và tổn thất của hai bên (Đã được xác định) lớn hơn trận Thành Cổ Quảng Trị nhiều. Biết đâu, nó sẽ là một gợi ý cho bộ phim “An lộc mưa đạn đỏ trời” và sẽ là một bộ phim ĐÁNG XEM chứ không phải bộ phim “Nên xem” như Mưa Đỏ nữa!.
Để khen, chê những tác phẩm như Mưa Đỏ không dễ.
Một là dễ bị hàm hồ, cảm tính, hai là thiên kiến (thiên kiến về phía nào cũng dở).
Cả hai thái độ này sẽ làm cho Lịch sử méo mó, sai lệch đi.
Huy Cường.