XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG

Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2019

Đầu tư quan trọng nhất là chọn vợ

CHỌN VỢ - VỤ ĐẦU TƯ QUAN TRỌNG NHẤT CUỘC ĐỜI NGƯỜI ĐÀN ÔNG
Ông cha ta có câu: “Đàn ông sợ đi nhầm đường, đàn bà sợ cưới nhầm chồng”. Thế nhưng, trên thực tế đã chứng minh rằng, dù là đàn ông hay đàn bà, đều cần phải lo lắng nếu bản thân lấy nhầm người. Trên thế giới có đến hàng tỷ người, mỗi người một cá tính khác nhau nên kết hôn giống như bạn đang lao vào thị trường chứng khoán vậy.
Warren Buffett từng nói: “Lần đầu tư quan trọng nhất trong cuộc đời tôi không phải là mua loại cổ phiếu nào, mà là chọn người bạn đời của mình”.
Nếu bạn may mắn tìm được cổ phiếu tốt, cuộc sống sẽ nở hoa, nếu lỡ đầu tư sai, cuộc đời sẽ trở nên bế tắc. Chính vì thế, danh mục đầu tư tốt nhất của một người đàn ông thông minh không phải là mua nhà hay mua xe, mà là chọn vợ. Lựa chọn được một người vợ đúng, thì người đàn ông nghèo khó đến mấy cũng có ngày thành công.
>>> Những người phụ nữ có đặc điểm sau đây chính là lựa chọn hàng đầu nên lấy làm vợ
1. Một là, người phụ nữ biết THẤU HIỂU đàn ông
- Một người phụ nữ biết thấu hiểu đàn ông là người nên được trân trọng. Họ kết nối với nhau không chỉ về quan hệ trên hộ khẩu hay thể xác, mà đó còn là sự kết nối đến từ tâm hồn và trái tim.
- Người phụ nữ có được sự thấu hiểu không chỉ trở thành tri kỷ của chồng mình mà còn là chỗ dựa an toàn, là nơi nghỉ ngơi mà anh ta luôn tìm về sau những giờ làm việc mệt mỏi. Người đàn ông mạnh mẽ đến mấy cũng có lúc yếu đuối, tổn thương cần một người ở bên vừa lắng nghe tâm sự của chồng, vừa trở thành bờ vai cho chồng dựa vào trong thời điểm áp lực và khó khăn nhất.

2.Hai là, người phụ nữ có tính RỘNG LƯỢNG, NHÂN HẬU
- Thay vì lấy một người nhỏ nhen, suốt ngày chỉ biết so đo, tính toán và ghen tuông với mọi mối quan hệ khác giới của chồng, người vợ nên rộng lượng bao dung và tha thứ cho những sai lầm của người khác trong trường hợp có thể cứu vãn được. Sự rộng lượng ấy sẽ khiến đàn ông cảm thấy mình được trân trọng. Và sẽ nỗ lực phấn đấu nhiều hơn để xứng đáng với tình cảm ấy.

3. Ba là, người phụ nữ có KINH NGHIỆM sống nhất định
- Cho dù người phụ nữ ấy từng có quá khứ, có yêu hận, có đau buồn, nhưng chỉ khi trải qua và tích lũy được một lượng vốn sống nhất định, bản lĩnh người phụ nữ ấy sẽ càng trở nên KIÊN ĐỊNH và VỮNG VÀNG hơn. Bên cạnh ổn định vững vàng về mặt tinh thần, người phụ nữ có kinh nghiệm sống sẽ không để bản thân bị lừa, không bị mù quáng hay để tâm đến những lợi ích vụn vặt mà sở hữu TẦM NHÌN xa trông rộng.

4. Bốn là, người phụ nữ không có tính THAM LAM
- Trời sinh phụ nữ đã có tính ham hư vinh nhưng một người phụ nữ tốt sẽ không quá phụ thuộc vào vật chất mà biết cách kiểm soát bản thân mình. Họ hiểu giá trị của đồng tiền nhưng càng hiểu cách tiêu tiền.
- Thay vì thỏa mãn nhu cầu mua sắm một cách vô tội vạ, một người vợ tốt sẽ biết cách vừa chăm sóc cho bản thân, vừa có thể chăm lo mọi mặt đời sống gia đình và nhu cầu tài chính của chồng mình. Là một “kế toán” bẩm sinh, phụ nữ đặc biệt giỏi cân đối chi tiêu một cách hoàn hảo nếu họ thực sự để tâm.

5. Năm là, người phụ nữ có TRÍ TUỆ, SỰ HIỂU BIẾT
- Thực ra, vẻ đẹp của phụ nữ không chỉ nằm ở ngoại hình mà nó đến từ trong KHÍ CHẤT và TÂM HỒN họ. Người biết cách cư xử thông minh, nói năng thanh lịch, hành xử khôn khéo sẽ cho người khác thiện cảm ngay từ cái nhìn đầu tiên. Họ không chỉ nuôi dưỡng tinh thần cho người đàn ông của mình mà còn biết cách chia sẻ khó khăn và góp lời tư vấn tạo nên thành công của chồng.

      Đồng hành cùng một người phụ nữ có TRÍ TUỆ, RỘNG LƯỢNG, và có nhiều BÃN LĨNH sẽ giúp người chồng không bao giờ phải lo mình sẽ một mình gồng gánh gia đình khi đối mặt với bão táp. Cho dù gặp chuyện khó khăn đến mấy, cô ấy vẫn có thể kiên nhẫn cùng người đàn ông giải quyết vấn đề một cách ổn thỏa.
      Chấm bên dưới để học cách nhận biết Nhân Tướng của một người vợ lý tưởng nhé

Thứ Hai, 5 tháng 8, 2019

Cuộc đời và Nguồn gốc bếp Hoàng Cầm

LỜI THỈNH CẦU LÚC CUỐI ĐỜI
Cuộc đời và Nguồn gốc bếp Hoàng Cầm
(xin phép mod đăng 2 bức ảnh để minh họa bài viết)

"...Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy..."
(Phạm Tiến Duật)
“Nổi lửa lên em, đánh Mỹ đêm ngày... Đôi quang gánh nặng tình yêu đất nước. Hơi bếp Hoàng Cầm sưởi ấm khắp nơi nơi...”. (Bài hát Nổi lửa lên em - Sáng tác của Nhạc sĩ Huy Du)

Nếu ai đã từng đi lính trước ngày 30/4/1975, thì không bao giờ quên chiếc bếp Hoàng Cầm.
Có sự trùng tên rất thú vi: Tướng Hoàng Cầm, Nhà thơ Hoàng Cầm và ông sinh ra "Bếp" Hoàng Cầm.

Đại đa số chúng ta sẽ nghĩ chắc là vị tướng kia rồi, nhưng sự thật tác giả chiếc bếp Hoàng Cầm nổi tiếng không phải vị tướng quân đội này và cũng không phải nhà thơ Hoàng Cầm với bài “Bên kia sông Đuống” nổi tiếng kia. Và thực sự người sáng tạo ra chiếc bếp cho quân đội sử dụng tận ngày nay chỉ mang quân hàm thiếu úy khi ra quân.

Hoàn cảnh ra đời Bếp Hoàng Cầm
Khi đơn vị tham gia chiến dịch Hoàng Hoa Thám và chiến dịch Hòa Bình năm 1952, được tận mắt chứng kiến cảnh đồng đội bị thương vong nhiều, sức khỏe giảm sút do máy bay địch oanh kích và điều kiện ăn uống không đảm bảo. Hoàng Cầm nhận ra chiến tranh ngày càng khốc liệt. Bộ đội ta chiến đấu, hy sinh không chỉ ở mặt trận giáp mặt quân thù mà hy sinh, thương vong ngay cả khi về hậu cứ nghỉ ngơi, sinh hoạt. Nguyên nhân của việc mất mát ấy có một phần do việc nấu ăn vì ban đêm thấy lửa ban ngày thấy khói. Rất nhiều thương vong của bộ đội xuất phát từ việc “khói bốc lên giữa rừng”, máy bay địch phát hiện đã trút bom đạn xuống. Tổ anh nuôi của Hoàng Cầm và nhiều đơn vị khác phòng tránh bằng cách chuyển sang nấu ăn ban đêm, khi máy bay địch tới thì dập lửa, dội nước, nhưng nhiều khi vẫn không tránh kịp tai họa. Đang đun, dập lửa, cơm thường bị khê, sống. Nấu ăn ban đêm, ban ngày cơm nguội lạnh, bộ đội ăn không đảm bảo sức khoẻ.
Hoàng Cầm đã trăn trở ngày đêm suy nghĩ, mình phải làm một cái gì đó giúp cho đồng đội giảm bớt thương vong. Một buổi sáng bên bờ suối, nhìn làn khói lượn lờ quanh mái bếp, Hoàng Cầm chợt nảy ra sáng kiến làm một kiểu bếp có thể nấu nướng mọi thứ ban ngày mà không sợ máy bay địch phát hiện. Sau nhiều ngày miệt mài nghiên cứu, vẽ sơ đồ một số kiểu bếp, và nhiều lần làm thử nhiệm. Hoàng Cầm đào hàng chục cái bếp khác nhau, với những kiểu bếp khoét sâu vào trong lòng đất có nhiều nhánh dẫn khói giống như hang chuột. Làm xong anh đặt nồi lên từng cái bếp, chất củi đun thử. Kết quả tạm được, nhưng lửa vẫn lộ, khói vẫn phảng phất bay lên. Không nản chí Hoàng cầm lại hì hục đào hàng chục cái bếp khác nữa. Lần này Hoàng Cầm đào các đường dẫn khói chẽ ra nhiều nhánh và dài gấp đôi. Trên rãnh dẫn khói rải cành cây rồi đổ đất san phẳng. Phía trước cửa bếp đào một hố sâu, trên lợp nilon hoặc lá vừa để đồ, vừa che ánh lửa và có hầm chứa khói, hút lửa mạnh hơn.
Cuối cùng, Hoàng Cầm đã tạo ra một kiểu bếp như ý, bếp lò khoét vào sườn đồi hoặc đào sâu xuống với những đường rãnh giống như râu mực từ bếp lò bò đi khá xa, trên rãnh được lát bằng cành cây và phủ đất ẩm tạo thành những ống thoát khói. Từ trong lò tuôn ra, khói tỏa vào khắp các rãnh, bốc lên gặp lượt đất ẩm, bị lọc và cản lại, lan ra là là trên mặt đất, thoảng nhẹ nhàng như làn sương buổi sớm. Kiểu bếp này ngay sau đó đã được phổ biến rộng rãi đến các đơn vị và được anh em nuôi quân hoan nghênh.

Bếp do Hoàng Cầm sáng tạo rất phù hợp với bộ đội thời chiến, kín lửa, khói không bốc cao, anh nuôi nấu ăn cả ngày, cả tối, không sợ máy bay địch phát hiện. Bộ đội có cơm nóng, canh ngọt. Mỗi khi ém sát địch, anh nuôi vẫn nổi lửa đêm ngày. Tháng 10 năm 1952, đơn vị đã quyết định lấy tên người chiến sỹ sáng tạo ra để đặt tên bếp: Bếp Hoàng Cầm.

Từ khi ra đời cho tới nay, bếp Hoàng Cầm được sử dụng rộng rãi trong quân đội Việt Nam và là bắt buộc sử dụng ở tất cả các đơn vị. Với sáng kiến này, bộ đội đã được ăn cơm nóng, có nước nóng để uống trong mùa đông, các viện quân y dã chiến có nước nóng để sát trùng dụng cụ y khoa... Sáng kiến này có giá trị lớn trong thực tiễn hoạt động hành quân, chiến đấu và góp phần quan trọng giữ gìn sức khỏe cho bộ đội. Từ khi bếp Hoàng Cầm ra đời các chiến sĩ nuôi quân không còn lo sợ máy bay địch nhòm ngó mỗi khi nổi lửa, bộ đội ta không phải ăn cơm nguội do nấu vào ban đêm. Bếp Hoàng Cầm đã góp phần không nhỏ vào việc giữ gìn sức khỏe cho bộ đội, đảm bảo quân số chiến đấu cao.

Bếp bảo đảm giữ được bí mật: quá trình nấu ăn ban đêm lửa không hắt sáng ra ngoài, ban ngày khói không bị thoát lên thành cột khói đúng theo chủ trương "đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”.; Bảo đảm được an toàn: bếp vững chắc, không bị sụt lở trong quá trình nấu ăn và hạn chế được sát thương do mảnh bom đạn, an toàn cho cả người và vật chất; Đồng thời bảo đảm cấp nhiệt tốt: Bếp cháy tốt, cung cấp đủ nhiệt cho quá trình nấu ăn thao tác thuận tiện.
Trong hồi ức “Đường tới Điện Biên Phủ” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (NXB QĐND- 2001), có đoạn viết: “Sẽ là một thiếu sót nếu không nhắc ở đây một sáng kiến đã mang lại sự cải thiện rất quan trọng trong đời sống các chiến sỹ ngoài mặt trận".

Đại tá, Giáo sư - Tiến sỹ Đặng Hiếu Trung, nguyên là chuyên viên đầu ngành của Khoa Tai mũi họng Bệnh viện Quân y 108 cho biết thêm: Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ông (Hoàng Cầm) là Đội trưởng Đội Điều trị 8, thuộc Đại đoàn 308. Đội điều trị 8 đóng cạnh suối Hồng Lếch, cách hầm Đờ Cát chỉ 4 km đường chim bay về phía tây. Đội Điều trị 8 có trên 100 người cộng với thương binh vì thế mặc dầu trong hoàn cảnh chiến trường, khó khăn, thiếu thốn, bom đạn của kẻ thù nhưng Tiểu đội trưởng nuôi quân Hoàng Cầm cùng tổ nuôi quân vẫn đảm bảo cơm nóng, canh ngọt cho Đội và thương binh.

Cuộc đời vất vả của cha đẻ "Bếp không khói"
Sau 16 năm phục vụ trong quân đội, Hoàng Cầm được phục viên khi đang giữ cấp bậc đại uý. Về làng Đồi Mây, Tam Đảo là quê ngoại của Hoàng Cầm. Về quê, ngày ngày vợ chồng ông lên đồi phát cỏ, cuốc đất trồng chè, sắn. Đất ở đây đá sỏi, bạc màu, làm lụng vất vả nhưng cuộc sống dân làng và gia đình ông quanh năm vẫn nghèo đói. Nhưng cái đói không trói nổi ông, ngay trong những năm sáu mươi, Hoàng Cầm đã xoay xở, tìm cách làm kinh tế để tự cứu mình và cứu dân làng. Ông chuyển sang làm que kem bán cho các cơ sở sản xuất ở Hà Nội và Vĩnh Yên để kiếm sống.

Bán kem que, ngày ngày phải lang thang khắp đây đó tìm nơi tiêu thụ rất vất vả. Sau ba năm bán que kem thu nhập thất thường, Hoàng Cầm lại chuyển sang mở xưởng nấu nước chấm (nước mari) và làm miến đao. Làm nước chấm và miến thu nhập tạm ổn, cuộc sống gia đình ông đã vượt qua những ngày đói kém.

Vợ Hoàng Cầm đau yếu luôn nên tất tật công việc nặng nhọc trong nhà đều dồn lên vai ông. Phải lao động quần quật, ông mới nuôi nổi năm miệng ăn. Khi người con trai duy nhất của vợ chồng ông là Hoàng Thư khôn lớn, những tưởng Thư sẽ gánh vác công việc nặng nhọc để bố đỡ vất vả, nhưng năm đó, cuộc kháng chiến chống Mĩ đang khốc liệt, ông Hoàng Cầm đã động viên con trai lên đường xung trận. Trước ngày nhập ngũ, ông dặn con cứ yên tâm đi, bố tuy sức yếu rồi nhưng vẫn cố gắng làm lụng để nuôi mẹ và các em con được, chiến trường đánh Mĩ chắc chắn sẽ ác liệt hơn thời đánh Pháp… Con trai ra đi một lèo cho đến ngày giải phóng miền Nam, ông ở nhà vật lộn với cuộc sống gian nan giữa vùng quê nghèo đói của thời kì bao cấp. Tuổi cao, ngày càng yếu, Hoàng Cầm không còn đủ sức làm xì dầu, miến đao nữa, ông tìm lên một ngôi đền thờ Đức Thánh Trần trên núi Tam Đảo, phục vụ đèn nhang, hương khói, quét dọn và trông coi đền. Gặp những người dân sinh sống quanh đền, họ kể, ngày ngày ông dậy từ tinh mơ, quét dọn, nhặt cỏ, tưới cây, lau bệ Phật, sắp hương, nến để người thập phương lên tham quan, nhang khói Đức Thánh. Không phải nhà sư tu hành chính quả, nhưng cái tâm của ông với ngôi đền, với dân làng khiến ai lui tới cũng đều kính nể. Họ gọi ông với những cái tên thân thuộc như: Hoàng Cầm giữ đền, ông từ Cầm...

Chị Hoàng Thị Định, con gái ông Hoàng Cầm hiện ở thị trấn Tam Đảo kể với chúng tôi: “Một hôm tôi lên đền giúp đỡ bố, gần trưa có đoàn cán bộ từ Hà Nội lên Tam Đảo tham quan và vào thắp hương Đức Thánh Trần, có ông cán bộ ăn mặc chỉnh tề, đầu đội mũ phớt, đeo kính trắng, sau khi thắp hương, quay ra cứ chằm chằm nhìn bố tôi. Lúc đó bố tôi đang mải quét lá khô dưới gốc cây đại. Ông cán bộ bỗng kêu lên: Anh Cầm hả? Ông cán bộ tháo kính ra, cái chổi trên tay bố tôi rơi xuống đất, hai người ôm chặt lấy nhau. Sao anh lại ở đây, anh Cầm? Rồi ông quay ra giới thiệu với những người cùng đi: Đây là anh Hoàng Cầm, bạn cùng đơn vị với tôi, người chế tạo ra bếp Hoàng Cầm nổi tiếng thời chống Pháp đấy. Mọi người vây quanh, hình như họ đều đã từng nghe tiếng cái bếp Hoàng Cầm của bố tôi. Có người đi bộ đội từng nấu ăn bằng bếp Hoàng Cầm, được thấy tác giả chế tạo ra cái bếp nổi tiếng, họ chăm chú nhìn bố tôi vẻ thán phục. Ông cán bộ buông bố tôi ra hỏi: Anh ở đền này lâu chưa? Hơn chục năm rồi - Bố tôi nói. Ông ta tròn mắt: Sao anh không chuyển ngành hay đi làm một nghề gì đó mà lại ở chùa? Tôi đã làm nhiều nghề rồi. Giờ đây sức yếu, ở đền cái tâm mình nó tĩnh tại, tôi thấy khỏe ra. Ông cán bộ nói: Anh hay thật, người ta mong có thành tích xuất sắc để được làm quan, có tiền, có chức, anh lại vào chùa để được hưởng tĩnh tâm. Và ông ta quả quyết: Không. Người “vĩ đại” như anh, người “đẻ” ra bếp Hoàng Cầm cho anh nuôi toàn quân không thể đi quét chùa. Về Hà Nội, tôi sẽ xin cho anh công việc khác. Bố tôi lắc đầu: Cảm ơn anh. Ước nguyện của tôi giờ chỉ mong mình sống khỏe mạnh. Làm được việc gì có ích cho dân, cho nước thì tôi làm. Bố tôi bảo, ông bạn gặp bố tôi hôm đó là cán bộ cấp Vụ trưởng. Về sau không thấy ông ta liên lạc lại, tôi nói hay ông ấy quên bố, bố tôi bảo, ông ấy làm lãnh đạo công việc bận chứ ông không quên đâu vì ngày ở đơn vị hai người rất thân nhau mà”.

Mười lăm năm hương khói trên cõi “niết bàn”, tuổi cao, đau yếu luôn, ông Hoàng Cầm không còn đủ sức coi đền Đức Thánh Trần núi Tam Đảo nữa. Lộc Thánh và sự giúp đỡ của địa phương cũng không cưu mang nổi ông lúc cuối đời. Ông về Hà Nội nương nhờ người con trai Hoàng Thư. Sau hơn 10 năm chiến đấu ở chiến trường B3, Thư xuất ngũ về học sư phạm rồi làm giáo viên trường trung học phổ thông Phan Đình Phùng, Hà Nội. Đồng lương giáo viên ít ỏi, phải nuôi vợ không việc làm cùng con nhỏ và người bố già bệnh tật, hoàn cảnh gia đình Hoàng Thư thật khốn khó. Thương con, ông Hoàng Cầm không muốn mình thành gánh nặng cho con nhưng chẳng còn cách nào. Cuộc sống kéo dài ngày một chồng chất khó khăn, ông đành viết một lá đơn đề nghị cấp trên cứu giúp. Nhưng vốn là người chỉ biết tự lực vượt khó, không bao giờ đòi hỏi kêu ca nên viết xong, ông ngần ngại rồi lại xé đi.

Một người bạn của Hoàng Cầm khuyên: “Cái chất trong con người ông là chất Hoàng Cầm. Nhưng Hoàng Cầm cũng là con người. Mình hoạn nạn, mình kêu, đấy mới là con người”. Nghe lời bạn, cộng với gia cảnh bức thúc quá, nên lá đơn thứ 2 đề ngày 15/3/1994 của Hoàng Cầm có đoạn: “... Cả gia đình tôi bốn bố con, ông cháu ở nhà một “mái vẩy” 9m2 của trường Phổ thông trung học Phan Đình Phùng cho mượn. Tôi không biết nằm dọc, nằm nghiêng, ngửa thế nào cho tiện. Các cháu học sinh của con tôi, bạn bè, đồng đội đến thăm khi đau yếu, thật ái ngại, xin ngồi xuống đất. Lúc ốm chìa tay bấu đồng lương ít ỏi của con để mua thuốc, thật không đành. Cực chẳng đã, có lần tôi chống gậy đến một bệnh viện khám bệnh và xin thuốc, một nhân viên phòng khám bảo: Bác phải có sổ, có giấy tờ, chế độ mới được khám cấp thuốc. Tôi trình bày, tôi là Hoàng Cầm, bộ đội phục viên ở với con nên không có giấy tờ gì. Họ nói: Một Hoàng Cầm chứ mười Hoàng Cầm cũng vậy thôi. Tôi viết lá đơn này đề nghị cấp trên xét cấp cho tôi một cái sổ khám bệnh, một tiêu chuẩn nhà đất như hàng vạn người khó khăn khác để ổn định sức khoẻ đoạn đời còn lại. Năm nay tôi đã 81 tuổi. Để khỏi có lúc chợt nghĩ “nếu có mệnh hệ nào” tôi không muốn nằm tại 9m2 nhà đi mượn cho con cháu khỏi phiền lòng...”.

Nỗi lòng ấy âu cũng là cái chất rất con người trong Hoàng Cầm. Và chính nó đã làm nên một Hoàng Cầm chân thật và cao thượng, làm rung động trái tim của không ít người. Lời thỉnh cầu của ông đã được những người làm chính sách hết lòng giúp đỡ.

Khi tôi gặp Thiếu tướng Nguyễn Thế Kỷ, nguyên Cục trưởng Cục Quản lí Hành chính Bộ Tổng tham mưu, hiện sống tại phường 2, Quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh, ông kể lại:

- Ngày ấy, nhận được đơn và ý kiến của cấp trên, chỉ trong một tuần lễ, chúng tôi đã lo chu tất cho ông Hoàng Cầm. Đã giải quyết cho ông một căn nhà 43m2 ở khu tập thể 28 Điện Biên Phủ, Hà Nội, một quyển sổ khám chữa bệnh tại Bệnh viện Quân đội và tạo việc làm cho người con dâu của ông là chị Minh, vợ anh Hoàng Thư vào giữ trẻ tại cơ quan.

Nhưng ông Hoàng Cầm hưởng cuộc sống đầm ấm trong căn nhà mới được gần ba năm thì đi theo tiên tổ. Ra đi, ông để lại cho đời một công trình vô giá. Dẫu mai này, có thể người ta lại quên cái tên người chiến sĩ nuôi quân Hoàng Cầm nhưng bếp Hoàng Cầm của ông, cái bếp đã đi vào lịch sử hai cuộc kháng chiến vệ quốc của dân tộc, sẽ là cái bếp huyền thoại trong lòng tất cả mọi người.

Có thể ngày nay nhiều người không biết Hoàng Cầm là ai, nhưng di sản chiếc bếp ông đế lại cho quân đội vẫn luôn theo chân các chiến sỹ trong toàn quân.


Từ fb Quoc Toan Son Tay




BÀN VỀ LINH HỒN VÀ ĐẦU THAI CHUYỄN KIẾP.



Cuộc đời con người là một chuyến đi xuyên qua bóng tối vô hình, trong tâm tưởng của mỗi cá nhân, và đời sống thực tế với cộng đồng. Vì thế nó là một cuộc hành trình âm dương vô tận, chứ không phải là một cuộc đua ngắn ngũi trong cuộc sống, với những mục tiêu phải đạt được như chúng ta vẫn tưởng. Và đại khái là nó cứ kéo dài mãi chứ không bao giờ là chấm hết. Vì khi bạn nhìn thấy từ cái gốc vô ngã bởi sự sống của vạn vật trên đời, thì tất cả đều đổi thay và biến chuyển để trở thành cái khác mới hơn nơi thực tại. Và sự đổi thay đó nếu nhìn về mặt vật chất, thì nó là sự thay đổi để bảo tồn năng lượng vật chất. Còn nếu nhìn về mặt tinh thần, thì đó là sự thay đổi chuyễn kiếp của linh hồn, tạo ra nhiều kiếp sống khác nhau của chúng ta nơi trần gian.

Hãy nhớ! Linh hồn là vẫn còn thiện ác.

Và cái vòng tròn luân chuyễn linh hồn chúng ta từ cỏi này qua cỏi khác. Từ thân phận này trở thành thân phận khác, trong thế giới vô hình thì được gọi là luân hồi.

Vậy triết học đời sống của loài người từ xưa tới nay, chỉ nhằm mục đích là để cải tạo trên bề mặt cuộc sống thôi, chứ nó hoàn toàn không phản ảnh hết hai mặt của cuộc đời con người chúng ta được. Vì nó không đi quá sâu vào vô thức trong tinh thần của con người. Vì thế nó gần như hoàn toàn giao phó phần vô hình trong tinh thần của chúng ta cho Chúa quyết định hết. Và sở dĩ con người tinh tưởng vào tôn giáo và thánh thần, là vì con người không mang vác nổi cái bóng tối vô hình trên đầu mình mà thôi.

Và phân tâm học phương tây có khám phá sâu vào trong tiềm thức và vô thức, nhưng nó khám phá theo con đường phân tích tâm lý, và mở rộng cảm giác, thì càng ngày chỉ càng mịt mù thêm. Do đó hướng đi này mà đi vào trong cỏi vô hình, thì tất nhiên là thất bại rồi. Vì càng đi sâu vào cái vô hình là nó phải đơn giản rút gọn lại bằng tư duy tổng hợp, thì mới đúng hướng. Bằng không nếu bạn đi sâu vào tâm lý, mà còn phân tích mãi ra cho nó nhiều hơn, thì bạn sẽ hoang mang nhiều hơn và có ngày điên luôn đó.

Vì khi đi sâu vào khám phá tinh thần con người, thì chúng ta nên khám phá phần “thượng” của nó, thì mới thoát khỏi sự trì kéo của bản năng xuống thấp, thì mới có được tự do. Còn như bạn dùng phân tâm học, để khám phá cái phần “hạ” của tinh thần là bản năng của thân xác, với các giác quan (chủ yếu là tính dục) thì bạn sẽ chết chìm với nó luôn. Do đó phân tâm học phương tây, đã đi lạc hướng sang những vùng cảm giác bản năng, chập chùng mù mịt của thân xác con người, như mê hồn trận rồi thì làm sao lên cao được nữa.

Vì thế những loại triết học thuộc ý thức chỉ chú trọng cải tạo phần đời sống, và nghiên cứu phát triển khoa học kỷ thuật, thì họ đi theo sự hướng dẫn của trí tuệ hợp lý hữu vi mà thôi. Vì họ chỉ hướng ra ngoài khám phá các hiện tượng biến đổi của vật chất trong thực tại, cho nên họ không tin con người là có linh hồn. Và họ cũng không biết cái gì gọi là nghiệp chướng cả. Vì nghiệp chướng cũng chính là mặt trái của trí tuệ hợp lý hữu vi. Và khi nó nổi lên trên bề mặt cuộc sống, rồi biến chúng ta thành cái này cái kia, thì đó chính là nghiệp chướng. Nhưng khi nó lắng xuống thành một khối vô hình làm đau khổ con người thì đó là linh hồn. Và từ cái linh hồn vô hình này sẽ còn lại mãi mãi với thời gian, kể cả khi thân xác chúng ta đã mất đi rồi. Và do đó khi nghiệp chướng của chúng ta thế nào, thì chúng ta sẽ được chuyễn kiếp và sẽ trở thành như thế đó. Cái đó gọi là luân hồi chuyễn kiếp.

Và ai hiểu tới đâu thì biết tới đó thôi, cho nên từ xưa tới nay người ta chia hai thế giới này ra thành duy tâm và duy vật, rồi tha hồ mà cải nhau mãi. Và nếu như những nhà khoa học không tin có linh hồn, là vì những thành tựu khoa học của họ quá thành công, quá vĩ đại, cho nên con người lúc đó không cần có Chúa nữa. Và nhiều lúc họ tin rằng tâm lý mình thì mình cũng hiểu được, cho nên cũng không cần tới thánh thần tôn giáo làm gì nữa. Và đây là những quan niệm mới của thời hiện đại, làm con người mạnh mẽ hơn trước sự hủ bại của các trường phái triết học duy tâm, bảo thủ mê muội kềm chế và lừa dối con người.

Nhưng khi mấy ông triết gia xa rời ý thức, rồi bước vào tiềm thức là siêu hình học, thì vấn đề ở đây là đã khác rồi. Vì ở đây là thế giới dồn nén của cảm giác đến tột độ, với nhiều sự lẫn lộn màu sắc và hình ảnh không đầu không cuối, trong tiềm thức của chúng ta. Cho nên từ đây đã làm cho con người mất phương hướng rồi trở nên hoài nghi như Heidegger, hoặc hoang tưởng tột độ như là Nietzsche vậy. Vì lão ma vương này dám tuyên bố rằng Chúa đã chết. Vì ở chỗ này là chúng ta phải tư duy trừu tượng rồi. Và tư duy từu tượng mà không thoát ra tới miền đất tự do của tư tưởng, thì sẽ điên luôn. Và bằng chứng là rất nhiều triết gia “hiện tượng học” và “siêu hình học” của phương tây cuối đời đã phát điên luôn là như thế đó.

Hãy nhớ! Từ thực tại đến niết bàn, từ vô thường đến vô ngã là một vòng tròn không đầu không cuối. Đó là một hành trình âm dương đi xuyên qua không gian thời gian ước lệ xung quanh ta trong vũ trụ. Nó là suối nguồn tuôn chảy từ cái nôi của sự sống, chảy ra tràn đầy mãi mãi trên trần gian này. Trong đó con người và các sự vật đều như nhau.

Vì mỗi cái gì đó nó cũng là một thôi. Nếu mặt này chúng ta nhận thức nó là khái niệm, thì mặt kia nó sẽ là bản chất. Và khi nó hiện ra số nhiều ở đầu ngọn là khác, và nó thu về ở cái gốc là khác, nhưng vẫn là nó. Cái này triết học nói chung không biết được. Vì triết học xưa nay chỉ giải quyết vấn đề ở đầu ngọn. Ví dụ như thực tại là cái ngọn, là số nhiều luôn thay đổi, nhưng cái gốc của nó là niết bàn chỉ có một và bất biến. Tương tự vô thường là ngọn, và vô ngã là gốc. Nếu ai biết được cả hai cái này trong một cách nhận thức, thì mới thấy hết được vấn đề.

Vậy chúng ta nhận thấy sai lầm của triết học cải tạo đời sống, là lấy cái ảo vọng trong vô hình để định hướng cho tương lai xã hội loài người, và xem đó là mục đích nhắm tới như một thiên đường có thật trên trần gian. Và điều này thất bại là lẽ đương nhiên. Vì trần gian hữu lậu này trôi đi theo quy luật tự nhiên, thì nó phải có đủ thứ trong đó chứ. Đó chính là cái sự thật tồn tại trên đời rằng, phải có cả xấu và tốt trong nó hết. Và đó là cách nhìn bao quát hết thảy mọi vấn đều tồn tại khách quan, vốn có trong thực tại đời sống xã hội của con người chúng ta rồi. Nhưng khi chúng ta nhận thức bằng lý tưởng, thì chúng ta không hề thấy được tất cả. Mà chúng ta chỉ thấy một mặt tốt đẹp sáng ngời nhất của nó để hướng tới thôi. Và khi cái lý thuyết một chiều này, áp dụng vào thực tiễn đời sống thì nó sẽ thất bại ngay. Là vì cái xấu kia nó sẽ lòi ra mà chúng ta chẳng biết bỏ nó đi đâu cả. Cho nên chúng ta phải che dấu nó dưới nhiều hình thức gọi là tốt. Và như vậy từ ảo tưởng đầu tiên trong lý thuyết sai lầm, thì nó đã dẫn chúng ta đi tới chỗ dối trá với chính mình rồi.

Do đó về mặt nhận thức thì triết học không thấy được linh hồn trong con người chúng ta, cũng như nó không thể nhận thấy sự thật chính xác của thực tại. Là vì bạn phải đi tới tận cùng cội nguồn gốc rễ của nó, thì bạn mới thấy hết hoa lá cành nơi cái ngọn của nó là thực tại được. Cho nên ở cả hai mặt thì triết học sẽ thất bại. Và vì thế không thể trách nhiều người không thể biết được chính xác rằng, con người có linh hồn hay không, và linh hồn đó nằm ở đâu trong tinh thần con người chúng ta đây.

Vậy tinh thần con người là gì?

Tinh thần con người có ba lớp. Lớp ngoài là ý thức. Lớp giữa là tiềm thức, và lớp trong là vô thức. Trong vô thức lại chia làm tâm linh và tâm thức. Trong tâm linh lại chia làm hai gọi là tiền tâm linh và kết tâm linh. Người giác ngộ đến phần kết tâm linh thì có thể gọi là đạo sư trăng rằm, là tận cùng của lý tưởng. Trong tâm thức lại chia làm hai. Gọi là tiền tâm thức, và kết tâm thức. Người giác ngộ tới chỗ tiền tâm thức thì được thánh quả A La Hán. Còn người giác ngộ hoàn toàn đến chỗ kết tâm thức, là thành Phật rồi. Là bậc toàn giác như mặt trời. Là tận cùng của chân lý.

Ý thức là khả năng xử lý thông tin của đầu óc con người. Vì nó biết cách sắp xếp, hệ thống thông tin hình ảnh từ hỗn độn trở thành ngăn nắp gọn gàng hơn. Tiềm thức là thế giới hình ảnh lộn ngược đa chiều kích, mơ hồ và rực rỡ mịt mù gọi là siêu hình. Còn tâm linh là thế giới cảm giác chứa đựng âm thanh, mùi vị và hương thơm của tâm hồn, linh hồn. Và vô thức là thế giới tràn ngập ánh sáng vì nó thông suốt từ trong ra ngoài, nên nó là thế giới của tự do nội tâm bừng sáng nhất.

Sở dĩ con người còn luân hồi sanh tử, là bởi có linh hồn. Mà linh hồn con người nằm ở đâu? Đó là nơi tận cùng tâm linh. Và nếu ai giác ngộ tới tâm thức thì không còn linh hồn nữa. Vì thế các vị A La Hán và Phật là linh hồn của họ thoát ra khỏi sự giam giữ của thân xác rồi, mà nó hoà nhập với vũ trụ rồi, nên A La Hán và Phật không còn luân hồi đầu thai chuyễn kiếp nữa. Vậy còn lại những ai tu tới cỏi trời Tịnh Độ, hay tận cùng tâm linh của lý tưởng, thì đều phải đi đầu thai chuyễn kiếp hết...

Tuy nhiên các vị thánh A la Hán và đức Phật là không có linh hồn như chúng ta. Hay nói khác hơn linh hồn của các Ngài là cái đại ngã rộng lớn bao trùm vũ trụ này. Và nếu cái đại ngã này đi về hướng nhân bản nhân sinh, thì có thể gọi nó là thần thức. Vì đó là cái tự tánh vốn có của tất cả chúng ta. Đó chính là pháp thân của Phật, và do tu tập mà các Ngài đã tìm về được với nó, như một sự phát hiện ra cái chìa khoá mở cửa cho cả thế giới này.

Do đó chỉ có đức Phật và các vị A La Hán là mới dám nói rằng không có linh hồn. Là vì linh hồn của các Ngài đã thoát ra ngoài thiên nhiên rồi, để trở thành cái vô ngã trong trời đất. Và từ đó các Ngài mới thấy được cây cỏ thiên nhiên vô tình cũng có linh hồn của nó như chúng ta vậy. Và điều này hình như ngày nay người ta đã chứng minh bằng khoa học được rồi. Tuy nhiên các nhà khoa học lớn, vì chủ quan cũng có thể nói rằng con người không có linh hồn. Vì con phù du có đời sống ngắn ngũi, thì làm sao nó thấy được số thời gian đã sống của một con người gần cả trăm năm. Và tương tự như thế, một vị Phật đứng cách xa chúng ta hơn ba ngàn năm, thì Ngài cũng nhận thấy đời sống của một kiếp người trên trần gian này, cũng ngắn ngũi như kiếp sống của những con phù du thôi.

Như chúng ta đã biết, vật chất là không mất đi mà nó chỉ chuyễn đổi từ dạng này sang dạng khác. Và với định luật bảo toàn năng lượng, cũng như các định luật bảo toàn hoá học của các chất. Các định luật cân bằng trong vật lý học vv. Cho chúng ta thấy rõ thực tại, bằng những thí nghiệm chứng minh của khoa học, rằng vật chất cũng không mất đi, Nhưng khoa học hay tâm lý học, thì nó cũng không thể chứng minh được linh hồn trong con người cũng không mất đi, mà nó chỉ biến chuyễn từ chúng sanh này sang chúng sanh khác mà thôi. Và vì sao khoa học và tâm lý học không làm được điều đó. Là vì nó là triết học duy vật. Còn linh hồn thì thuộc về triết học duy tâm.

Nói một cách khác, linh hồn của vật chất, của chúng sanh vô tình như cây cỏ thiên nhiên là năng lượng vật lý. Còn linh hồn của chúng sanh hữu tình (động vật) là năng lượng tâm lý. Cho nên những lời tôi nói đây, nếu để giải thích về thực tại, thì nó sẽ đúng chính xác với khoa học thực nghiệm. Còn những gì tôi nói về linh hồn, thì nó sẽ đúng với thuyết nhân quả luần hồi đầu thai của đức Phật Thích Ca. Vì con người có thể khác nhau về nghiệp chướng nhiều hay ít, nhưng đều giống nhau là có một linh hồn bất biến, bị giam hãm trong chính thân xác mình.

Do đó cái gì đã quyết định đường đi của linh hồn trong vũ trụ nhân sinh này, thì đó chính là cánh cửa mở ra cho linh hồn của chúng ta. Có nghĩa là cái gì đã quyết định cho sự luân hồi chuyễn kiếp của chúng ta, thì chính nó là yếu tố quyết định vậy.

Và câu trả lời đó chính là nghiệp chướng của chúng ta đó. Vì thế người ta nói sống trên đời gia tài lớn nhất của con người là nghiệp chướng (cả nghĩa đen và nghĩa bóng đều đúng hết). Và nó chính là vật thừa kế sở hữu cho mỗi cá thể, theo dòng biến chuyễn của thời gian vô tận này. Và nghiệp chướng là linh hồn của cái gọi “hạ trí tuệ” trong con người chúng ta đó. Hay nói khác hơn là cái “hạ trí tuệ” đã tạo ra nghiệp, và nghiệp đã tạo ra linh hồn. Vì con người đã quá ham muố đủ thứ nên mới tạo ra nghiệp chướng muôn trùng. Và chính nghiệp chướng này đã giam hãm mãi linh hồn con người, trong bóng tối vô hình của thân xác mình.

Do đó vấn đề giải thoát cho linh hồn, thì cũng chính là vấn đề phải phá bỏ nghiệp chướng đi.

Cái trí tuệ hữu vi, hữu lậu là phần tinh thần làm nên cuộc sống hữu hình của con người. Đó gọi là “hạ trí tuệ”. Vì đó là cuộc sống hiện thực của chúng ta đây. Nhưng nếu ai giàu có danh vọng nhiều thì đó cũng chính là có phước đức lớn. Tuy nhiên cũng chính cái phước đức lớn này, lại tạo ra nghiệp chướng cho chúng ta cũng lớn như vậy, cho nên con người trần gian thì ai cũng khổ cả. Người giàu thì chấp vào cái mình có. Là chấp vào cái mình hơn người, và xem mọi người đều thấp hèn hơn ta. Còn người nghèo không có gì thì lại chấp không. Là cảm thấy mạc cảm buồn khổ trách móc ông trời sao cho mình nghèo khổ quá vậy nè.

Và bất cứ cái gì từ bên ngoài tràn vào tinh thần con người chúng ta, thì nó cũng đều là nghiệp chướng hết. Vì đó chính là cái học từ bên ngoài đã tạo nên cái trí tuệ hữu vi, hữu lậu của chúng ta mà.

Vậy nghiệp chướng đi vào chúng ta bằng những con đường nào?

Thứ nhất, là bằng sự ham muốn hưởng thụ để thoã mãn nhu cầu của thân xác. Cho nên chúng ta đã làm cho các giác quan đã quen mùi dục lạc. Và đó cũng chính là nghiệp chướng khốn khổ nhất. Và chính nghiệp chướng này nếu quá nhiều, thì nó sẽ dẫn chúng ta đi theo con đường bản năng, giống như loài thú vật vậy.

Thứ hai, khi chúng ta đi học và nhận thức bằng ý thức. Và trong cuộc sống này chúng ta phải sống có trách nhiệm, phải biết và đo lường mọi thứ trong ứng xử bằng ý thức, để chúng ta tồn tại ổn định trên đời, giữa mình và xã hội. Chúng ta luôn chủ quan nắm bắt sự vật “không chính xác” với bản chất của nó, cho nên từ đó (vô tình) nó đã luôn tạo ra nghiệp chướng cho chúng ta rồi.

Thứ ba, bằng sự mơ mộng của tâm hồn, chúng ta luôn xây dựng cho mình một vòm không gian tình cảm tươi đẹp, để khi rãnh rổi thì chúng ta sẽ ẩn nấp vào trong đó. Và đó dường như là những tình cảm sâu đậm, với những người mà chúng ta khắc cốt ghi tâm, hình bóng của họ mãi trong tim mình. Và đó chính là nghiệp chướng nặng nề nhất, luôn trì kéo linh hồn của chúng ta xuống thấp, vì không có tự do. Và dĩ nhiên một ngày nào đó chúng ta nhận ra rằng, đó chỉ là điều tự mình huyễn hoặc mình mà thôi, thì chúng ta phải gánh chịu đau khổ ngập tràn...

Do đó làm sao chúng ta phải bỏ đi hết 3 cái nghiệp chướng này, thì chúng ta sẽ giải thoát được cho linh hồn của mình. Bằng không nếu trong 3 nghiệp chướng này, mà chúng ta gây tạo nghiệp chướng nào nhiều hơn, thì sau khi chúng ta chết, là chúng ta sẽ đầu thai vào đó, để phải trả cái quả báo của chúng ta đã gây tạo ra...

Và vấn đề chúng ta cần xét ở đây, là trong cái vòng luân hồi đầu thai của linh hồn thôi. Còn các vị A La Hán và đức Phật thì đã thoát ngoài vòng luân hồi rồi, thì chúng ta không xét tới nữa.

Vậy đi tu chứng đắc thì sẽ qua các bước sau đây, tương ứng với việc phá bỏ được 3 cái nghiệp chướng kia, thì sẽ giác ngộ giải thoát.

Thứ nhất là sơ quả Tu-Đà Hoàn. Nếu đắc được quả vị đầu tiên này là bạn đã phá bỏ được cái nghiệp chướng thứ nhất, là sau khi chết khỏi sanh về loài súc sanh như thú vật. Còn nếu như bạn tham ăn quá, thì sẽ sanh làm loài heo, hay chó gà, bò, dê, khỉ, trâu, chồn, cáo vv..

Thứ hai là quả vị Tư-Đà Hàm. Nếu bạn đắc được quả vị này, là bạn đã phá bỏ được nghiệp chướng thứ hai, là dùng ý thức để lừa gạt, nói dối vụ lợi cho mình. Là thoát khỏi cái ngã kiến sai lạc của ý thức. Thì sau khi đầu thai thành người sẽ được nhiều người tin cậy, và không phải sa vào vòng lao lý tù đày. Đồng thời với ý thức trong sáng, thì bạn sẽ có công danh và có phước đức giàu sang. Còn nếu có nguyện đi tu tiếp, thì cũng sẽ thành công trên con đường đạo hạnh huy hoàng đó.

Thứ ba là quả vị A-Na Hàm. Nếu bạn đắc được quả vị này, là thoát khỏi ngã ái chấp thủ, yêu ghét si mê, mộng mơ vọng tưởng đảo điên, và tham lam sân hận. Vì thế khi sanh làm người, bạn sẽ có thân tướng đẹp đẻ, đoan trang thuỳ mị và giàu sang hơn người. Cũng như bạn luôn có danh vọng huy hoàng như là phước đức lớn nhất. Vì bạn giác ngộ đến đây là được lên cỏi trời hưởng phước mà. Và nếu như bạn sân giận suốt ngày thì rất xấu, nên khi sanh làm người thì mặt mũi cũng rất xấu xí khó coi. Còn nếu bạn ngã mạn khinh người quá đáng, thì khi sinh làm người, sẽ bị sanh vào nhóm người thấp hèn nhất trong xã hội.

Nhưng từ cỏi người trở xuống, thì chúng ta nên biết đó là nghiệp chướng do “hạ trí tuệ” sanh ra. Còn nếu từ cỏi người trở lên, thì có cỏi trời, cỏi thánh, cỏi Phật, là do bạn có “thượng trí tuệ” thì mới được sanh lên đó. Vì thế hãy tu tập để lấy “thượng trí mà phá bỏ hạ trí” thấp hèn đi, thì sự luân hồi đầu thai của bạn sẽ đi lên các cỏi lành ở trên. Còn nếu bạn độc ác tham lam sân hận, thì sẽ bị đầu thai xuống các cỏi dữ ở phía dưới.

Làm người thì chúng ta ai cũng phải sống, như ăn uống đi lại, và mong cầu chiếm hữu cho mình.vv. Và tất cả những cái sống này sẽ tạo nghiệp chướng kiếp sau cho mình cả. Vì sống cho bản năng của thân xác, cho toan tính của trí tuệ hữu lậu, rồi tình thương yêu ghét vị kỷ, thì đều là nghiệp chướng, nếu như chúng thu nó vào trong thành cái vô hình. Và cái này là do chính ta tạo ra, nên chính nó cũng sẽ quyết định đời sống kiếp sau này của ta luôn. Chứ bây giờ chúng ta gây tạo nghiệp ác quá lớn rồi, thì cũng nên chuẩn bị mà thọ lãnh quả báo nhãn tiền đi, thì cũng coi như được xả bớt nghiệp vậy. Còn nếu cứ đi cầu xin mãi, và nghiệp chướng cứ còn đó mãi, thì sau này sẽ phải trả một cục to đùng luôn thì kinh khủng lắm đó. Và nói như vậy để thấy rằng, nếu chúng ta có bị tai nạn gì, thì cũng là do nghiệp của chính mình mà thôi.

Đức Phật nói sanh được làm người là may mắn hy hữu nhất trên đời. Vì bây giờ người ta sống sa đoạ hưởng thụ dục lạc nhiều quá. Và nó gần như là vượt cả ra ngoài nhu cầu sinh lý của thân xác. Mà nó là sự đỏi hỏi vô tận của cái tâm lý bệnh hoạn của con người chúng ta thôi. Vì thế những kẻ kiếp này sống sa đoạ chìm ngập trong si mê tình dục suốt ngày, thì kiếp sau chắc chắn sẽ sanh về loài súc sanh, súc vật. Tương tự như thế, kiếp này anh giàu sang, là do kiếp trước anh có bố thí tu phước, nên kiếp này anh được hưởng. Nhưng kiếp này anh lại tham nhũng hối lộ cướp của giết người, thì kiếp sau sẽ làm người nghèo hèn, khổ sở khốn cùng trong đau đớn tả tơi. Và hãy nhớ, kiếp này chúng ta nợ nhau hay có oán thù nhau, thì đều là do nghiệp dẫn từ tiền kiếp cả. Vì thế nghiệp thì nên gỡ đi chứ không nên kết thù oán nhiều hơn, rồi lại lãnh đủ luôn. Và cái này là chưa nói tới sự cộng nghiệp của gia đình, của xã hội, và của cả đất nước nữa đó.

................................................................................

Trong ngôi nhà thân xác, có một đứa trẻ vô tâm không sanh không diệt, không tới không lui, không thiện không ác. Và dù gió bão cuộc đời có thể nhấn chìm ngôi nhà này trong cát bụi, nhưng đứa trẻ kia không bao giờ chết..
HÙNG HÀ

BÀI THƠ “LÍNH MÀ EM” CỦA PHẠM TIẾN DUẬT HAY CỦA LÝ THỤY Ý?



Chúng tôi (TMH) vừa nhận được email của nhà thơ, nhà văn Lý Thụy Ý nói về bài thơ “Lính mà em” của bà đã từng in trên báo “Văn nghệ tiền phong” tại Sài Gòn năm 1967, sau đó in vào tập thơ “Khói lửa” của bà in năm 1972 tại Sài Gòn. Bài thơ này còn in trong tuyển tập: “Thơ tình nam 1975” của miền Nam.
Nhưng, lạ lùng thay, bài thơ “Lính mà em” của nhà thơ Lý Thụy Ý lại thấy nằm trong tuyển tập thơ Phạm Tiến Duật do nhà xuất bản Hội Nhà Văn Việt Nam xuất bản năm 2007, tất nhiên là bài thơ mang tên Phạm Tiến Duật (có sửa một số chữ màu xanh) dưới đây .
Còn đây là lá thư điện tử của nhà thơ Lý Thụy Ý gửi chúng tôi (TMH) :
Kính gởi nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Tôi tình cờ đọc được trên trang mạng của Nguyễn Trọng Tạo và Nguyễn Khắc Phục những luồng ý kiến về bài thơ “LÍNH MÀ EM” mà tôi là tác giả. Tôi, Lý Thụy ý, viết báo và làm thơ tại Sài gòn trước 1975, đã viết “Lính mà em” khoảng năm 1967-1968. Bài thơ sau đó đăng lên tuần báo Văn nghệ Tiền phong của Sài gòn, tạo được tiếng vang cho tên tuổi Lý Thụy Ý, và được đưa vào thi phẩm “Khói lửa 20″…
Đó là tâm tư của một người con gái thời chiến

yêu lính, “đặc sệt” chất “Em gái hậu phương”, nói với người tình lính chiến hay dùng “Lính mà em” để biện hộ cho những lần thất hứa…Tôi tin rằng nhiều người Sài gòn vẫn còn nhớ “Lính mà em” của Lý thụy Ý, vì bài thơ được hai nhạc sĩ Y Vân và Anh Thy phổ nhạc, Hùng Cường hát và phát đi phát lại trên đài phát thanh nhiều lần…
Tôi gởi kèm cho ông 2 bài thơ, 1 được cho là của nhà thơ Phạm Tiến Duật (Ông Nguyễn Khắc Phục gần như khẳng định ). Bài thơ có lẽ được chép qua những người không “thuộc” cho lắm nên lôm côm và mất ý, tôi tin nếu Phạm Tiến Duật làm, chắc chắn sẽ hay hơn nhiều! Và một “Lính mà Em” của chính tác giả, Lý Thụy Ý, để ông thấy rõ sự khác biệt giữa “thật” và “tam sao thất bổn”…Thật ra, tôi đã đọc nhiều “Lính mà em”…và thất vọng khi thấy câu chữ hầu như…chẳng còn gì ngoài ba từ “Lính mà em!”
Hy vọng với sự khách quan, ông cho vài ý kiến, và tôi cũng chỉ biết ngậm ngùi khi mà bài thơ nầy giờ đây cũng đã nằm chễm chệ trong tập thơ cuối cùng của nhà thơ Phạm Tiến Duật với những câu cú…đáng buồn!

Cũng xin nói thêm rằng, chỉ có “người ngoài cuộc” là nói Lính mà Em của Phạm Tiến Duật, còn bản thân ông thì không thừa nhận. Trên báo TUỔI TRẺ số ra ngày Chủ nhật- 4-11-2007, trong bài “Một người lính đặc biệt trên đường mòn huyền thoại” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều viết về Phạm Tiến Duật có đoạn:( xin trích nguyên văn )”…Khi tôi đến, ông lấy tập thơ tặng tôi và mở tập thơ ra chỉ cho tôi xem một bài thơ và nói đó không phải là thơ của ông, nhưng vì yêu quí mà những người làm sách đã đưa bài thơ đó vào. Đó là bài “Lính mà Em”. Phạm Tiến Duật nói đây là bài thơ của một nhà thơ nào đó của Sài gòn viết trước 1975…”(Nguyễn Quang Thiều).
Thật ra, những dư luận cũng đã qua khá lâu, nhưng gần đây tôi mới tình cờ biết được nên nghĩ tác giả Lính Mà Em lên tiếng cũng không thừa, trước hết để tránh sự ngộ nhận không đáng có, thứ hai là đưa ra nguyên bản bài thơ để những người yêu Lính mà em có một bài thơ đúng nghĩa.
Hy vọng không làm phiền nhà thơ.
Chân thành cám ơn.
Lý Thụy Ý
Sài gòn 22- 12- 2012

***

Phạm Tiến Duật

LÍNH MÀ EM !

Em trách Anh gửi thư sao chậm trễ
Em đợi hoài em sẽ giận cho xem
Thư Anh viết bao giờ Anh muốn thế
Hành quân hoài đấy chứ,
Lính mà em!
Anh gửi cho Em mấy nhành hoa dại
Để làm quà không về được em ơi
Không dự lễ Nô-En cùng em được
Thôi đừng buồn em nhé,
Lính mà em!
Ngày nghỉ phép Anh cùng Em dạo phố
Tay chiến binh đan năm ngón tay mềm
Em xót xa đời anh nhiều gian khổ
Anh mỉm cười rồi nói,
Lính mà em!
Qua xóm nhỏ anh ghi dòng lưu niệm
Trời mưa to, hai đứa nép bên thềm
Anh che em khỏi ướt tà áo tím
Anh quen rồi không lạnh,
Lính mà em!
Anh kể em nghe chuyện trong này
Trăng đầu mùa không đủ viết thư đâu
Thư Anh viết chữ mờ nét vụng
Hãy hiểu dùm Anh nhé,
Lính mà em!
Ghét Anh ghê chỉ được tài biện hộ
Làm cho người ta thêm nhớ thương
Em xa lánh những ngày vui trên phố
Để nhớ người hay nói,
Lính mà em!

Phạm Tiến Duật, sinh năm 1941 tại Phú Thọ.
Ông đóng góp chủ yếu là tác phẩm thơ, phần lớn thơ được sáng tác trong thời kỳ ông tham gia quân ngũ. Thơ của ông được các nhà văn khác đánh giá cao và có nét riêng như: giọng điệu sôi nổi, trẻ trung và có cái “tinh nghịch” nhưng cũng rất sâu sắc. Nhiều bài thơ của ông đã được phổ nhạc thành bài hát trong đó tiêu biểu nhất là “Trường Sơn đông, Trường Sơn tây”.
Những tập thơ chính:

Vầng trăng quầng lửa (thơ, 1970),
Ở hai đầu núi (thơ, 1981)
Vầng trăng và những quầng lửa (thơ, 1983)
Thơ một chặng đường (tập tuyển, 1994)
Nhóm lửa (thơ, 1996)
Tiếng bom và tiếng chuông chùa (trường ca, 1997)
Tuyển tập Phạm Tiến Duật (in xong đợt đầu ngày 17-11-2007, khi Phạm Tiến Duật đang ốm nặng)

Ông được ca tụng là “con chim lửa của Trường Sơn huyền thoại”, “cây săng lẻ của rừng già”, “nhà thơ lớn nhất thời chống Mỹ”. Thơ ông thời chống Mỹ từng được đánh giá là “có sức mạnh của một sư đoàn” .

Lý Thụy Ý

LÍNH MÀ EM

Mình trách anh hay hồi âm thư trễ
-Em đợi hoài! Em sẽ giận cho xem
Thư anh viết:- Bao giờ anh muốn thế
Hành quân hoài đấy chứ- Lính mà Em!
Anh gởi về em mấy cành hoa dại:
-Để làm quà không về được Noel
Không đi lễ nửa đêm cùng em gái
Thôi đừng buồn anh nhé- Lính mà em!
Anh kể chuyện hành quân nằm sương gối súng
Trăng tiền đồn không đủ viết thư đêm
Nên thư cho em nét mờ, chữ vụng
-Hãy hiểu dùm anh nhé- Lính mà Em!
Qua hành lang Eden ghi kỷ niệm
Buổi chiều mưa hai đứa đứng bên thềm
Anh che cho em khỏi ướt tà áo tím
-Anh quen rồi, không lạnh- Lính mà em
Ngày về phép anh hẹn mình dạo phố
Tay chinh nhân đan năm ngón tay mềm
Mình xót xa đời anh nhiều gian khổ
Anh cười buồn khẽ nói:- Lính mà em!
Ghét anh ghê! Chỉ được tài biện hộ
Làm “người ta” càng thương mến nhiều thêm
Nên xa lánh những cuộc vui thành phố
Để nhớ một người hay nói LÍNH MÀ EM !
(Khói Lửa 20-1967)

(Lính Mà Em, thơ Lý Thụy Ý, trong tập THƠ TÌNH NAM 1975 do gio-o.com tuyển chọn và giới thiệu)

Qua những bằng chứng trên đây, rõ ràng bài thơ “Lính mà em” là thơ của nhà thơ Lý Thụy Ý chứ không phải thơ của nhà thơ Phạm Tiến Duật. Chỉ cần nghe hơi thơ biết đây là thơ của một người phụ nữ, càng không phải phong cách thơ tinh nghịch, hóm hỉnh, nghiêng về bút pháp hiện thực của Phạm Tiến Duật.
Chắc là người chủ biên tuyển tập Phạm Tiến Duật (tập 1) là nhà văn Nguyễn Khắc Phục đã có sự nhầm lẫn đáng tiếc khi thực hiện tuyển tập thơ này. Mong nhà văn Nguyễn Khắc Phục cho công luận biết vì sao một bài thơ của nữ thi sĩ Việt Nam Cộng hòa làm cho lính miền Nam lại biến thành bài thơ của nhà văn cộng sản miền Bắc làm cho lính miền Bắc trong khi hai bên đang ở hai chiến tuyến giao tranh?
Bài thơ “Lính mà em” của nhà thơ Lý Thụy Ý viết năm 1967, khi Phạm Tiến Duật chưa nổi tiếng ngoài miền Bắc. Trong cuộc thi thơ của báo Văn Nghệ năm 1969, chùm thơ của Phạm Tiến Duật được giải nhất, bạn đọc mới biết tên tác giả này.
Chúng tôi xin giới thiệu thêm hai bài thơ của chị Lý Thụy Ý để thấy hơi thơ cùng hơi thơ của ‘Lính mà em” là do một người viết:

Những Bài Thơ Viết Trước 1975

Mang ý tưởng về những người lính chiến
Từng đêm buồn gác bên súng vào Thơ
Phương trời xa – theo ánh hỏa châu mờ
Nghe chiến trận về gần miền đô thị
1968
Vì…
Viết trong mùa hè đỏ lửa
Vì tất cả những người trong cuộc chiến
Đều mỉm cười chấp nhận chuyện chia ly
Vì chúng mình là người trong cuộc chiến
Em không buồn khi tiễn bước anh đi
Vì hai tiếng Việt Nam trìu mến quá
Nên hàng hàng lớp lớp tiếp chân nhau
Vì mãnh đất quê hương kiều diễm quá
Nên hoa ngụy trang áo chiến chóng phai màu!
Vì Trường Sơn còn kiêu hùng ngạo nghễ
Nên từng đoàn chim sắt lướt tung mây
Vì Cửu Long còn từng cơn sóng vỗ
Nên tàu đi những chuyến hải trình dài
Vì thương người bên kia bờ vĩ tuyến
Nên vạn bàn tay chung sức đắp con đường
Còn ngăn cách bởi dòng sông Bến Hải
Và nhịp cầu mang hai chữ Hiền Lương!
Vì dưới bóng quân kỳ bay phất phới
Còn những người lính trẻ đứng hiên ngang
Nên như ngày xưa tiễn Người ra quan ải
Em hai tay nâng rượu tiển đưa Chàng…
1972
LÝ THỤY Ý

- Tên thật Nguyễn Thị Phước Lý, Sinh nhật vào ngày : 02-04-1947
- Quê nội: Quảng Nam – Quê ngoại: Thừa Thiên – Huế
- Làm thơ, viết văn, viết báo ở đất Sài Gòn từ giữa thập niên 60 thế kỷ XX.
Lý Thụy Ý, một nữ văn, thi sĩ nổi danh từ trước 1975, khởi sự viết cho tuần báo ‘Văn Nghệ Tiền Phong’, thư ký tòa soạn tờ báo này trông coi mục Văn nghệ Kaki (Văn nghệ lính)
Sau 1975, Lý Thụy Ý, bạn cải tạo của các nhà văn, báo Thanh Thương, Lý Đại Nguyên, Doãn Quốc Sỹ, v.v… sau về tp. HCM lấy chồng, viết văn, sáng tác.

Những tác phẩm chính:
Thơ: – Khói lửa 20 (1972) – Thơ tình Lý Thụy Ý (1995) – Kinh tình yêu (2003)
Văn: – Theo triền nắng đổ (1970) – Người sau tuyến lửa (1972) – Bông hồng không tỏa hương (1992) – Ngọc lai (1993) – Khuya hoang (1994) – Những mùa xuân chín (1999)
Sưu Tầm từ Facebook

Tàu Titanic

Hãy đọc những dòng này và tôi tin không một ai có thể cầm nổi nước mắt. Những giọt nước mắt cần cho cuộc sống quá khô khát của chúng ta. (Bài lấy từ Bui Huy Hoi Bui)

Đêm 14.4.1912, một vụ tai nạn kinh hoàng đã xảy ra. Con tàu mang phong hiệu “không thể chìm” có tên Titanic đã đâm sầm vào một tảng băng trôi khổng lồ...

———————————

Charles Lightoller - thuyền phó thứ hai của Titanic.
1.514 người đã thiệt mạng trong vụ đắm tàu kinh hoàng năm ấy. Nỗi đau đã khép lại hơn 100 năm, ngày nay, những gì người ta lưu lại về từ khóa “Titanic” có thể là: vụ đắm tàu, thảm họa hàng hải nghiêm trọng nhất mọi thời đại hay mối tình lãng mạn của Jack và Rose, cũng có thể là tình ca bất hủ “My heart will go on” qua chất giọng cao vút của Celine Dion…

Tuy nhiên, hầu như tất cả đều không nhận ra, đằng sau bức màn đen tối của những nỗi đau và mất mát ấy là một kiệt tác vĩ đại của Lòng vị tha. Charles Lightoller, khi ấy 38 tuổi, thuyền phó thứ 2 trên con tàu Titanic, ông là người cuối cùng được kéo lên trên thuyền cứu hộ, cũng là người còn sống sót có chức vị cao nhất trên thuyền lúc đó.
Trở về từ cõi chết, sau rất nhiều năm giấu kín và im lặng, cuối cùng Charles quyết định viết 17 trang hồi ức, kể lại chi tiết vụ tai nạn kinh hoàng mà ông chứng kiến. Từng câu từng chữ của ông chưa bao giờ sống động và dồn dập đến vậy. “Chỉ cần tôi còn sống, tôi sẽ không bao giờ quên được cảnh tượng đêm đó!”

“Phụ nữ và trẻ em lên trước!”
Khi mệnh lệnh vừa vang lên, nhiều người rời thuyền cứu hộ, họ lặng lẽ bước ra phía sau châm điếu thuốc và hút. Charles không thấy bất kỳ một phụ nữ hay trẻ em có ý định bỏ lại những người đàn ông thân yêu của họ. Tất cả mọi người dường như rất bình tĩnh…trước cái chết…dù đó là một thương nhân nổi tiếng hay người hầu.
Khi chiếc thuyền cứu hộ đầu tiên được đưa xuống mặt nước, Charles đã hỏi một người phụ nữ họ Straw khi ấy đang ở trên boong tàu, “Bà có muốn tôi đưa bà lên thuyền cứu hộ không?”. Người phụ nữ lắc đầu, “không, tôi nghĩ vẫn là ở lại trên tàu thì tốt hơn”. Người chồng của bà hỏi, “tại sao em lại không muốn đi lên thuyền cứu hộ?” Người phụ nữ mỉm cười trả lời, “không, em vẫn muốn ở bên cạnh anh”. Cũng kể từ đây, Charles không bao giờ còn gặp lại đôi vợ chồng này lần nữa…

Astor đệ tứ (John Jacob Astor IV), một nhà kinh doanh, nhà phát minh, nhà văn nổi tiếng và là một trong những người giàu nhất thế giới lúc bấy giờ. Sau khi đưa người vợ mang thai 5 tháng tuổi lên thuyền cứu hộ, một tay dắt chó, tay còn lại châm điếu xì gà rồi hét to về phía chiếc thuyền cứu hộ đang trôi dần về nơi xa “Anh yêu hai mẹ con”. Thuyền phó đã ra mệnh lệnh cho Astor đệ tứ lên thuyền, nhưng ông kiên quyết trả lời “tôi thích cách nói cơ bản nhất (bảo vệ phái yếu)!”. Sau đó, ông nhường chỗ của mình cho một người phụ nữ ở khoang hạng 3.
Vài ngày sau, khi bình minh vươn lên trên mặt biển Đại Tây Dương, đội cứu hộ tìm thấy thi thể ông trong tình trạng đầu bị chấn thương nghiêm trọng do đập vào ống khói. Khối tài sản của ông đủ để chế tạo 10 con tàu Titanic, nhưng Astor đệ tứ đã từ chối tất cả. Ông chọn cái chết để bảo vệ người thân yêu của mình, bảo vệ “phụ nữ và trẻ em” và bảo vệ nhân cách của mình.

Ben Guggenheim, một nhà tỷ phú, một nhân vật nổi tiếng trong ngành ngân hàng. Trong giờ phút nguy nan nhất, khi tất cả mọi người đang hối hả và vội vã, ông thản nhiên thay một bộ vest dạ hội sang trọng và tuyên bố, “tôi phải chết thật trịnh trọng, như một quý ông”. Trong lời nhắn ông gửi cho vợ viết, “Trên con tàu này, không có bất kỳ một phụ nữ nào vì anh cướp chỗ trên thuyền cứu hộ mà bị bỏ lại trên boong tàu. Anh sẽ không chết giống như một tên khốn, anh sẽ giống như một người đàn ông chân chính”.

Một thủy thủ đề nghị với Strauss, nhà sáng lập công ty bách hóa Macy của Mỹ, cũng là người giàu thứ hai thế giới rằng, “tôi bảo đảm sẽ không ai phản đối một người già như ngài bước lên thuyền cứu hộ đâu”. Strauss nói, “tôi sẽ không đi khi những người đàn ông khác còn đang ở lại”. Khi ông cố gắng khuyên giải bà Rosalie vợ của mình lên thuyền cứu hộ thì bà vẫn một mực từ chối. Bà nói, “bao nhiêu năm qua, anh đi đâu là em theo đến đó, em sẽ cùng anh đi đến bất cứ nơi nào mà anh muốn đi”.
Sau đó, ông choàng lấy cánh tay của bà Rosalie, thong thả bước đến chiếc ghế trên boong tàu, ngồi xuống và chờ đợi giây phút cuối cùng của cuộc đời. Ngày nay, tại Bronx thành phố New York, người ta xây một tượng đài để tưởng niệm vợ chồng ông Strauss, trên đó khắc hàng chữ “Tình yêu không thể nào nhấn chìm dù có nhiều nước biển hơn nữa”.

Một doanh nhân người Pháp tên Nahuatl đưa hai cậu con trai của mình lên thuyền cứu hộ, nhờ một vài người phụ nữ chăm sóc cho chúng, và mình thì từ chối lên thuyền. Sau khi hai đứa con trai được cứu sống, báo chí khắp nơi trên thế giới đều rầm rộ đăng hình ảnh của hai đứa trẻ này, cho đến khi mẹ của chúng từ hình ảnh nhận ra được chúng.

Trong giờ phút nguy kịch, Lydepas ôm chặt lấy người chồng mới cưới, không muốn thoát chết một mình. Vì bất đắc dĩ, chồng Lydepas phải đấm cô ngất xỉu, khi cô tỉnh lại thì đã thấy mình trên một chiếc thuyền cứu hộ đang trôi lênh đênh ngoài biển. Về sau, Lydepas cả đời không tái giá, sống độc thân để hoài niệm người chồng đã mất của mình.

Trong buổi họp mặt những người may mắn sống sót tại Lausanne nước Thụy Sĩ, bà Smith kể lại, “lúc đó hai đứa con của tôi được bế lên thuyền cứu hộ. Vì quá tải nên tôi không thể lên thuyền nữa, một người phụ nữ ngồi trên thuyền cứu hộ khi ấy đã đứng dậy rời khỏi chỗ ngồi, rồi đẩy tôi lên và hét lớn với tôi một câu “Ngồi đi, những đứa trẻ không thể thiếu mẹ!”. Bà hối tiếc vì lúc đó đã không hỏi tên người phụ nữ đó.

Những người thiệt mạng trong vụ tai nạn này còn có tỷ phú Acid, nhà báo nổi tiếng Stead, Thiếu tá pháo binh Bart, kỹ sư Robble nổi tiếng...Họ nhường chỗ của mình trên thuyền cứu hộ, cho những phụ nữ nông dân không một đồng trên người.

Hơn 50 nhân viên cấp cao trên tàu Titanic, ngoài thuyền phó thứ hai Charles Lightoller chỉ huy cứu hộ may mắn sống sót, toàn bộ đều hết mình cứu người đến chết trong cương vị của mình.
Khoảng 2h sáng nhân viên điện báo số 1 John Philip nhận được mệnh lệnh bỏ tàu của thuyền trưởng, mọi người tự mình cứu mình, nhưng ông vẫn ngồi trong phòng thông báo, vẫn giữ tư thế phát tín hiệu SOS liên tục cho đến phút cuối cùng. Khi đuôi tàu bắt đầu chìm xuống nước, Charles nghe thấy vào khoảnh khắc cuối cùng, khoảnh khắc của sinh ly tử biệt, những lời yêu thương vang lên: “I love you! I love you!”

Trong bức màn đêm đen tối nhuốm đẫm đau khổ và chia ly, tinh thần quý tộc nổi lên như ngọn đuốc rực sáng, khắc họa nên một tuyệt tác vĩ đại về nhân cách và đạo đức con người. Giáo dục lối sống không chỉ là lý thuyết; mà trong những hoàn cảnh thực tế, những bài học đạo đức ăn sâu vào tâm thức trở thành kim chỉ nam cho hành động của mỗi người.

Phụ nữ và trẻ em, những con người yếu đuối cần được tôn trọng và ưu tiên. Những người đàn ông lịch lãm không chỉ là kẻ nói lời hoa mỹ và tử tế trên bàn tiệc; mà ngay cả khi đối diện với thực tế rằng dù ngày mai tất cả đều trở thành vô nghĩa thì bài học về đạo đức và nhân cách hôm nay vẫn cần được thực hành một cách tuyệt đối.

Nhân sinh như cõi mộng, dù cho người đó giàu có bao nhiêu hay nghèo kém cỡ nào, đứng trước sinh tử cũng đều chỉ là một sinh mệnh bé nhỏ. Quan trọng hơn, khi ấy người ta mới thật sự nhận ra điều quan trọng nhất của cuộc đời: Không phải vật chất, không phải quyền danh càng không phải nhận lại điều gì cho mình mà là cho người khác, là vị tha.

Vị tha hàm chứa một sức mạnh vô tỉ, đã biến những con người xấu số trong cơn “bão biển” kinh hoàng năm ấy trở thành biểu tượng vĩ đại của tấm lòng thiện lương cao cả.

(Hồng Tâm)

Thư cha gửi con trai


Con trai yêu dấu!

Đời người phúc họa vô thường! Không một ai biết trước mình sẽ sống được bao lâu. Có một số việc tưởng nên sớm nói ra thì hay hơn.

Cha là cha của con, nếu cha không nói với con, có lẽ không ai nói rõ với con những điều này!

Những lời khuyên để con ghi nhớ này, là kết quả bao kinh nghiệm xương máu, thất bại đắng cay trong cuộc đời, mà bản thân cha đã trải nghiệm. Nó sẽ giúp con tiết kiệm nhiều những nhầm lẫn hoang phí trên bước đường trưởng thành của con sau này.

Dưới đây là những điều con nên ghi nhớ trong cuộc đời:

- Nếu có người đối xử không tốt với con, đừng bận tâm cho mất thời giờ. Trong cuộc đời này, không ai có nghĩa vụ phải đối xử tốt với con, ngoại trừ Cha và Mẹ của con. Nếu có người đối xử tốt với con, ngoài việc con phải biết ơn và trân quý, con cũng nên thận trọng suy xét, vì người đời làm việc gì thường có mục đích và nguyên nhân. Con chớ vội vàng xem đối phương là chân bằng hữu .

- Con có thể yêu cầu mình phải giữ chữ TÍN, nhưng không thể bắt người khác phải giữ chữ TÍN với mình. Con có thể yêu cầu mình phải đối xử TỐT với người khác, nhưng không thể kỳ vọng người khác phải đối xử TỐT với con. Con đối xử người ta thế nào, không có nghĩa là nguời ta sẽ đối xử lại mình như thế ấy, nếu con không hiểu rõ được điểm này, sẽ tự chuốc lấy buồn phiền cho mình mai sau.

- Trên đời không phải không có người nào mà không thể thay thế được, không có vật gì mà nhất định mình phải sở hữu được. Con nên hiểu rõ ở điểm này. Nếu mai sau rủi người bạn đời không còn muốn cùng con chung sống, hoặc giả con vừa mất đi những gì trân quý nhất trong đời, thì con nên hiểu rằng: Đây cũng không phải là chuyện lớn lao gì cho lắm!

- Trên đời này chẳng hề có chuyện yêu thương bất diệt. Ái tình chỉ qua là một cảm xúc nhất thời. Cảm giác này tuyệt đối sẽ theo thời gian, hoàn cảnh mà thay đổi. Nếu người yêu rời xa con, hãy nhẫn nại chờ đợi , để thời gian từ từ gột rửa, để tâm tư mình dần dần lắng đọng thì nỗi đau thương cũng sẽ từ từ nhạt nhòa đi . Không nên cứ ôm ấp hoài niệm mãi cái ảo ảnh yêu thương, cũng không nên quá bi lụy vì tình.

- Đời người ngắn ngủi, nếu hôm nay con đã lãng phí thời gian, mai đây hiểu được thì thấy rằng quãng đời đó đã vĩnh viễn mất rồi! Cho nên càng biết trân quý sinh mạng của mình càng sớm, thì con sẽ được tận hưởng cuộc đời mình càng nhiều hơn. Trông mong được sống trường thọ, chi bằng con cứ tận hưởng cuộc đời mình ngay từ bây giờ.

- Cha không yêu cầu con phải phụng dưỡng cha trong nửa quãng đời còn lại. Ngược lại, Cha cũng không thể bảo bọc nửa quãng đời sau này của con, khi mà con đã trưởng thành và tự lập. Đây là lúc Cha đã làm tròn trách nhiệm của mình. Sau này con có đi xe buýt hay đi xe hơi riêng; ăn súp vi cá hay ăn mì gói, tự con lo liệu lấy.

- Gia đình thân nhân chỉ là duyên phận một đời. Bất luận trong kiếp này chúng ta sống chung với nhau được bao lâu và như thế nào, nên trân quý khoảng thời gian sum họp, gia đình đoàn tụ. Kiếp sau, dù ta có thuơng hay không, cũng không chắc sẽ còn gặp lại nhau.

- Tuy có nhiều người thành công trên đường đời mà học hành chẳng đến đâu. Nhưng điều đó cũng không có nghĩa là không cần học hành mà vẫn thành công. Kiến thức đạt được do việc học hành, là vũ khí trong tay của mình. Ta có thể lập nên sự nghiệp từ hai bàn tay trắng, nhưng không thể thiếu sự hiểu biết. Nên nhớ kỹ điều này!

- Hơn mười mấy, hai mươi mấy năm nay, Cha tuần nào cũng mua vé số, nhưng đến nay, ngay đến giải 3 vẫn chưa từng trúng. Điều này chứng tỏ rằng: Muốn phát đạt phải siêng năng làm ăn, nỗ lực phấn đấu chứ không phải chờ đợi điều may mắn đến với con. Trên thế gian này không có buổi ăn trưa nào miễn phí cả. Nếu may mắn có đến với con, đấy là điều tốt, còn nếu không thì cũng chẳng có vấn đề gì, bởi tất cả phải dựa vào chính bản thân con.

- Con hãy BIẾT ƯỚC MƠ, nhưng để trở thành hiện thực thì ước mơ đừng xa rời thực tế, đừng hão huyền và ảo tưởng. Con phải LUÔN CÓ NIỀM TIN. Không chỉ là niềm tin vào chính bản thân mình mà con cũng cần có niềm tin vào mọi người, niềm tin vào cuộc sống. Nếu không có niềm tin, con sẽ chẳng thể làm được việc gì. Công việc, cuộc sống đôi lúc sẽ có những khó khăn, trở ngại đòi hỏi con phải LUÔN NỖ LỰC. Để có được những thành công thì không thể thiếu sự cố gắng và say mê, con ạ. Hãy nhớ rằng THÀNH CÔNG KHÔNG PHẢI LÀ MỘT ĐÍCH ĐẾN MÀ LÀ MỘT QUÁ TRÌNH. Vì thế, con hãy tiếp tục ước mơ, tiếp tục tin tưởng và không ngừng nỗ lực, con nhé.


(Sưu tầm)