XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG

Thứ Sáu, 17 tháng 3, 2023

Lịch sử Làng Phố Mới xã Vĩnh Tiến huyện Vĩnh Lộc Thanh Hoá

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng từng bước công nghiệp hóa, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng lạc hậu. Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu, có phát triển kinh tế dịch vụ không những ở thành thị mà ở cả nông thôn. Thực hiện chủ trương của huyện về xây dựng khu vực Ngã Ba đi Kim Tân trở thành khu vực dịch vụ thương mại, tháng 11 năm 1993 Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Tiến cắt đất ở cho nhân dân dọc Quốc lộ 45 và Quốc lộ 217 từ khu đất có tên là Nổ Đơm đến đền Tam Tổng và xây dựng chợ Tây Đô ở khu Cồn Xấm để hình thành khu dân cư mới và là trung tâm dịch vụ thương mại của xã.

- Diện tích: 7,0 ha, trong đó: Đất phi nông nghiệp 6,14 ha; Đất GTTL + nghĩa địa 0,86 ha.

- Dân số: 420 người; số hộ: 127 hộ;

- Nhà văn hóa làng: Có; diện tích: 140 m2 ;

- Khu thể thao làng: Có; diện tích: 3.000 m2

- Vị trí địa lý: phía Bắc giáp làng Xuân Giai; phía Nam giáp Thị Trấn; phía Tây giáp làng Thổ Phụ; phía Đông giáp Vĩnh Long.

Làng Phố mới lấy ngày 10 tháng Giêng âm lịch hàng năm là ngày hội làng.

Lịch sử Làng Phương Giai (Phía Nam Thành Nhà Hồ)

Làng Phương Giai có tên là Vạn Ninh Phường, Phương Nhai, Phương Vệ. Làng có nguồn gốc từ một cụm dân cư ở Cồn Xấm (nay là đất làng Phố Mới - khu vực Ngã ba đi Kim Tân). Theo truyền lại vùng dân cư ở Cồn Xấm đã có trước khi Hồ Quý Ly cho xây dựng thành An Tôn (1397). Năm 1400 Hồ Quý Ly xưng Vương tại Tây Đô, các cụm dân cư xung quanh thành được đặt tên mới. Cụm dân cư ở Cồn Xấm gọi là Vạn Ninh Phường (phường Vạn Ninh) nằm trong khu vực hành chính Kinh đô nhà Hồ.

- Diện tích: 46,56 ha, trong đó: Đất nông nghiệp 29,1 ha; Đất phi nông nghiệp 14,0 ha; Đất GTTL + Nghĩa địa 2,42 ha; Đất chưa sử dụng 1,04 ha.

- Dân số: 629 người; số hộ: 170 hộ;

- Nhà văn hóa làng: Có; diện tích: 130 m2 ;

- Khu thể thao làng: Có; diện tích: 2.600 m2

- Vị trí địa lý: phía Tây giáp Vĩnh Thành; phía Đông giáp Thị Trấn; phía Nam giáp Vĩnh Thành; phía Bắc giáp làng Thổ Phụ.

Lịch sử Làng Tây Giai: (làng ở ngoài Cổng Tây Thành Nhà Hồ)

Làng Tây Giai còn có tên phường Lan Giai, Tây Nhai, Tây Vệ. Đất của làng Tây Giai ở hiện nay, trước kia cũng là đất động An Tôn, huyện Vĩnh Ninh (nay là huyện Vĩnh Lộc). Vào cuối thời Trần, mảnh đất này lác đác đã có cư dân sinh sống. Từ khi xây dựng thành An Tôn (1397) nhà Hồ cho xây dựng các đường phố, xây dựng chợ, đặt ra các phường, trong đó có phường Lan Giai, nay là làng Tây Giai, chợ Tây Đô nay là chợ Tây...

Làng Tây Giai hiện có các dòng họ đang sinh sống đó là: Trương, Phạm, Nguyễn, Dương, Lê, Đào, Ngô, Lưu, Vũ, Hoàng, Đỗ, Trịnh... Trong đó họ Trương là đông nhất, nhưng họ Trương lại có tới 4 dòng đó là Trương Bá, Trương Trọng, Trương Đình, Trương Văn. Họ Nguyễn có 3 dòng, họ Phạm 2 dòng, họ Lê 2 dòng.

- Diện tích: 198,17 ha, trong đó: Đất nông nghiệp 129,79 ha; Đất phi nông nghiệp 57,74 ha; Đất GTTL + nghĩa địa 6,9 ha; Đất chưa sử dụng 3,74 ha.

- Dân số: 1.959 người; số hộ: 561 hộ;

- Nhà văn hóa làng: Có; diện tích: 312 m2 ;

- Khu thể thao làng: Có; diện tích: 2.800 m2

- Vị trí địa lý: Phía Tây giáp Vĩnh Yên; phía Đông giáp Vĩnh Long; phía Bắc giáp Vĩnh Yên; phía Nam giáp làng Phú Lĩnh.


LỊCH SỬ LÀNG MỸ XUYÊN, VĨNH YÊN, VĨNH LỘC, THANH HOÁ

Theo truyền lại trong nhân dân và theo quyển gia phả của dòng họ Vũ Mai, làng Mỹ Xuyên quyển thứ nhất do ông Vũ Mai Cấn họ Vũ Mai ở làng Mỹ Xuyên dịch từ chữ Hán sang chữ quốc ngữ năm 1983, quyển thứ 2 do ông Vũ Hồng Phi trong ban dịch thuật Hán – Nôm Thanh Hoá dịch năm 1999 cho biết sự hình thành làng Mỹ Xuyên Ngày nay như sau:
Đất làng Mỹ Xuyên xưa kia nằm trong đất Quan Hoàng thuộc huyện Cẩm Thuỷ, bỏ hoang rậm rạp chưa có người ở. Vào thời nhà Trần khi Trần Minh Tông làm vua (1314 – 1329) không rõ cụ thể năm nào có một người tù trưởng có uy tín một vùng họ Vũ Tên Minh cùng với vợ là Lê Thị Ngọc đến lập trại tại khu vực Mã Mốc, Sách Quan Hoàng – tức làng Mỹ Xuyên ngày nay; Hiện làng Mỹ Xuyên thờ Vũ Công tức Vũ Minh làm thành hoàng làng;
Tiếp theo cũng trong thời Trần từ Trần Hiến Tông đến Trần Thiếu đế, thời gian từ 1329 – 1400 không ghi rõ năm nào có hai anh em ruột người em huý là Ngự tên chữ là Phúc Độ, người anh tên chữ là Ngộ Thiện vốn là người ở Châu Trang xã Thạch Nội, huyện Ngọc Sơn (nay là huyện Tĩnh Gia Thanh Hoá) đến xứ Mã Mốc (còn gọi là Mã Cũ) thuộc Quan Hoàng Sách sinh cơ, lập nghiệp;
Từ đó cư dân các nơi đến sinh cơ lập nghiệp ở khu vực Mã Mốc ngày càng đông, trở thành Trang Mỹ Đàm (tục gọi là làng Đàm); Đến đời ông Phúc Khang thuộc đời thứ 4 của dòng họ Vũ Mai đã có công cùng dân làng đòi được Trang Mỹ Đàm tách khỏi sự quản lý của Sách Quan Hoàng; Mỹ Đàm trở thành làng riêng từ đó; Đến đầu thế kỷ thứ XIX, Mỹ Đàm đổi thành Mỹ Truyền, Đời vua Đồng Khánh (1886 – 1888) đổi thành Mỹ Xuyên;
Mỹ Xuyên xưa kia thời nhà Hậu Lê cũng là đất phân phong của Thiếu uý Trung Quốc Công Vũ Uy, Vũ Uy là người làng Cao Mật (nay là làng thuộc xã Vĩnh Thành), mùa đông năm 1416 ông là người có mặt trong Hội Thề Lũng Nhai cùng Lê Lợi tiến hành khởi nghĩa Lam Sơn, năm 1428 cuộc kháng chiến chống giặc Minh toàn thắng. Bình định vương Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, bình công xét thưởng cho những người có công từ Lũng Nhai; Mặc dù Vũ Uy đã mất từ 1424 nhưng Vũ Uy vẫn được xếp vào hàng công thần Lũng Nhai được vua phong tặng Tuy Tiết Hầu và được táng tại Lam Sơn. Đến năm Hồng Đức thứ 5 (1464) đời vua Lê Thánh Tông đã ban sắc phong tặng từ Tuy Tiết Hầu lên Tuy Quận Công, con cháu Vũ Uy được ban điền ở nhiều nơi, lập trang trại khai khẩn cày cấy để làm thế nghiệp điền (thành ruộng đất riêng của con cháu sau này) trong đó ở Vĩnh Lộc có Trang Mỹ Điềm (Mỹ Xuyên), trang Đông Môn….Như vậy dòng họ Vũ ở Mỹ xuyên hiện nay có liên quan đến dòng dõi Vũ Uy (Trong hội Thề Lũng Nhai Thời Lê Lợi Vĩnh Lộc có 2 người khai quốc công thần đó là Trịnh Khả Vĩnh Hoà và Vũ Uy vĩnh Thành).
Hiện nay làng Mỹ Xuyên có 11 dòng họ đang sinh sống, gồm các họ: Vũ, Phạm, Trần, Đoàn, Dương, Hoàng Lê, Nguyễn, Lương, Lưu, Trịnh; Trong đó họ Vũ có tới 6 dòng, Họ Vũ Mai do ông Vũ Mai Vĩnh làm trưởng tộc quê ở Ngọc Sơn -Tĩnh Gia là dòng họ đến Mỹ Xuyên sớm nhất, hiện có 4 chi với 179 hộ; Theo tộc phả họ Vũ Mai chép “Họ Vũ ta xưa vốn là Họ Mai gốc là người ở Chân Trang, xã Thạch Nội, Huyện Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hoá; Tiên tổ Mai Công huý là Ngự, tên chữ là Phúc Độ cùng anh Mai Công tên chữ là Ngộ Thiện; Thời Trần 2 anh em đã đến xã Quan Hoàng vì thấy sông núi nơi này tươi đẹp, hai anh em quyết định ở lại đất này để sinh cơ, lập nghiệp, trải qua nhiều đời con cháu ngày càng đông; Bốn đời truyền đến Mai Công tên chữ Pháp Khang mới đổi sang họ Vũ, ghi là Vũ Mai”;
Họ Vũ Đình do ông Vũ Đình Dương làm trưởng tộc quê từ xứ Dành Dành, Bò Cóc (tỉnh Nghệ An) đến đất Mỹ Xuyên năm 1665, hiện ở làng chỉ có 7 hộ; Riêng họ Vũ Bá có tới 4 dòng, Họ Vũ Bá do ông Vũ Bá Căn làm trưởng Tộc từ ngoài Bắc vào đất Mỹ Xuyên năm 1660, hiện ở làng có 5 hộ; Họ Vũ Bá do ông Vũ Bá Tấn làm trưởng tộc không rõ từ đâu đến đã có 12 đời được khoảng gần 300 năm, hiện dòng họ này có 15 hộ đang sinh sống tại làng; Họ Vũ Bá do ông Vũ Bá Đăng làm trưởng tộc và Vũ Bá do ông Vũ Bá Huây làm trưởng tộc đều đến đất Mỹ Xuyên được khoảng 150 năm, hiện mỗi dòng họ có khoảng từ 12 – 15 hộ; Họ Phạm do ông Phạm Văn Khoa thay trưởng tộc, gốc từ Tam đồng (nay là xã Định Tiến huyện Yên Định) đến làng Mỹ Xuyên cách đây 275 năm, hiện có 39 hộ, ngoài ra ở làng Mỹ Xuyên còn có một dòng họ Phạm nhưng chỉ mới đến Mỹ Xuyên được 3 đời; Họ Trần có 2 dòng, dòng họ Trần do ông Trần Đình Lãn làm trưởng tộc và dòng họ Trần do ông Trần văn Mão làm trưởng tộc cũng đến làng Mỹ Xuyên từ giữa thế kỷ XIX; Hiện nay dòng họ Trần Đình Lãng có 8 hộ, dòng họ Trần Văn Mão có 2 hộ; Họ Đoàn có 2 dòng, dòng họ Đoàn do ông Đoàn Văn Tùng làm trưởng tộc từ ngoài Bắc vào Mỹ Xuyên đến nay được 8 đời, hiện có 7 hộ; Họ Đoàn do ông Đoàn Văn Luỹ làm trưởng tộc không biết từ đâu đến đến nay đã truyền được 6 đời, hiện có 2 hộ; Họ Dương cũng có 2 dòng, dòng họ Dương do ông Dương Văn Biền làm trưởng tộc gốc từ Hà Tây về Mỹ Xuyên được 7 đời, khoảng 170 năm, hiện có 5 hộ; Họ Dương do ông Dương Văn Minh làm trưởng tộc từ Thọ Xuân đến Mỹ Xuyên được 3 đời, hiện chỉ có 1 hộ; Một số dòng họ khác như Họ Hoàng, họ Lê, họ Nguyễn, họ Lương, họ Lưu, họ Trịnh là những dòng họ mới đến đất Mỹ Xuyên được từ 1 đến 2 đời, mỗi dòng họ này chỉ có từ 1 hộ đến 7 hộ;
Làng Mỹ Xuyên xưa có đình, có nghè trên, nghè dưới thờ Thành Hoàng Làng và các thần, có chùa thờ phật có văn chỉ thờ đức Khổng Tử; Hiện Nghè trên, Nghè dưới đã hạ giải từ lâu;
Nhân dân Mỹ xuyên sống bằng nghề nông, sản xuất độc canh cây lúa, tuy nhiên trên các cánh đồng cao nhân dân trồng thêm các loại cây màu như đậu, lạc, vừng, khoai lang, lạc,…..chăn nuôi: Trâu, bò, lợn, gà, ngan, ngỗng, vịt…
Đất làng Mỹ Xuyên trước kia nhiều và rộng lớn, từ 1960 có phòng trào hợp tác hoá, và cả sau này vào năm 1976 thực hiện chủ trương của Đảng và chính quyền địa phương làng Mỹ Xuyên đã nhượng 66,45ha đất canh tác cho các làng, xã lân cận;
Hiện nay làng Mỹ Xuyên có đất tự nhiên là 65,46ha, đất nông nghiệp là 45ha, đất ao hồ là 13,04ha, đất ở là 7,42ha. Mỹ Xuyên nằm ở phía Tây Bắc thành nhà Hồ, cách thành nhà Hồ 1,3km; Phía Bắc giáp xã Vĩnh Quang, phía Nam giáp xã Vĩnh Tiến, phía Đông giáp xã Vĩnh Long, làng Mỹ Sơn (Vĩnh Yên), phía Tây giáp xã Vĩnh Quang và làng Yen Tôn Thượng (Vĩnh Yên) hiện nay trong làng có 162 hộ với 607 nhân khẩu;

Trích từ Lịch sử xã Vĩnh Yên và sử liệu Việt Nam

LICH SỬ LÀNG PHÙ LƯU XÃ VĨNH YÊN, HUYỆN VĨNH LỘC, TỈNH THANH HOÁ.

Làng Phù Lưu xưa kia thuộc đất của Yên Tôn Thượng, đất của làng Yên Tôn Thượng giáp với làng Yên Tôn Hạ ngày nay; Để giữ đất một số hộ của làng Yên Tôn Thượng chuyển lên ở đất làng Phù Lưu ngày nay; Dần dần các hộ Yên Tôn Thượng (bấy giờ là An Tôn) và các nơi khác đến sinh cơ, lập nghiệp, lập nên xóm rồi nên thôn Phù Lưu; Thời nhà Nguyễn (1802 – 1945) đơn vị hành chính cơ sở lúc đó gọi là thôn, có lúc gọi là làng, có lúc gọi là xã; Vì sự ràng buộc về nhiều mặt nên thôn Phù Lưu chưa bao giờ tách khỏi làng (xã) An Tôn Thượng; Bởi vậy trong nhân dân có câu (An Tôn Thượng nhất xã, nhị thôn) nghĩa là một xã An Tôn Thượng có hai thôn An Tôn Thượng và Phù Lưu; Theo các cụ cao niên trong làng hiện nay cho biết An Tôn Thượng và Phù Lưu lúc nào cũng một Lý trưởng, một đồng triện (con dấu bằng đồng); Làng Phù Lưu có thời kỳ có người trong làng được bầu làm lý trưởng; Nếu Làng Phù lưu có người làm lý trưởng thì phó lý phải là người làng An Tôn Thượng hoặc ngược lại;
Đất làng Phù lưu là đất phù sa sông Mã bồi đắp rất màu mỡ và cao ráo, thoát nước tốt thích hợp với trồng cây trầu không; Theo chữ nho thì Phù chỉ một loại câu thân thảo, Phù Lưu (Thực) là cây trầu không;
Sau tháng 8 năm 1945 thực hiện chủ trương của cấp trên, chính quyền cách mạng huyện Vĩnh Lộc đã tiến hành xoá bỏ đơn vị hành chính cấp Tổng thành lập cấp xã với những tên mới. Cơ bản Tổng Cao mật được lập ra 4 xã trong đó có xã An Hoà, Xã An Hoà gồm 3 làng Yên Tôn Thượng, Phù Lưu và Yên Tôn Hạ; Làng Phù Lưu lúc này chính thức là một làng riêng thuộc xã An Hoà; Từ đó về sau những lần sáp nhập rồi lại tách làng Phù Lưu vẫn là một làng riêng biệt; Đầu năm 1968 hai HTX Nông nghiệp làng Yên Tôn Hạ và Làng Phù Lưu hợp nhất thành 1 HTX lấy tên là HTX Phú Yên; Thời bấy giờ HTX có vị trí rất quan trọng, Ban chủ nhiệm HTX ngoài nhiệm vụ chăm lo quản lý, phát triển sản xuất nông nghiệp còn kiêm luôn nhiệm vụ hành chính, thôn (làng); Ở các làng không có trưởng làng (thôn), không gọi đơn vị hành chính là làng hay thôn mà gọi theo tên HTX, thậm chí còn gọi theo đội sản xuất như đội 1, đội 2, đội 3,…Phú Yên, xã Vĩnh Yên, Huyện Vĩnh Lộc,…Vì vậy trong một thời gian dài từ 1968 cho đến 2008 tên làng Yên Tôn Hạ và Làng Phù Lưu không có trên trên giấy tờ hành chính của xã Vĩnh Yên, huyện Vĩnh Lộc; Thực hiện quyết định của UBND tỉnh Thanh Hoá về tổ chức Thôn, (Làng), bản, tháng 3 năm 2008 Phú Yên được tách thành hai làng và các làng lấy lại tên cũ Yên Tôn Hạ và Phù Lưu;
Căn cứ vào lịch sử hình thành làng Yên Tôn Thượng thì đất làng Phù Lưu cũng là đất của làng Việt cổ; Nhưng qua biến động của thời gian những người Việt cổ trên đất này không truyền lại cho bất kỳ dòng họ nào đang sinh sống hiện nay; Hiện chỉ biết các cư dân sinh sống ở làng Phù lưu lâu nhất là khoảng 400 năm.
Làng Phù Lưu hiện có 11 dòng họ đang sinh sống, gồm: Trịnh, Nguyễn, Vũ, Thiều, Bùi, Phạm, Dương, Ngô, Trần, Trương, Lê; Trong đó họ Trịnh có tới 8 dòng, Họ Nguyễn 6 dòng, họ Phạm 2 dòng,…Họ Trịnh có 8 dòng nhưng chỉ có vài dòng Trịnh đến đất này từ lâu đời, hiện số hộ, số đinh trong dòng họ đông, đó là dòng họ Trịnh do ông Trịnh Xuân Uy làm trưởng tộc, cụ tổ dòng họ đến đất này từ đầu thế kỷ thứ XVII truyền đến nay đã được 15 đời, khoảng gần 400 năm, hiện họ Trịnh này có tới 6 chi với tổng số trên 100 hộ đang sinh sống ở làng; Họ Trịnh do ông Trịnh Văn Lô làm trưởng tộc truyền lại từ làng Biện Thượng xưa nay là xã Vĩnh Hùng Huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hoá; Họ này từ Biện Thượng lên An Tôn từ thời Nguyễn Huệ ra Bắc Phù Lê – Diệt Trịnh (1786) đến nay đã được 225 năm, hiện dòng họ (gốc Chúa Trịnh) này có 28 hộ; Họ Trịnh do ông Trịnh Hùng Thanh làm trưởng tộc thờ cụ tổ là Trịnh Phúc Minh truyền lại đến nay được 7 đời như vậy cụ tổ đến đây mới được 175 năm; Họ Trịnh do ông Trịnh Văn Trung làm trưởng tộc không rõ từ đâu đến và đến vào thời kỳ nào hiện nay dòng này có 24 hộ đang sinh sống ở làng; Còn lại các dòng họ Trịnh như: Họ Trịnh do ông Trịnh Văn Hiếu làm trưởng tộc, Họ Trịnh do ông Trịnh Văn Chếnh làm trưởng tộc, Họ trịnh do ông Trịnh Văn Viên làm trưởng tộc, Họ Trịnh do ông Trịnh Văn Đắc làm trưởng tộc, Họ Trịnh do ông Trịnh Toàn làm trưởng tộc đến đất Phù Lưu từ đầu và giữa thế kỷ thứ XIX;
Về Họ Vũ ở làng Phù Lưu có họ Vũ do ông Vũ Văn Hồng làm trưởng tộc, đến đây từ lâu đời, số đinh đông; Còn Họ Vũ do ông Vũ Văn Dởn làm trưởng tộc có một hộ từ Thái Bình vào mới trên 30 năm nay; Họ Vũ do ông Vũ Văn Hồng làm trưởng tộc gốc từ ngoài Bắc (Nam Định) có cụ tổ là Vũ Duy Xưởng (có người dịch là Vũ Duy Thưởng), có tài võ nghệ được nhà vua phong là cử nhân võ. Cụ Tổ Họ Vũ đến đất Phù Lưu sinh cơ lập nghiệp năm 1760 (đời vua Lê Hiến Tông), Hiện nay Họ Vũ này có 3 chi với tổng số hộ là 44 đang sinh sống tại làng. Trong họ còn giữ được một số sắc phong của nhà vua ban cho ông Vũ Duy Xưởng vì đã có nhiều công lao trong phò vua giúp nước;
Họ Nguyễn có 6 dòng, trong đó có chi họ Nguyễn do ông Nguyễn Văn Xuyên làm trưởng tộc đã ở lâu đời trên đất làng Phù Lưu; Còn lại có dòng họ khác đó là dòng của ông Nguyễn Văn Thanh đến đây cũng chỉ mới khoảng 100 năm, hiện có 3 hộ; Các dòng nguyễn do ông Nguyễn Văn Châu làm trưởng tộc, dòng họ Nguyễn do ông Nguyễn Văn Mạc làm trưởng tộc, dòng Nguyễn do ông Nguyễn Văn Vê làm trưởng tộc, dòng Nguyễn do ông Nghuyễn Văn Hanh làm trưởng tộc….đều mới đến và chỉ có 1 hộ. Riêng họ Nguyễn do ông Nguyễn Văn Xuyên làm trưởng tộc hiện có 17 hộ gia phả bị thất lạc, không được truyền lại nên con cháu không biết được nguồn gốc từ đâu và đến làng Phù Lưu từ năm nào, hiện nay chỉ biết đã ở đất này được 5 đời. Tiếp đến là họ Bùi do ông Bùi Văn Càng làm trưởng tộc cũng không rõ xuất xứ và thời gian đến làng Phù Lưu lập nghiệp, hiện họ Bùi có 15 hộ đang sinh sống tại làng; Họ Trần do ông Trần Văn Luận làm trưởng tộc từ Hà Trung chuyển đến làng cách đây 100 năm, hiện có 4 hộ đang sinh sống ở làng; Các dòng họ khác như Họ Thiều do ông Thiều quang Hòng làm trưởng tộc, họ Phạm các dòng do ông Phạm Văn Lưu, Phạm Văn Diệp làm trưởng tộc, Họ Dương do ông Dương Văn Tình làm trưởng tộc, Họ Trương của ông Trương Văn Nội, họ Lê của ông Lê Văn Lấn, Họ Phạm của ông Phạm văn Lít,….mỗi dòng chỉ có từ 1 đến 3 hộ;
Dân làng Phù Lưu lấy Nông nghiệp làm nghề chính, cây trồng đầu tiên là cây lúa nước, cây lúa lốc (lúa gieo trên đất bãi phù sa), rồi cây ngô, đậu, vừng, khoai lang, lạc; Cây công nghiệp có cây Bông, cây Dâu và nghề chăn tằm ươm tơ, dệt lụa; Về chăn nuôi dân làng nuôi những con gia súc như Trâu, Bò, Gà, Lợn, dê,…gia cầm như gà, vịt, ngan, ngỗng
Làng có đình, nghè, chùa, đền, Đình 5 gian, Nghè 3 gian 2 dãy có hậu cung, có nghinh môn ở khu vực bản thổ (ở ngoài bãi sông phù sa giáp làng); Đền ba gian ở phía đông làng, gọi là Đền Bà; Chùa 3 gian và hậu cung…những chùa Nghè, đền này đã mất từ lâu, hiện còn lại ngôi đình đã được làng trùng tư vào năm 2019;
Tổng diện tích đất của làng Phù Lưu hiện nay là 126,69ha trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 84,48ha, đất ở 13.03ha, núi đá 25,29ha còn lại là đất khác; Phía Tây Bắc giáp làng Yên Tôn Hạ, Phía Đông giáp làng Yên Tôn Thượng, phía Bắc giáp xã Vĩnh Quang, phía Nam giáp Sông Mã, bên kia sông là đất huyện Yên Định; Làng Phù Lưu hiện có 299 hộ với 1.200 khẩu; Trích từ lịch sử xã Vĩnh Yên

LỊCH SỬ LÀNG YÊN TÔN THƯỢNG, XÃ VĨNH YÊN, HUYỆN VĨNH LỘC, TỈNH THANH HOÁ;

Yên Tôn Thượng xưa thuộc đất Kẻ Don là một làng Việt cổ xuất hiện từ Thời Hùng Vương, cách ngày nay trên dưới 2.000 năm; Kẻ Don thuộc đất ba làng hiện nay là Yên Tôn Thượng, Phù Lưu và Yên Tôn Hạ nên dân trong vùng quen gọi là Ba Don (Don Thượng, Don Giữa và Don Hạ); Từ Kẻ Don có từ thế kỷ thứ IX, thế kỷ X có tên là Sách An Tôn, thế kỷ XIV có tên là Động An Tôn (Sách, Động) là tên đơn vị hành chính cấp cơ sở; Từ đầu thế kỷ XIX được thành lập làng, xã riêng được gọi là xã An Tôn Thượng; Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập và đổi tên làng An Tôn Thượng Thành làng Yên Tôn Thượng (Yên và An theo tiếng tàu là như nhau); Trước cách mạng tháng 8 năm 1945 An Tôn Thượng là một xã gồm 2 thôn (An Tôn Thượng và Phù Lưu); Trong dân truyền lại câu: “An Tôn Thượng nhất xã, nhị thôn” nghĩa là một xã có hai thôn;
An Tôn thượng ngày xưa nằm trong động An Tôn; Động là đơn vị hành chính cấp cơ sở thuộc miền núi, nên mảnh đất An Tôn Thượng có núi An Tôn và và có những rừng cây rậm rạp, lại có sông Mã chảy qua sát vào núi đá, phong cảnh hữu tình, đất đai màu mỡ. Rừng ở đây tốt tươi và rậm rạp, núi có nhiều hang động. Trước đây nơi này có nhiều loài động vật như Hổ, báo, hươu, nai, khỉ, …sinh sống trong các hang động và trong các rừng cây;
Qua nghiên cứu chúng ta khẳng định Yên Tôn Thượng là một làng Việt cổ, những lớp cư dân xuất hiện đầu tiên ở nơi đây hiện không còn truyền đến ngày nay; Họ đã đi đâu, về đâu hoặc bị tiêu diệt hiện nay chưa tìm thấy tài liệu nào ghi chép lại;
Hiện nay làng Yên Tôn Thượng có 11 dòng họ đang sinh sống, đó là các dòng họ: Nguyễn, Trịnh, Phạm, Vũ, Ngô, Trần, Lê, Trương, Hà, Đỗ, Lâm. Trong đó họ Trịnh có tới 7 dòng, Họ Nguyễn 5 dòng, Họ Phạm 3 dòng, Họ Lê 2 dòng,…các dòng họ hầu hết không còn gia phả, một số dòng họ mới ghi chép lại những năm gần đây, do đó việc tìm hiểu các đời trước của các dòng họ đều gặp khó khăn.
Vào năm 1970 cụ Nguyễn Đình Hiên nguyên là thường vụ huyện uỷ Vĩnh Lộc, trưởng Ban tuyên huấn huyện uỷ Vĩnh Lộc, khi viết lại gia phả họ Nguyễn của Cụ đã ghi khái quát sự hình thành làng Yên Tôn Thượng như sau: “Theo truyền miệng của những người cao tuổi trong làng, Ấp An Tôn có lúc gọi là Sách An Tôn (Sách cũng là đơn vị hành chính cấp cơ sở) đã xuất hiện trên mảnh đất này từ thờ Tiền Lê (980 – 1005). Buổi đầu đến lập Ấp có 5 gia đình thuộc 5 dòng Họ khác nhau ở tứ phương lưu lạc đến khai phá đất đai và định cư sinh sống vào cuối thế kỷ IX sau công nguyên”.
- Họ Nguyễn Đình do ông Nguyễn Cao Cường làm trưởng tộc, là một dòng họ đông nhất làng, hiện có 4 chi và trong đó có 130 hộ ở tại làng. Cách đây gần 200 năm dòng họ này đã có người đến Nông Cống, Thanh Hoá, có người vào Làng Còng Vĩnh Hưng sinh cơ lập nghiệp để phát triển thành chi, phái của dòng họ Nguyễn Đình ở nơi đó; Hàng năm chi, phái ở Làng Còng vẫn về làng Yên Tôn Thượng để làm giỗ Tổ;
- Họ Nguyễn do ông Nguyễn Văn Lưu làm trưởng Tộc hiện có 2 chi với 35 hộ;
- Họ Phạm do ông Phạm Đồng làm trưởng tộc hiện cũng có 2 chi với 35 hộ đang sinh sống tại làng;
- Họ Trịnh do ông Trịnh Văn Chức làm trưởng tộc có 2 chi với 70 hộ;
- Họ Trịnh do ông Trịnh Văn Khơi thay trưởng tộc hiện có 4 chi, tổng có 60 hộ và có 113 đinh;
Những năm về sau nhất là vào cuối thế kỷ thứ XVIII có thêm nhiều hộ đến đất An Tôn Thượng lập nghiệp, Gồm Họ Nguyễn do ông Nguyễn Hoè làm trưởng tộc hiện có 20 hộ; Họ Nguyễn do ông Nguyễn Văn Thành làm trưởng tộc, hiện có 28 hộ; Họ Phạm do ông Phạm Văn Tiểu làm trưởng tộc hiện có 4 chi, 80 hộ; Họ Phạm do ông Phạm Đình Thảo làm trưởng tộc có 50 hộ, Họ Phạm do ông Phạm Xuân Bích làm trưởng Tộc, hiện có 2 chi với 30 hộ, Họ Trịnh do ông Trịnh Xuân Chức làm trưởng tộc hiện có 2 chi với 30 hộ; Ngoài ra còn có họ Trịnh do ông Trịnh Lượng làm trưởng tộc, Họ Trịnh do ông Trịnh Khanh làm trưởng tộc, hiện nay mỗi họ có khoảng từ 3 đến 15 hộ; Họ Vũ do ông Vũ Thoán làm trưởng tộc, hiện có 36 hộ; Họ Lê do ông Lê Văn Lòng làm trưởng tộc, hiện có 20 hộ; Họ Lê do ông Lê Văn Ngọc làm trưởng tộc hiện có 15 hộ; Họ Ngô do ông Ngô Văn Chuyên làm trưởng tộc hiện có 20 hộ; Rồi các họ Trần do ông Trần Đình Xuất làm trưởng tộc, Họ Lâm do ông Lâm Văn Hồng làm trưởng tộc; Họ Nguyễn do ông Nguyễn Văn Thống làm trưởng tộc đều mới đến làng gần đây mỗi họ chỉ có 1 hộ;
Nhìn chung các dòng họ đến sinh cơ lập nghiệp trên đất làng Yên Tôn Thượng đầu phát triển tốt, có những dòng họ đông đúc phát triển ra thành nhiều chi, phái như họ Nguyễn Đình; Nhưng cũng có dòng họ sinh cơ, lập nghiệp ở đây đã lâu đời nhưng số hộ, số đinh hiện tại có ở làng rất ít; Vì có nhiều người thoát ly quê hương đi nơi khác sinh sống đem cả vợ con và gia đình đi theo, đặc biệt sau 30.4.1975 có rất nhiều người rời bỏ quê vào miền Nam làm ăn sinh sống và định cư luôn nơi miền đât mới.
Dân cư làng Yên Tôn Thượng sống chủ yếu bằng nghề Nông; Cây tròng chính là lúa, ngô, đậu, lạc, vừng, bông; Chăn nuôi bò, lợn, dê, gà,….Ngoài ra còn có nghề trồng dâu nuôi tằm, một số ít người làm nghề khai thác đá….
Làng Yên Tôn Thượng xưa kia có nghè Thượng làm trên núi có ba gian và 1 gian hậu cung, Nghè Thượng bị sập do đá đổ đè vào năm 1948, Nghè thứ 2 là Nghè Lũng có ba gian, Nghè bị hư hỏng trong những năm kháng chiến chống Pháp; Năm 2007 dân làng xây dựng lại nghè Lũng với ba gian tiền đường, dài 9m rộng 3m; Gian hậu cung 2,5m x 3m; Đình làng Yên Tôn Thượng cũng gọi là Nghè gồm gian tiền đường và hậu cung; Đình được xây dựng vào năm Thành Thái thứ 11 (1899) hiện đang còn và được làng sử dựng và bảo quản bình thường; Hiện tại làn Yên Tôn Thượng có tổng diện tích đất tự nhiên là 161,79ha trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 123,57ha, đất ở 16,37ha, núi đá 18,64ha, còn lại là đất khác; Dân số hiện tại là 1.700 người với 410 hộ; Phía Bắc giáp làng Mỹ Xuyên, Phía Nam giáp làng Thọ Đồn, Phía Đông giáp làng Tây Giai, Phía Tây giáp sông Mã bên kia sông là huyện Yên Định
Trích Lịch sử đảng Bộ Xã Vĩnh Yên

LỊCH SỬ LÀNG XUÂN GIAI VĨNH TIẾN, VĨNH LỘC, THANH HOÁ

 VÀ TRUYỀN THỐNG HÁT CA TRÙ CỦA LÀNG TỪ THỜI NHÀ HỒ

            Làng Xuân Giai hiện nằm ở phía trước cổng Nam Thành Nhà Hồ, thuộc xã Vĩnh Tiến (Vĩnh Lộc). Làng Xuân Giai được hình thành từ giữa thế kỷ XIV có tên là hương Nhị Khê ở trên đất động An Tôn. Năm 1397 Hồ Quý Ly cho xây dựng Thành An Tôn - tức Thành Nhà Hồ thuộc khu vực động An Tôn, hương Nhị Khê phải rời xuống khu đất mới, cách cổng Nam Thành Nhà Hồ khoảng một cây số. Năm 1400, Hồ Quý Ly tự lập làm vua, Thành An Tôn là Kinh đô, là trung tâm chính trị của cả nước dưới triều Hồ. Nhà Hồ mở mang phố phường, chợ buôn bán ở tại Kinh đô này đã thu hút thợ thủ công, dân buôn bán đến làm ăn sinh sống. Nơi cư dân hương Nhị Khê đến ở trở thành phố Hoa Nhai - là đường phố chính từ cổng Nam Thành Nhà Hồ đến chân núi Đốn Sơn (còn gọi là đường Cái Hoa). Phố Hoa Nhai trở nên sầm uất tấp nập người mua kẻ bán.

           Nguồn gốc dân hương Nhị Khê - phố Hoa Nhai là người họ Trần, họ Tiết, họ Lê ở vùng Kinh Bắc, họ Triệu gốc làng Nành - Gia Lâm... vào đây sinh sống, nhiều người đàn giỏi, hát hay nên họ đã lập nên các phường hát ca trù ở phố Hoa Nhai.

          Sau khi giặc Minh xâm lược nước ta, chúng đánh chiếm Thành An Tôn (tháng 5 năm 1407) và trong suốt 20 năm giặc Minh đô hộ, phố Hoa Nhai vừa buôn bán, vừa làm ruộng, cuộc sống người dân vô cùng cực khổ bởi bị giặc Minh áp bức, bóc lột, do đó hát ca trù ở đây bị gián đoạn. Năm 1428, Lê Lợi đại thắng giặc Minh, đất nước thái bình, nhà vua có chính sách khuyến khích nông dân khai phá đất hoang hóa phát triển sản xuất, xây dựng làng xóm yên bình, phố Hoa Nhai đổi thành làng Hoa Nhai chuyên sản xuất nông nghiệp. Sau một thời gian dài hát ca trù ở Hoa Nhai mới dần dần hoạt động trở lại, nhưng cũng phải đến cuối thời Hậu Lê, rồi đến thời Nguyễn mới phát triển mạnh. Làng Hoa Nhai đã qua nhiều lần đổi tên, đến thời Thành Thái (1889 - 1907) có tên làng Xuân Giai.

        Hát ca trù còn được gọi là hát ca công, hát ả đào và cũng có 3 lối hát chính là hát thờ, hát chơi, hát cửa quyền. Hát thờ là hát trong các buổi thờ cúng ở đình đền. Hát chơi là hát để thưởng thức nghệ thuật, địa điểm hát là ở dinh thự của quan lại, hay trong công sở và hát ở nhà hàng. Hát cửa quyền tức là ca trù trình diễn tại cung đình, ở Xuân Giai gọi là hát chúc hổ - chúc mừng nhà vua.

Qua khảo sát ở làng Xuân Giai hiện còn nhiều dấu tích, truyền tụng, nhân chứng... cho biết xưa kia làng Xuân Giai là một điểm hát ca trù nổi tiếng ở Thanh Hóa. Làng Xuân Giai có đền thờ Đào Hoa công chúa, gần đền thờ trên cánh đồng Cồn Cà còn thửa ruộng đắp hình cây đàn đáy (gọi là cồn đàn) và thửa ruộng đắp theo hình tròn (gọi là cồn trống). Làng có cánh đồng ruộng quan điền với diện tích 70 mẫu, do phường ca trù làng Xuân Giai nhiều lần vào hát chúc hổ trong triều đình Huế được nhà vua ban thưởng và có một mẫu ruộng gọi là nhà trò thuộc cánh đồng Mã Lội, ruộng này do làng Xuân Giai đến hát ở làng Bèo nên làng Bèo đã cắt ruộng cho.

Làng Xuân Giai có họ Trần là dòng họ lớn, người trong họ đi hát ca trù đông, nữ đi hát, nam đi đánh đàn, gõ nhịp. Họ Trần được giấy phép đi hát các nơi trong tỉnh, hát ở các đình, đền và đi hát từ tháng giêng đến tháng 3 âm lịch, khi làng vào đám mới về. Người dân trong làng gọi họ Trần là họ Trò. Họ Trần làng Xuân Giai thờ thánh sư nghề hát, hằng năm dòng họ Trần tế tổ họ cùng với tế tổ nghề hát vào ngày 14 tháng 2 âm lịch.

         Người dân làng Xuân Giai truyền tụng xưa kia nhiều cô gái trong làng người đẹp, hát hay đi hát ca trù nhiều nơi trong tỉnh và có người được đi hát chúc hổ (chúc mừng vua) như các đào nương: Trần Thị Duyên, Trần Thị Vân, Trần Thị Vĩnh, Trần Thị Hời, Trần Thị Miêu, Trần Thị Tỳ, Trần Thị Tý, Trân Thị Ty, Trần Thị Hằng, Trịnh Thị Hỷ, Trần Thị Khớt, Tiết Thị Túc, Triệu Thị Xuân, Triệu Thị Vậy, Triệu Thị Phiêu, Triệu Thị Khớt, Bùi Thị Uyên...

Theo sách “Đặng Huy Trứ - con người và tác phẩm” của nhóm Trà Lĩnh, tác giả Phạm Tuấn Khánh có kể mẫu chuyện về mối tình duyên kỳ ngộ giữa quan tri phủ với cô đào hát làng Xuân Giai như sau: “Năm 1858, Đặng Huy Trứ là nhà văn hóa lớn cuối thế kỷ XIX được sung chức Nhiếp biện ấn vụ phủ Quảng Hóa (tức Tri phủ Quảng Hóa). Lỵ sở phủ Quảng Hóa bấy giờ đặt ở làng Nhân Lộ, thuộc tống Cao Mật, huyện Vĩnh Lộc. Một đêm quan Đặng đi tuần trên sông Mã nghe thấy thuyền đậu trên sông có tiếng đàn ca hát xướng. Về khuya thấy bọn khách trên thuyền hành hung cưỡng bức cô gái trên thuyền, cô gái bất chợt xô rèm thuyền và nhảy xuống sông. Quan Đặng cho lính bắt bọn đàn ông trên thuyền và vớt cô gái lên, tra hỏi thì đó là bọn lái quế ở chợ Tây Giai và cô gái là đào hát Trần Thị Duyên làng Xuân Giai được bọn chúng thuê đi hát trên sông. Quan Đặng đã xử nghiêm bọn khách bậy bạ vô lại, an ủi cô gái. Rồi cảm thương và mến tài sắc, quan Đặng Huy Trứ lấy cô đào hát Trần Thị Duyên làm vợ lẻ”.

        Sau đây xin giới thiệu một số bài hát Ca trù ghi được vào năm 2004 ở làng Xuân Giai do cụ Tiết Văn Xúc 90 tuổi, cụ Bùi Thị Uyên 96 tuổi, cụ Triệu Thị Xuân 91 tuổi cung cấp.

Bài hát ở đền Bình Khương của Cống sinh Tiết Hữu Tố làng Xuân Giai sáng tác:

"Thương thay nường ả Bình Khương

Thương chồng vật khóc bức tường lở ra

Đau đớn thay phận đàn bà

Gan là vàng đá, nghĩa là sắt son

Trải bao bể cạn non mòn

Dấu in như khắc hãy còn ở đây

Tà tà mấy đám cỏ mây

Lưới giăng cỏ mọc như tằm nhả tơ

Liền tay vén bút đề thơ

Ngân nga vài phút qua đưa dưới thành

Ví dù chín suốt có linh

Làm sao cho bỏ tâm thành mới thôi

Làm cho lỡ đất long trời

Noi gương liệt tiết để người soi chung

Bùi ngùi sớm viếng hôm thăm.

Bài hát ở dinh thự các quan:

Xuân Giai ở đất vua Hồ

Trai thanh gái lịch kinh đô rõ ràng

Mừng ngài đây, mừng thọ rồi lại mừng khang

Mừng phú, mừng quý quan sang mừng giầu

Mừng ngài đây trăm tuổi sống lâu

Phơ phơ tóc bạc một màu tựa bông

Sinh con trai như bách, như tùng

Sinh con gái như phộng như loan

Con con cháu cháu đầy đàn

Của chất để như non, như nước.

Bài hát ở nhà hàng:

Thế nhỉ sao mà thế nhỉ

Tiếng tri âm rù rỉ lại buồn tênh

Vắng tiếng đàn câu hát lẫn tiếng xênh

Tom chát tỏm xinh xinh đà biết mấy

Thức hay ngủ cớ sao mình chẳng dậy

Khẽ tung màn gượng dậy để làm vui

Thảm thiết thay hạt ngọc tuôn rơi

Mai ta sẽ ngược xuôi người một nước

Duyên với nợ không sau thì trước

Nhớ lấy nhời nguyện ước ba sinh

Kẻo lại mang cái kiếp tài tình

Duyên với nợ xinh xinh đà biết mấy".

          Hiện nay làng Xuân Giai có đội tế nữ gồm 12 người, hằng năm đội hát tế lễ trong dịp kỵ giỗ Thành hoàng làng, ngày lễ Kỳ phúc... Tuy vậy, nếu Xuân Giai chính thức được thành lập phường hát ca trù thì chắc chắn những lời ca tiếng hát sẽ không chỉ dừng lại ở lễ hội làng mà còn là cơ hội để những người dân phục vụ du khách khi đến với Thành Nhà Hồ, đến với Thanh Hóa.

Hiện nay làng Xuân Giai có:

- Diện tích: 102,41 ha, trong đó: Đất nông nghiệp 71,81 ha; Đất phi nông nghiệp 24,4 ha; Đất GTTL + nghĩa địa 4,7 ha; Đất chưa sử dụng 1,5 ha.

- Dân số: 1.080 người; số hộ: 327 hộ;

- Nhà văn hóa làng: Có; diện tích: 140 m2 ;

- Khu thể thao làng: Có; diện tích: 6.000 m2

- Vị trí địa lý: Phía Đông giáp Vĩnh Long; phía Nam giáp làng Phố Mới; phía Tây giáp làng Phú Lĩnh; phía Bắc giáp làng Tây Giai.

Sưu tầm từ bài viết về ca trù của Lê Khắc Tuế và sử liệu trên trang Vĩnh Tiến Vĩnh Lộc