XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG

Thứ Tư, 28 tháng 12, 2016

Thăng Long ngàn xưa và tên gọi Thủ đô mới hôm nay.

Trên thế giới không có đất nước nào mà hình dáng, truyền thuyết về cội nguồn và địa danh lại có nhiều liên hệ tới Rồng như nước Việt Nam ta…Phải chăng đây cũng là khát vọng ngàn đời, là sứ mệnh thiêng liêng cha ông đã đặt lên vai con cháu- hãy kiên cường vượt qua phong ba bão táp để hóa Rồng…      
Có lẽ do một sự sắp đặt của Trời - Đất mà Tổ quốc Việt Nam của chúng ta mang hình dáng của một con Rồng đang vươn ra biển Đông. Phần đầu của Rồng là miền bắc với chiều rộng lớn hơn, đủ để thể hiện những chi tiết uy nghi như sừng, bờm và râu. Miền trung thon, hẹp là thân Rồng đang bay lượn uyển chuyển và miền nam thể hiện những khúc cuộn của Rồng nên có hình thái phình ra to hơn và kết thúc tại mũi Cà Mau có dáng dấp như mỏm đuôi Rồng đang vẫy vùng. Hoàng Sa, Trường Sa là nơi móng Rồng vươn ra làm điểm tựa giữa đại dương cuộn sóng .
 Bằng trí tuệ anh minh và qua  những trải nghiệm lịch sử, các triều vua trị vì đất nước đã sớm nhận ra vị trí trung tâm đầu não của quốc gia phải chính là nơi ngự trị của mắt Rồng. Vào buổi bình minh của đất nước, năm 544  sau công nguyên, Lý Bí xưng Đế dựng nước Vạn Xuân và đã đóng đô ở khu vực Thăng Long – Hà Nội ngày nay. Ông đã cho xây dựng chùa Khai Quốc (Chùa Mở nước, sau đổi tên thành chùa Trấn Quốc ở khu vực Hồ Tây- Hà Nội). Vào mùa xuân năm Canh Tuất (1010) khi vua Lý Công Uẩn viết chiếu dời đô ông đã khẳng định giá trị phong thủy (ngày nay gọi là môn  Địa lý - Môi trường) có một không hai của vùng đất này và sau đó là người đầu tiên đặt tên Thăng Long cho kinh đô nước Việt.

Bản đồ Việt Nam hình
Rồng - Ảnh: Phạm Đức Quý

 Trên bản đồ Việt Nam vùng đất Thăng Long – Hà Nội nằm đúng vị trí mắt Rồng với miệng của nó mở ra nơi cửa sông Thái Bình, mũi Rồng là vùng Quảng Ninh- Hải Phòng và hàm dưới chính là vùng Thanh Hoá ngày nay. Với một góc nhìn như vậy thì cái tên Thăng Long – Rồng bay lên được đặt cho Thủ đô một nước có hình dáng đặc biệt của một con Rồng đang vươn ra biển Đông thật là phù hợp với ước nguyện xây dựng tương lai hưng thịnh và đi lên của các bậc tổ tiên và hài hòa trong mối quan hệ thiên – địa – nhân.
Lại nói thêm về chữ nhân hay yếu tố nhân hòa, trong cuộc sống thường ngày đó là lòng tự hào dân tộc, tinh thần yêu nước, đoàn kết một lòng chống ngoại xâm và xây dựng đất nước an bình, giàu mạnh.Trong dân gian từ thuở xa xưa đã có niềm tin rằng tên hay đem lại điều tốt nên vua Lý Công Uẩn lấy tên Thăng Long để thể hiện khát vọng và ý chí vươn lên mạnh mẽ của dân tộc, chứa đựng ý niệm thiêng liêng về nguồn gốc con Rồng cháu Tiên.
 Chính vì vậy sau nhiều lần đổi tên như Đông Đô (1397-1407, 1428-1430), Đông Quan (1407- 1427), Đông Kinh (1430- 1789), Bắc Thành (1789- 1831) thì cái tên Thăng Long vẫn lắng đọng lại một cách thân thương và đầy tự hào trong sâu thẳm tình cảm của mỗi người dân Việt Nam. Còn Hà Nội đối với chúng ta cũng rất thân thuộc và trìu mến, nó có nghĩa là thành phố trong sông (chỉ con sông Hồng ngày nay), là chốn kinh kỳ trên bến dưới thuyền mà vua Minh Mạng năm 1831 khi thực hiện cải cách hành chính chia lại các tỉnh thuộc vùng Đàng Ngoài cũ đã đặt cho.
 Theo đó, từ Quảng Bình trở ra được chia làm 18 tỉnh, trong đó có tỉnh Hà Nội, còn Thủ đô của Việt Nam lúc đó đã chuyển vào Phú Xuân – Huế. Rõ ràng là vào thời điểm năm 1831 việc đặt tên cho Hà Nội chỉ đơn thuần là đặt tên cho một tỉnh lẻ ở Đàng Ngoài, dựa trên vị trí của nó so với một dòng sông mà không mang cái khí thế long trọng và ý nghĩa thiêng liêng như khi vua Lý Công Uẩn dời đô [1]. Nhân đây tôi xin cung cấp cho các độc giả thêm một chi tiết lịch sử lý thú là bên Trung Quốc từ thời Đông Hán đã có địa danh Hà Nội. Nếu đọc lại Tam Quốc hẳn chúng ta sẽ thấy đoạn chiến lược gia Tuân Úc khuyên Tào Tháo như sau : “Xưa Cao Tổ giữ Quan Trung, Quang Vũ chiếm Hà Nội mà tạo ra cái thế rễ sâu, gốc vững mà chế ngự thiên hạ…”(Tinh hoa mưu trí trong Tam Quốc, tác giả Hoắc Vũ Giai, người dịch Nguyễn Bá Thính, các trang 61, 353, NXB Lao động, 1996).
 Hiện nay được biết tại tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc (dưới thời Tam Quốc vùng này thuộc nước Thục)  có thị tứ Hà Nội. Nằm về phía đông của Ôsaka Nhật Bản, trên đường đi Kyôtô cũng có một khu vực mang tên Kawachi có nghĩa là Hà Nội (trong sông) với cách biểu đạt bằng chữ tượng hình theo Hán tự giống như Hà Nội của Việt Nam ta. Địa danh này ra đời từ thế kỷ 7 sau công nguyên, tức là lâu đời hơn Hà Nội của chúng ta tới 1200 năm. Sự trùng hợp này được giải thích là do Nhật Bản trước kia cũng chịu ảnh hưởng cách định danh của người Trung Hoa, định vị tọa độ theo hình thế núi sông (2). Suy rộng ra thì có thể còn có nhiều địa danh Hà Nội nữa ở những vùng sông nước trong khu vực Đông Á ngày nay.
Để khơi dậy lòng tự hào dân tộc mà một đất nước láng giềng ASEAN của chúng ta đã lấy tên Singapura (tiếng địa phương là con sư tử) để đặt cho quốc gia non trẻ của mình. Trên thực tế đất nước nhỏ bé này không có sư tử sinh sống như ở châu Phi nhưng những kỳ tích trong phát triển kinh tế- xã hội của nó đã đưa đảo quốc này lên hàng sư tử hay rồng trong số các quốc gia mới trỗi dậy ở Á Châu.

Phố cổ Hà Nội cuối thế kỷ 19 - Nguồn ảnh: i38.photobucket.com
Có thể nói trên thế giới không có đất nước nào mà hình dáng, truyền thuyết về cội nguồn và địa danh lại có nhiều liên hệ tới Rồng như nước Việt Nam. Nào là thành Thăng Long, Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, sông Cửu Long, Hoàng Long, núi Hàm Rồng, đảo Bạch Long Vĩ, sự tích con Rồng cháu Tiên v.v…Phải chăng đây cũng là khát vọng ngàn đời, là sứ mệnh thiêng liêng mà cha ông đã đặt lên vai con cháu – hãy kiên cường vượt qua phong ba bão táp để hóa Rồng ?

Hôm nay đây sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước Việt Nam đã đạt được những đổi thay thần kỳ. Thế và lực của chúng ta không ngừng được nâng cao, nhiều người đã bắt đầu nói đến Việt Nam như một con Rồng mới của Châu Á đang vươn ra đại dương hội nhập quốc tế. Tuy nhiên trong cuộc cạnh tranh quốc tế diễn ra rất khốc liệt hiện nay, muốn con Rồng Việt Nam có thể bơi xa, bay cao nhất thiết phải có được một  cú hích, một sự đột phá quyết liệt trong nhận thức và hành động của toàn xã hội.
Nếu khiêm tốn mà nhìn nhận bản thân thì chúng ta tuy gần đây có đạt được sự tăng trưởng nhưng vẫn chưa  thoát ra khỏi sự tụt hậu so với các nước trong khu vực đang chạy đua tăng tốc, và bản thân sự tăng trưởng của chúng ta vẫn chưa bền vững. Những di sản nặng nề trong nếp nghĩ của quá khứ quan liêu bao cấp, sự thiếu hiểu biết về quản lý kinh tế - xã hội trong cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế cùng với gánh nặng mới của tệ tham nhũng đang  níu kéo con Rồng  muốn bay lên và thực chất là – dù vô tình hay hữu ý đang hà hơi tiếp sức cho những thế lực đen tối luôn âm mưu kéo tụt con Rồng Việt Nam xuống.
Gần đây trên một số phương tiện thông tin đại chúng ở nước ngoài đã xuất hiện những giọng điệu hiếu chiến lỗi thời, hằn học gọi Việt Nam ta là một con “rắn nước có hình thù kỳ quái” và đe dọa sẽ dạy cho chúng ta một bài học nữa bằng cách đánh gãy đầu rắn ở đốt sống thứ 7 tức là vào vị trí Thanh Hoá. Đã đến lúc phải gióng lên một hồi trống để đánh thức lòng tự tôn dân tộc vốn sẵn có trong huyết quản mỗi người Việt Nam, đánh thức con Rồng Việt đã nhiều năm nay gối đầu trong dòng sông Hồng mang nặng phù sa để nó vươn mình bay cao trên biển cả như thời Lý, Trần mấy trăm năm lịch sử oanh liệt và rạng rỡ.

Hãy lấy lại cái khí thế hào sảng trong “Nam Quốc sơn hà Nam Đế cư…” của Lý Thường Kiệt, “Hịch tướng sĩ” của Trần Hưng Đạo, “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi và “Tuyên ngôn Độc lập” của Hồ Chí Minh để động viên triệu triệu con tim người Việt yêu nước trong công cuộc chấn hưng và bảo vệ Tổ quốc, quyết không để kẻ nào thấy Rồng Việt Nam vùi đầu trong sông bấy lâu nay mà dám cao giọng miệt thị chúng ta là rắn nước. 
 Mô  hình xây dựng thành phố ven sông Hồng
Nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội chúng ta hãy khơi dậy lòng yêu nước và chí khí quật cường vùng vẫy một phương trời của con Rồng Việt Nam bằng việc chính thức lấy lại tên Thăng Long cho Thủ đô đất Việt. Hãy nhắc nhở cho con cháu trong các sách giáo khoa rằng giang sơn gấm vóc này từ thuở̉ lập nước đã có cái thế uy nghi của một con Rồng vươn ra biển Đông chứ không chỉ giản đơn là hình chữ S trong bảng chữ cái Latinh như sau này phương Tây vẫn quen gọi một cách vô thức.
Trong quá khứ, người Việt ta chưa có truyền thống chinh phục biển như nhiều dân tộc khác cho nên chiến lược biển của Đảng đã đề ra  gần đây phải được đưa vào cuộc sống từ việc xây dựng “tâm thức” về biển cho mỗi công dân từ thuở niên thiếu rằng  kinh tế biển là không gian sinh tồn bền vững của đất nước mang hình dáng con Rồng vươn ra đại dương. Đây sẽ là một cú hích cần thiết trong nội tâm mỗi chúng ta góp phần tạo nên một khí thế vươn lên trong toàn thể trẻ già, trai gái. Đối với thế giới, khi nhắc đến Việt Nam  mọi người sẽ liên tưởng ngay tới một đất nước có thủ đô mang tên Rồng bay đầy hào khí đi lên và rất ấn tượng, mang một nét văn hóa đặc thù. Đặc điểm này sẽ có một ý nghĩa tích cực trong việc xây dựng thương hiệu quốc gia cho Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế. 
Qua nhiều đổi thay của lịch sử và trong quá trình hoàn thiện tổ chức, cải cách quản lý chúng ta đã có nhiều kinh nghiệm về việc thay đổi địa danh các đơn vị hành chính. Thiết nghĩ, nếu có lấy tên Thăng Long làm tên giao dịch chính thức cho Thủ đô thì cũng sẽ không gây ra một sự xáo trộn bất lợi và chi phí hành chính quá cao nào. Nếu so sánh với chi phí khi chia tách hai tỉnh thì việc chỉ đổi tên một thành phố bên cạnh những chi phí bắt buộc liên quan tới việc ra thông báo với trong nước và quốc tế, làm lại con dấu, biểu mẫu giấy tờ của các cơ quan hành chính thì sẽ không đòi hỏi tới những chi phí cho việc xây dựng thêm một trung tâm hành chính với đủ các ban ngành cho một tỉnh mới được thành lập.
Ngoài ra chúng ta vẫn có thể áp dụng nhiều biện pháp quá độ uyển chuyển để việc thay đổi tên gọi không gây trở ngại và tốn kém trong các quan hệ dân sự, giao dịch hành chính và ngoại giao. Cái tên Hà Nội (3) vẫn sẽ được dùng trong cuộc sống đời thường, thơ ca, nghệ thuật cũng như chúng ta dùng tên Sài Gòn, còn tên Thăng Long sẽ là tên gọi chính thức mang địa vị, tính chất pháp lý và hành chính như đối với cái tên gọi thành phố Hồ Chí Minh. Vả chăng nay Thủ đô đã được mở rộng nhiều ra phía Hà Tây, Hòa Bình . . . cho nên ý nghĩa thực tế của cái tên Hà Nội “Thành phố trong sông” đã trở nên không còn phù hợp chí ít là về mặt không gian địa lý (4). Trong khi đó nếu lấy tên Thăng Long cho Thủ đô trên đà phát triển, tương lai bao gồm nhiều địa phương sáp nhập lại, sẽ tạo nên khí thế của sự hợp nhất, đi lên, đồng lòng và đoàn kết anh em một nhà.
Chưa bao giờ đất nước ta lại đứng trước những vận hội to lớn như hiện nay, đó là thiên thời. Đất nước Việt Nam giờ đây thống nhất, con Rồng Việt  nằm trải dài suốt một dải bên bờ biển Đông, vóc dáng của nó đã lớn hơn nhiều so với cái buổi ban đầu tổ tiên ta dựng nước, đó là địa lợi. Và một khi hơn 80 triệu trái tim và khối óc được thôi thúc vươn lên bởi hào khí Thăng Long thì yếu tố nhân hòa sẽ được cộng hưởng, tạo nên một sức bật mãnh liệt. Không còn nghi ngờ gì nữa trong thời đại Hồ Chí Minh, Rồng Việt sẽ  lại vươn cao và bay xa.
     Phạm Gia Minh
(1) Lịch sử của Thăng Long cho tới hôm nay là 998 năm với năm lần đổi tên, chỉ có 388 năm Thủ đô của đất Việt mang tên Thăng Long thôi. Đó là vào thời Lý (217 năm), Trần (171 năm) được đánh giá là một giai đoạn lịch sử phát triển thịnh vượng và bền vững nhất về kinh tế, hùng mạnh về quân sự (ba lần đánh thắng quân Nguyên-Mông) đồng thời mang đậm sắc thái riêng của Việt Nam trong phát triển Phật giáo, văn hóa nghệ thuật và y học. 12 năm mang tên Đông Đô đánh dấu sự sụp đổ của triều đại Hồ Quý Ly, 20 năm mang tên Đông Quan chỉ gợi lại nỗi ô nhục khi bị giặc Minh đô hộ tàn bạo, hủy diệt tận gốc truyền thống văn hóa của dân tộc.
Giai đoạn khá dài 354 năm mang tên Đông Kinh là một thời kỳ xen lẫn giữa vinh quang (Lê Lợi đánh đuổi quân Minh, Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh) và ô nhục (Lê Chiêu Thống dâng đất nước cho nhà Thanh). Đó cũng là thời kỳ đất nước rối ren,  mất đoàn kết và bị phân chia (các cuộc tranh giành Lê-Mạc, vua Lê- chúa Trịnh, Trịnh –Nguyễn phân tranh dẫn đến tình trạng Đàng Trong, Đàng Ngoài ). Trong giai đoạn này các triều đại thường tồn tại không quá 100 năm và không đạt được sự cường thịnh như thời Lý, Trần. 42 năm mang cái tên Bắc Thành là một giai đoạn mà các vua nhà Nguyễn muốn làm lu mờ dần đi cái tên Thăng Long trong tâm thức của tầng lớp sĩ phu và nhân dân Bắc Hà vốn ủng hộ nhà Tây Sơn.
Với  tên Hà Nội được đặt vào năm 1831 thì cho tới nay mới có 177 năm chúng ta đã bị thực dân Pháp đô hộ hơn 80 năm, Mỹ xâm lược gần 30 năm và 10 năm chiến tranh biên giới, tổng cộng là gần 2/3 thời gian đầy khó khăn, ,đất nước chưa có được bao nhiêu thời gian để phát triển. Riêng với cái tên Hà Nội một số học giả dựa vào triết lý âm – dương ngũ hành của phương Đông còn phân tích rằng tên Thủ đô (trung tâm đầu não) là Hà Nội thuộc thủy mà tên đất nước (yếu tố bao trùm) là Việt Nam thuộc hỏa, thủy- hỏa tương khắc trong cùng một hệ thống giữa những thành phần trọng yếu nhất thì sự phát triển ắt phải gian nan, khó ổn định dài lâu và rất hao tổn sức lực mới đạt được mục đích.
(2) Xem bài: “Hãy thả cho Rồng bay lên của nhà sử học Dương Trung Quốc đăng trên Lao Động cuối tuần số 15, ngày 11/4/2008
(3) Xung quanh sự kiện vua Minh Mạng đặt tên Hà Nội có nhiều ý kiến cho rằng trước đó,  từ thời  vua Gia Long –Nguyễn Ánh (năm 1805) đã ra lệnh triệt phá Hoàng Thành Thăng Long, hạ độ cao tường thành cho thấp hơn kinh đô Phú Xuân và bắt dân đọc chệch chữ Long trong Thăng Long thành Lung (trong từ lao lung ). Để sĩ phu và nhân dân Bắc Hà quên hẳn hào khí Thăng Long nên năm 1831 Minh Mạng đã đặt tên Hà Nội. Nếu ghép cái tên khai sinh là Thăng Long với tên Hà Nội (sẽ là Rồng bay trong sông) thì dễ dàng thấy hình ảnh một con Rồng đang bị giam hãm trong một dòng sông chật hẹp chứ không phải đang được bay giữa trời, biển bao la. Điều này có khác chi hổ chạy trong cũi, cá bơi trong chậu hoặc chim bay trong lồng?
Đó là một hành động có tính toán rất thâm thúy để đáp lại việc trước kia sĩ phu và nhân dân Bắc Hà đã nhiệt thành ủng hộ nhà Tây Sơn (hẳn chúng ta còn nhớ quan đại thần của Gia Long là Đặng Trần Thường đã cho đánh chết Ngô Thì Nhậm ngay trong sân Văn Miếu Quốc Tử Giám vì tư thù và tội đã đắc lực phò nhà Tây Sơn. Ngay đến hài cốt của vua Quang Trung cũng bị đày đọa thê thảm như thế nào thì mới thấy được sự hằn học của nhà Nguyễn đối với di sản của Tây Sơn). Sau này triều đình nhà Nguyễn đã dễ dàng thỏa thuận với thực dân để Hà Nội trở thành nhượng địa của Pháp.
(4) Riêng Hà Tây với núi Ba Vì  và  đền Thượng có một vị trí phong thủy (địa lý- môi trường) vô cùng quan trọng đối với long mạch ( và vận mệnh) của đất nước Việt Nam. Xưa kia Cao Biền sang đô hộ nước ta đã trấn yểm ở đây mà không thành. Nay, nếu vùng núi Ba Vì với những huyệt đạo linh thiêng lại bị ghép vào cái thế “ở trong sông” của địa danh Hà Nội thì e rằng câu truyện  Sơn Tinh chiến thắng Thủy Tinh trước kia  sẽ có hồi kết ngược lại và kéo theo những hậu quả khôn lường do âm thịnh  mà dương suy. Nhưng nếu Ba Vì thuộc Thăng Long thì lại là  một sự phối hợp tuyệt hảo, tạo nên cái thế thăng tiến vững bền mà không phải thủ đô của quốc gia nào trên thế giới cũng có được.
Trích VietNamNet

Truyền thuyết và Sơ lược về Thăng Long

Năm 1010, tương truyền khi vua Lý Công Uẩn rời kinh đô từ Hoa Lư đến đất Đại La thì thấy rồng bay lên nên gọi tên kinh đô mới là Thăng Long, hay "rồng bay lên" theo nghĩa Hán Việt. Ngày nay tên Thăng Long còn dùng trong văn chương, trong những cụm từ như "Thăng Long ngàn năm văn vật"... Năm 2010, là kỷ niệm 1 thiên niên kỷ của Thăng Long – Hà Nội.
Năm 1243, nhà Trần tôn tạo sửa đổi và gọi Thăng Long là Long Phượng. Cuối thời Trần, Hồ Quý Ly cho đặt tên là Đông Đô
Năm 1428, Lê Lợi đặt kinh đô tại Thăng Long và đổi tên là Đông Kinh, vào khoảng thế kỷ 16, khi Đông Kinh trở thành một đô thị sầm uất, có cả người Châu Âu đến buôn bán, thì trong dân gian bắt đầu gọi Đông Kinh là Kẻ Chợ. Theo 1 người đã đến kinh đô Thăng Long là ông William Dampier người Anh thì tại đây có tới 20.000 nóc nhà, thường thấp, tường trát bùn và mái lợp rơm. Dù vậy cũng có 1 số nhà xây bằng gạch và lợp ngói. Kinh thành có 2 lâu đài rất tầm thường được dựng bằng gỗ. Hoàng cung được xây dựng nguy nga hơn dù cũng làm bằng gỗ.
Năm 1805, sau khi thống nhất đất nước, nhà Nguyễn đặt kinh đô tại Phú Xuân (Huế) và cho phá thành Thăng Long để xây thành theo phương pháp của phương Tây do kỹ sư Pháp giúp đỡ.
Từ tháng 12 năm 2002 đến nay, trên khu vực thuộc Hoàng thành Thăng Long xưa (khu vực giữa các phố Hoàng Diệu, Hoàng Văn Thụ, Độc Lập, Bắc Sơn ở Hà Nội), các nhà khảo cổ học đã tiến hành khai quật trên một diện tích khoảng hơn 19 nghìn m², phát lộ một phức hệ di tích-di vật rất phong phú, đa dạng từ La Thành-Đại La (thế kỉ 7-9) đến thành Thăng Long (thế kỉ 11-18) và thành Hà Nội (thế kỉ 19).
 900px-thanglong-conduonggomsuvensonghong_500

Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội (từ năm 1946 đến năm 1954)

Năm 1946
1 - 1
- Thành lập Chính phủ Liên hiệp lâm thời. Ba vạn người dự lễ ra mắt của Chính phủ tại quảng trường Nhà hát Lớn. Chính phủ gồm 14 bộ. Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh (Việt Quốc, Việt Cách) được tham gia Chính phủ.
5 - 1
- Chủ tịch Hồ Chí Minh dự mít tinh lớn ủng hộ Tổng tuyển cử tại khu Việt Nam học xá.
6 - 1
- Tổng tuyển cử đầu tiên ở Việt Nam, cũng là lần đầu tiên ở châu Á và lần đầu tiên ở các nước thuộc địa trên thế giới có một Quốc hội dân chủ, tiến bộ.
- Các cuộc bỏ phiếu tấp nập từ 7 giờ đến 10 giờ sáng, 92,4 % cử tri Thủ đô trong số 194.880 cử tri đã đi bỏ phiếu. Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu với số phiếu cao nhất: 98,4%. Hà Nội được bầu 6 đại biểu. Cùng ngày, Người đi thăm các phòng bỏ phiếu ở Hồ Khẩu, Hàng Bạc, Hàng Gai, Hàng Trống, Thụy Khuê, ô Đông Mác.
7 - 1
- Khai giảng trường Cán bộ tự vệ Hồ Chí Minh ở 2F Quang Trung. Chủ tịch Hồ Chí Minh tới dự.
12 - 1
- Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự cuộc mít tinh chào mừng thắng lợi cuộc Tổng tuyển cử và 6 đại biểu của Hà Nội trúng cử vào Quốc hội khóa 1 tại khu Việt Nam học xá.
31 - 1
- Chính phủ ra sắc lệnh phát hành tiền Việt Nam thay cho giấy bạc Ngân hàng Đông Dương.
Tháng giêng
- Thành lập Trung ương quân ủy.
1 - 2 (30 Tết Bính Tuất)
- Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và chúc tết gia đình một đại đội trưởng tự vệ ở phố Cửa Nam, một gia đình lao động ở ngõ Hàng Đũa (nay là phố Ngô Sĩ Liên), một viên chức nghèo ở phố Hàng Lọng.
- Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm đền Ngọc Sơn vào lúc giao thừa. Người gửi thư chúc Tết chiến sĩ và đồng bào nhân dịp năm mới.
2 - 2 (1 Tết)
- Bác Hồ vui Tết với các cháu thiếu nhi tại Ấu Trĩ viên (nay là Cung Thiếu nhi Hà Nội). Người dự bữa cơm mừng xuân với các chiến sĩ bảo vệ Bắc Bộ phủ.
3 - 2 (2 Tết)
- Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Hội chợ, mở tại chùa Láng, xã Yên Lãng (nay thuộc phường Láng Thượng, quận Đống Đa) nhân dịp Tết để lấy tiền ủng hộ Nam Bộ kháng chiến.
20 - 2
- Bọn phản cách mạng tổ chức biểu tình từ phố Quán Thánh ra hồ Gươm có quân Tưởng đi hộ vệ, chống Chính phủ ta, bị quần chúng phá tan.
2 - 3
- Quốc hội khóa I họp kỳ thứ nhất. Quốc hội công nhận Chính phủ Liên hiệp kháng chiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập có 10 bộ. Cụ Hồ Chí Minh được bầu làm làm Chủ tịch nước kiêm Thủ tướng Chính phủ. Cụ Bùi Bằng Đoàn làm Trưởng ban và cụ Tôn Đức Thắng là Phó trưởng ban thường trực Quốc hội. Quốc hội đã bầu Ban Thường trực Quốc hội, Ban dự thảo Hiến pháp, kháng chiến ủy viên hội và đoàn cố vấn tối cao. Theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quốc hội thông qua việc mở rộng thêm 70 ghế trong Quốc hội và một số ghế trong Chính phủ cho Việt Quốc và Việt Cách.
6 - 3
- Hiệp định sơ bộ Việt - Pháp được ký tại số nhà 38 phố Lý Thái Tổ, Hà Nội, nhằm hòa hoãn với Pháp để gạt 18 vạn quân Tưởng ra khỏi nước ta. Nội dung chủ yếu của Hiệp định sơ bộ là:
+ Nước Pháp công nhận nước Cộng hòa dân chủ Việt Nam là một nước tự do, có 3 Kỳ, ở trong Liên bang Đông Dương và khối Liên hiệp Pháp.
+ Nước Việt Nam thỏa thuận để quân đội Pháp vào thay quân đội Tàu, hạn quân Pháp ở Đông Dương không quá 5 năm.
+ Hai bên đình chiến để mở cuộc đàm phán chính thức, trong khi đàm phán quân 2 bên đóng ở đâu vẫn cứ đóng đấy.
7 - 3
- Mít tinh của 10 vạn nhân dân Thủ đô tại quảng trường Nhà hát Lớn nhân việc ký Hiệp định sơ bộ Việt - Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói với đồng bào “Tôi, Hồ Chí Minh, suốt đời đã cùng đồng bào chiến đấu cho độc lập của Tổ Quốc. Tôi thà chết chứ không bao giờ bán nước”.
10 - 3
- Bầu cử Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội lần đầu tiên.
11 - 3
- Do phía Pháp không chịu thi hành đúng Hiệp định sơ bộ Việt - Pháp, nhân dân ta phẫn uất, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi đồng bào bình tĩnh, sẵn sàng chờ lệnh Chính phủ.
18 - 3
- 1.200 quân Pháp bắt đầu vào đóng tại Hà Nội theo Hiệp định sơ bộ 6 - 3. Phái đoàn hữu nghị của chính phủ ta lên đường đi Trùng Khánh, cố vấn Vĩnh Thụy (Bảo Đại) cùng đi, sau đó Bảo Đại bỏ trốn, không trở về nước nữa.
29 - 3
- Nửa ngày bất hợp tác với giặc Pháp. Nhân dân Hà Nội biểu tình thị uy phản đối việc chúng chiếm đóng trái phép Nha Tài chính Việt Nam (nay là trụ sở Bộ Ngoại giao) ngày 27 - 3, phản đối âm mưu cắt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam. Đòi mở ngay cuộc đàm phán chính thức.
11 - 4
- Giỗ tổ Hùng Vương tổ chức tại Việt Nam học xá. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tới dự.
13 - 4
- Chủ tịch Hồ Chí Minh tới thăm một lớp học bình dân buổi tối của khu 21, trường Hoài Đức, phố Hàng Trống.
16 - 4
- Tiễn đưa phái đoàn Quốc hội ta do đồng chí Phạm Văn Đồng dẫn đầu sang thăm Quốc hội và nhân dân Pháp, rời Hà Nội.
- Chính thức thành lập ngành Quân y Việt Nam.
25 - 4
- Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm thị xã Sơn Tây.
29 - 4
- Ban hành sắc lệnh quy định công nhân được hưởng lương ngày nghỉ lễ Quốc tế Lao động 1 - 5. Lần đầu tiên ngày 1 - 5 được công nhận là ngày hội chính thức của những người lao động Việt Nam.
1 - 5
- Mít tinh lớn lần đầu tiên kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động sau cách mạng với gần 20 vạn người dự ở Việt Nam học xá.
2 - 5
- Pháp bắt giam 15 anh em công nhân ở trong thành, 2000 thợ làm với chúng lập tức đình công. Ngày 18 - 5 chúng phải thả tất cả.
22 - 5
- Toàn thành phố đóng đủ “đảm phụ quốc phòng” trong 2 ngày 21 và 22 - 5.
25 - 5
- Hội nghị toàn quốc Việt Nam công nhân cứu quốc hội họp tại Hà Nội, quyết định thành lập Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và gia nhập Liên hiệp Công đoàn thế giới.
26 - 5
- Chủ tịch Hồ Chí Minh đốt lửa truyền thống khai mạc dạ hội của thanh niên Hà Nội. Cùng ngày, người tới thăm khóa đầu tiên của trường võ bị Trần Quốc Tuấn tại Sơn Tây.
28 - 5
- Thành lập Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Liên Việt) tại Hà Nội. Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch danh dự. Ban chấp hành Hội do cụ Huỳnh Thúc Kháng làm Chủ tịch, cụ Tôn Đức Thắng làm Phó chủ tịch.
30 - 5
- Hơn 5 vạn người đến quảng trường Việt Nam Học xá tiễn đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm nước Pháp với danh nghĩa là thượng khách.
31 - 5
- Chủ tịch Hồ Chí Minh dời sân bay Gia Lâm sang Pháp.
Tháng 5
- Hà Nội chính thức chia lại làm 17 khu phố nội thành và 5 khu hành chính ngoại thành (xem thêm ngày 21 - 12 - 1945) là Làng Bạc, Đại La, Đống Đa, Đồ Thám, Mê Linh.
16 - 6
- Bầu cử Ủy ban Hành chính 17 khu phố.
25 - 6
- Thực dân Pháp đóng chiếm trái phép phủ Toàn quyền cũ ở Hà Nội.
27 - 6
- Ngày tổng bãi công, bãi chợ, bãi học phản đối thực dân Pháp.
29 - 6
- Đơn vị pháo binh đầu tiên của Vệ quốc đoàn thành lập tại Hà Nội.
30 - 6
- Bầu cử Ủy ban hành chính các xã ngoại thành.
Tháng 6
- Quân Tưởng Giới Thạch phải rút hết khỏi Hà Nội.
12 - 7
- Quét sạch bọn phản động Việt Nam quốc dân Đảng ở Hà Nội. Phá tan các sào huyệt của chúng chuyên đi bắt cóc, tống tiền, in bạc giả, giết người… ở số 7 phố Ôn Như Hầu (nay là phố Nguyễn Gia Thiều), Hàng Bún, Quán Thánh, Hàng Đẫy, Hàng Than… Bao vây và khám trụ sở Việt Nam quốc dân Đảng ở số nhà 132 phố Đuy-vi-nhô (nay là phố Bùi Thị Xuân).
22 - 7
- Thành lập Đảng Xã hội Việt Nam, tập hợp những người trí thức yêu nước.
31 - 7
- Thành lập Liên hiệp Công đoàn Hà Nội.
19 - 8
- Hội Văn hóa Cứu quốc xuất bản tại Hà Nội lần đầu tập thơ  “Từ ấy” của Tố Hữu.
25 - 8
- Thống nhất đội tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu và đội tự vệ thành đội Thanh niên tự vệ Hà Nội.
Cuối tháng 8
- Thanh toán xong nạn mù chữ ở Thủ đô.
Đầu tháng 10
- Thành lập Hội mùa đông binh sĩ của Hà Nội.
19 - 10
- Hội nghị Quân sự toàn quốc của Đảng nhận định “Không sớm thì muộn, Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp”.
20 - 10
- Kỷ niệm thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tại Nhà hát Lớn Hà Nội.
21 - 10
- Sau khi ký Tạm ước Việt - Pháp 14 - 9 - 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từ Pháp trở về Hà Nội trên chiến hạm Đuy-mông Đuyếc-vin, rời Pháp ngày 18 - 9. Người về tới Hải Phòng ngày 20 - 10. Từ đó, Người đáp xe lửa đặc biệt về tới ga Hà Nội lúc 15 giờ 30.
28 - 10 đến 9 - 11
- Quốc hội khóa I khai mạc kỳ họp thứ hai. Bọn phản động Việt Quốc, Việt Cách bị đuổi ra khỏi Chính phủ. Chính phủ mới gồm 12 bộ. Tại phiên họp ngày 8 - 11, Quốc hội thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
17 - 11
- Chỉ trong 2 ngày (16 và 17 - 11) nhân dân Thủ đô đã quyên góp được trên 30 vạn đồng và một số lớn bông, len đủ làm 50.000 áo trấn thủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi chiếc áo len của Người để bán đấu giá lấy tiền góp vào quỹ “Mùa đông binh sĩ”.
21 - 11
- Khai giảng lớp Quân y đầu tiên ở trường Quân y, phố Y-ec-xanh: Chủ tịch Hồ Chí Minh và đồng chí Võ Nguyên Giáp đã tới dự.
23 - 11
- Quốc hội quyết định dùng tiền Việt Nam trong cả nước.
24 - 11
- Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm thôn Phú Gia, xã Phú Thượng (Từ Liêm).
- Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất khai mạc tại Hà Nội. Trong lời khai mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Tôi mong muốn chúng ta đem văn hóa lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập tự cường và tự chủ…”
26 - 11 đến 3 - 12
- Chủ tịch Hồ Chí Minh về ở và làm việc tại làng Hậu Ái, xã Vân Canh, huyện Hoài Đức.
Tháng 11
- Thành lập Ủy ban Bảo vệ, Ban Chỉ huy và Đảng ủy Mặt trận Hà Nội. Đồng chí Nguyễn Văn Trân làm bí thư đảng ủy Mặt trận Hà Nội kiêm chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Thành phố. Đồng chí Vương Thừa Vũ làm Trưởng ban Chỉ huy Mặt trận Hà Nội. Hà Nội lúc này có 5 tiểu đoàn Vệ quốc quân và 9.000 tự vệ chiến đấu, tự vệ thành (trước gọi là Việt Dũng đoàn).
- Cả nước chia thành 12 khu hành chính và quân sự. Hà Nội là khu XI đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương. Nội thành chia chia làm 3 Liên khu phố. Liên khu I ở giữa và ở phía đông bắc thành phố, Liên khu II ở phía nam và Liên khu III ở phía tây. Ngoại thành vẫn giữ nguyên 5 khu hành chính (5 - 46).
2 - 12
- Bọn Tây “mũ đỏ” phá phòng Thông tin phố Tràng Tiền. Chiều hôm sau, 3 - 12, chúng lại phá lần nữa.
3 - 12 đến 20 - 12
- Chủ tịch Hồ Chí Minh về ở và làm việc ở làng Vạn Phúc (huyện Hoài Đức, nay là quận Hà Đông). Tại đây, Bác đã họp với thường vụ trung ương Đảng quyết định phát động toàn quốc kháng chiến và viết Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.
7 - 12
- Quân Pháp tự tiện chiếm đóng ngân hàng Pháp - Hoa (nay là trụ sở Bộ Ngoại thương) phố Tràng Tiền. Giăng Sanh-tơ-ni (Jean sainteny), đại diện Pháp tuyên bố: “Đã đến lúc giải quyết thời cuộc bằng quân sự”.
8 - 12
- Thành bộ Việt Minh kêu gọi nhân dân Thủ đô bình tĩnh và chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu.
13 - 12
- Hội nghị các khu trưởng họp tại Hà Đông quán triệt nhận định của Trung ương Đảng về tình hình phản động Pháp đẩy ta vào chiến tranh.
16 - 12
- Thành lập đội cảm tử quân Hà Nội: Khắp nơi treo khẩu hiệu: “Thà chết không trở lại đời nô lệ”.
- Tại khu Đống Đa (ngoại thành), Bộ Tổng chỉ huy nghe Ban Chỉ huy Mặt trận Hà Nội báo cáo lần cuối cùng về tình hình chuẩn bị chiến đấu.
17 - 12
- Quân Pháp gây hấn ở các phố: Lò Đúc, Trúc Bạch, Cửa Bắc, Hàng Đậu, đầu cầu Long Biên. Riêng ở Hàng Bún, Yên Ninh chúng dã man tàn sát 50 người dân, bắt đi 15 phụ nữ. Máy bay thám thính của Pháp bay trên bầu trời Hà Nội.
18 và 19 - 12
- Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng tại làng Vạn Phúc (Hà Đông) quyết định phát động toàn quốc kháng chiến.
18 - 12
- Lính Pháp bao vây trụ sở công an Hàng Đậu, chiếm trụ sở Bộ Tài chính và Bộ Giao thông công chính. Đêm, chúng hạ tối hậu thư đòi tước vũ khí tự vệ và đòi chiếm Sở Công an Hà Nội.
- Thanh niên tự vệ thành họp quyết nghị.: “Sẵn sàng đợi lệnh, thề sống chết với Thủ đô”.
19 -12
- Buổi trưa, Ban thường vụ Trung ương Đảng điện cho các mặt trận, các chiến khu: “Tất cả hãy sẵn sàng”!
- 20 giờ, công nhân nhà máy điện Yên Phụ được lệnh phá máy. Đèn điện phụt tắt. 20 giờ 3 phút, pháo đài Láng nổ súng mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc. Pháo lớn của ta từ Xuân Canh, Xuân Tảo, Đào Xuyên đồng thời bắn vào các trại lính Pháp. Hà Nội vùng đứng lên.
- 22 giờ, mệnh lệnh tác chiến của đồng chí Võ Nguyên Giáp đến tay các đơn vị tự vệ và Vệ quốc đoàn.
- Ủy ban Bảo vệ Hà Nội trở thành Ủy ban Kháng chiến Hà Nội. Đồng chí Nguyễn Văn Trân, bí thư thành ủy, làm chủ tịch ủy ban.
20 - 12
- Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn quốc kháng chiến: “Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Lời kêu gọi được Người viết ở làng Vạn Phúc (Hà Đông).
- Tấn công giặc Pháp ở vị trí nhà Đê-lê-vô (Déléveaux) đầu phố Cát Linh.
- Quân Pháp tấn công Bắc Bộ phủ (nay là nhà khách Chính phủ). Đại đội Vệ quốc đoàn ở đây cùng với 20 công nhân Sở Bưu điện đã chống trả quyết liệt. Chính trị viên Lê Gia Đỉnh, người ở lại cuối cùng đã anh dũng hy sinh cùng với quả bom lớn cho nổ chôn vùi quân giặc. Kết quả: Trong trận này 150 tên Pháp bị giết, 4 xe tăng bị phá.
- Máy bay Pháp ném bom pháo đài Láng, một máy bay trinh sát địch bị quân ta dùng 2 khẩu súng 76,2 mm từ pháo đài Láng bắn lên, bốc cháy, rơi xuống phố Hàng Bột.
21 - 12
- Bộ đội ngoại thành bắn rơi 2 máy bay địch.
- Máy bay giặc Pháp ném bom dọc phố Hàng Bài, mở đường cho bộ binh của chúng đánh trại Vệ quốc đoàn trung ương.
- Pháp nống ra đê Yên Phụ và Khu Nhà Tiền bị quân ta đẩy lui.
22 - 12
- Ban Thường vụ trung ương Đảng ra chỉ thị Toàn dân kháng chiến.
- Báo “Thủ đô” cơ quan tuyên truyền của Ủy ban kháng chiến khu 11 ra số đầu.
23 - 12
- Tấn công vị trí Lò Lợn (Lương Yên) của giặc Pháp, diệt 15 tên giặc.
24 - 12
- Quân Pháp tiến theo đường Hàng Bột (nay là phố Tôn Đức Thắng) định xuống Ô Chợ Dừa bị quân ta chặn đánh phải rút lui.
26 - 12
- Xe tăng, xe bọc thép của Pháp mở đường xuống Ô Cầu Dền bị tiểu đội trưởng Đê dùng súng Ba-dô-ca đốt cháy một xe tăng.
30 - 12
- 600 quân giặc với 50 xe cơ giới, được máy bay yểm trợ, lại mở đường Hàng Bột xuống Ô Chợ Dừa nhưng sau 5 giờ chiến đấu vẫn không đi đến được cửa Ô.
Từ cuối tháng 12
- Cuộc kháng chiến của quân và dân Thủ đô tập trung vào Liên khu I, địa bàn lúc này gồm: phía bắc: Hàng Đậu; phía tây: Phùng Hưng; phía nam: Hàng Bông, Hàng Gai, Cầu Gỗ, Hàng Thùng; phía đông: từ gầm cầu Long Biên đến phố Lò Sũ. Lực lượng vũ trang của Liên khu gồm 2 đại đội Vệ quốc đoàn, 1 trung đội tự vệ chiến đấu và hơn 2000 tự vệ thành và công an xung phong; chi bộ Đảng có 32 đồng chí. Ngoài ra, có 4 vạn dân (cả ngoại kiều) chưa kịp tản cư.
- Ngoài bãi sông Hồng có đại đội Hồng Hà gồm 100 người là tự vệ các làng Phúc Xá, Tân Lập, Nghĩa An, Nghĩa Dũng. Tiểu đội nữ giao thông Lãng Bạc giữ liên lạc với hậu phương.

Năm 1947
3 - 1
- Trận Lương Yên, chặn đánh quân Pháp có cơ giới, không cho chúng từ Lò Lợn mở đường ra Vĩnh Tuy. Chặn đánh cuộc tấn công của địch lên phía Bắc ở Yên Phụ, Đội Cấn.
4 - 1
- Trận chiến đấu chống địch bao vây ở Trung Phụng, Trung Tự, Mỹ Đức (quanh ngõ chợ Khâm Thiên).
6 - 1
- Thống nhất các lực lượng tự vệ, công an, Vệ quốc quân ở Liên khu I lập thành trung đoàn liên khu I. Các đơn vị vệ quốc quân và tự vệ chiến đấu ở các cửa ô được tổ chức thành hai quân đoàn 48 và 52.
7  - 1
- Chặn đánh địch ở Giảng Võ.
13 - 1 đến 2 - 2
- Trên đường lên Việt Bắc lãnh đạo cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dừng chân ở lại xóm Lai Cài, xã Cần Kiệm, huyện Thạch Thất 19 ngày.
14 - 1
- Trung đoàn liên khu I làm lễ tuyên thệ ở rạp Tố Như (nay là rạp Chuông Vàng, phố Hàng Bạc). Ngày này trở thành ngày truyền thống “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” của lực lượng vũ trang thủ đô.
- Ra đời tờ báo “Chiến thắng” của Uỷ ban kháng chiến Liên khu I.
15 - 1
- Hai bên ngừng súng để đồng bào và ngoại kiều tản cư. 10.000 người đã ra khỏi thành phố. Ta chủ trương chỉ để lại 500 người, nhưng nhiều anh chị em không chịu ra. Cuối cùng ở Liên khu I còn 1200 người, trong đó có 200 phụ nữ và 100 thiếu niên liên lạc “Vệ út”.
19 - 1
- Hội nghị Quân sự toàn quốc lần I tặng Trung đoàn Liên khu I danh hiệu “Trung đoàn thủ đô”. Cùng thời gian này Ban thường vụ Quốc hội tặng trung đoàn 48 danh hiệu “Trung đoàn Thăng Long”.
21 - 1 (30 Tết)
- Một tổ cảm tử bơi ra giữa hồ Hoàn Kiếm cắm quốc kỳ lên tháp Rùa chào mừng xuân Đinh Hợi vào giữa đêm giao thừa.
- Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lời chúc Tết đồng bào cả nước trên đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam đặt tại chùa Trầm (xã Phụng Châu, nay thuộc huyện Chương Mỹ):
Chúc năm mới Đinh Hợi (1947)
Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió.
Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông
Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến
Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng.
Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào!
Sức ta đã mạnh, người ta đã đông
Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi.
Thống nhất độc lập nhất định thành công.
22 - 1 (Mồng 1 Tết)
- Ban chỉ huy Trung đoàn Thủ đô họp mặt đầu năm với các đại biểu ngoại kiều ở Liên khu I tại số nhà 85 Hàng Chiếu.
23 - 1
- Pháp huy động hai tiểu đoàn bộ binh có 34 xe tăng và xe bọc thép tấn công khu nhà tiền (nay là khu vực Công ty in Tiến Bộ ở 175 phố Nguyễn Thái Học). Quân ta chặn đứng địch giữa rạp Tam Kỳ và chợ Kim Mã.
25 - 1
- Pháo binh ta bắn cháy hai máy bay Spit - phai của Pháp đi oanh tạc trở về Gia Lâm.
- Pháp chiếm được Nhật Tân.
27 - 1
- Chủ tịch Hồ Chí Minh từ xã Cần Kiệm, huyện Thạch Thất gửi thư cho các chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô: “Các em là đội cảm tử. Các em cảm tử để cho Tổ quốc quyết sinh. Các em là đại biểu cái tinh thần tự tôn, tự lập của dân tộc ta mấy nghìn năm để lại. Cái tinh thần quật cường đó đã kinh qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám truyền lại cho các em. Nay các em gan góc tiếp tục cái tinh thần bất diệt đó, để truyền lại cho nòi giống Việt Nam muôn đời về sau”.
Tháng Giêng
- Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư chia buồn cùng gia đình liệt sĩ Vũ Văn Thành, tự vệ thành Hà Nội.
6 - 2
- Pháp mở đầu cuộc tổng công kích vào Liên khu I. 5giờ30, xe tăng địch từ phía bờ sông tiến đánh quân ta ở vị trí nhà Xô-va (Sauvage) (nay là trường Nguyễn Huệ, phố Trần Quang Khải). Cuộc chiến đấu kéo dài tới 10giờ, ta chỉ còn một chiến sĩ bị thương ra thoát. Nhưng, Ban chỉ huy Trung đoàn Thủ đô đã cho tập kích, chiếm lại ngay vị trí quan trọng này sau 15phút chiến đấu.
7 - 2
- Chống trả cuộc tấn công của địch vào Trường Ke (Quai Clémenceau) (nay là trường Trần Nhật Duật)
- Địch tấn công khu Hàng Thiếc, dùng súng lớn bắn đổ sập nhiều nhà. Đến 2giờ chiều, mỗi bên chiếm giữ một bên phố. Hàng trăm tên Pháp bỏ mạng tại đây.
11 đến 13 - 2
- Máy bay Pháp ném bom khu vực Hàng Đường, Đồng Xuân.
14 - 2
- Ngay từ sáng, giặc Pháp mở cuộc tấn công vào khu Đồng Xuân. Ta với địch quần nhau giữa chợ Đồng Xuân, trên các phản xi măng của Hàng Thịt, trên các mái nhà của phố Hàng Mã. Ngay từ giờ đầu, địch đã chết 80 tên. Đến chiều, lực lượng ta yếu dần, hết đạn, phải rút khỏi chợ. 14giờ, giặc mới chiếm được.
16 - 2
- Tại Đông Thành, đồng chí Bạch Ngọc Liễn và đơn vị dùng súng trường và súng liên thanh bắn rơi một máy bay khu trục của Pháp trên bầu trời Hà Nội. Đây là máy bay địch đầu tiên bị hạ bằng súng bộ binh.
Giữa tháng Hai
- Thành lập đội thiếu niên trinh sát thành Hoàng Diệu gồm 23 em tại đình Huỳnh Cung, xã Tam Hiệp, Thanh Trì
17 - 2
- Cuộc rút lui kì diệu của Trung đoàn thủ đô ra khỏi Hà Nội bắt đầu lúc 19giờ, vượt qua gầm cầu Long Biên, lên Nghi Tàm. Người chiến sĩ cuối cùng rút khỏi Hà Nội lúc 24giờ. 20 chiếc thuyền từ tả ngạn vượt sông Hồng sang đón quân ta. 3giờ sáng ngày 18 tháng 2, đại bộ phận Trung đoàn đã đến đất tự do ở Phúc Yên. Sau 60 ngày đêm chiến đấu anh dũng, Trung đoàn thủ đô đã tiêu diệt gần 2000 địch, hoàn thành nhiệm vụ tiêu hao lực lượng địch và giam chân chúng ở Hà Nội.
18 - 2
- Địch lồng lộn huy động quân đuổi theo Trung đoàn thủ đô. Một tiểu đội 7 người của đại đội Hồng Hà (tự vệ các làng Phúc Xá, Tân Lập, Nghĩa An, Nghĩa Dũng) do đồng chí Nguyễn Ngọc Nại chỉ huy, làm nhiệm vụ yểm hộ Trung đoàn thủ đô sang sông, đã chặn đánh địch ở bãi Giữa, diệt 17 tên giặc. Toàn  tiểu đội đã hi sinh anh dũng.
22 - 2
- Trung đoàn thủ đô chuyển quân qua sông về Thượng Hội (Gối - Đan Phượng)
2 - 3
- Giặc Pháp tiến công về phía Tây Hà Nội, đánh chiếm thị xã Hà Đông.
21 - 3 đến 6 - 4
- Địch tiến công lớn ở phía Nam thành phố, đánh chiếm Vân Đình, Phủ Lý, chợ Bến, Miếu Môn.
27 - 3
- Trận chống càn ở thôn Cự Đà (Hà Đông) của một tiểu đội du kích thủ đô chống 200 tên địch suốt 1 ngày, diệt 57 tên. Chỉ huy trận đánh là Vũ Văn Sự được anh em tặng danh hiệu “Hùm xám Cự Đà”.
2 - 4
- Một trung đội du kích thủ đô phục kích trên đê Sấu Giá (Hoài Đức) chặn đánh một cánh quân địch, diệt 50 tên, giải thoát hàng trăm đồng bào và nhiều trâu bò bị giặc bắt.
19 - 5
- Du kích quân khu 5 tập kích tiêu diệt bốt Mậu Lương, Đa Sĩ (Hà Đông), giết và bắt sống 24 tên địch.
25 - 5
- Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào cả nước: “Mỗi công dân phải là một chiến sĩ. Mỗi làng phải là một chiến hào” .
- Trương Đình Tri, một tên phản động Quốc dân đảng theo Pháp đứng ra lập Hội đồng an dân Bắc Việt.
29 - 7
- Địch chiếm đóng thị trấn Phùng (Đan Phượng).
20 - 9
- Thành lập Thành đội Bộ dân quân Hà Nội.
Tháng Chín
- Khu XI (lúc này gồm: Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây) quyết định tách Hà Nội riêng ra gồm nội thành cộng ba quận ngoại thành(quận 4 gồm hai khu: Đại La và Lãng Bạc cũ, quận 5 tức khu Đống Đa, quận 6 gồm 2 khu Đề Thám và Mê Linh cũ) cùng với 4 huyện: Hoài Đức, Đan Phượng, Thanh Oai, Thanh Trì, nằm trong 3 liên quận huyện. Liên quận - huyện IV: quận 4, Hoài Đức, Đan Phượng. Liên quận - huyện V: quận 5, Thanh Oai. Liên quận huyện VI: quận 6, Thanh Trì.
10 - 10
- Công an Hà Nội trừng trị tên Trương Đình Tri, tổng trấn Bắc Việt ở phố Cổng Đục.
- Địch tấn công lên Việt Bắc. Một cánh quân đánh lên Sơn Tây bị du kích quận 4 chặn đánh tại Phú Lễ, Cần Kiệm (Thạch Thất) diệt 82 tên.
13 - 10
- Thành lập Ban vận động Liên Việt Hà Nội.
Tháng Mười
- Hợp nhất Uỷ ban Kháng chiến và Uỷ ban Hành chính thành Uỷ ban Kháng chiến - Hành chính Hà Nội.
- Thành lập Ty Thông tin Hà Nội.
13 - 11
- Tổ chức trận tổng phá tề ở các xã ngoại thành phía Nam Hà Nội.
22 - 12
- Toán quân Pháp bị thất bại sau chiến dịch Việt Bắc (thu đông 1947) kéo qua cầu Đuống về Hà Nội.
26 - 12
- Khu uỷ XI ra nghị quyết phá kế hoạch lập phòng tuyến bảo vệ Hà Nội của địch.

Năm 1948
Tháng Hai
- Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đoàn 29 (Trung đoàn Thủ đô) cảm ơn Đoàn đã gửi chiến lợi phẩm biếu Người .
Tháng Ba
- Địch chia nội thành thành 36 khu phố, đặt các trưởng khu, dưới có trưởng phố. Ngoại thành tổ chức thành Đại lý Hoàn Long gồm năm quận hành chính, 136 làng. Thị trưởng bù nhìn đầu tiên là Bùi Văn Quý, một sĩ quan quân y trong quân đội nguỵ Số dân nội thành lúc này là 15 vạn người.
- Hội nghị cán bộ Đảng bộ Hà Nội họp đề ra chủ trương: Phát triển cơ sở Đảng, dùng ngoại thành làm bàn đạp tấn công nội thành, phát động phong trào du kích chiến tranh làm thất bại kế hoạch lập phòng tuyến bao vây của địch.
30 - 5
- Đột kích sân bay Gia Lâm, phá hỏng 2 máy bay địch
Tháng Năm
- Theo chỉ thị của Liên khu uỷ khu III: Hà Nội sáp nhập với Hà Đông thành Liên tỉnh Lưỡng Hà. Hà Nội chia làm hai huyện Trấn Tây và Trấn Nam (gồm nội thành và ba quận ngoại thành).
- Địch thành lập chính phủ bù nhìn toàn quốc tại Hà Nội.
6 - 7
- Du kích quận 5 đánh bốt nhà dầu Sen (shell) ở đầu phố khâm Thiên, bắn vào sở Hoả Xa, phố Ha-le (nay là đoạn giữa phố Nguyễn Du) và đồn công an quận III của địch.
Tháng Bảy
- Thành lập đội biệt động Hà Nội.
5 - 8
- Quân ta đánh vị trí Yên Thái, đánh đắm một ca nô địch.
25 - 8
- Dân quân ngoại thành phối hợp với Vệ quốc quân tấn công các vị trí địch ở Nhật Tân, Yên Thái, Cầu Giấy, Thành Hà Nội, trường Yên Phụ, nhà máy đèn, nhà máy nước, bắn súng cối vào phi trường Bạch Mai, nhà Tiền: đánh chìm một ca nô địch ở Hồ Tây.
28 - 8
- Đánh mìn phá một xe bọc thép từ Sơn Tây về Hà Nội, cách bốt Cầu Giấy 1,2km.
Tháng 9 - 10
- Địch mở liên tiếp 33 trận càn quét ở miền tây nam Hà Nội, tàn sát hơn 100 đồng bào ở làng Yên Mỹ, triệt hạ làng Khương Trung, đốt cháy làng Thanh Trì, Kim Lũ.
1 - 10
- Hà Nội tách khỏi tỉnh Lưỡng Hà thành khu đặc biệt do Liên khu ủy Liên khu III phụ trách.
3 - 11
- Quân ta đột kích cầu Đuống, đột nhập sân bay Gia Lâm, phá 6 đầu máy ô tô, đốt 66.000 lít xăng dầu.
8 - 11
- Du kích xã Hữu Hưng (gồm Đại Mỗ và Tây Mỗ) và khu Phú Đô tiêu diệt đồn Đại Mỗ của địch (ở Hà Đông - nay thuộc huyện Từ Liêm) mở đầu đánh thắng chiến dịch thu đông của địch.
15 - 11
- Tấn công địch diệt bốt Bến Tre (Tương Mai), Cầu Vọng, phá huỷ một quãng cầu Long Biên và bốt điện Chợ Dừa.
20 - 11
- Thành lập Ban chấp hành Đảng bộ Hà Nội.
Tháng 11
- 52 công nhân xưởng Stai nghỉ việc, phản đối chủ đuổi một công nhân.
4 - 12
- Đốt 36 000 lít xăng  ở kho Cầu Đất
 23 - 12
- Phá xe điện trên đường Bưởi
Từ 23 - 12 - 1948 đến 6 - 1 - 1949
-  Ta mở chiến dịch phá tề, phá được 25 hội tề, bắt 83 tên tay sai giặc đưa ra vùng tự do.
27 - 12
- Bắn phá nhà máy đèn, nhà máy nước.

Năm 1949
Tháng 1
- Công nhân nhà máy A-vi-a đấu tranh đòi tăng lương
Từ tháng 1 đến tháng 4
- Địch mở 512 trận càn quét lớn nhỏ ở ngoại thành.
Tháng 2
- Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đội du kích thủ đô: “Hà Nội là quả tim quân sự, chính trị, kinh tế của địch, du kích và Vệ quốc quân cần phải thường quấy rối quả tim của địch cho đến ngày ta tổng phản công…”
- Tách hai huyện Trấn Tây và Trấn Nam thành: Liên khu phố I và Liên khu phố II ở nội thành, quận IV và quận VI ở ngoại thành (sau lại chia làm ba quận: IV, V, VI).
27 - 3
- Du kích Nam Dư Hạ (Lĩnh Nam - Thanh Trì) được Chính phủ tặng Huân chương Quân công hạng ba về thành tích diệt địch
1 - 5
- Công nhân lái xe nhà máy bia rải truyền đơn.
Tháng Năm
- Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào Hà Nội: “Đồng bào Hà Nội đang nêu gương dũng cảm cho toàn quốc. Ngày nay chịu đựng càng nhiều, mai sau kết quả càng to”.
- Thành lập Ban chỉ huy Mặt trận Hà Nội, lấy tiểu đoàn 108 làm tiểu đoàn bộ đội chủ lực Hà Nội.
1 -  6
- Trung ương Đảng chỉ thị đặc biệt cho Đảng bộ Hà Nội về nhiệm vụ chuẩn bị chiến trường thủ đô cho Tổng phản công.
17 - 6
- Công nhân nhà máy in Văn Hồng Thịnh (Hàng Bông) đòi tăng lương.
Tháng Sáu
- Thành uỷ Hà Nội chuyển hai liên khu phố thành quận I và quận II.
Tháng Bảy
- Bảo Đại đến Hà Nội lần thứ nhất, sau khi ký hiệp ước bán nước cho Pháp ngày 8 tháng 3 năm 1949 tại Paris.
12 - 7
- Đốt cháy phòng thông tin Bờ Hồ , đốt và phá hầu hết các cổng chào đón Bảo Đại. Cắm cờ đỏ sao vàng ở Tháp Rùa làm Bảo Đại phải cút ngay khỏi Hà Nội, không dám ở lâu như kế hoạch đã định.
27 - 7
- Bắn súng lớn vào trường bay Bạch Mai làm hư hỏng hai máy bay Đa-cô-ta (Dakota).
18 - 8
- Quân Pháp mở chiến dịch đánh Phúc Yên.
30 - 8
- Chôn mìn ở trường bắn Tương Mai, giết 25 tên địch.
2 - 9
- Công nhân sở xe điện Thuỵ Khuê đòi chủ tăng lương tháng lên 500 đồng.
15 đến 18 - 9
- Thành uỷ triệu tập Hội nghị Cán bộ dân vận toàn thành.
Tháng Mười Một
- Một phái đoàn quân sự Mỹ đến Hà Nội.
- Đảng Đại Việt quốc dân có xu hướng thân Mỹ ra đời (cầm đầu là các tên Lê Thăng, Đặng Văn Sung, Phan Huy Quát, Vũ Đình Lý… ) và nhảy lên vũ đài chính trị làm tay sai cho giặc.
- Ta sáp nhập ba quận IV, V, VI thành quận ngoại thành gồm 34 liên xã mới, hai quận I, II thành quận nội thành gồm 17 khu phố.
25 - 11 đến 7 - 12
- Học sinh Hà Nội bãi khoá phản đối giặc Pháp khủng bố học sinh. Phong trào khởi đầu tư trường Chu Văn An.
Cuối năm 1949
- Thành lập Đoàn thanh niên kháng chiến Lạc Long. Những hoạt động đầu tiên phá tiệm nhảy ga (bar de la gare) của sĩ quan Pháp, câu lạc bộ sĩ quan Pháp và năm toa xe điện.
Từ 1949
- Hàng loạt báo chí bí mật được xuất bản và phát hành ở Hà Nội. Nội san “Tiền phong” của Đảng bộ, “Cứu quốc Thủ đô” của Mặt trận Việt Minh - Liên Việt, “Quân Thủ đô” của Ban chỉ huy Mặt trận Hà Nội, “Công an hồ Gươm” của công an, “Quăng Súng” và “Non à la guerre” của Ban Địch vận, tập san “Tuyên huấn” của Ty Thông tin, “Tiến lên” của Quận uỷ nội thành, “Nhựa sống” của học sinh kháng chiến, “Lao động” của Ban Công vận…

Năm 1950
13 - 1 đến 20 - 1
- Bãi khoá của học sinh, sinh viên Hà Nội tỏ tình đoàn kết với các bạn học sinh Sài Gòn xuống đường phản đối chính quyền bù nhìn Nam phần đàn áp học sinh và giết hại anh Trần Văn Ơn ngày 9 tháng 1 ở Sài Gòn. Sáng 20 tháng 1 tại chùa Quán Sứ, tổ chức lễ cầu hồn cho học sinh bị địch sát hại.
17 - 1
- Trừng trị tên đầu sỏ Đại Việt Đặng Trần Học, Phó Giám đốc Công an Bắc Việt.
18 - 1
- Một đơn vị biệt động của tiểu đoàn 108 - Bộ đội chủ lực Hà Nội - phối hợp với du kích đột nhập sân bay Bạch Mai, phá huỷ 22 máy bay, đốt cháy hai kho xăng và 60 vạn lít dầu.
24 - 1
- Bảo Đại ra Hà Nội lần thứ 2 cùng với tên đặc sứ Mỹ Giét - sớp (Jessup) được đón bằng vụ gài mìn làm nổ tung tám trạm biến thế điện và hư hại nặng bảy trại khác trong thành phố.
- Phòng thông tin Mỹ bắt đầu hoạt động ở Hà Nội.
Tháng một
- Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen du kích Hà Nội đánh sân bay Bạch Mai.
Cuối tháng hai
- Đốt cháy một số gian hàng của địch ở chợ phiên Đống Đa.
1 - 3
- Đột nhập Sở xe điện Thuỵ Khê, phá 16 đầu tầu, làm hư hỏng 10 chiếc khác, đốt 250 m3 đạn ở kho Đồn Thuỷ.
29 - 3 đến 3 - 4
- Hội nghị Cán bộ Đảng bộ Hà Nội họp đề ra nhiệm vụ: “Gấp rút chuẩn bị chiến trường, tiến lên giải phóng Thủ đô”.
21 - 7
- Thành uỷ ra chỉ thị xây dựng “Khu kháng chiến liên hoàn” ở ngoại thành.
Tháng bảy
- Học sinh bãi khoá 3 ngày liền với khẩu hiệu: “Chống văn hoá dâm ô truỵ lạc, trả tự do cho học sinh bị bắt, phải bảo đảm quyền lợi cho học sinh”. Địch phải thả hai học sinh bị chúng bắt.
Từ 13 đến 19 - 8
- Chị em tiểu thương các chợ dẫn đầu là chợ Đồng Xuân mở đợt đấu tranh chống thuế thương vụ, đòi giảm thuế chỗ ngồi; 35 người trong ủy ban đấu tranh đến Toà Thị chính trao đơn. Ngày 18 tháng 9, thả chim và bóng bay mang quốc kỳ ở chợ Đồng Xuân.
27 - 9
- Nữ điệp viên công an Hà Nội Nguyễn Thị Lợi tham gia trận đánh chìm thông báo hạm A-mi-ô Đanh-vin (Amiot d’ Inville) tiêu diệt 200 tên địch ở cửa biển Sầm Sơn.
25 - 12
- Đảng bộ Hà Nội chủ trương chuyển hướng công tác: che dấu lực lượng, tạo điều kiện đưa cán bộ ra sống công khai hợp pháp.
Đêm 26 và 27 - 12
- Đại đoàn 308 diệt các cứ điểm boong ke ở Kim Anh, Đa Phúc, mở đầu chiến dịch Trần Hưng Đạo.
Tháng 12
- Đơlát đờ Tátxinhi (Delattre de Tassigny) đến Hà Nội nhậm chức Cao uỷ Pháp. Hắn cách chức hai tên chỉ huy quân sự ở Hà Nội là Mátxăng và Côngtăng.

Năm 1951
15 - 1
- Ta tấn công tiêu diệt các vị trí dọc đường 11 từ Sơn Tây đi Trung Hà để phối hợp với chiến dịch Trung du.
14 đến 24 - 4
- Hội nghị Ban chấp hành Đảng bộ Hà Nội kiểm điểm và bổ sung các chủ trương, biện pháp để duy trì và phát triển phong trào kháng chiến ở Hà Nội trong tình hình mới, dưới ánh sáng của nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 2 (2 - 1951).
Tháng 11
- Hội nghị của bọn phản động đội lốt tôn giáo do Đu-lây (Dolley) triệu tập họp ở Hà Nội.
6 - 12
- Tiêu diệt đồn La-ri-vê ở Đa Phúc (nay ở huyện Sóc Sơn).
10 - 12
- Mở đầu chiến dịch Hoà Bình, quân ta diệt tiểu đoàn dù địch ở Tây Nam núi Ba Vì, tiến công tiêu diệt vị trí Tu Vũ.
29 - 12
- Diệt gọn hai đại đội địch trên hai mỏm cao 400 mét và 600 mét núi Ba Vì.
- Dân số nội thành tới năm 1951 đã lên khoảng 30 vạn. Địch chia làm 34 khu phố.