XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG

Thứ Sáu, 15 tháng 3, 2024

Ngã ba Bông - điểm đến thú vị trên hành trình “ngược - xuôi sông Mã”




Ngã ba Bông - nơi con sông Mã tách dòng, phân nhánh thành sông Lèn, giáp ranh giữa nhiều miền quê mà dân gian vẫn lưu truyền câu nói quen thuộc: “Một tiếng gà gáy sáu huyện cùng nghe”.

Thắng cảnh ngã ba bông

Từ cầu Đò Lèn (huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá) trên Quốc lộ 1A, đi ngược về phía Tây men theo triền đê sông Lèn để lên ngã ba Bông, chỉ một quãng đường chừng 10 km nhưng là cả một vùng thắng cảnh, văn hóa tâm linh gắn liền với những địa danh di tích cấp tỉnh và quốc gia.

Ngã ba Bông - nơi con sông Mã tách dòng, phân nhánh thành sông Lèn, giáp ranh giữa nhiều miền quê mà dân gian vẫn lưu truyền câu nói quen thuộc: “Một tiếng gà gáy 6 huyện cùng nghe”.

Tuy nhiên, do những thay đổi về địa giới hành chính, giờ đây, vùng ngã ba Bông là nơi giáp ranh giữa 6 huyện: Hà Trung, Hoằng Hóa, Hậu Lộc, Vĩnh Lộc, Yên Định, Thiệu Hóa.

Từ lâu vùng ngã ba Bông đã nổi danh bởi cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, sơn thủy hữu tình, miền văn hóa tâm linh đặc sắc.

Theo các tương truyền của người dân cho biết, ở các vùng ngã ba sông có vị trí quan trọng trong lưu vực của dòng sông. Nơi đây thường có cư dân người nguyên thủy, người Việt cổ sinh sống. Theo bản Sơ đồ phân bổ các di tích khảo cổ học khu vực ngã ba sông Mã, sông Chu của Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử Thanh Hóa cho thấy ở khu vực quanh ngã ba sông Mã – tức Ngã Ba Bông có nhiều di tích khảo cổ học thời kỳ văn hóa núi Đọ, thời kỳ văn hóa Đông Sơn, đó là những di tích núi Nổ (Vĩnh Lộc), di tích núi Thịnh, Quân Yên I, Quân Yên II (Yên Định), di tích Bù Ngôn, Bãi Xá (Hậu Lộc), di tích Mả Hộ, Mả Chùa, Bãi Gành (Hoằng Hóa). Những di tích khảo cổ trên được các nhà khảo cổ học phát hiện và cho biết xung quanh khu vực Ngã Ba Bông có nhiều điểm là nơi người nguyên thủy tối cổ sinh sống.

Đặc biệt, nơi đây thấm đượm chiều sâu lịch sử - văn hóa gắn liền với các di tích tiêu biểu, nhất là các di tích tâm linh. Với hàng loạt các di tích như: Đền cô Bơ, đền Hàn Sơn, đền Cây thị, chùa Linh Xứng, đền thờ Lý Thường Kiệt… vùng Ngã ba Bông là một trong những nơi sinh hoạt tín ngưỡng - tâm linh sôi động.

Từ trên đền Ba Bông nhìn ra bến sông, cảnh vật vẫn mang nét ban sơ, dẫn dụ con người về những xúc cảm của riêng mình.

Trước đây trên Ngã Ba Bông ngày đêm nhộn nhịp bởi những thuyền bè xuôi ngược, con đò ngang chở khách từ bến Hà Sơn (Hà Trung) sang bến xã Hoằng Khánh (nay là xã Hoằng Xuân, huyện Hoằng Hóa) và ngược lại. Khi không dùng đò ngang nữa, ở Ngã Ba Bông có cầu phao bằng luồng để khách qua sông thuận lợi hơn nên đông khách.

Du lịch văn hoá tâm linh

Ở khu vực quanh Ngã Ba Bông xưa kia có lắm đền đài, miếu mạo, ngày nay mới trùng tu tôn tạo được một phần ở cả khu vực Hàn Sơn (Hà Trung), khu vực Phong Mục (Hậu Lộc) với những đền thờ Đức Ông (danh tướng Lê Thọ Vực thời Lê Trung Hưng), các đền thờ Mẫu Liễu Hạnh, đền Cô Bơ, đền Cô Đôi, đền Cô Tám...

Đặc biệt, Đền Hàn (hay còn gọi là Đền Mẫu Đệ tam hoặc là Đệ tam thoải phủ), Đền Ba Bông (Hay còn gọi là Đền Cô Bơ hoặc là Cô Ba thoải phủ) là những di tích lịch sử Văn hóa thuộc xã Hà Sơn được xây dựng cách đây trên 500 năm.

Trải qua nhiều biến cố thăng trầm của thời gian, di tích Đền Hàn và Đền Ba Bông đã có những giai đoạn bị phá bỏ hoàn toàn, mà theo đó Lễ rước kiệu, Lễ rước bóng Cô Bơ nơi “Quốc mẫu dân cầu” cũng bị mai một lãng quên.

Tuy vậy, mảnh đất “Anh linh” vua ban đã được nhân dân và khách thập phương nhiều lần tôn tạo, trùng tu, sửa đổi. Cùng với thời gian, nhân dân thập phương, các thanh đồng bản hội vẫn nô nức viếng thăm, hương khói cầu nguyện phước lành cho cuộc đời bình an, mùa màng tươi tốt.

Có thể nói đây là nơi “Quốc mẫu dân cầu” có một không hai (Những nơi khác thờ Mẫu thoải, thờ Cô Ba chỉ là phối thờ hoặc chỉ là thờ vọng). Cả hai đền này đã được Nhà nước cấp bằng Di tích cấp tỉnh năm 1992.

Nhằm phát huy lợi thế của vùng đất, trong những năm qua cấp ủy, chính quyền địa phương đã quan tâm, chú trọng thu hút đầu tư phát triển du lịch. Ngã ba Bông giờ là một điểm đến thú vị trên hành trình “ngược - xuôi sông Mã”.

Hà Anh

Sông Mã - Ngã Ba Đầu - Hợp lưu sông Chu - Kẻ Giàng

 

Kẻ Giàng ngã ba sông

(Sông Mã gầm lên khúc độc hành chảy về hạ lưu sau tách nhánh Ngã Ba Bông là hợp lưu sông chu Ngã Ba Đầu)

Kẻ Giàng là vùng đất kỳ lạ. Nó ở ngay ngã ba Đầu (TP Thanh Hóa), nơi hai con sông Mã, sông Chu giao nhau. Những câu hò sông Mã được hình thành từ miền kẻ chợ này. Bởi cách đây hàng ngàn năm, Kẻ Giàng đã hình thành trung tâm thương mại trên sông Mã, gọi là Tư Phố...

Cảnh sơn thủy hữu tình đẹp tựa gấm hoa. Trên bến dưới thuyền. Phố nhà chật chội. Người người mua bán suốt ngày đêm. Thế mới có câu: "Làng Giàng trên chợ, dưới sông. Vui người vui cảnh, đến không muốn về"...

Tư Phố và những điệu hò sông Mã

So với những địa danh như Đại Phố (Mỹ Tho), hay Cù Lao Phố (Đồng Nai), hoặc Hoài Phố (Hội An)… thì Tư Phố được hình thành lâu đời nhất (năm 116 TCN). Tư Phố còn được nhà Hán xây thành lũy. Họ đặt bộ máy cai trị hành chính, dựng trung tâm trị sở quận Cửu Chân (Thanh Hóa xưa). Bởi lẽ từ ngã ba Đầu, thông qua sông Chu, sông Mã, tàu thuyền đi về mọi ngả. Ngàn năm trước, nền kinh tế giao thương chỉ trông cậy vào đường thủy, nên tàu thuyền tấp nập cập bến. Trấn thành Tư Phố thu hút khách hàng từ khắp nơi đổ về. Sông Chu, Sông Mã ăm ắp tàu thuyền. Cánh thương hồ đợi gom hàng quanh năm vào ra.

Nay đất Kẻ Giàng không còn là Tư Phố nữa. Từ thời nhà Nguyễn, trấn thành được chuyển về làng Thọ Hạc (thành phố Thanh Hóa ngày nay). Tuy vậy dấu tích của một miền đất cổ Tư Phố không bao giờ mất đi. Bởi ở đây, những di chỉ được khai quật và bảo tồn với nhiều giá trị lớn từ thời Vua Hùng. Bên cạnh đó còn nhiều di sản theo các mộ táng thời Hán. Tập trung một khu trú đặc biệt từ thời Bắc thuộc. Ngã ba Đầu vẫn tồn tại bến sông nhộn nhịp thuyền phà cùng những câu hò sông Mã vang lên ngày đêm.

Di sản văn hóa ở đây luôn được tôn trọng. Hàng trăm điệu "Hò sông Mã" không bao giờ mất đi. Chúng được bảo tồn và luôn luôn sáng tạo trong tâm hồn người dân Thanh Hóa. Ngay khi đến bến ngã Ba Đầu, chúng tôi đã được nghe một chàng thương hồ đang chống con sào hò câu rất hài hước: "Vắng cơm một bữa chẳng sao. Vắng em một bữa lao đao cả ngày".

Giờ tàu thuyền đều có máy chạy thay sức người. Nhưng mỗi khi gặp ghềnh thác, nước xoáy sâu chảy xiết phải trông cậy vào sức mạnh và trí tuệ của con người. Đôi mắt tinh khôn cùng sự kiên cường của thương hồ chèo lái vượt thác ngược dòng. Khi ấy những chàng trai và cô gái cùng cất vang lời "Hò Vượt thác" hay "Hò Đò Ngược".

Người chèo lái lĩnh xướng. Người đi cùng hát xô theo (hò đế). Có những điệu hò thích ứng với từng trường hợp đi đường như "Hò Đò xuôi", "Hò Nhịp đôi một", "Hò Cầu Chúa", "Hò Mắc cạn", "Hò Rời bến", rồi cả "Hò Cặp bến", "Hò Đường trường", "Hò Vác thuyền"… Mỗi tình huống trên sông nước đều gắn với một điệu hò cùng với bao lời ca của mỗi vùng miền trên sông Mã.

Thật thú vị. Đúng lúc có con thuyền chở hàng cho khách cập bến. Một chàng trai đánh thức khách hàng sau chuyến đi suốt đêm trên sông qua câu hò: "Thuyền đã đến bến ai ơi. Sao mình chẳng dậy mà coi lấy hàng… Hò ơ ớ ơ". Một tiếng hò xô. Hai tiếng hò xô… Người người tỉnh ngủ bật dậy. Hoặc có anh còn hò khi vợ đứng trên bến chờ mình. Một lời hò tình tứ mênh mông: "Thuyền anh thấp thoáng bên sông. Thấy cô ngồi bến đứng trông anh về. Ơ… hò ơ ờ… hò".

Một thương hồ kể, trên đường sông khi hai thuyền đò gặp nhau họ cũng hò gửi gắm tâm tình. Hoặc đôi khi bày tỏ tấm lòng như: "Vắng em chỉ một phiên đò. Trầu ăn chẳng có, chuyện đò thì không". Nỗi cô đơn thương hồ trên sông nước được thể hiện qua những câu hò rất độc đáo. Nhưng có lẽ "Hò Đường trường" là vui nhộn nhất.

Người lái đò cất tiếng dẫn nhịp. Mọi người hò theo thật dạt dào không khí: "Anh tài đạp lái, chúng tôi cầm chèo. Phách nhất chèo mở mái ra. Phách nhì chân giậm, phách ba reo hò". Cứ thế mọi người vừa hát vừa lái tay chèo. Theo đúng nhịp điệu đưa cho thuyền vượt dòng sông Mã lên miền Tây.

Những người hùng Kẻ Giàng

Làng Giàng nay là Dương Xá, xã Thiệu Dương thuộc thành phố Thanh Hóa. Khi đổi tên Dương Xá thêm một lần khẳng định nơi đây là đất tổ họ Dương, quê hương anh hùng dân tộc Dương Đình Nghệ. Ông là võ tướng và làm hào trưởng lừng danh cõi ngã ba Đầu. Vào đầu thập kỷ 900, Dương Đình Nghệ đầu quân chiến đấu cùng với Khúc Hạo, con trai của Khúc Thừa Dụ chống quân nhà Đường. Họ giành được giang sơn (907-917).

Sau khi Tiết độ sứ Khúc Hạo mất, tướng Dương Đình Nghệ tiếp tục trở thành trụ cột của Khúc Thừa Mỹ. Tuy nhiên Khúc Thừa Mỹ chưa được Nhà Hán chính thức công nhận là Tiết độ sứ. Thấy thái độ Khúc Thừa Mỹ không chịu khuất phục, vua Nam Hán cho bắt giữ cầm tù. Họ phong chức cho Dương Đình Nghệ nhưng lại đưa về cai quản đất Cửu Chân (Thanh Hóa).

Để thay Khúc Thừa Mỹ, nhà Hán đưa Lý Tiến sang làm Thứ sử Giao Châu và cắt cử Lý Khắc Chính sang giữ thành Tống Bình (Hà Nội xưa). Đất nước tiếp tục bị giặc phương Bắc thống trị.

Dương Đình Nghệ một lòng phục thù chống giặc ngoại xâm. Ông bí mật kêu gọi các tướng lĩnh giỏi đầu quân và tập hợp lực lượng. Ngày đêm nghĩa quân chuẩn bị tấn công thành Đại La. Ngã ba Đầu chính là nơi Dương Đình Nghệ tập hợp được 3.000 quân, dưới danh nghĩa ông nhận làm con nuôi để che mắt giặc.

Làng Giang nơi ngã ba sông Mã và sông Chu.

Sông Mã, sông Chu chính là nơi tập hợp các chiến thuyền chất dần lương thực vũ khí chiến đấu. Dưới trướng ông còn nhiều tướng lĩnh xuất chúng khác như Ngô Quyền, Đinh Công Trứ, Kiều Công Tiễn, Phạm Bạch Hổ, Dương Tam Kha… Từ đó làng Giàng trở thành căn cứ địa kháng chiến. Nghĩa quân củng cố lực lượng và luyện tập suốt 9 năm trời (923-931). Hay tin Dương Đình Nghệ chuẩn bị khởi binh, Lý Tiến báo về Nam Hán điều quân tấn công vào đất Cửu Chân.

Biết rõ âm mưu địch, Dương Đình Nghệ đã đưa quân tấn công giặc sớm hơn dự định. Ông chém đầu Lý Khắc Chính và chiếm được thành Đại La. Tướng Lý Tiến phải tìm đường tháo chạy về nước. Quân giặc tiếp viện không kịp còn bị chặn đánh từ xa thua tan tác. Quân sĩ Nam Hán khiêng xác nhau trở về phương Bắc.

Từ đó đất nước hoàn toàn độc lập dưới sự lãnh đạo của Dương Đình Nghệ. Ông tự xưng là Tiết độ sứ. Có thể coi ông là vua đầu tiên nước ta. Bởi từ đây đất nước chấm dứt sự áp bức bóc lột của giặc ngoại xâm. Tuy nhiên ông trị vì đất nước chỉ được 6 năm. Ông bị chính con nuôi Kiều Công Tiễn giết hại. Con trai ông, Dương Tam Kha cùng với anh rể là Ngô Quyền kế thừa sự nghiệp.

Ngô Quyền đã giết Kiều Công Tiễn và chặn đánh quân Nam Hán sang xâm lược nước ta. Đó là trận chiến trên sông Bạch Đằng vào năm 938. Một chiến thắng tưng bừng với trận địa cọc nhọn bịt sắt đánh tan quân giặc ngoại xâm. Tên tướng chỉ huy Hoằng Tháo bị chém chết ngay trên chiến thuyền. Giặc Nam Hán thu tàn quân thất bại trở về.

Ngô Quyền xưng Vương đóng đô ở thành Cổ Loa (năm 939). Thời kỳ độc lập của đất nước tiếp tục giữ vững. Đó là sự tiếp nối từ ngày khởi binh dựng nước của Dương Đình Nghệ. Thời kỳ mở đầu cho đất nước do người Việt Nam được làm chủ chấm dứt ngàn năm Bắc thuộc.

"Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!"

Sông Mã được hình thành từ các nguồn suối ở vùng biên giới Việt Lào. Trong đó có Nậm Nứa giáp Điện Biên. Dòng sông chảy xuôi về Tuần Giáo, Sơn La rồi quay sang Lào (cửa khẩu Chiềng Khương). Sông nhận thêm nước phụ lưu khác rồi mới quay lại Việt Nam. Bắt đầu từ Mường Lát, sông Mã chảy về Thanh Hóa. Đến ngã ba Đầu nhận thêm dòng nước sông Chu rồi chảy ra biển Đông.

Trong bài thơ "Tây Tiến" của cố thi sĩ Quang Dũng nhắc đến những địa danh mà sông Mã đã chảy qua. Đến ngã ba sông này, ai nấy đều nhớ tới câu thơ: "Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!/ Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi/ Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi/ Mường Lát hoa về trong đêm hơi".

Hình ảnh sông Mã cuồn cuộn xiết dòng hướng về quá khứ hào hùng. Nó chảy từ rừng núi Điện Biên, khởi đầu cho cuộc hành quân lịch sử của đội quân Tây Tiến tiến về Sầm Nứa (Lào). Những câu thơ Quang Dũng vẫn còn âm vang nơi đầu sóng: "Tây Tiến người đi không hẹn ước/ Đường lên thăm thẳm một chia phôi/ Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy/ Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi".

Đó là khúc ca bi tráng gắn liền với sông Mã. Bởi khi ngược sông Mã tới chiến trường biên giới năm xưa, những chiến binh trở lại không khỏi bùi ngùi: "Rải rác biên cương mồ viễn xứ/ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh/ Áo bào thay chiếu anh về đất/ Sông Mã gầm lên khúc độc hành".

Bài của Vương Tâm

Sông Mã - Dòng sông hồn cốt xứ Thanh

 





NHÀ VĂN LÊ NGỌC MINH

Có nhà thơ đã viết: “Cửa Tén Tằn sông Mã dồn quí thủy/Xây đắp miền cốt cách mấy tầng văn” (thơ Từ Nguyên Trực). Sông Mã, dòng sông lớn nhất miền Trung này đổ vào địa giới Thanh Hóa ở bản Tén Tằn, huyện Mường Lát tạo nên nền văn minh vật chất và tinh thần phong phú cho xứ Thanh, một vùng đất Địa Linh Nhân Kiệt.

Dòng sông hồn cốt xứ Thanh

1. Từ tuổi thơ, tôi đã được học bài tập đọc Sông Mã trong chương trình lớp bốn, hệ giáo dục phổ thông 10/10 trước đây. Tôi nhớ, và chắc chắn, lũ bạn học lớp bốn của tôi thời đó vẫn còn nhiều người nhớ, giọng đọc mẫu chậm rãi diễn cảm của thầy chủ nhiệm Lê Văn Thiêm mở đầu bằng những câu: “Phát nguyên từ Tây Bắc, sông Mã chảy qua Sơn La, Thanh Hóa rồi đổ ra biển Đông. Sông dài và lớn. Mùa lũ lụt dòng sông chảy xiết vượt qua những ghềnh đá cao ngất, nước tung lên trắng xóa như bờm ngựa bạch… Còn từ cuối thu trở đi sông hiền hòa trôi lững lờ một mầu nước xanh biếc thơ mộng…”.

Đoạn kết của bài tập đọc Sông Mã  là một áng văn xuôi rất trữ tình: “… Chảy về đến ngã ba Bông, sông Mã gặp sông Chu, xuôi về Hàm Rồng, len vào những rặng dừa xanh mát rồi đổ ra cửa Lạch Trào gần Sầm Sơn”.

Đúng là đoạn kết của bài tập đọc đã tả đúng cái thần của sông Mã, nơi dòng sông chảy giữa bạt ngàn dừa, chỗ nào cũng dừa. Dừa của các xã Hoàng Đại, Hoàng Quang, Hoàng Châu, Hoàng Trường (Hoằng Hóa), dừa của làng Nam Ngạn (thành phố Thanh Hóa), của xã Đông Hải (huyện Đông Sơn cũ), của các xã Quảng Hưng, Quảng Phú, Quảng Thọ, Quảng Châu, Quảng Tiến (huyện Quảng Xương cũ), trong đó có làng Hòa Chúng, xã Quảng Thọ của chúng tôi…

Kết thúc buổi học tập đọc, thầy Lê Văn Thiêm căn dặn các học trò của mình phải cố học thuộc lòng bài này bởi nó có một phần đất đai, công sức mồ hôi, nước mắt bao đời nay của làng tôi. Vì thế, tôi đã nhớ và luôn cảm thấy rất tự hào, vì đã được sinh ra bên dòng sông Mã.

2. Nhìn lên bản đồ Việt Nam, ở địa bàn Bắc miền Trung, sông Mã đúng là một “dòng sông dài và lớn”. Có lẽ vì vậy mà nhiều vùng ở xứ Thanh, sông Mã còn được gọi là sông Mạ (mẹ) hoặc sông Cái (như ngoài Bắc người ta gọi sông Hồng). Ở quê tôi, người dân thường ngày gọi sông Mã là sông Cái.

Sách Địa chí Thanh Hóa chép: “Hệ thống sông Mã lớn nhất Thanh Hóa. Trong phạm vi của tỉnh, lưu vực của sông Mã chiếm tới bốn phần năm diện tích toàn tỉnh... Sông Mã gồm tám mươi chín chi nhánh có chiều dài lớn hơn mười kilomet trở lên, cụ thể:  bốn mươi nhánh cấp 1, ba mươi ba nhánh cấp 2, và mười bảy nhánh cấp 3. Khi chảy vào địa phận Thanh Hóa ở địa điểm xã Tén Tằn, huyện Mường Lát, sông Mã tạo nên hai vùng lưu vực”.

Cũng theo sách đã dẫn: Vùng lưu vực ở thượng nguồn, hai bên núi đá ép vào sông khiến lòng sông hẹp và sâu, dòng chảy tốc độ lớn, đôi bờ thường có vách đá núi dựng đứng, nên mật độ ghềnh thác nhiều với ba mươi mốt thác lớn nhỏ trong đó có bốn thác mà dân sơn tràng, người đi bè, người chở đò dọc đã bao đời truyền khẩu: “Nhất Suội, nhì Cả, ba Long/ Lòng còn ái ngại Ngốc cùng mà thôi”

(Suội, Cả, Long, Ngốc là bốn ngọn thác lớn trong đoạn sông Mã chảy từ Điền Lư huyện Bá Thước đến gần Cửa Hà, huyện Cẩm Thủy).

Qua Cửa Hà chừng gần hai mươi kilômét, sông Mã chảy vào các huyện Vĩnh Lộc, Yên Định, Thiệu Hoá, Hoằng Hóa, thành phố Thanh Hóa, thành phố Sầm Sơn là địa hình đồng bằng, lòng sông rộng hơn, lưu tốc hiền hòa. Sông nhận nước của các sông nhánh lớn như sông Chu, sông Bưởi, sông Cầu Chày… bồi đắp nên miền châu thổ rộng lớn của xứ Thanh...

3. Từ Ngã ba Bông xuôi xuống Hàm Rồng, sông Mã rẽ thành ba nhánh tạo nên bốn cửa biển. Cửa chính chảy ra Lạch Trào (cửa Hới), ba cửa tiếp theo là cửa Lạch Trường, Cửa Sung và cửa Thần Phù. Mỗi cửa biển cửa hạ lưu sông Mã đều gắn với một vùng văn hoá bản địa ôm chứa nhiều sự tích huyền thoại và lời ca thấm đẫm ý nghĩa nhân văn: “Lênh đênh qua cửa Thần Phù/Khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm”;  “Bóng trăng em ngỡ bóng đèn/ Bóng nước em ngỡ bóng thuyền anh xuôi”...

Chảy trên lãnh thổ Việt Nam 410 km, riêng ở Thanh Hóa dòng chảy của sông Mã là 242 km tạo nên một lưu vực 9.000km2, trong đó đồng bằng tỉnh Thanh được coi là đồng bằng lớn thứ ba trong cả nước (sau đồng bằng Sông Cửu Long và đồng bằng Sông Hồng). Sông Mã đúng là sông Mạ (sông Mẹ) và sông Cái của người Thanh Hóa, bởi dòng sông đã bồi đắp thành một miền đất đai nuôi sống gần bốn triệu người, đồng thời cũng tạo nên một  vùng văn minh rực rỡ của văn hóa Đại Việt,Việt Nam.

Thanh Hóa là một trong những cái nôi sinh thành của không chỉ người Việt mà của cả nhân loại. Có thể kể đến ba cái nôi chính. Đó là Động Người xưa ở huyện Thạch Thành, Núi Đọ ở huyện Thiệu Hóa có niên đại đến hàng vạn năm, làng cổ Đông Sơn gắn liền với nền văn minh Đông Sơn có niên đại cách đây hơn 2.000 năm.

Ba nền văn minh nói trên đều có liên quan đến lịch sử loài người từ buổi hồng hoang đến lúc biết sử dụng kim khí để chế tác ra công cụ lao động và khí cụ bảo vệ cương vực, bảo vệ giống nòi bằng đồ sắt, đồ đồng đều nằm trong lưu vực sông Mã.

Chảy vào Thanh Hóa ở Tén Tần, trên hành trình tạo lưu vực đổ ra biển Đông, sông Mã hình thành bên đôi bờ của mình một nền văn hóa rực rỡ, và độc đáo.

Đó là suối Cá Thần ở Cẩm Lương, huyện Cẩm Thuỷ với đàn cá kết tinh dáng vẻ mầu sắc của nhiều loài cá, luôn sinh sôi nẩy nở trường tồn, luôn óng ả vân vi ôm chứa nhiều huyền thoại say đắm tình yêu, thăm thẳm tâm linh;

Là Cửa Hà sừng sững, vách núi uy nghi bên dòng chảy nước trong như lọc, khiến thi nhân phải dừng chân và thốt lên: “Một vùng núi dựng nước soi/ Nước non tương thế, lòng người tương tư”

Là một vùng Thọ Xuân, Lam Kinh, nơi phát tích rỡ ràng của nhà Tiền Lê, Nhà Hậu Lê đóng góp, kiến tạo nên hào khí hàng ngàn năm của Đại Việt:

“Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời dựng nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương”

(Cáo bình Ngô - Nguyễn Trãi)

Là thành đá Nhà Hồ (Vĩnh Lộc) bền gan cùng trời đất hơn 600 năm đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hoá thế giới…

4. Sông Mã chảy về đến Hàm Rồng thì tạo nên một vực lớn trước núi Ngọc (còn gọi là Núi Nít). Không gian của Hàm Rồng thật hùng vĩ khi 99 ngọn núi dồn về đây tạo hình thế núi Đầu Rồng, có động Long Quang. Minh quân thi sỹ Lê Thánh Tông đã từng đến đây vãn cảnh và đề thơ: “Ngao nổi đội non, non có động? Kình bơi lấp bể, bể thành ao”.

Cách núi Rồng chỉ hơn 1km là làng Nam Ngạn với ngôi chùa Mật Đa nổi tiếng và đền thờ tướng quân Chu Văn Lương, người được đánh giá là vị tướng dân quân đầu tiên của Đại Việt. Trong tấm bia ghi công đức ở đền thờ ngài khắc rõ: “Khi giặc Nguyên Mông sang xâm lược Đại Việt lần thứ hai, ngài đã tập hợp hơn tám trăm dân đinh của làng Nam Ngạn và các làng xung quanh kéo ra Bắc tham gia đại quân của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn”.

Chếch bên kia sông Mã là làng Bột Thượng - Cổ Quăng, quê hương của Trạng Quỳnh mà người xứ Thanh gọi là Làng Quan Trạng, một vùng đất học rực rỡ công danh, có đến mười hai vị đại khoa thời phong kiến và hơn một trăm giáo sư, phó giáo sư, tiến sỹ từ sau Cách mạng tháng Tám thành công đến nay.

Bên bờ nam sông Mã là thành phố Thanh Hóa, đô thị trị sở ngàn năm của xứ Thanh tính từ thời thành Tư Phố của Dương Đình Nghệ, vị thủ lĩnh có dưới trướng ba ngàn khách ở làng Dương Xá và 215 năm tính từ khi vua Gia Long ra sắc chỉ thành lập Hạc Thành, năm 1804;

 Là một thành phố Sầm Sơn với dãy núi Trường Lệ thơ mộng, ôm chứa bao nhiêu huyền tích về thần Độc Cước và núi Cổ Giải, về thần Bà Triều và cửa Hới, về chùa Cô Tiên linh nghiệm và về đôi lứa yêu nhau bền lâu như trời đất tạo nên hòn Trống Mái...

Văn minh Sông Mã còn sản sinh ra một vùng văn hoá phi vật thể đặc sắc phong phú mang đậm hồn quê.

Bao con người đã từ thế hệ này qua thế hệ khác đưa con thuyền mưu sinh nặng nề lựa theo chiều gió, ngược lên phía nguồn mà cứ phăm phăm rẽ nước để  làm nên điệu hò sông Mã khi thao thiết hy vọng: “Trăng lên khuất núi trăng mờ/ Bạn về mặc bạn, ta chờ trăng lên”; khi đam mê tinh tế: “Tốt gió thuyền đậu bờ nam/ Làm thơ gửi lại em khoan lấy chồng”; khi  thương người như thể thương thân: “Thuyền Than mà đậu Bến Than/Thấy anh vất vả cơ hàn em thương”…

Nhưng câu ca đằm thắm yêu thương nhân nghĩa như trên khó ai có thể thống kê cho hết được, bởi chúng đều có ở những thôn làng xứ Thanh, ở mỗi khúc sông, bến nước , ở mỗi đầu sông, cửa bể khi yên ả thanh bình, khi chớp lạch mưa nguồn.

Có nhà nghiên cứu đã nhận xét rằng: Đất Thanh Hóa nơi cứ xới lên một tấc là thấy một tấc trầm tích của văn hoá và lịch sử; đi đến làng quê Thanh Hóa không làng quê nào là không có một kho tàng thần tích và tục ngữ dân ca. Có lẽ vì thế mà người Thanh Hóa tự hào nói về tính bách nghệ của dân mình.

Nghệ ở đây được hiểu như là nét văn hoá nghệ thuật dân gian độc đáo, về phương ngữ ở mỗi làng quê xứ Thanh. Tuy là bách nghệ nhưng đều có mẫu số chung là sự tương ái đằm thắm thiết tha. Ca dao của người Mường, Thanh Hóa:

“Vào vườn hái quả cau xanh

Bổ ra làm bốn mời anh ăn trầu

Trầu này trầu nghĩa trầu tình

Trầu loan, trầu phượng trầu mình trầu ta”.

Ca dao của người Kinh, Thanh Hóa:

“Muốn cho gần bến gần thuyền

Gần bác gần mẹ nhân duyên cũng gần”…

Thật bản sắc mà cũng thật trang nhã hòa hợp.

Sông Mã tạo nên một miền văn hoá bản sắc độc đáo, phong phú, giầu có và luôn sinh thành thêm các yếu tố mới mẻ. Bởi thế, đất văn vật võ công xứ Thanh đã sản sinh cho đất nước biết bao anh hùng hào kiệt, văn nhân tài tử như: Mai An Tiêm, Triệu Thị Trinh, Khương Công Phụ, Dương Đình  Nghệ, Lê Hoàn, Lê Văn Hưu, Chu Văn Lương, Lê Lợi, Lê Thánh Tông, Đào Duy Từ, Lương Đắc Bằng, Trạng Quỳnh - Nguyễn Quỳnh, Trần Xuân Soạn, Tống Duy Tân, Đinh Công Tráng... Câu thơ của cố thi sĩ Bế Kiến Quốc “Sinh ra ở đâu mà ai cũng anh hùng/ Tất cả trả lời sinh bên một dòng sông”, dòng sông ở trong câu thơ trên, không thể vắng thiếu sông Mã, xứ Thanh.

Người Thanh Hóa hôm nay tự hào với văn hiến với truyền thống của quê hương sông Mã đang ra sức xây dựng xứ sở theo con đường đổi mới nhằm biến các giá trị hun đúc từ đất Địa linh nhân kiệt, từ nguồn mạch Đẻ đất đẻ nước... để chinh phục các tầm cao mới của văn minh phồn thịnh và hiện đại.

Chủ Nhật, 10 tháng 3, 2024

Con đường hạnh phúc


Bài của Viên Minh & Trần Minh Tài

Sự thực, hạnh phúc không hoàn toàn tùy thuộc vào tiền tài, danh vọng mà con người đã phí sức đạt cho bằng được. Thực tế chứng minh, lắm người đã lên đến tột đỉnh của danh vọng hay đã thành công trong việc tạo lập một tài sản to lớn, nhưng vẫn sống một đời sống bất an, vô vị. Hạnh phúc đâu phải xa vời với chúng ta đến thế, chỉ cần hướng tâm về với chính mình để khai thác một nguồn hạnh phúc bất tận luôn sẵn có ở bên trong mà chúng ta lãng quên để chạy theo cái bóng hạnh phúc bên ngoài.

Muốn khai thác nguồn hạnh phúc nội tại đó, chúng ta phải biết một số nguyên tắc căn bản khả dĩ tạo điều kiện tất yếu cho một đời sống an lành. Những yếu tố tiên quyết đó là gì?

1. Trầm tĩnh

Tâm hồn của con người có khả năng chi phối thể xác. Vì thế, tâm chấp chứa những niệm bất thiện thì thật là một điều đại họa, lắm khi có thể giết chết cả một đời người. Ngược lại, nếu an trú trong chánh niệm, chánh tinh tấn, chánh tư duy... thì tâm có khả năng đem lại cho chúng ta một  đời sống an lành hạnh phúc.

Không nên để cho trí phán đoán của chúng ta mang nhiều thành kiến, cố chấp. Hầu hết những phán đoán hay quyết định trong lúc bực tức hoặc khi hứng khởi bồng bột sẽ làm cho chúng ta ân hận về sau. Phải giữ tâm trầm tĩnh và suy xét kỹ càng thì phán đoán mới không thiên lệch.

Đức Phật dạy: "Không một kẻ thù nào nguy hiểm cho con bằng chính tâm dục vọng, lòng oán thù và tính ganh tị... của con". Thật vậy, chỉ khi nào tâm được rèn luyện và phát triển theo đúng chánh đạo thì mới đem lại lợi ích cho mình và tha nhân.

Tâm trầm lặng không có nghĩa là yếu mềm, tiêu cực. Thái độ trầm tĩnh của một người chứng tỏ sức mạnh của sự sáng suốt và tự chủ. Vì khi gặp một hoàn cảnh cam go, nan giải mà vẫn không lo âu bối rối thì quả là không phải dễ dàng. Sự trầm lặng đó hẳn có một sức mạnh vô song mà bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không lay chuyển được. Đó là điều kiện tiên quyết cho một đời sống hạnh phúc, đúng như một danh ngôn Pháp đã nói: "Sự yên lặng và  bình an của tâm hồn ngọt ngào hơn các lạc thú".

2. Sáng suốt

Điều quan trọng không phải là tiền bạc, sức mạnh, địa vị, tài năng mà chính là biết cách sử dụng và sử dụng đúng lúc, đúng chỗ những khả năng đó để đem lại hạnh phúc cho mình và tha nhân. Vì nếu dùng sai những khả năng sẵn có của mình thì chỉ làm cho mình thêm sa đọa.

Nhiều người bỗng nhiên phát tài, hoặc thừa hưởng một gia sản to lớn của cha mẹ nhưng lại thiếu sáng suốt, không biết giữ gìn, phát triển hoặc sử dụng thế nào cho hợp tình hợp lý, vì thế chẳng bao lâu gia tài đó bị phung phí cho đến khi khánh kiệt. Thường của cải nào không do trí tuệ và công sức của mình tạo nên thì mình không thấy giá trị đích thực của nó.

Chúng ta phải dũng cảm để biết cái nhu nhược của mình, phải can đảm để biết chỗ hèn nhát của mình, phải biết bất khuất khi thất bại và khiêm nhường khi chiến thắng. Người luôn sáng suốt, biết mình trong mọi hòan cảnh, mọi tình huống dù thành hay bại, được hay mất, hơn hay thua, vui hay khổ đều xử sự chính xác, không hành động mù quáng, ngông cuồng. Đó mới chính là một tài sản lớn, bản lĩnh lớn cho một đời sống an lạc.

 vậy, theo Đức Phật, tài sản của bậc Thánh là đức tin, giới hạnh, hổ thẹn tội lỗi, ghê sợ tội lỗi, kiến thức uyên bác, xả kỷ vị tha và nhất là trí tuệ sáng suốt. Nhờ đó các ngài mới thật sự đạt được hạnh phúc tối thượng (uttama mangala).

3. Thích ứng

Chúng ta đang sống trong một thế giới luôn luôn biến đổi, nhưng ít ai nhận chân được thực trạng đó. Chúng ta không nên cố chấp vào truyền thống, tập tục hay tín ngưỡng được truyền lại từ các bậc tiền nhân chỉ vì nghĩ rằng "xưa bày nay làm". Nếu mọi người đều có óc thiển cận như thế thì làm thế nào xã hội có thể tiến hóa được.

 nhiều truyền thống từ ngàn xưa để lại mà không lỗi thời vì luôn luôn thích ứng với mọi hoàn cảnh xã hội. Nhưng cũng không phải vì thế mà các bậc phụ huynh câu nệ và bắt buộc con mình phải giữ đúng mọi tập tục cổ  truyền.

Hãy để cho thế hệ hậu lai theo kịp đà tiến hóa của xã hội miễn là không vượt quá nền tảng luân lý đạo đức. Như thế chúng ta nên tránh một cuộc xung đột giữa hai cực đoan của nhóm người bảo thủ và duy tân. Vì cả hai  đều là chướng ngại cho một sự tiến hóa trung dung tất yếu của xã hội con  người.

Tiến bộ trung dung tức là phải chấp nhận một số truyền thống chân chính làm nền tảng phổ quát cho mọi trào lưu tiến hóa của xã hội. Có như thế thì xã hội của chúng ta mới không bị trì trệ mà cũng không tiến quá nhanh đến độ sa chân vào hố thẳm.

Mỗi người là một phần tử tạo thành xã hội, nên phải chịu một phần trách nhiệm về những thăng trầm, tiến thối của xã hội trong đó mình đang sống. Chúng ta phải tự hỏi là đã làm được gì để đóng góp vào trật tự tiến hóa của nhân loại. Đó chính là yếu tố nung đúc tinh thần sáng tạo thay vì tự mãn với những gì đã có.

Mặt khác ai cũng hiểu rằng "bá nhân bá tánh" nên chúng ta không thể sửa đổi mọi người cho hợp với ý mình, lại càng không thể san bằng mọi chông gai hiểm trở để bước những bước thật êm ái trên đường đời. Ai ra khơi mà không mong trời yên biển lặng, nhưng tốt hơn hết là họ nên luyện tập mọi khả năng thích ứng hầu đối phó với phong ba bão táp xảy đến bất cứ khi nào. Người muốn có những bước đi êm đềm trên đường đầy chông gai cần phải hết sức thận trọng để dò dẫm từng mối hiểm nguy; cũng thế muốn có một đời sống an lạc hạnh phúc phải biết cách tự phòng hộ để sẵn sàng tùy  cơ ứng biến với mọi hoàn cảnh mà không bị cuốn trôi hay vướng mắc.

4. Khiêm nhường

Người trí thức lấy khiêm tốn để đo cái mình chưa biết, nhờ thế họ biết được chỗ khiếm khuyết để bổ túc nên kiến thức của họ luôn luôn được mở rộng. Tự mãn là một cản trở lớn lao trong việc học hỏi, tu dưỡng và tiến bộ.

Chính Đức Phật đã làm cho mọi người ngạc nhiên và kính phục khi Ngài từ bỏ vương quyền của mình để sống một nếp sống từ tốn, dung dị. Dù đã hoàn toàn giác ngộ, Ngài vẫn không bao giờ tự xưng là giáo chủ. Giáo huấn của Ngài chỉ nhằm khai thị cho con người chứ không bao giờ tỏ ra tự phụ hay khoe khoang sở tri, sở đắc.

Nhờ khiêm nhường chúng ta không những học được điều hay lẽ đẹp ở người mà còn không bị người ganh tị, tật đố.

Một người tài cao như Hàn Tín thật hiếm có, nhưng vì tính tự cao tự đại nên phải hứng chịu một hậu quả thảm khốc về sau. Trái lại, Trương Lương tuy tài cao mà khiêm tốn nên luôn luôn được quý trọng và nhờ thế ông đã sống thật thanh nhàn an lạc.

5. Thì giờ quí báu

Thì giờ quả là quý báu hơn cả vàng ngọc, vì một ngày chúng ta chỉ có 24 tiếng đồng hồ chứ không thể mua thêm được một giây một phút dù với bất cứ giá nào. Một đời người thật quá ngắn ngủi để cho ta có thể hoàn thành được tâm nguyện của mình. Các nhà học giả khi đến tuổi về chiều vẫn còn cảm thấy chưa học được bao nhiêu. Nên họ ước sao cho ngày tháng dài ra để có thêm thì giờ học hỏi nghiên cứu.

Nhưng trái lại, nhiều người đã không sống trọn vẹn 24 tiếng đồng hồ một ngày để làm những việc đáng làm. Họ tiêu phí thì giờ trong những câu chuyện ngồi lê đôi mách, trong những tửu điếm, canh bài hoặc lo âu cho tương lai, hối tiếc quá khứ mà không biết rằng mình đã đánh mất giây phút quý báu nhất là hiện tại, giây phút ngắn ngủi mà ta thực sự hiện hữu trong cuộc đời, cho đến khi giây phút quý báu đó vuột khỏi tầm tay rồi mới  than vãn hối tiếc.

Nếu bất cứ giây phút hiện tại nào cũng được sử dụng hợp tình hợp lý thì quá  khứ có gì đáng nuối tiếc và tương lai chắc chắn phải tươi đẹp huy hoàng. Hoang phí thì giờ không những làm hại chính mình mà còn làm mất thì giờ của người khác.

De Gasparin nói rằng: "Giữa cái dĩ vãng đã thoát khỏi tầm tay và cái tương lai mà ta chưa biết, còn lại cái hiện tại nói rõ bổn phận của ta". Chúng ta phải thực hiện những gì có thể thực hiện được trong ngày hôm nay, chứ không nên để đến ngày mai. Đừng để cho giây phút hiện tại quý báu này trôi qua một cách vô vị, trong khi những bổn phận đáng làm lại bị lãng quên hoặc hẹn lại một ngày ở tương lai chưa chắc sẽ đến với ta.

Boileau cũng bảo rằng: "Hãy giục giã lên, thời gian trôi và lôi cuốn chúng ta theo, chính cái lúc mà tôi nói đây chưa chi đã đi vào quá khứ".

 quá khứ chỉ là giấc mộng và tương lai nào ai biết chắc sẽ ra sao, nên ta phải biết sống trân trọng từng khoảnh khắc trong giây phút hiện tại nầy.

6. Kham nhẫn từ hòa

Hãy kham nhẫn đối với mọi nghịch cảnh và từ hòa đối với mọi người. Sân hận chỉ đưa đến ngõ cụt không lối thoát. Sân hận không những chỉ làm tổn thương người khác mà còn làm hại chính mình, vì nó gây xáo trộn cho đời sống tâm sinh lý của chúng ta. Kinh Dhammapada dạy: "Nó mắng chửi tôi, nó nhục mạ tôi, nó đánh đập tôi, nó cướp đọat của tôi" Ai ôm ấp tâm niệm ấy thì oán hận không bao giờ nguôi. Vì vậy ôm thù chuốc oán không phải là thái độ khôn ngoan, lịch lãm của bậc thiện trí.

Ngạn ngữ có câu: "No mất ngon, giận mất khôn". Thật vậy, khi nóng giận ta dễ trở thành mù quáng. Một hành động hay lời nói bất nhã không dằn được trong khi tức giận chẳng khác một mũi tên đã lìa khỏi cung, khi đã gây thương tích cho người khác, thì khó có thể tha thứ được dù có ngàn lần ăn năn hối hận cũng đã muộn rồi.

 thế kẻ thù ta cần chiến thắng không phải là địch thủ bên ngoài mà là lòng sân hận của chính mình. Cái tâm vừa là bạn đồng minh, cũng vừa là kẻ thù nghịch nguy hiểm nhất. Nhưng Đức Phật dạy: "Hận thù không bao giờ dập tắt được hận thù, chỉ có từ bi mới diệt được hận thù". Nên chúng ta cần phải biết cách kham nhẫn, từ hòa với chính tâm sân hận của mình trước rồi mới có thể nhẫn nhịn, nhu hòa với những người đối nghịch.

Hãy nhớ rằng: "Một sự nhịn, chín sự lành", đúng như người xưa đã từng kinh nghiệm và truyền lại cho chúng ta.

7. Dĩ ân báo oán

Nhiều người ta nghĩ rằng có thù không trả không phải là nam nhi đại trượng phu, bởi vì người quân tử phải ân oán phân minh. Nhưng Đức Phật dạy: "Lấy oán báo oán, oán kia chập chồng, lấy ân báo oán, oán ấy tiêu tan".

Thực ra, quan niệm "răng trả răng, môi trả môi" của một số người phương tây không phải là lối ứng xử thành công tốt đẹp mà chỉ cốt làm cho hả cơn giận của lòng tự ái bị xúc phạm mà thôi. Cái thú của cơn giận là làm cho kẻ thù càng đau khổ càng tốt, nhưng không biết rằng như thế chỉ gây thêm hiềm hận, oán thù .

Cách tốt nhất là lấy ân để báo oán. Mới nhìn thì dĩ ân báo oán có vẻ như nghịch lý nhưng đó là thái độ mà các bậc thánh hiền ứng xử để hóa giải oán thù hữu hiệu nhất. Vậy khi có người đối nghịch với chúng ta, trước tiên phải xem nguyên nhân nào khiến người ấy bất bình. Nếu quả thật vì  lầm lỗi của chúng ta, thì nên nhìn nhận và chịu lỗi. Nếu chỉ vì đôi bên có chỗ hiểu lầm thì sao không tìm lời lẽ hòa nhã để bắc nhịp cầu thông cảm. Còn nếu đối phương vì có tính ganh tỵ, háo thắng thì chỉ có cách ổn thỏa nhất là rải tâm từ đến cho họ; và chính nhờ tâm từ ái, một ngày kia có thể biến kẻ thù thành người bạn tốt.

Nếu chúng ta học được nhiều điều hay lẽ đẹp nơi bạn bè thân thuộc thì sao lại không học được một vài bài học quý giá nơi kẻ thù nghịch? Đâu phải bất cứ ai thù nghịch với ta đều là kẻ xấu, hay không có một vài đức tính  khả kính nào. Thường vì cái ta mà nhiều người quan niệm sai lầm rằng "kẻ tốt với ta là người tốt, kẻ xấu với ta là người xấu", như thế thật là chủ quan thiên vị, sự thật thì nhiều khi ngược lại là khác.

Sao ta không nghĩ rằng sở dĩ người oán ta bởi vì ta xấu để tự kiểm và sửa lại mình?

 một tư tưởng gia nói rất chí lý rằng: "Nếu bạn nhìn mặt xấu thì người nào cũng có cái xấu, nếu bạn nhìn mặt tốt thì người nào cũng có cái tốt". Vậy nếu chúng ta lấy oán báo oán tức là chúng ta chỉ quan hệ với  mặt xấu của người, còn nếu chúng ta lấy ân báo oán tức là chúng ta tiếp  xúc được với mặt tốt của người ấy.

Chúng ta hãy ghi nhớ lời khuyên của La Cordaire: "Nếu anh muốn vui sướng trong chốc lát, cứ trả thù; nhưng nếu anh muốn an vui mãi mãi thì hãy tha thứ". Đó là dĩ ân báo oán vậy.

8. Sống hòa điệu

Lịch sử nhân loại chứng minh rằng những kỳ thị màu da, chủng tộc, sự cuồng tín và lòng tham vọng đã đem lại nhiều bất hạnh cho con người. Những kẻ khát khao quyền thế, tiền tài, danh vọng, nếu được cộng thêm tính ích  kỷ, nhỏ nhen, ganh tị... thì chẳng khác nào lửa đổ thêm dầu, họ đã không đóng góp gì được cho hòa bình an lạc của đồng loại mà luôn luôn gieo rắc nhiễu hại cho mọi người. Họ không biết hòa điệu sống, vì quên rằng nếu ta muốn sống thái hòa, hạnh phúc thì phải để cho kẻ khác được thanh  bình, an lạc.

Và họ lầm tưởng rằng có thể sống thanh bình trên sự đau khổ của kẻ khác, nhưng thật ra họ là những kẻ khổ đau nhất trên đời.

Chúng ta có thể biến thế giới này thành một thiên đàng hay địa ngục tùy thuộc vào khả năng biết sống hòa hợp hay không. Tức là biết sống phù hợp với những định luật tự nhiên, như định luật nhân quả, nghiệp báo, vô thường, duyên khởi...để chúng ta không còn bối rối hay khó chịu mỗi khi gặp những trở ngại trên đường đời. Người Phật tử luôn quan sát sự vận hành của thân tâm trong mối quan hệ với thế giới bên ngoài để thấy rõ diễn trình nhân quả của sự sống, nhờ vậy họ xử sự đúng pháp hay thuận với tự nhiên. Đức Phật dạy: "Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, thiện nam, tín nữ nào sống thuận pháp là cúng dường Như Lai một cách cao thượng".

Đừng tưởng rằng sống phù hợp với những định luật tự nhiên là không tiến hóa. Chính con người tiến hóa được là nhờ khám phá ra những định luật thiên nhiên để ứng dụng cho cuộc sống. Bằng chứng là những phát minh, sáng chế  khoa học đều ứng dụng từ những định luật tự nhiên sẵn có trong trời đất. Đạo Khổng gọi đó là: "Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong" nghĩa là biết sống hòa hợp với luật thiên nhiên thì tồn tại, còn nghịch lại thì tự diệt vong.

Tất cả những môn xã hội học, tâm lý học, đạo đức học, kinh tế học...đều có những định luật khách quan riêng của nó. Nếu những định luật này được áp  dụng đúng mức thì chắc chắn nhân loại sẽ sống trong hòa bình, an lạc.

Đáng tiếc là một số người sau khi đã có thế lực, tiền tài, danh vọng lại muốn vượt ra khỏi nhịp sống tự nhiên, hy vọng tìm được một thứ gì đại loại như thuốc trường sinh bất lão. Nhưng kết quả không phải là chân trời hạnh phúc mà chỉ là một địa ngục trần gian đầy ích kỷ, ngã chấp, xan tham, tật đố... Bởi vì chân trời hạnh phúc thật sự chỉ có trong một cuộc sống hài hòa, thân ái.

9. Chấp nhận phê bình

Tục ngữ ta có câu: "Mật ngọt chết ruồi" nhưng "thuốc đắng đả tật". Lời khen nghe có vẻ ngọt ngào nhưng chỉ làm cho ta thêm cao ngạo tự đắc. Trái lại, lời phê bình chỉ trích xem ra thật là cay đắng nhưng có thể giúp ta sửa chữa được những thói xấu tật hư. Vì thế mà người ta có lý khi nói rằng: "khen là thù, chê là bạn".

Chúng ta phải cam đảm đón nhận những lời chỉ trích, vì trong số những lời chỉ trích đó hẳn phải có điều đúng với sự thật, khi đó ta phải cố gắng sửa sai và thành thật cảm ơn người đã chỉ trích mình hơn là oán giận, tự ái.

Đành rằng lòng tự ái được đặt đúng chỗ là một đức tính cho sự tiến bộ. Nhưng tự ái quá đáng, nhất là trong trường hợp bị người phê bình thì chẳng những không có lợi gì cho ta mà còn biến bạn thành thù.

Mặt khác, khi thấy bạn lầm lỗi ta cũng nên thẳng thắn tìm cách nhắc nhở nhưng phải khéo léo sao cho đừng mất thể diện của bạn. Chúng ta cũng  phải nhớ rằng: "Lầm lỗi mà ta thấy nơi tha nhân là phản ảnh những lầm lỗi của chính mình". Vì đã làm người thì ai cũng có cái xấu cái tốt như nhau.

Câu tục ngữ: "Suy bụng ta ra bụng người" tuy có vẻ nôm na mộc mạc nhưng không phải là không chí lý. Vậy thì người ta chỉ hơn kém nhau ở chỗ có tự biết lỗi hoặc biết lắng nghe người khác phê bình hay không mà thôi.

Nên hoan hỷ chấp nhận lời phê phán chỉ trích đúng của người khác dù với thiện tâm hay ác ý. Nhưng khi góp ý với người khác thì cần phải khéo léo, chân tình với một tấm lòng bao dung thông cảm.

10. Tự giác rồi mới giác tha

Trong kinh Dhammapada, Đức Phật dạy: "Dạy người thế nào, tự mình phải hành  động thế ấy. Chính mình phải tự giác đầy đủ rồi mới giác tha. Tự kiểm sát được mình mới thật là khó".

Thật là hữu lý khi chúng ta lo tròn bổn phận của mình trước chứ đừng xen vào  công việc của người khác. Nếu chính mình chưa rành công việc thì dù có thiện ý tiếp tay cho kẻ khác thì cũng chỉ làm cho họ vướng bận thêm, lắm khi còn làm ơn lại mắc oán. Như vậy ta nên học câu "Các nhân tự tảo môn tiền tuyết, mạc quản tha nhân ốc thượng sương" (Mỗi người tự quét tuyết trước cửa nhà mình, đừng lo sương trên mái nhà kẻ khác) để tự cải thiện mình trước rồi mới giúp người cải thiện sau.

 lần Đức Phật đi ngang qua một gánh xiệc, thấy hai cha con người nọ đang  biểu diễn thăng bằng trên một sợi dây. Ngài hỏi hai cha con làm sao giữ được thăng bằng cho cả hai khi cùng biểu diễn. Người cha trả lời: "Tôi lo giữ thăng bằng cho đứa con khi chúng tôi cùng biểu diễn". Cậu con trai lại nói: "Lúc đó con chỉ lo giữ thăng bằng cho con thôi". Đức Phật  khen ngợi người con trai đã trả lời đúng sự thật. Vì nếu chúng ta cứ lo giữ thăng bằng cho người khác thì chính ta sẽ mất thăng bằng. Nhưng mỗi người tự lo giữ thăng bằng cho mình thật tốt chính là đang gián tiếp giữ thăng bằng cho người khác khi cùng biểu diễn.

Đức Khổng Tử cũng dạy lấy tu thân chánh tâm làm căn bản trước khi muốn tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Nhiều người nghe nói bồ-tát vị tha thì nghĩ rằng cứ đi lo việc cho thiên hạ tức là trở thành bồ-tát. Nhưng thiện chí mà ngu dốt thì chẳng khác nào phá hoại nên càng vị tha càng làm cho người khác nô lệ vào tha lực, lúc bấy giờ người ta chỉ biết cầu xin hơn là "tự mình thắp đuốc lên mà đi" như lời Phật đã dạy. Thì ra, muốn trở thành bồ-tát độ tha thì phải biết tự độ mình trước đã.

11. Không lo âu phiền muộn

Một sự lầm lẫn đáng tiếc của chúng ta là quá lo âu cho tương lai và nuối tiếc quá khứ. Chính tham vọng đưa đến lo âu, rồi lo âu đưa đến phiền muộn, căng thẳng, mệt mỏi và suy nhược.

Chúng ta không thể trở về quá khứ để làm lại những việc đã rồi, cũng không  thể đến trước tương lai để thực hiện những gì chưa đến. Cho nên người  Anh có hai câu tục ngữ rất phù hợp với bí quyết sống không lo âu phiền muộn này. Họ nói rằng: "Let bygones be bygones" hãy để cho những gì đã qua qua đi, và "Never trouble till trouble troubles you" đừng bao giờ lo  âu phiền muộn khi những muộn phiền chưa thực sự đến.

Ngay trong hiện tại chúng ta cũng tự tạo cho mình quá nhiều ước mơ, nhiều tham đắm, nhiều dính mắc, nhiều sở hữu, nhiều mối quan hệ thân thù trong công việc, trong đời sống, trong danh vọng, địa vị... nói chung là trong tài, tình, danh, lợi nên lo âu phiền muộn là hệ quả tất yếu không sao tránh khỏi.

Đức Phật dạy trong Mangala sutta (Hạnh Phúc Kinh):

Khi xúc chạm việc đời

Tâm không động, không sầu

Tự tại và vô nhiễm

Là Phúc lành cao thượng.

Muốn được như vậy, chúng ta cần phải can đảm đối mặt với thực tại, để thấy rõ mình hầu tự giải phóng mình ra khỏi những nguyên nhân gây ra lo âu phiền muộn, thì mới có thể tự tại vô nhiễm giữa cuộc đời đầy ưu phiền, nhiệt não.

Tóm lại, mười một yếu tố trên chỉ là những gợi ý có tính cơ bản giữa vô số điều kiện giúp chúng ta sống một đời sống hạnh phúc, lương thiện hầu đóng góp cho đời vẻ đẹp của chân thiện mỹ

Trích trong “Con Đường Hạnh Phúc”

Thứ Sáu, 8 tháng 3, 2024

“TỰ DO LÀ MỘT TRÁCH NHIỆM”(1)


ĐÁNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM

Bài đã được lan truyền nhanh đến chóng mặt, nhưng chưa được 12 giờ nó đã bị Trung cộng gỡ khỏi mạng xh.  Nguyên văn:

“TỰ DO LÀ MỘT TRÁCH NHIỆM”(1)

Trương Duy Nghênh

GS ĐH Bắc Kinh

Chào các em sinh viên! Xin chúc mừng các em đã tốt nghiệp!

“Người Bắc Đại” là một vầng sáng, kèm theo đó là trách nhiệm, đặc biệt là trách nhiệm đối với dân tộc chịu bao khổ nạn chịu bao chà đạp của chúng ta.

Văn minh Trung Hoa là một trong những nền văn minh cổ xưa trên thế giới, đồng thời cũng là nền văn minh cổ xưa duy nhất được duy trì cho đến ngày nay. Trung Quốc thời cổ đại có sự phát minh sáng tạo đầy huy hoàng, có đóng góp quan trọng cho sự tiến bộ của nhân loại. Nhưng 500 năm qua, về phương diện phát minh sáng tạo thì Trung Quốc không có gì nổi trội để khen.

Chúng ta hãy dùng con số để nói rõ hơn. Theo thống kê của học giả Jack Challoner thuộc Bảo tàng Khoa học Anh, trong khoảng thời gian từ thời kỳ đồ đá (2,5 triệu năm trước) đến năm 2008, đã có 1001 phát minh lớn làm thay đổi cả thế giới, trong đó, Trung Quốc có 30 phát minh, chiếm 3%.

30 phát minh này đều là xuất hiện từ trước năm 1500, chiếm 18,4% trong 163 phát minh lớn trên toàn thế giới trước năm 1500. Trong đó, phát minh cuối cùng là bàn chải đánh răng được phát minh năm 1498, đây cũng là phát minh to lớn duy nhất trong triều đại nhà Minh. Từ sau năm 1500, hơn 500 năm toàn thế giới có 838 phát minh, trong số đó không có phát minh nào đến từ Trung Quốc.

Kinh tế tăng trưởng nhờ những sản phẩm mới, công nghệ mới, ngành nghề mới không ngừng xuất hiện. Trong xã hội truyền thống chỉ có vài ngành nghề như nông nghiệp, luyện kim, làm đồ gốm, thủ công mỹ nghệ. Trong đó nông nghiệp chiếm vị trí chủ đạo. Hiện giờ chúng ta có bao nhiêu ngành nghề ? Theo sự tiêu chuẩn phân loại đa tầng quốc tế, chỉ riêng sản phẩm xuất khẩu, số ngành có mã 2 chữ có 97 ngành, 4 chữ là 1222 ngành, 6 chữ là 5053 ngành, và vẫn không ngừng tăng thêm. Những ngành mới này đều những ngành ra đời từ cách đây 300 năm, mỗi một sản phẩm mới đều có thể tra được nguồn gốc phát triển của nó.

Từ sau năm 1500 tất cả những phát minh lớn đều không đến từ Trung Quốc

Trong số các ngành mới, lấy ngành sản xuất ô tô làm ví dụ. Ngành ô tô được những người Đức như Karl Benz, Daimler và Maybach sáng lập vào khoảng giữa những năm 1880, sau đó trải qua hàng loạt cải tiến về công nghệ, chỉ từ năm 1900 đến 1981, đã có hơn 600 mẫu đổi mới quan trọng (theo AlbernathyClark and kantrow, 1984).

Trung Quốc hiện nay là nước sản xuất ô tô lớn nhất thế giới, nếu như bạn viết một bộ lịch sử về sự tiến bộ của ngành ô tô, trên danh sách sẽ có hàng vạn nhà phát minh có tên tuổi, trong đó có người Đức, người Pháp, người Anh, người Italy, người Mỹ, người Bỉ, người Thụy Điển, người Nhật, nhưng sẽ không có người Trung Quốc.

Dù là những ngành nghề truyền thống mà Trung Quốc từng dẫn đầu từ trước thế kỷ 17 như luyện kim, làm gốm, dệt may, những phát minh lớn cách đây 300 năm, không có phát minh nào là của người Trung Quốc.

Tôi muốn nhấn mạnh sự khác nhau trước và sau năm 1500. Trước năm 1500, thế giới phân chia thành những khu vực khác nhau, mỗi khu vực về cơ bản đều trong trạng thái đóng cửa, một kỹ thuật mới xuất hiện ở một nơi, thì sức ảnh hưởng của nó tới nơi khác là rất nhỏ, và cống hiến của nó đối với nhân loại cũng rất hạn chế.

Ví dụ như, năm 105, ông Thái Luân thời Đông Hán đã phát minh ra kỹ thuật sản xuất giấy, nhưng đến năm sau 751, kỹ thuật sản xuất giấy mới được truyền tới nước Hồi giáo, trải qua 300 – 400 năm mới truyền tới tây Âu.

Nhưng sau năm 1500, toàn cầu đã bắt đầu nhất thể hóa, không những tốc độ phát minh kỹ thuật mới được tăng nhanh, mà sự phổ biến của kỹ thuật cũng gia tăng, một công nghệ mới xuất hiện ở nơi này, nó sẽ nhanh chóng được mang tới nơi khác, và sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến nhân loại.

Ví dụ, năm 1886, người Đức phát minh ra ô tô, 15 năm sau, nước Pháp trở thành nước đứng đầu sản xuất ô tô, qua 15 năm nữa, nước Mỹ thay thế Pháp trở thành cường quốc về sản xuất ô tô. Đến năm 1930, tỷ lệ phổ biến của ô tô Mỹ lên đến 60%

Do đó, sau năm 1500, sáng tạo mới đã thực sự có tính so sánh giữa các nước, chất lượng ai tốt ai không tốt chỉ nhìn là biết !

@Trong 500 năm trở lại đây, Trung Quốc không có một phát minh mới nào đáng ghi trong sử sách, điều đó có nghĩa là chúng ta chưa làm được gì để cống hiến cho sự tiến bộ của nhân loại! So với tổ tiên thì chúng ta kém xa !

Tôi còn muốn nhấn mạnh vấn đề về dân số, dân số có nước nhiều nước ít, so sánh đơn giản giữa các nước về phát minh sáng tạo của ai nhiều sẽ không chính xác.

Sự sáng tạo mới phải tỷ lệ thuận với dân số, tại sao Trung Quốc không thế?

Về lý luận mà nói, trong một điều kiện khác, một nước có dân số đông, thì sự sáng tạo sẽ nhiều, tiến bộ về kỹ thuật sẽ nhanh. Hơn nữa, tỷ lệ sáng tạo và tỷ lệ dân số là mối quan hệ chỉ số, không phải đơn giản là mối quan hệ tỷ lệ tương ứng. Có 2 nguyên nhân: thứ nhất, tri thức ở phương diện sản xuất có tính kinh tế và hiệu ứng lan tỏa quan trọng;

thứ 2, tri thức ở phương diện sử dụng sản phẩm không có tính ngăn cản người khác sử dụng nó.

@

Những phát minh cống hiến cho nhân loại của người Trung Quốc không tương xứng với tỷ lệ dân số của Trung Quốc. Dân số Trung Quốc gấp 4 lần dân số Mỹ, gấp 10 lần Nhật, gấp 20 lần Anh, gấp 165 lần Thụy Sĩ.

Nhưng thực tế, trong 500 năm, về phương diện phát minh sáng tạo, sự cống hiến của Trung Quốc gần như con số 0, chưa cần so sánh với nước Mỹ, nước Anh, ngay cả con số lẻ của Thụy Sĩ cũng chưa đạt đến. Người Thụy Sĩ phát minh ra kìm phẫu thuật, máy trợ thính điện tử, dây an toàn, công nghệ chỉnh hình, màn hình LCD, v.v.

Công nghệ mực chống giả được Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc dùng để in tiền là công nghệ của Thụy Sĩ, bột mỳ Trung Quốc sản xuất có 60%-70% máy móc gia công của công ty Bühler của Thụy Sĩ.

Nguyên nhân do đâu? Lẽ nào là do gen của người Trung Quốc? Hiển nhiên là không phải! Nếu không, chúng ta không có cách nào giải thích được sự huy hoàng của Trung Quốc cổ đại.

Hiển nhiên là do thể chế và chế độ của chúng ta. Sức sáng tạo là dựa vào sự tự do! Sự tự do về tư tưởng và tự do về hành vi. Đặc điểm cơ bản của thể chế của Trung Quốc đã hạn chế sự tự do của người dân, nó đã bóp nghẹt tính sáng tạo, giết chết tinh thần của các nhà khởi nghiệp. Người Trung Quốc có sức sáng tạo nhất đó là vào thời Xuân Thu và thời Tống, đây không phải là ngẫu nhiên. Hai thời đại này cũng là thời đại người Trung Quốc tự do nhất.

Trước năm 1500, phương Tây không sáng sủa, phương Đông thì mờ mịt, sau năm 1500, một số nước phương Tây trải qua cải cách tôn giáo và vận động phổ cập kiến thức mới, họ đã dần dần hướng tới tự do và pháp trị, còn chúng ta lại đi ngược đường với họ.

Thể chế Trung Quốc đã hạn chế sự tự do của người dân, cũng hạn chế luôn cả sức sáng tạo

Tôi cần phải nhấn mạnh, tự do là một chỉnh thể không thể tách rời, khi tâm hồn không tự do, thì hành động cũng không được tự do; khi không có tự do ngôn luận, thì tư tưởng không thể tự do được. Chỉ có tự do, thì mới có sự sáng tạo.

Lấy một ví dụ để nói rõ về điểm này. Ngày nay, rửa tay trước khi ăn cơm và sau khi đi vệ sinh đã trở thành thói quen. Nhưng năm 1847, khi bác sĩ nội khoa người Hungari Ignaz Semmelweis đề xuất bác sĩ và y tá phải rửa tay trước khi tiếp xúc với sản phụ, ông đã xúc phạm đến đồng nghiệp, vì thế mà bị mất việc, và chết trong một bệnh viện tâm thần lúc 47 tuổi.

Quan điểm của Ignaz Semmelweis dựa trên sự theo dõi về sốt hậu sản, khi đó tại bệnh viện của ông có 2 phòng sinh, một phòng để phục vụ người giàu, do các bác sĩ và y tá giỏi chăm sóc, những bác sĩ này luôn đổi công việc giữa đỡ đẻ và giải phẫu; một phòng khác là để phục vụ người nghèo, do bà mụ đỡ đẻ. Ông phát hiện, tỷ lệ người giàu bị sốt hậu sản nhiều gấp 3 lần người nghèo. Ông cho rằng nguyên nhân là do bác sĩ không rửa tay. Nhưng cách nhìn nhận vấn đề của ông lại mâu thuẫn với lý luận khoa học thời đó, ông cũng không thể đưa ra những luận chứng khoa học để thuyết minh cho phát hiện của mình.

Thói quen vệ sinh của nhân loại thay đổi thế nào? Việc này có liên quan tới phát minh máy in

Những năm 1440, Johannes Gutenberg đã phát minh ra phương pháp in dấu. Loại máy in sử dụng phương pháp in này đã khiến cho sách vở bắt đầu phổ biến, nhiều người bỗng phát hiện, thì ra họ bị “viễn thị”, thế là nhu cầu về kính lại tăng cao. 100 năm sau khi máy in được phát minh, châu Âu xuất hiện hàng ngàn nhà sản xuất kính mắt, đồng thời cũng làm dấy lên cuộc cách mạng về công nghệ quang học.

Năm 1590, công ty sản xuất kính mắt Janssen Hà Lan đã lắp vài chiếc kính trong một cái ống tròn, và họ phát hiện những sinh vật quan sát qua những chiếc kính này được phóng to lên, từ đó họ phát minh ra kính hiển vi. Nha khoa học người Anh Robert Hook đã sử dụng kính hiển vi để phát hiện ra tế bào, từ đó tạo nên cuộc cách mạng khoa học và y học.

Nhưng kính hiển vi thời đầu không cho hiệu suất cao, cho đến những năm 1870, công ty Carl Zeiss của Đức đã sản xuất ra loại kính hiển vi mới, nó được chế tạo dựa trên công thức toán học chính xác. Nhờ vào loại kính hiển vi này, bác sĩ người Đức Robert Koch đã phát hiện ra vi khuẩn mà mắt người không nhìn thấy, và cũng chứng minh cho quan điểm của bác sĩ người Hungari Ignaz Semmelweis, từ đó lý luận về vi sinh vật và vi khuẩn học ra đời. Nhờ sự ra đời về vi khuẩn học này mà con người đã dần dần thay đổi thói quen, và tuổi thọ của con người cũng được kéo dài.

Chúng ta thử nghĩ: nếu lúc đầu máy in bị cấm sử dụng, hoặc là chỉ cho phép in ấn những gì đã được kiểm duyệt, vậy sách báo sẽ không được phổ cập, nhu cầu về kính mắt cũng sẽ không lớn, kính hiển vi và kính viễn vọng cũng sẽ không được phát minh nữa, ngành vi sinh vật học cũng không được ra đời, tuổi thọ dự tính của con người cũng sẽ không tăng từ 30 lên 70, càng không thể nào mơ tới thám hiểm không gian vũ trụ.

Không bảo vệ tự do thì không xứng với danh hiệu “người Bắc Đại”

Newton mất 30 năm để phát hiện ra lực vạn vật hấp dẫn, tôi mất 3 tháng để làm rõ định luật vạn vật hấp dẫn này, nếu tôi nói mình dùng thời gian 3 tháng để đi hết con đường của Newton, mọi người có thể cảm thấy buồn cười. Ngược lại, nếu tôi quay sang cười Newton, vậy thì chỉ có thể nói tôi quá vô tri!

Chúng ta thường nói, Trung Quốc dùng 7% diện tích đất có thể trồng trọt để nuôi sống 20% người dân thế giới, nhưng chúng ta cần hỏi lại: Trung Quốc liệu có thể làm được việc đó không? Nói đơn giản, chính là sử dụng lượng lớn phân hóa học. Nếu không sử dụng phân hóa học, e là một nửa người Trung Quốc sẽ chết đói.

Công nghệ sản xuất phân đạm đến từ đâu? Hơn 100 năm trước, nhà khoa học người Đức Fritz Habe và kỹ sư Carl Bosch của công ty BASF đã phát minh ra, chứ không phải Trung Quốc phát minh ra. Năm 1972, sau chuyến thăm của Tổng thống Mỹ Nixon, Trung Quốc và Mỹ đã có thương vụ làm hợp tác đầu tiên, chính là mua 13 giàn thiết bị sản xuất Ure quy mô lớn nhất, hiện đại nhất thế giới lúc bấy giờ, trong đó có 8 giàn máy là của công ty Kellogg.

Trải qua 50 năm, 100 năm nữa khi viết lại lịch sử phát minh trên thế giới, liệu Trung Quốc có thể có tên trong đó. Chỉ có tự do, thì mới làm tinh thần và sức sáng tạo của doanh nghiệp của người Trung Quốc mới phát huy hết khả năng, biến Trung Quốc trở thành điển hình về sáng tạo cái mới.

Do đó, đẩy mạnh và bảo vệ tự do là trách nhiệm của mỗi người Trung Quốc quan tâm tới vận mệnh của đất nước, và là sứ mệnh của người của trường Đại học Bắc Kinh! Không bảo vệ tự do, thì không xứng với xưng hiệu “người Bắc Đại”!

Trí Đạt (biên dịch)

March 3, 2020

Fb Van Lam

————

(1) Ngày 1.7.2017,nhà kinh tế học TQ Trương Duy Nghênh đã tham dự lễ tốt nghiệp của Viện nghiên cứu phát triển quốc gia thuộc Đại học Bắc Kinh. Trong buổi lễ, ông có bài phát biểu đại diện cho giáo viên với chủ đề “Tự do là một trách nhiệm”

Cóp từ FB Phuc Hoang