XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG

Thứ Sáu, 17 tháng 9, 2021

LỤC BÁT CHO TUỔI 60, TUỔI 70, TUỔI 80


Tuổi 60 

 

Thời gian như thể thoi đưa 

Ngày nào bé tí giờ vừa sáu mươi

Sáu mươi - tuổi thích ăn chơi

Chẳng thèm quà bánh chỉ xơi thuốc nhiều

 

Sáu mươi mới thật biết yêu

Yêu con yêu cháu hơn yêu chính mình

Sáu mươi tuổi rất đa tình

Tương tư bác sĩ, mạch tim thất thường

 

Sáu mươi - lẩm cẩm thấy thương

Phố phường lẫn lộn, quên đường hồi gia

Sáu mươi tuổi thích la cà

Kết bè kết bạn dẫu xa hay gần

 

Gặp nhau tíu tit vang rần

Tếu ta tế táo, cười rần vui sao!

Sáu mươi, tóc ngả muối tiêu

Đỉnh đầu trơn láng sờ vào mát tay

 

Răng to răng nhỏ lung lay

Chiếc rơi chiếc rụng vần xoay cả hàm

Sáu mươi là tuổi hồi xuân

Tension mỡ máu tăng phần loãng xương

 

Đau lưng, mỏi gối, tiểu đường

Tứ chi rời rã, gót thường tê tê

Sáu mươi là tuổi đam mê

Yoga khiêu vũ kiểu gì cũng chơi

 

Cầu lông quần vợt, lội bơi

Tham gia tuốt luốt, tối thời nằm rên...

Sáu mươi tuổi quá hồn nhiên

Quên quên nhớ nhớ "hồn tiên" mơ màng

 

Sáu mươi chính thật tuổi vàng

Ai ơi chớ để lỡ làng tuổi xuân! 

 

Sưu Tầm

 

Tuổi 70

 

Thời  gian thấm thoát trôi nhanh

Ngày nào mười bảy giờ thành bảy mươi

Bảy mươi tuổi mãi 'vui chơi"

Rất ưa đấm bóp, ưa xơi món mềm

 

Bảy mươi bạc trắng chỏm trên

Sợi rơi, sợi rụng lờm xờm mấy ngoe

Bảy mươi nghễnh ngãng khó nghe

Tay run, chân chậm lè phè khỏi chê

 

Trông gà hóa quốc vui ghê

Bỏ đâu quên đó lề mề thường khi

Bảy mươi giữ mối tình si

Mê say thầy thuốc đi về triền miên

 

Bệnh viện lui tới thường xuyên

Tủ nhà đầy ắp, thuốc viên đủ màu

Mạch vành xơ vữa khá lâu

Suy tim, yếu thận nửa đầu long bong!

 

Baỷ mươi chẳng dám đèo bồng

Rã rời xí quách còn mong nỗi gì

Bảy mươi bia bọt , giã từ

Suy gan, xương cốt, mỏi nhừ đau rên

 

Thường hay thức giấc nửa đêm

Trằn trọc tới sáng nhập nhèm mắt nai

Bảy mươi tuổi chẳng dẻo dai

Nhưng ưa cuốc bộ, xe hơi chẳng cần

 

Bảy mươi mình vẫn còn xuân

Đôi mồi nở rộ góp phần tạo duyên

Bảy mươi là tuổi thần tiên

Nói sau quên trước ưu phiền mà chi!

 

Sưu Tầm

 

TUỔI 80​

 

Tám mươi nào đã quá già

So với trăm tuổi vẫn là đàn em

Tám mươi tuổi thọ như tiên

Danh lợi chẳng hám, bạc tiền cũng chê

 

Tám mươi là tuổi mộng mê

Quên ngày quên tháng, đường về cũng quên

Tám mươi tóc bạc lưng còng

Ba chân, bốn mắt một dòm thành hai

 

Đứng đi loạng choạng, lãng tai

Móm ma móm mém lại hay lầu bầu

Mạch tim thấp thỏm từ lâu

Tám mươi tuổi thọ chỉ cần khỏe thôi

 

Đêm đêm ngẫm nghĩ sự đời

Hỷ nộ ái ố ta thời trải qua

Ứơc gì trẻ mãi không già

Cho ta sức vóc như là đôi mươi

 

Ứơc gì đang độ xuân tươi

Để ta hò hẹn với người ta thương

 Ứơc gì ta mãi an khương

Đi đây đi đó bốn phương tung hoành

 

Ứơc gì ta vẫn vững vàng

Chẳng phải lọm khọm, chẳng màng lương y 

Mỗi tuần thăm khám thường kỳ

Tim gan phèo phổi tứ chi cũng tồi

 

Tám mươi lắm lúc ngậm ngùi

Một thời oanh liệt xa rồi còn đâu

Tám mươi hưởng chức danh cao

Lão làng cụ cố "chức" nào cũng sang

 

Cám ơn cuộc sống dương gian

Mặc dù vất vả vẫn tròn niềm vui

Cám ơn tất cả mọi người

Cho ta cảm nhận cuộc đời đáng yêu

 

Tám mươi tuổi đã về chiều

Chỉ mong thanh thản mọi điều bình an

Mai kia "đi" được nhẹ nhàng

Hồn bay theo gió mênh mang mây trời!!!

 

Sưu Tầm

Thứ Ba, 7 tháng 9, 2021

ĐỀ ÁN CHỐNG DỊCH CỦA DƯỢC SỸ NGUYỄN DUY NHƯ

    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hà Nội, Ngày 01 tháng 9 năm 2021
KÍNH GỬI: BAN CHỈ ĐẠO PHÒNG CHỐNG DỊCH COVID-19 QUỐC GIA
Tôi tên là Nguyễn Duy Như, dược sỹ cao cấp Trường ĐH Dược Hà Nội, tốt nghiệp năm 1998
Dịch Covid 19 đang gây thiệt hại rất lớn về người và của cho nước ta, số người chết ngày một tăng và thiệt hại kinh tế rất lớn. Là một người dân Việt Nam, tôi thấy mình phải có phần trách nhiệm chung tay cùng Đảng, Nhà nước và nhân dân dập dịch. Tôi xin mạo muội gửi đến Lãnh đạo về quan điểm cá nhân của mình ứng phó với dịch bệnh trong tình hình hiện tại như sau:
A) SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC VỆ SINH MŨI HỌNG VÀ ÁP DỤNG Y HỌC CỔ TRUYỀN ĐỂ CHỐNG DỊCH COVID 19
I) Về virus SARS-CoV-2 đang gây ra dịch Covid-19
1. Đặc tính cơ bản của virus SARS-CoV-2.
SARS-CoV-2 là một loại virus cúm nên có những đặc tính như sau:
- Virus chỉ tấn công tế bào hệ hô hấp và điểm khởi phát đầu tiên luôn ở trên bề mặt niêm mạc khu vực khoang mũi, họng. Do đó, chỉ cần tập trung bảo vệ thật tốt vùng mũi họng và coi đây là yếu tố then chốt chống dịch.
- Virus không lây qua da hay hệ tiêu hoá, bởi đây không phải là nơi virus khởi phát gây bệnh. Do vậy, không cần phải mặc đồ bảo hộ toàn thân vốn gây mất sức rất nhiều cho các bác sỹ
- Virus chỉ nguy hiểm đến tính mạng khi nó tấn công xuống phổi. Nếu không, nó cũng chỉ như những chủng virus cúm thông thường, thậm chí triệu chứng bệnh có thể nhẹ hơn. Do vậy, cần triệt để khống chế virus ngay từ lúc chúng bám được vào niêm mạc mũi họng, không để chúng tấn công phổi.
2. Điểm yếu của virus mà chúng ta có thể tác động để làm giảm hay mất hoạt lực của chúng: virus SARS-CoV-2 có lớp vỏ ngoài là một màng phospholipid kép hình cầu và các mảnh protein đính trên đó. Lớp vỏ hình cầu này giúp virus ổn định hơn, tồn tại lâu hơn, nhưng cũng là điểm yếu chí mạng của chúng. Do cấu tạo từ lipid kép, nên các chất tẩy rửa (xà phòng, các chất diện hoạt), nước muối sinh lý, hay các loại tinh dầu có thể dễ dàng làm biến dạng vỏ này, từ đó làm giảm hoặc làm mất hoạt lực của virus với tế bào vật chủ.
II) Các chốt chặn có thể ngăn virus gây hại cho cơ thể.
Từ các nhận định nêu trên chúng ta cần xây dựng các nguyên tắc phòng chống dịch COVID-19 theo các mức ưu tiên như sau:
- Không để lây nhiễm
- Khi bị nhiễm không để tấn công phổi
- Khi đã bị tấn công phổi thì hạn chế thấp nhất tử vong.
a) Không để lây nhiễm:
Xây dựng chốt chặn đầu tiên (tạm gọi là hàng rào chống xâm nhập) để ngăn ngừa virus bám dính vào nơi gây bệnh là niêm mạc khoang mũi họng. Tốt nhất để làm việc này là đeo khẩu trang thường xuyên, giữ khoảng cách và hạn chế tụ tập đông người. Hiện nay, biến thể Delta đã có kích thước to hơn hẳn các biến thể trước, điều đó giúp virus ổn định hơn, tồn tại trong không khí lâu hơn. Thế giới đã thừa nhận biến thể này lây như thủy đậu và cúm. Do vậy, các biện pháp giãn cách xã hội cực đoan chắc chắn không làm hết F0, trong khi lại gây thiệt hại kinh tế rất to lớn và làm đảo lộn đời sống người dân, đẩy cuộc sống của đại đa số người lao động vào con đường bần cùng.
Cần thay đổi thông điệp truyền thông để người dân hiểu rõ và sâu hơn vấn đề chống nhiễm bệnh. Rõ ràng, virus chỉ gây bệnh khi bám được vào niêm mạc hô hấp, trong đó khoang mũi họng là nơi đầu tiên. Vậy mà chúng ta quá nhấn mạnh vào rửa tay và khử khuẩn. Thực chất thì tay chân hay quần áo và vật dụng có virus nhưng mũi họng không có thì vẫn không nhiễm bệnh. Do vậy, cần đặc biệt nhấn mạnh việc bảo vệ thật tốt vùng mũi họng bằng khẩu trang đạt chuẩn và dùng đúng cách. Đặc biệt, cần bỏ quy định bác sỹ mặc đồ bảo hộ áo liền quần dùng một lần, vì vốn tốn kém nhưng không đem lại hiệu quả chống lây nhiễm mà còn làm tổn hại sức khoẻ.
b) Khi đã lây nhiễm không để Covid-19 tấn công đến phổi
Khi virus đã bám được vào niêm mạc mũi họng thì cần có chốt chặn thứ 2 được thiết lập ngay tại đây nhằm làm giảm hoặc mất hoạt lực của virus ngay khi chúng vừa bám vào niêm mạc. Tại thời điểm mới lây nhiễm, lượng virus thường ở mức thấp. Sẽ thật sai lầm, nếu chúng ta "mặc kệ" virus phát triển trong giai đoạn này. Thường xuyên thụt rửa khoang mũi và súc họng thật kỹ nhiều lần bằng nước muối ấm (nồng độ 0,9% đến 1%) có thể giảm đáng kể số lượng hạt virus vừa được sinh ra tại đây. Ngoài ra, xông hơi với tinh dầu sả chanh, húng chanh, quế hay hương nhu… cũng có thể làm giảm tải lượng virus, nhất là vùng niêm mạc sâu bên trong, niêm mạc phế quản và phổi, nơi mà nước muối không tiếp cận được. Về mặt khoa học đã chứng minh tinh dầu kết hợp với hơi nước nóng có thể vô hiệu hóa virus nhờ tác dụng làm biến dạng lớp vỏ ngoài phospholipid kép. Thực tế thì biện pháp này đã được áp dụng từ ngàn đời nay trong văn hóa của người Việt. Theo kinh nghiệm dân gian của ông cha ta, khi bị cảm cúm (cảm lạnh), xông lá (sả chanh, hương nhu, tía tô…) là một bài thuốc cổ truyền giúp chữa bệnh vô cùng hiệu quả. Sau khi xông, người bệnh sẽ thấy thông thoáng đường thở và nhanh khỏi bệnh.
Biến thể Delta gây tử vong nhanh vì nồng độ virus tại mũi họng tăng rất cao trong thời gian ngắn, do vậy chốt chặn thứ 2 này tối quan trọng để giảm nguy cơ tử vong và phải được thực hiện quyết liệt.
c) Khi SARS-CoV-2 đã tấn công phổi thì cần hạn chế thấp nhất tử vong
Khi virus đã xâm nhập sâu vào cơ thể thì hệ miễn dịch đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát nồng độ virus trong máu. Có thể coi hệ miễn dịch là chốt chặn cuối cùng của cơ thể chống lại virus. Do vậy, tiêm vaccine là giải pháp tối quan trọng để trấn áp dịch bệnh và hạn chế nguy cơ tử vong.
Cần ưu tiên nguồn lực để chuẩn bị tốt thiết bị cứu chữa bệnh nhân nặng như máy thở, nguồn oxy, tăng cường bổ sung các đơn nguyên ICU, bổ sung thiết bị can thiệp ECMO… để làm giảm nguy cơ tử vong.
Tuy nhiên, cần coi trọng miễn dịch tự nhiên của mỗi người. Có thể nhận thấy, cùng tiếp xúc nguồn bệnh nhưng người dương tính người không. Đó là do miễn dịch tự nhiên của mỗi người. Do vậy, cần để dân tập thể dục ngoài trời, không nên cấm. Việc giãn cách cực đoan và cấm tập thể dục ngoài trời làm giảm nền tảng sức khoẻ cả thể chất đến tinh thần của người dân.
Qua phân tích trên, có thể thấy chốt chặn đầu tiên là phòng dịch thụ động, giống như việc dựng hàng rào rồi núp sau hàng rào đó và cầu mong "kẻ địch không trèo qua". Chốt chặn thứ hai là chủ động tấn công "địch" ngay khi "địch vừa đặt chân lên đất mình, đang hạ trại và chưa ổn định đội ngũ". Chốt chặn thứ 3 là lớp phòng thủ sau cùng, nằm sâu trong nội địa, chiến đấu chống lại kẻ địch khi địch đã tiến sâu và tràn ngập lãnh thổ.
Chốt chặn thứ 2 quan trọng nhất, nó rẻ nhất và dễ thực hiện nhất. Điều này đặc biệt quan trọng, vì chốt này nếu làm tốt sẽ chặn được các loại virus biến thể, điều mà cả thế giới đang lo lắng và theo dõi, rất có thể sẽ có biến thể kháng lại vaccine hiện tại.
III) Chiến lược chống dịch trong tình hình hiện nay
Đã có bằng chứng rõ rệt rằng, biến thể Delta lây qua không khí như thuỷ đậu và cúm mùa. Do vậy, việc giữ khoảng cách 2-10m không còn ý nghĩa nhiều, rất khó truy vết F0 và có thể khẳng định không thể loại bỏ virus ra khỏi đời sống. Ngoài khả năng lây lan mạnh thì biến chủng này cũng gắn kết mạnh hơn vào tế bào nên thời gian ủ bệnh ngắn, tấn công phổi nhanh nhờ tải lượng virus rất cao ở mũi họng. Việc cách ly tập trung vô tình trở thành "ổ lây nhiễm" làm tăng số người mắc bệnh, từ đó gây quá tải cho công tác điều trị và tăng tỷ lệ tử vong. Người ở trong khu cách ly tập trung rất dễ bị lây nhiễm với chủng Delta và họ cũng thiếu điều kiện tự chăm sóc so với ở nhà, nên bệnh dễ chuyển nặng và gây tử vong cao.
Chúng ta cần sớm nhận định rằng virus SARS-CoV-2 không thể bị biến mất và khó có thể tạo ra miễn dịch cộng đồng từ việc tiêm vaccine. Thế giới đang dần tiếp cận theo hướng này. Nếu chúng ta chậm trễ thì thiệt hại là vô cùng lớn cho nền kinh tế và sinh kế của người dân. Do vậy, thay vì đuổi theo chúng thông qua việc truy vết bằng xét nghiệm diện rộng rồi cách ly, giãn cách, nên chăng chúng ta chống dịch theo hướng: Chấp nhận sống chung với SASR-CoV-2 và coi nó là một loại bệnh đặc hữu như cúm mùa, và mục tiêu duy nhất là giảm số người tử vong do bệnh này. Như vậy, cần cá nhân hóa việc chống dịch, biến mỗi nhà là một "pháo đài" chống dịch, mỗi người dân là một "chiến sĩ chống dịch". Nhà nước chỉ làm tốt khâu cung cấp vaccine cho toàn dân, tuyên truyền trang bị kiến thức phòng chống dịch bệnh đúng đắn và tổ chức thật tốt khâu điều trị bệnh nhân nặng để giảm tỷ lệ tử vong.
Cụ thể:
1. Để hạn chế lây nhiễm cộng đồng:
Chỉ cần thực hiện tốt việc đeo khẩu trang thường xuyên và không tụ tập đông người. Không cần giãn cách xã hội, không cách ly tập trung và không phun khử khuẩn môi trường. Hãy để cuộc sống người dân trở lại bình thường. Nguồn lực dành cho cách ly tập trung hay sàng lọc RT-PCR dùng để tổ chức các đơn nguyên ICU, trang thiết bị cứu chữa bệnh nhân nặng…
Công tác truyền thông cần nhấn mạnh việc vệ sinh mũi họng mỗi ngày bên cạnh việc đeo khẩu trang và không tụ tập đông người. Bởi, virus chỉ gây bệnh khi nó bám được vào niêm mạc mũi họng. Do vậy, tất cả các cơ quan, công sở đều bắt buộc mọi người phải súc rửa mũi họng khi vào làm việc và khi ra về, đồng thời đeo khẩu trang toàn thời gian trong giờ làm việc.
2. Để giảm số ca nặng và giảm tỷ lệ tử vong:
Tiêm vaccine để tạo miễn dịch là một việc vô cùng quan trọng và then chốt nhằm giảm thiểu số ca tử vong. Nhưng, trong thời gian chờ tiêm đủ vaccine cho dân thì cần hướng dẫn người dân thực hiện thật tốt các phương pháp sau cũng có thể góp phần giảm thiểu nguy cơ tử vong và giảm gánh nặng cho ngành y tế. Đó là:
b) Rửa mũi họng thường xuyên mỗi ngày bằng nước muối sinh lý (0,9%) hoặc ưu trương nhẹ (1%): Pha khoảng 9 đến 10 gam muối tinh (2 thìa cà phê) với 1 lít nước sạch. Khi dùng thì cho vào lò vi sóng quay ấm khoảng 40 độ. Súc họng cần ngửa cổ súc thật kỹ vào sâu trong cổ họng rồi nhổ ra, rửa mũi thì dùng nước đó bơm vào mũi bên nọ cho chảy ra bên kia hoặc nhúng mũi hít thật nhẹ để nước muối dâng lên từ từ trong khoang mũi và chảy xuống họng rồi xì ra. Ngày rửa 2 lần sáng và tối. Mỗi khi tiếp xúc với người lạ, cần rửa ngay mũi họng như trên càng sớm càng tốt. Với người đang dương tính thì cách 1-2 giờ lại thực hiện việc trên để rửa sạch các hạt virus mới vừa được tạo ra nằm trên bề mặt niêm mạc. Với người dương tính, cần phải hiểu đây là một cuộc chiến. Nếu kẻ địch liên tục "bổ sung quân" thì chúng ta cũng phải liên tục tiêu diệt chúng, tranh thủ từng giờ chiến đấu với chúng cho đến khi "sạch bóng quân thù", không để địch lọt sâu vào phòng tuyến phía sau.
Cơ chế diệt khuẩn của nước muối rất đơn giản. Do chênh lệch áp lực thẩm thấu, nên khi virus hay vi khuẩn bị ngâm trong nước muối sẽ bị rút dịch nước từ bên trong ra bên ngoài làm méo mó lớp vỏ (giống như muối ô mai vậy), nhờ đó virus rất khó bám dính và không mở khóa tế bào vật chủ được nữa, nên bị rửa trôi xuống ruột hoặc xì ra ngoài. Điều đáng quý là cơ chế này không phân biệt biến thể hay chủng loại virus nào. Cũng vì cơ chế này, nên chúng ta cần "súc rửa" bằng nước muối mới đem lại hiệu quả cao nhất, phun xịt dung dịch nước muối không đem lại hiệu quả.
Khoang mũi là nơi chứa nồng độ virus cao nhất, cao hơn nhiều dưới họng, nên rửa mũi rất quan trọng và cần thiết…Việc rửa mũi họng mỗi ngày hoặc ngay sau khi tiếp xúc người lạ sẽ gần như ngay lập tức xóa sổ lượng vi rút chẳng may bám vào niêm mạc, từ đó hạn chế xuất hiện trường hợp F0 mới nên sẽ giảm nguồn lây. Biện pháp đó cũng làm giảm tải lượng vi rút trong mũi họng liên tục, phối hợp với hệ miễn dịch tự nhiên tiêu diệt nốt các hạt virus, nên sẽ rất nhanh để trở thành âm tính, tránh nguy cơ bệnh trở lên nặng. Tiếc là, trong các thông điệp chính thống hiện nay, chỉ nhắc nhẹ về việc súc họng, không đả động gì đến rửa khoang mũi và quá nhấn rất mạnh vào việc rửa tay. Đây là một truyền thông lệch hướng.
c) Mỗi tuần xông hơi ít nhất một lần: Dùng 500g sả chanh tươi kết hợp lá hương nhu, lá bưởi (nếu có) cho vào nồi lẩu rồi bật đun sôi, điều chỉnh nhiệt lượng qua chế độ đun. Lấy ghế nhỏ ngồi quay mặt về hướng bốc hơi của nồi nước rồi trùm chăn để xông từ 5 đến 10 phút. Nếu có điều kiện, nên mua tinh dầu sả chanh, quế, tràm nguyên chất sẽ tốt và tiện lợi hơn. Người dương tính chưa có dấu hiệu khó thở nên xông ngày 1 đến 2 lần cho đến khi test âm tính. Với người đang dương tính và có dấu hiệu khó thở, suy hô hấp, người đang sốt, nhịp tim cao, cao huyết áp, giãn tĩnh mạch cần thận trọng khi xông toàn thân. Khi đó, chỉ cần xông vùng mặt để tinh dầu và hơi nóng vào sâu trong mũi họng là được. Khoa học đã chứng minh các chủng cúm nói chung và SARS-CoV-2 nói riêng hoạt động mạnh ở nền nhiệt độ thấp và suy yếu dần khi nhiệt độ tăng. Đặc biệt, các chất terpene trong tinh dầu có ái lực rất mạnh với các chất lipid kép (phospholipid), vốn là thành phần cấu tạo nên màng virus corona, chúng làm tan chảy, biến dạng, phá vỡ tính ổn định của màng này. Đó là lý do mà hàng ngàn năm nay dân gian đã chứng minh, nếu bị cảm cúm mà để tự khỏi thì phải mất cả tuần, nhưng nếu xông kĩ thì chỉ 1 đến 2 ngày là dứt hoàn toàn mà không cần biết bị mắc chủng cúm gì. Điều này củng cố chứng cứ virus cúm nói chung và SARS-CoV-2 nói riêng hoàn toàn có thể khống chế bằng hơi nóng và các loại tinh dầu.
Tại các bệnh viện dã chiến đang điều trị F0 cần lắp buồng xông hơi di động và luân phiên đưa các bệnh nhân vào xông nhiều lần trong ngày, kết hợp rửa mũi họng liên tục và ăn cháo nóng với nhiều hành, gừng sẽ rất nhanh hết virus
d) Dinh dưỡng phù hợp:
Ăn nhiều thực phẩm tạo năng lượng và có tính ôn ấm cơ thể như Bò, Dê, Gà, Trứng, Cá… kết hợp các gia vị cay nóng như Hành, Gừng, Tiêu, Tỏi, Tía tô, Quế, Hồi. Hạn chế ăn thực phẩm có tính hàn như Vịt, Ngan, Ốc, Ếch... Đông y cho rằng, bị cảm cúm là do nhiễm hàn lạnh. Khi cơ thể bị nhiễm lạnh sẽ giảm miễn dịch và tạo điều kiện thuận lợi cho sự tăng sinh các hạt virus, nhất là virus cúm. Vì vậy các dược liệu có tính cay ấm như Quế, Hồi, Thảo quả, Độc hoạt, Địa liền, Xuyên khung, hạt Dổi… rất thích hợp giúp cơ thể chống lại SARS-CoV-2
e) Thường xuyên tập thể dục:
Ngày tập ít nhất 2 lần, mỗi lần 30 – 45 phút. Hít đất 10 - 20 cái và squat 40 – 100 cái mỗi lần hoặc chạy bộ ngoài trời. Tiếp xúc với ánh nắng mặt trời đặc biệt quan trọng. Cần tập sao cho toàn thân nóng lên và toát mồ hôi sẽ kích thích hệ miễn dịch hoạt động mạnh.
f) Tập thở sâu nhiều lần trong ngày:
Mỗi sáng thức dậy còn chưa ra khỏi giường, khi ngồi thiền, khi đứng hoặc trước khi ngủ đều có thể tập thở sâu được. Nằm, ngồi hay đứng đều để lưng thật thẳng, lưỡi chạm hàm trên. Hít vào và tập trung tâm trí tưởng tượng luồng khí từ đỉnh đầu đi dọc xương sống và đẩy dần xuống dưới xương cùng rồi đến hậu môn. Khi hít vào cơ hoành được hạ từ từ xuống dưới theo dòng khí vào, đồng thời giãn cơ mông, cơ hậu môn. Hít vào đến tận cùng rồi giữ lại 3 giây ở đó (đếm thầm 1, 2, 3). Thở ra thì co thắt hậu môn, cơ mông, cơ đùi và cơ bụng, đẩy khí từ bụng dưới đi vòng đường bụng qua rốn, lên ngực rồi qua mũi, bụng hóp lại và cơ hoành dồn hết lên trên khoang ngực đẩy kiệt khí ra ngoài rồi dừng lại 3 giây. Lặp lại các bước trên. Mỗi lần thực hiện ít nhất 20 chu kỳ thở, càng nhiều chu kỳ thở càng tốt. Trong ngày càng luyện tập nhiều đợt càng tốt. Chú ý: Luôn luôn để tâm trí bám sát theo hơi thở vào ra, không để tâm trí bị phân tán.
Tập thở sâu thành thói quen rất quan trọng và có thể cứu mạng trong tình trạng phổi bị tổn thương không trao đổi đủ oxy. Bình thường trong mỗi nhịp hít và thở chúng ta trao đổi được 500ml không khí, trong khí dung tích phổi có thể thực hiện được 4500 đến 5000ml. Điều đó cho thấy, thông thường chúng ta chỉ sử dụng 10% khả năng trao đổi khí của phổi. Chỉ cần luyện tập để sử dụng đến 50% khả năng trao đổi khí của phổi thì khi phổi bị tổn thương nặng vẫn có thể sống sót. Dễ nhận thấy nhất là người đang bị khó thở do phổi bị tổn thương, thay vì lo lắng và gắng gượng thở gấp thì hãy để tâm trí thả lỏng, toàn cơ thể thả lỏng và tập trung thở theo cách trên sẽ thấy cảm giác ngộp thở biến mất, hơi thở điều hoà trở lại và không còn bị thiếu oxy nữa.
B - KẾ HOẠCH THỰC HIỆN
I) Điều chỉnh thông điệp truyền thông chống dịch
Thông điệp mới phải là:
- Đeo khẩu trang thường xuyên, nhất là nơi công cộng, nơi đông người
- Rửa mũi, súc họng thường xuyên mỗi ngày
- Không tụ tập đông người
- Tập thể dục thường xuyên
Trong đó cần nhấn mạnh việc đeo khẩu trang và rửa mũi, súc họng.
II) Bổ sung thêm phương pháp điều trị
Đối với các ca F0 với triệu chứng nhẹ đang ở tại các khu cách ly tập trung hay trong các bệnh viện dã chiến cần thực hiện các biện pháp sau:
a) Cán bộ điều trị cần tuyên truyền, hướng dẫn và làm mẫu việc vệ sinh mũi họng thường xuyên mỗi ngày bằng nước muối sinh lý (0,9%) hoặc ưu trương nhẹ (1%): Pha các bình nước muối 1% mỗi bình khoảng 20 lít đặt bên ngoài cửa các khu vệ sinh, kèm theo cốc giấy dùng 1 lần. Hướng dẫn người bệnh rửa mũi họng liên tục (từ 10 lần trở lên mỗi ngày), đặc biệt là trước khi đi ngủ.
b) Thực hiện xông hơi tinh dầu cho bệnh nhân F0:
Cứ mỗi 100 người sẽ cần trang bị 3 lều xông hơi cá nhân (khoảng 1.800.000đ/lều). Mua tinh dầu Sả chanh, Quế, Tràm nguyên chất để xông cho người bệnh. Mỗi người vào xông từ 5 đến 10 phút, ngày xông 2 lần hết 10 đến 20 phút mỗi người. Mỗi lều 1 tiếng xông được từ 3 đến 5 người, ngày sẽ xông được từ 30 đến 50 người cho mỗi lều. Như vậy, nếu trung tâm có 500 người đang điều trị sẽ cần 15 lều xông cá nhân (27 triệu) và hết 1 lít tinh dầu sả chanh mỗi ngày (1 triệu). Mỗi lần xông xong, cần rửa mũi họng ngay lập tức nhằm tống xuất virus ra khỏi cơ thể
c) Thực dưỡng cho bệnh nhân:
Bệnh nhân F0 trong khi xông cần cung cấp khoảng 300-500ml nước mật ong gừng để tránh tụt huyết áp và đường huyết, giải độc cơ thể, kích thích miễn dịch. Như vậy cứ 100 người F0 cần 50 lít nước mật ong gừng cho mỗi lần xông (khoảng 5 lít mật ong và 5kg gừng tươi cho 50 lít nước). Một ngày xông 2 lần hết 100 lít (khoảng 2.000.000đ/ngày).
Sau khi xông bệnh nhân cần ăn cháo thịt bò với hành khô băm nhỏ, tiêu, ớt để bổ sung năng lượng, trục hàn, giải cảm và tăng lực. Cứ mỗi 100 người cần 75kg cháo cho mỗi lần xông. Ngày cần 150kg cháo (tương ứng khoảng 5.000.000đ) cho 2 lần xông.
d) Sử dụng thảo dược trong điều trị:
Các phương thang giải cảm, khứ hàn nên được sử dụng phụ để giúp cơ thể chống lại SARS-CoV-2. Đặc biệt là vị Nhung hươu có tác dụng rất tốt trong hồi phục dương khí, đẩy hàn lạnh, làm lành các tổn thương của cơ thể và tăng thể lực.
e) Cán bộ điều trị cần hướng dẫn người bệnh các bài tập thở sâu qua tọa thiền, thiền hành mỗi ngày tại trung tâm điều trị: Việc hướng dẫn người bệnh tập thở sâu qua tọa thiền hay thiền hành sẽ giúp bệnh nhân giải tỏa được tâm lý, tăng dung lượng hô hấp, từ đó hạn chế phụ thuộc oxy cưỡng bức. Việc tổ chức tập thở thông qua tọa thiền hay thiền hành còn giúp điều hoà tâm lý, tăng sự đoàn kết và khơi gợi tình thương yêu trong mỗi người.
Tổng chi phí cho một bệnh viện dã chiến 500 người khi áp dụng các phương pháp trên gồm:
- Đầu tư ban đầu (lều xông, bình đựng nước…): 30.000.000đ
- Chi phí cho một ngày (tinh dầu, nước, cháo, nước mật ong, nhân lực…): 35.000.000đ
- Chi phí cho nhân sự: khoảng 20.000.000đ (hai người)/đợt
- Điều trị cho đến khi âm tính (Dự kiến 7 đến 10 ngày sẽ âm tính hết): từ 300.000.000đ đến 400.000.000đ
Với mong muốn kiểm chứng các lý luận chống dịch nêu trên bằng thực tiễn tại các vùng dịch, tôi mong muốn được cho phép triển khai thí điểm tại một bệnh viện dã chiến hay một trung tâm điều trị Covid 19. Tôi không can thiệp vào điều trị chuyên sâu, không thay đổi phác đồ điều trị của Bộ Y tế, chỉ hỗ trợ điều trị cho những bệnh nhân chưa phải can thiệp ECMO theo phương pháp cổ truyền nói trên. Mọi chi phí hỗ trợ bệnh nhân và hỗ trợ bác sỹ theo phương pháp nêu trên tôi sẽ tự lo liệu. Chúng ta sẽ xét nghiệm tải lượng virus qua kỹ thuật RT-PCR sau mỗi 3 ngày. Nếu nồng độ virus giảm nhanh hơn nhóm chứng, thời gian âm tính rút ngắn hơn và giảm tỷ lệ chuyển bệnh nặng cần can thiệp ECMO thì có thể nhân rộng mô hình này ra các bệnh viện và trung tâm điều trị covid khác trên cả nước. Điều này sẽ giúp chúng ta vượt dịch bệnh một cách rất Việt Nam.
Xin trân trọng cảm ơn!
DS. NGUYỄN DUY NHƯ
---
Bài viết rất hữu ích áp dụng vào thực tiễn cả vĩ mô lẫn cá nhân, nên chia sẻ rộng. Mình chỉ góp thêm ý kiến; không nên xông hơi toàn thân nhiều lần, vì sẽ gây mất nước, mất muối, rối loạn điện giải. Và, cũng đề phòng cho người cao huyết áp. Chỉ nên xông toàn thân 1 tuần một lần. Những lần khác, chỉ cần xông khu vực mũi họng (nhỏ tinh dầu vào tô nước nóng đã đặt sẵn trong bao nhựa, dùng phần bao còn lại để bao kín quá tai, rồi hít thở.) Khi đi đường nên bọc theo chai tinh dầu: bạc hà, khuynh diệp, dầu xanh… loại nào cũng được, thoa mũi và nếm vài lần trong một buổi, nhất là nơi cần cảnh giác.
Đó là lời góp ý của nhà nghiên cứu Li Li Nghệ, riêng tôi, nên uống bù nước điện giải (oresol, nước dừa...) sau khi xông (nếu xông nhiều lần trong ngày) để bù tân dịch cho cơ thể vì lượng mồ hôi thoát ra và... nhớ tránh gió lùa khi đang xông.
Kính chúc các bạn mạnh khỏe!
PS: Đối với trẻ em dưới 24 tháng tuổi, chỉ nên dùng dầu khuynh diệp để xông/thoa. Bởi, trong dầu khuynh diệp không có menthol, hoạt chất menthol (có trong tinh dầu bạc hà) sẽ làm cho trẻ dưới 24 tháng suy hô hấp, thậm chí ngừng thở. Xin cẩn trọng trước khi dùng.

Danh mục truyện đã đăng trên trang

 

1. Ba Người Lính Ngự Lâm (6)

2. Bá Tước Môngtơ Crixtô (2)

3. Bỉ Vỏ; (1)

4. Bước Đường Cùng (1)

5. Cái Chết Của Ba Người Lính Ngự Lâm (5)

6. Cạm Bẫy Người (1)

7. Chiếc lược ngà (1)

8. Chuông nguyện hồn ai (4)

9. Chuyện tình Đồi Thông Hai Mộ (2)

10. Con hủi (3)

11. Cuộc chiến thành Troy (1)

12. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (1)

13. Đại Việt Sử Lược (1)

14. Đại Việt Thông Sử (1)

15. Đông Kinh Nghĩa Thục (2)

16. Đông Phương huyền Bí (1)

17. Hậu thủy hử (4)

18. HỎA NGỤC-DAN BROWN (3)

19. Hoàng hậu Margot (6)

20. Hoàng Lê Nhất Thống Chí (2)

21. HOÀNG VIỆT LONG HƯNG CHÍ (2)

22. Hội chợ phù hoa (5)

23. Hồng Lâu Mộng (1)

24. Huyền Trân Công chúa (1)

25. Ivanhoe (1)

26. Lam Sơn Thực Lục (2)

27. Lão tử (1)

28. LS Văn minh Trung Quốc (1)

29. Lý Chiêu Hoàng (1)

30. Mãi mãi tuổi hai mươi (1)

31. Mật Mã Da Vinci (4)

32. Một thời hoa lửa (1)

33. Mùa hoa dẻ (1)

34. Nam cao truyện ngắn (23)

35, Nhà thờ Đức bà Paris (1)

36. Nhãn Đầu Mùa (1)

37. Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm (1)

38. Những cuộc phiêu lưu kỳ lạ của Karik và Valia (3)

39. Những người khốn khổ (8)

40. Những Quận Chúa Nổi Loạn (5)

41. Nữ bá tước ĐỜ CALIÔXTRÔ (1)

42. Papillon - Người Tù Khổ Sai; (5)

43. Phi Lạc Sang Tàu (2)

44. Phủ Biên Tạp Lục (1)

45. Phương Đông huyền bí (24)

46. Plato –Cộng Hòa (3)

47. Quỷ cốc tử; (1)

48. Ruồi Trâu (2)

49. Rừng Thẳm Tuyết Dày (3)

50. Sông đông êm đềm (12)

51. Sương xuân và Hoa đào (1)

52. Tam Quốc Chí (7)

53. Tam quốc diễn nghĩa (12)

54. Tắt đèn (1)

55. Tắt lửa lòng (1)

56. Tây Du Ký (1)

57. Tây Sương Ký; (1)

58. Thái bình Thiên quốc (1)

59. Thần khúc (3)

60. Thần Thoại Hy Lạp (1)

61. Thép đã tôi thế đấy (7)

62. Thiên Nga Đen (2)

63. Thiền uyển tập anh (2)

64. Thủy hử (11)

65. Ti mua và đồng đội (1)

66. Tìm trong nỗi nhớ; (1)

67. Tính cách người các tỉnh Trung Quốc (1)

68. Tính cách người Nam bộ (1)

69. Tính cách Trung hoa (1)

70. Titanic (1)

71. TƠ ĐỒNG RỎ MÁU (2)

72. Trà hoa nữ (2)

73. Trà lũ xã chí (1)

74. Trại súc vật (1)

75. Trái tim chó; (1)

76. Trận chiến cuối cùng (3)

77. Trong động Tuyết Sơn (1)

78. Trung Hoa đất nước con người (2)

79. Trung Quốc (43)

80. Trung Quốc 100 sự kiện (101)

81. Trung quốc Thông sử (296)

82. Truyện Robinson Crusoe (1)

83. Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ (2)

84. Vạn huê lầu (1)

85. Việt Nam phong tục (1)

86. Việt Nam Sử Lược (3)

87. Việt Sử Tiêu Án (1)

88. Việt Sử Toàn Thư (3)

89. Võ Tắc Thiên (1)

90. Yêu không hối tiếc (1)

Thứ Tư, 1 tháng 9, 2021

Bài văn sách xuất chúng đưa Lương Thế Vinh đỗ Trạng nguyê

Bài văn sách đó đã đưa Lương Thế Vinh đạt điểm cao nhất, giành ngôi Trạng nguyên. Vậy bài văn sách đó viết gì mà được Vua và các quan chấm bài đánh giá cao vậy? Giá trị lịch sử và thời sự của nó ra sao? Hãy đọc lại để cùng ngẫm.

Khoa thi Đình năm Quý Mùi (1463), đích thân Vua Lê Thánh Tông ra đề và chấm bài. Bài của Lương Thế Vinh được Vua phê "Quyển này tường tận, minh bạch, không hổ danh là một bài đối sách. Ðọc văn đó mà lòng bứt rứt không yên". Các quan độc quyển: Nguyễn Như Ðổ, Nguyễn Phục, Ðào Tuấn, Nguyễn Vĩnh Tích, Nguyễn Bá Ký, Trạc (không rõ họ) thì phụng phê "Quyển này có học thức, khá trúng với sách vấn của Hoàng thượng".

I. ĐỀ BÀI

NGUYÊN VĂN CHẾ SÁCH LÊ THÁNH TÔNG ĐƯA RA:

"Các bậc đế vương thánh thần thời thượng cổ, nối trời trị đời, dạo đó rất là thuần phác. Cho đến đời sau mới có thuyết Phật, Lão dấy lên mới bắt đầu có chuyện bàn về tam giáo (Nho, Phật, Lão) mà lòng người với trị đạo thật không còn như xưa. Giáo lý đạo Phật, đạo Lão hết thẩy đều mê đời, lừa dân, che lấp nhân nghĩa, cái hại của nó không thể kể xiết mà lòng người rất ham, rất tin.

Ðạo của Thánh nhân (Nho) lớn thì tam cương (1), ngũ thường (2), nhỏ thì tiết văn độ số (3) đều thiết dụng trong cuộc sống thường ngày mà lòng ham thích của người ta lại chẳng bằng đạo Phật, đạo Lão, sao lại như thế?

Nhà nước ta thiết lập quan, phân chia chức, lớn nhỏ cùng mối, trong ngoài nối nhau. Giữ việc cơ mật có Nội Mật Viện; trấn giữ các miền có Ngũ Ðạo Quan; xử kiện tụng có Ngũ Hình Viện; lo giám sát có Ngự Sử Ðài; nắm lễ nhạc có Lễ Nghi Viện; giáo dưỡng nhân tài có trường Quốc học, Lộ học; quản lý kho tàng và xây dựng có Nội Thị Sảnh; thi hành giáo hóa ở các nơi xa có các quan phủ, lộ, trấn, huyện; giữ gìn phép tắc, coi sóc việc quân có quân quan các vệ. Tất cả những việc ấy dặt ra thẩy đều vì dân cả. Thế mà mọi việc chưa được sáng tỏ, hình ngục còn lạm, kỷ cương chưa giữ gìn, lễ nhạc chưa hưng thịnh, nhân tài chưa phát triển, của cải chưa phong phú, hàng hóa chưa lưu thông, đức trạch chưa nhuần thấm, quân dân còn oán thán, tệ xấu chưa trừ, việc tốt chưa thấy là cớ tại sao?

Ðiều cốt yếu để làm nên thịnh trị không ngoài ở chỗ làm sáng tỏ đạo Thánh, chính đáng nhân tâm, trừ dị đoan, bỏ tệ xấu, làm việc tốt. Làm được những điều ấy tất có thuật của nó.

Sĩ đại phu bác cổ thông kim hãy đem những hiểu biết viết ra rõ ràng, Trẫm sẽ đích thân xem xét".

Đề như vậy, theo như kiểu đánh giá hiện nay thì là đề khép, vì hầu như đã ấn định quan điểm lựa chọn rõ ràng, chỉ là hỏi về biện pháp cụ thể để thực hiện.

II. BÀI ĐỐI (TRẢ LỜI) CỦA LƯƠNG THẾ VINH

THEO KHUÔN MẪU, NHƯNG KHAI THÁC, ĐƯA CHỦ ĐỀ TRỞ THÀNH ĐỀ MỞ, LƯƠNG THẾ VINH ĐÃ KHÔNG SÁO RỖNG NHƯ CÁC CÁC THÍ SINH KHÁC MÀ ĐI VÀO THỰC TẾ, PHÂN TÍCH, DẪN CHỨNG SẮC BÉN:

"Thần xin đối. Thần nghe :"Tà thuyết làm hại Chính đạo là có nguyên do, thịnh trị có thể đạt đến là có nguồn gốc". Nguyên do nào? Ðó là tại học tập bất minh. Nguồn gốc nào? Chính là ở chỗ vua tôi trọn đạo. Nắm rõ điều này tất cái hại của tà thuyết, phương sách chính trị có thể được phân biệt rõ ràng.

Thần kính nghĩ Hoàng thượng Bệ hạ tiến bọn thần vào chốn điện đình, thân ban sách vấn, lấy việc Chính đạo, dị đoan để hỏi, lại lấy việc đời nay chưa trị làm lo, ý mong tìm phương thịnh trị. Xét thần ngu thiển, sao đủ để biết, nhưng người xưa có nói :"Phải hỏi han đến cả người cắt cỏ, kẻ kiếm củi" (4) huống hồ thần lạm dự hàng khoa mục tới đây, sao dám im lặng không dâng một lời nào? Thần kính cẩn chắp tay cúi đầu xin đối.

THẦN CÚI ĐỌC SÁCH VẤN CỦA THÁNH THƯỢNG HỎI:

"Các bậc đế vương thánh thần thời thượng cổ, nối trời trị đời, đạo đó rất là thuần phác. Cho đến đời sau thuyết Phật, Lão dấy lên mới bắt đầu có chuyện bàn về tam giáo mà lòng người với trị đạo thật không còn như xưa. Giáo lý đạo Phật, đạo Lão, hết thẩy đều mê đời, lừa dân, che lấp nhân nghĩa, cái hại của nó không thể kể xiết mà lòng người rất ham, rất tin.

Ðạo của Thánh nhân lớn thì tam cương, ngũ thường, nhỏ thì tiết văn độ số đều thiết dụng trong cuộc sống hàng ngày mà lòng ham thích của người ta lại chẳng bằng đạo Phật, đạo Lão, sao lại như thế?"

Qua lời sách hỏi, thần đã thấy Bệ hạ thực biết đạo Thánh có thể thi hành mà dị đoan là sai trái. Thần xin được diễn giải thêm. Thần nghe :"Nhất âm nhất dương" (5) là đạo tồn tại trong trời đất, "Nối đạo là thiện, thành đạo là tính" (6) là đạo đã hòa vào người vào vật. Duy có bậc Thánh nhân có thể làm được đến cùng điều đó, vậy có thể quy cả vào Thánh nhân được hay sao? Bởi vì (Ðạo) nguồn gốc ở Trời mà trọn vẹn cuối cùng ở Thánh nhân cho nên mới gọi là "nối Trời". Ðạo thể của Thánh nhân tất phải thực thi ở "dụng" (7) cho nên mới gọi là "xuất trị". Phục Hy vẽ Bát quái để thông tỏ thần minh, Thần Nông (9) làm ra cầy bừa để làm giầu dân sinh, đều là sự phát triển của đạo ấy cả. (Vua phê :"Khá đạt ý"). Ðến đời Hoàng Ðế, Nghiêu, Thuấn (10) thần đạo đã biến hóa, cùng dân thích nghi, có cái gì không phải là thực sự "nối Trời xuất trị"? Do đó đạo truyền đến đời Hạ Vũ (11) thì có luận thuyết "tinh nhất chấp trung" (12) đạo truyền đến đời Thang, Vũ (13) thì có cái ý "kiến trung lập cực" (14). Chính cái thuần khiết của đạo đã có từ lâu lắm vậy. Kinh Dịch nói :"Họ Phục Hy mất thì họ Thần Nông nổi lên, họ Thần Nông mất thì họ Hoàng Ðế nổi lên, họ Hoàng Ðế mất thì Ðế Nghiêu, Ðế Thuấn nổi lên". Hàn Tử (15) nói :"Nghiêu lấy đạo ấy truyền cho Thuấn, Thuấn lấy đạo ấy truyền cho Vũ, Thang, Văn, Võ" chính là nói về điều ấy. Ở vào thời đó, trên thì chính trị hưng thịnh, dưới thì phong tục thuần mỹ, Chính đạo thi hành ở đời như mặt trời mặt trăng trên trời, như vậy thì dị đoan ở đâu mà có?

Cho đến đời đức Khổng Tử đạo Thánh không thực hành được mới bắt đầu có cái lo "chuyên chủ vào dị đoan". Ðến thời Mạnh Tử (16), cách thời các thánh xa nên mới có những lời chống lại Dương Chu (17), Mặc Ðịch (18). Từ đời Hán về sau, đạo Thánh ngày một suy yếu mà thuyết Phật, Lão lại mạnh lên. Nhà Phật lấy sự tịch diệt làm cao, mở đầu từ Hán Minh Ðế (19) đã vào Trung quốc. Ðạo Lão coi trọng hư vô thì khởi đầu từ đời Hán mà thịnh lên từ đời Ðường, đời Tống. Từ đó, đời sau mới có thuyết tam giáo. Nhưng mà đạo Thánh là chính, Phật, Lão là tà, sao có thể đường hoàng cùng nhau thành ba đạo được? Những người đời sau không xét được chỗ đó mà còn ngờ vực, do đó người đối với trị đạo không được như xưa. Giáo lý đạo Lão gần như có lý mà lại rối loạn, như thế thì nó mê đời lừa dân, che lấp nhân nghĩa, quả là có vậy. Ðạo Thánh nhân có một vật ắt có một lý, tam cương, ngũ thường, tiết văn độ số, không gì không đầy đủ. Cái hại của Phật, Lão như thế đáng lẽ dân phải không tin mà ngược lại, lại cứ tin. Ðạo Thánh nhân như thế đáng lẽ dân phải chuộng mà lại ít chuộng. Sở dĩ như thế không có gì khác, chính là do đời suy đạo yếu mà ra cả. (Vua phê là đúng). Cho nên Chu Công (20) chết đi thì trăm đời sau không có người giỏi trị dân, Mạnh Tử mất đi thì ngàn năm sau không có bậc chân Nho. Vả lại đến đời Hán, Ðường tuy chuộng Nho nhưng chưa có khả năng làm sáng được đạo (Nho). Tống Nho tuy làm sáng đạo nhưng lại không vận hành được đạo, như vậy lòng dân sao lại không bị hãm vào đạo Phật, đạo Lão được?

Huống hồ thuyết lý nhà Phật, cái ý "kiến tính thành Phật" (21) của họ đã đủ làm mê lầm người có học thức; cái luận "thiện ác quả báo" của họ cũng đã đủ gây sợ hãi cho dân thường. Do đó lòng người dễ bị mê hoặc. Còn cái thuyết lý đạo Lão, cái nghĩa "huyền chi hựu huyền" (22) đủ để làm chuyện luận bàn, thuyết "thần tiên bất tử" lại đủ để dụ dỗ phàm nhân, do vậy lòng dân dễ bị hãm vào vòng đó. Bậc hùng tài như Hán Vũ Ðế (23) còn thích đạo sĩ, cầu thần tiên, bậc chuộng Nho thuật như Hán Minh Ðế còn sai sứ đi Tây Vực, như thế thì sao dân không ham mê Phật, Lão được? (Quan Ðộc quyển phụng phê là :"Nghị luận sắc bén"). Bài biểu can ngăn việc đón hài cốt Phật vừa dâng lên đã làm cho Ðường Hiến Tông cả giận, lấy ý "Trời có nói gì" can gián mà Tống Chân Tông không nghe. Như vậy thì sao dân lại không hâm mộ Phật, Lão? Còn đạo Thánh nhân như Trời, không biết nó thì không thể ham nó được, không ham nó thì không vui với nó được. Vì thế mà dân ít người có thể theo được đạo. Như thế không có gì khác, chính là đạo Thánh cùng với dị đoan tương phản nhau như âm với dương, như ngày với đêm, cái này thịnh thì cái kia suy, cái kia thịnh thì cái này suy, đó là cái lý tất nhiên! (Vua phê là đúng). Hàn Tử nói :"Không dừng thì không đi, không tắc thì không chẩy" chính là nói điều ấy.

THẦN CÚI ĐỌC SÁCH CỦA THÁNH THƯỢNG HỎI:

"Nhà nước ta thiết lập quan, phân chia chức, lớn nhỏ cùng mối, trong ngoài nối nhau. Giữ việc cơ mật có Nội Mật Việ ; trấn giữ các miền có Ngũ Ðạo Quan; xử kiện tụng có Ngũ Hình Viện; lo giám sát có Ngự Sử Ðài; nắm lễ nhạc có Lễ Nghi Viện; giáo dưỡng nhân tài có trường Quốc học, Lộ học; quản lý kho tàng và xây dựng có Nội Thị Sảnh; thi hành giáo hóa các nơi xa có các quan phủ, lộ, trấn, huyện; giữ gìn phép tắc coi sóc việc quân có quân quan các vệ. Phàm những chức việc đặt ra này đều là vì dân cả. Thế mà mọi công việc chưa sáng tỏ, hình ngục còn lạm, kỷ cương chưa gìn giữ, lễ nhạc chưa hưng thịnh, nhân tài chưa phát triển, của cải chưa phong phú, hàng hóa chưa lưu thông, đức trạch chưa nhuần thấm, quân dân còn oán thán, tệ xấu chưa trừ, việc tốt chưa thấy là cớ tại sao?"

Thần kính nghĩ :"Trời dựng Hoàng gia tìm người có đức. Ðức Thái Tổ Cao Hoàng Ðế ta (24) với thiên tư trí dũng Trời ban ở vào buổi khó khăn rối loạn, cứu muôn dân trong cảnh lầm than, dẹp chiến tranh khắp miền đất nước. Vào buổi đầu dựng nước, thiết lập quan chức, định rõ chế độ, lớn nhỏ nối nhau, trong ngoài một mối, tất cả là vì dân dựng nên. Nói rằng "việc xếp đặt quan lại cũng đều là vì dân mà làm" chính ở chỗ đó. Kế đó đức Thái Tông Văn Hoàng Ðế nối ngôi thì quan chế lại càng hoàn bị. Kinh Thi nói "Không thiếu không quên, đều làm như sách cũ". Kinh Dịch nói: "Bậc đại nhân kế sáng chiếu tỏa bốn phương" là nói về điều đó.

Nay Bệ hạ nối nghiệp tiền thánh, vận mở trung hưng, thường răn quần thần làm hết chức trách, thường muốn dùng người phải lấy công tâm, vỗ về rộng lớn để thành phong tục, làm sáng tỏ công lao chính là ở thời nay. Thế mà Bệ hạ còn lấy việc chưa thịnh trị làm lo, có thể thấy tấm lòng muốn thịnh trị và sự canh cánh cầu thịnh trị của Bệ hạ vậy. Tấm lòng Bệ hạ như vậy khiến thần tuy bất tài sao dám có sự dấu che?

Thần kính xét Kinh Thư nói: "Việc trị loạn tại các quan". Từ đó mà xem thì quan chức có được tu chỉnh hay không chẳng phải là rất quan hệ đến trị đạo hay sao? Thần trộm nghĩ thời nay, nếu cho rằng trăm quan đều không làm hết chức trách là không thể được. Vì sao lại nói như thế? Như Nội Mật Viện nắm các việc cơ mật, Bệ hạ đã giao cho Tể thần trông coi, lại chọn thêm văn thần để giữ việc, cố nhiên các vị này không có gì không làm nhưng trong số đó quả là không có sai sót hay sao?

Lại như Ngũ Ðạo Quan coi giữ các miền trong nước, Bệ hạ đã giao cho những người biết rõ đạo trị để giải quyết, lại chọn những người liêm khiết tài năng đễ giữ việc, những chức này cố nhiên đã chọn được người nhưng trong số đó quả hết thẩy đều là người tài giỏi chăng? Do đó cho nên các công việc chưa hoàn toàn sáng tỏ.

Ðến như việc hình luật, "hình" tức là "thành", và một khi đã "thành" thì không thể biến đổi. Như thế thì trọng trách của hình quan thế nào cũng có thể biết được. Nay những người giữ việc ngũ hình (25) cố nhiên đã có người tài nhưng đã quả là ai cũng giỏi như các ông Thích Chi, Ðịnh Quốc đời trước chưa? Trên núi có mãnh thú thì không ai còn dám hái rau, triều đình có quan lại chính trực tất gian tà không thể nổi lên, như thế thì trọng trách của các gián quan thế nào cũng có thể biết được. Nay những người làm việc ở Ðài Hiến cũng có những người cương trực hiền tài nhưng đã quả là ai cũng tài giỏi như các bậc hiền Trương Cương, Phạm Bàng đời trước chưa? Như thế thì việc kỷ cương chưa được thi hành cũng không dám bảo đảm là không có.

Phàm việc yên triều đình, trị muôn dân không gì trước hơn lễ, thay đổi phong tục không gì trước hơn nhạc. Việc nắm giữ lễ nhạc của bản triều thẩy quy tụ về Lễ Nghi Viện. Lễ nhạc dùng ở triều đình đã rất tốt đẹp nhưng đáng tiếc là vẫn chưa thấu xuống tận dân quê. Việc giáo hóa thi hành thì phong tục tốt đẹp, đạo Thầy được đề cao tất người thiện mới nhiều, như thế thì giáo chức có quan hệ với trị đạo rất to lớn. Trách nhiệm giáo dục nhân tài của bản triều là ở các trường Quốc học, lộ học. Việc dậy văn nghệ đã có phép tắc nhưng cái đáng lo là chưa dậy cho thấu đáo về đức hạnh mà thôi.

Còn như của cải chưa phong phú là do chính sách tốt chưa làm trọn vẹn, hàng hóa chưa lưu thông chính bới cấm lệnh chưa được triệt để thi hành, há chỉ là trách nhiệm của riêng Nội Thị Sảnh hay sao?

Thần nghe các bậc tiên nho nói rằng :"Các quan thú lệnh (quan địa phương) chính là người thầy, là vị tướng soái của dân để vâng mệnh giáo hóa các nơi". Các quan thú lệnh có tài đức hay không rất quan hệ đến sự sướng khổ của dân, do đó dùng người làm thú lệnh không thể không chọn người tài giỏi. Thần trộm thấy thời nay các quan ở phủ, lộ, trấn, huyện, người làm hết chức trách thì ít, kẻ làm không hết chức trách thì nhiều, cho việc giáo hóa là thế nào? Nói những điều nói chỉ là những việc ngọn như xử kiện, thúc thuế. Cho việc di dân là thế nào? Làm những việc làm chỉ trong chuyện sổ sách, hội họp? Con hiếu cháu hiền, nghĩa phu, tiết phụ là những người đáng được triều đình khen ngợi mà các quan đề bạt kể được mấy người? Góa vợ góa chồng, không con không cha là những người không thể tự sinh tồn, triều đình rất là thương xót mà các quan tâu lên chẳng được là bao! Những người nắm giữ việc này chưa mấy ai làm tròn trách nhiệm.

Thần lại nghe Kinh Dịch nói: "Quẻ sư, chính đáng, bậc lão thành thì tốt", lại nói: "Người cầm đầu ra quân tất phải nắm được quy luật cuộc chiến", cho nên không thể không chọn người tài giỏi. Thần lại nghe: "Lúc này những người nắm quyền binh, xứng đáng với chức vụ thì ít, không xứng đáng với chức vụ thì nhiều". Tiếng là võ quan mà thông thạo vũ lược được mấy người? Chức là cầm quân mà am hiểu tình quân được là bao? Vơ vét là việc triều đình nghiêm cấm mà vẫn lấy lạm của quân như thế; vỗ về thương xót lê dân là bản ý của triều đình mà vẫn coi thường cấm lệnh, hoành hành bạo ngược như thế, do đó mà chức trách kẻ cầm quân vẫn chưa làm trọn. Như vậy thì đức hạnh của Bề trên vẫn chưa thấm nhuần xuống dưới, quân tình cón oán thán, há có thể không có chuyện đó hay sao? Do vậy mà tệ xấu chưa được trừ mà hiệu quả tốt vẫn chưa thấy được.

THẦN CÚI ĐỌC SÁCH CHẾ CỦA THÁNH THƯỢNG HỎI:

"Ðiều trọng yếu để thịnh trị không ngoài sự làm sáng đạo Thánh, chính nhân tâm, trừ dị đoan, bỏ tệ xấu, làm việc tốt. Có hiệu quả như thế tất phải có chước thuật của nó.

Sĩ đại phu bác cổ thông kim, hãy viết rõ ra, Trẫm sẽ đích thân xem xét".

Ôi, lời Bệ hạ như thế không chỉ là điều may mắn cho Chính đạo mà cũng là điều may mắn lớn cho thiên hạ. Ðạo Thánh không thể không sáng tỏ nhân tâm, không thể không chính đáng, mà tà thuyết ắt phải tẩy trừ, đó là điều trọng yếu của thịnh trị. Như vậy sự sáng tỏ đạo Thánh là gốc của sự chính đáng nhân tâm, trừ bỏ tà thuyết. Nếu như có thể "xem xét ở nhân văn để giáo hóa tác thành cho thiên hạ" thì cái sáng của đạo Thánh chính ở chỗ đó. Ðạo Thánh đã sáng tỏ thì cái lý đương nhiên người ta sẽ biết rõ. Nhân tâm đã chính đáng thì sự sai trái như thế người ta ắt phân biệt được, còn lo gì đạo Phật, đạo Lão làm hại? Hàn Tử nói: "Phải bắt người của chúng (Phật, Lão) hoàn tục, đốt sách của chúng đi, biến chùa quán của chúng thành nhà ở, làm sáng tỏ đạo Tiên vương để dẫn dắt chúng". Mạnh Tử nói: "Người quân tử phải trở lại đường chính, đường chính đã sùng tất dân sẽ hưng thịnh, dân đã hưng thịnh thì không có gian tà" chính là nói về điều ấy. Ðến ngay các quan cai trị không thể không thâu tóm, các tệ xấu không thể không sửa đổi, việc tốt phải làm, đều là những phương sách trị nước vậy. Mà việc thâu tóm các quan lại chính là cái gốc để đổi cải tệ xấu, làm điều tốt. Nếu như có thể khảo xét thành tích để thăng chức cho người tài giỏi, giáng chức kẻ tối tăm thì việc thâu tóm các quan chính là như vậy. Ðể nắm chắc các quan tất chính sự không sai lầm mà tệ xấu không gì không được sửa đổi. Tệ xấu sửa đổi tất dân được hưởng phúc trạch mà điều tốt không gì không được làm. Kinh Thư có nói: "Kính cẩn chức quan của ngươi, sắp đặt chính sự của ngươi, muôn đời tốt đẹp cho dân, muôn nơi không khổ cực" quả nói về điều ấy chăng? Phương sách trị nước vốn là như thế nhưng tìm cái gốc của việc ấy chính là ở chỗ Bệ hạ cùng triều thần phải "đồng tâm nhất thể" để đạt được như vậy ? (Vua phê: "Việc trị thiên hạ không vượt ra câu này"). Kinh Dịch nói: "Trời đất hòa hợp thì vạn vật hanh thông, trên dưới hòa hợp thì chí của họ đồng" đó là nói về "đồng tâm". Kinh Thư nói: "Ðầu óc sáng suốt, chân tay nhanh nhẹn, mọi việc tốt đẹp" đó là nói về "nhất thể". Thần mong rằng trên thì Bệ hạ, dưới thì triều thần, trên dưới hòa hợp tất cũng một lòng như Kinh Dịch nói, đầu óc chân tay tất cùng một thể như Kinh Thư nói. Vua biết rõ chức trách làm vua thì khó, bề tôi biết rõ trách nhiệm làm bề tôi là khó thì chính sự sẽ được sửa sang, muôn dân đều thấm nhuần đạo đức. Ðược như thế thì làm gì phải lo việc chính đáng nhân tâm, sáng tỏ đạo Thánh, trừ bỏ dị đoan không có cách, làm gì phải lo việc nắm các quan cai trị, sửa đổi tệ xấu, làm việc tốt không có đường?

Kiến giải của thần như thế, thần không biết viển vông trong lời ấy, cũng không biết ngông cuồng trong lời ấy. Nhưng lời của kẻ ngông cuồng cũng có khi Thánh nhân chọn lựa. Thần cúi mong Bệ Hạ điều nào có thể chọn được mà chọn thì kẻ hạ thần vô cùng may mắn.

Thần kính cẩn dâng lời đối sách".

III. TÍNH THỜI SỰ TRONG BÀI VĂN SÁCH CỦA LƯƠNG THẾ VINH

Có thể có người đọc qua, nhận xét rằng Lương Thế Vinh "vùi dập" đạo Phật, đạo Lão, gọi đó là "tà đạo, dị đoan, gây rối loạn xã hội, mê hoặc lòng người"... chỉ để đề cao Nho giáo. Nhưng phải đặt trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể thì mới hiểu chính xác được, hơn nữa đề ra đã chỉ định rõ, không thể làm ngược lại được.

Tựu chung lại, nói nôm na theo cách hiểu hiện nay, nội dung đề và bài đối nói 2 vấn đề chính: Tìm nguyên nhân nền tảng tư tưởng của chế độ (mà Triều đình cho là tốt nhất), nhưng lại không được dân chúng "chuộng"; Bộ máy chính quyền được sắp đặt quy củ, đầy đủ, tại sao hoạt động chưa hiệu quả?

Về nền tảng tư tưởng, bất cứ một chính quyền nào cũng phải có một nền móng tư tưởng xuyên suốt, vừa bảo đảm sự chính danh của mình, từ đó mới mạnh được, vừa là định hướng để xây dựng, ban bố, thi hành các chính sách đúng hướng. Nhưng thực tế, không có hệ tư tưởng nào dung hòa được toàn bộ xã hội vì mâu thuẫn xã hội luôn song hành với tồn tại xã hội, bắt buộc phải có sự cai trị "cưỡng chế" với bộ phận nào đó. Khi mới lập quốc, để cố kết lòng dân, Nhà Lý, sau đó là Nhà Trần, tuy học theo mô hình chính quyền của Trung Hoa, nhưng lại hướng nhiều đến "đức trị", phải dựa nhiều vào hệ tư tưởng của Phật giáo. Khi xã hội phát triển, nhu cầu tất yếu để xây dựng chính quyền mạnh là nền "pháp trị". Để có được điều này, mô hình lúc đó của Nhà Lê chỉ có thể là dựa trên nền tảng lý luận của Nho Giáo. Căn bệnh của bất cứ thể chế theo hệ tư tưởng nào cũng đều là sự suy thoái về tư tưởng, suy thoái càng nặng tức đi càng sai định hướng thì bộ máy hoạt động càng kém hiệu quả.

Lương Thế Vinh đã giải quyết rốt ráo, xác đáng những nội dung trên, lồng vào đó cả những ý phản biện khéo léo, nhẹ nhàng với chính một số khẳng định trong đề đưa ra. Tác động của bài văn sách là rõ ràng, khiến Vua đọc xong "lòng bứt rứt không yên". Phân tích dài, và có thể còn làm sai ý tiền nhân do không đủ hiểu hết, nhưng cá nhân tôi cảm nhận có những ý có tính thời sự đúng với hiện tình đất nước nay:

- Lý thuyết dù tốt đẹp đến đâu, nhưng người thực hiện không nghiêm, nhất là người đứng đầu không tin theo thì không thể bắt quần chúng tin theo được. Người ta sẽ tự đi tìm một tư tưởng khác cho riêng mình khi mất lòng tin vào chính thống.

- Không thể áp đặt tư tưởng cho người khác khi không tích cực giáo dục họ, giáo dục là giáo hóa, để cho mọi người hiểu đúng, tự giác tin theo, vì "không biết nó thì không thể ham nó được, không ham nó thì không vui với nó được".

- Chính quyền phải là chính quyền do dân và vì dân, không phải là chính quyền do chính quyền và vì chính quyền.

- Chính quyền đông không phải là chính quyền mạnh. Chính quyền mạnh là chính quyền có các quan chức tận tâm với công việc. Việc bổ dụng, giám sát thực hiện (công tác cán bộ) vô cùng quan trọng. Đất nước yếu là do việc tuyển chọn, giáo dục, xử lý quan chức sai phạm làm chưa tốt "loạn hay không loạn là do các quan mà ra".

- Duy trì kỷ cương (xây dựng và thực thi pháp luật) phải thật nghiêm, song song với đó là phải coi trọng giáo dục và văn hóa, giáo dục phải trọng giáo dục về đức hạnh.

- Kinh tế muốn phát triển thì hàng hóa phải lưu thông, chính sách phải công bằng và thông thoáng (giá như chính quyền ta coi nội dung này là bài học từ sớm!).

- Sức mạnh của đất nước nằm ở sự đoàn kết. Muốn đoàn kết thì từ Vua đến Quan đều phải nêu gương, có tinh thần trách nhiệm cao với vị trí của mình, không vụ lợi cá nhân, luôn quan tâm đến những vấn đề nhỏ nhất của nhân dân.

......

Phải nói đọc bài văn sách, thấy Lương Thế Vinh là người thẳng thắn và rất dũng cảm, có lẽ trong lịch sử Khoa cử, chỉ có ông mới là thí sinh dám nhận xét về cách cai trị của Vua đương nhiệm, không chỉ ca tụng như những Nho sinh khác mà đã chỉ ra những điểm yếu, thiếu sót và khuyên "Vua cũng phải sửa mình". Cũng rất ngạc nhiên từ thời ấy, Lương Thế Vinh đã có tư tưởng về một nhà nước do dân, vì dân (quan điểm "dân vi quý" là của Nho giáo, đề cũng đã nói đến "vì dân", nhưng "do dân" mới thấy từ Lương Thế Vinh), cũng như về việc xây dựng nền pháp trị, xã hội công bằng, vấn đề lưu thông hàng hóa ... Nhớ rằng, thời gian trị vì của Lê Thánh Tông (1460 - 1497) là một giai đoạn cực ký cường thịnh của Đại Việt cả về kinh tế, văn hóa, giáo dục đến quân sự ... mà đối chiếu thì thấy có nhiều chính sách được đưa ra thi hành hệt như trong bài văn sách của Lương Thế Vinh.

(Nguồn đề và bài đối: Văn sách thi đình Thăng Long – Hà Nội - Chủ biên: PGS.TS. Nguyễn Văn Thịnh - NXB Hà Nội)

_________

1- Tam cương : đạo vua tôi, cha con, vợ chồng.

2- Ngũ thường : nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.

3- Tiết văn độ số (chú giải của GS Nguyễn Khuê): Có thể hiểu hai cách : 1) Chia các hiện tượng trên trời ra từng phần mà tính số độ; 2) Tiết giảm văn vẻ bề ngoài để giữ đúng tước vị của mình.

4- "Hỏi người hái rau, kiếm củi": Kinh Thi, "Ðại Nhã".

5- Nhất âm nhất dương là đạo tồn tại trong trời đất: Khởi điểm của tạo hóa là do âm dương tương đối mà đạo Trời cũng khởi đầu bởi sự biến hóa của hai cái tương đối ấy: Âm thịnh thì dương suy, âm suy thì dương thịnh, theo liền nhau, tương đối, tương điều hòa với nhau để biến hóa mà sinh ra trời đất, vạn vật.

6- "Nối đạo là thiện, thành đạo là tính" là đạo hòa vào người vào vật: Quan niệm của Nho giáo: Ðạo là theo thiên lý, thiên lý với bản tính con người vốn là một. Ðạo cốt để sửa cái tính của người cho hợp với thiên lý. Ðạo của Khổng Tử lấy hai chữ chí thiện làm cực điểm của đạo nhất thể, chí thiện là nhân, chủ lấy thiên lý làm gốc, dùng hiếu đễ, lễ, nhạc khiến người ta tiến lên bậc nhân.

Ở đời ai cũng như ai, cũng có cái tính do Trời phú cho (cái sáng để hiểu biết) rồi vì tập quán mỗi người một khác trừ những bậc thượng trí đã hoàn toàn không phải thay đổi, hay kẻ hạ ngu dẫu dậy thế nào cũng không trở nên hay được. Bậc trung nhân thì tùy cái giáo dục, tập quán mà thành hay hay dở. Tập từ lúc nhỏ, quen đi, thành cũng như thiên tính tự nhiên bẩm thụ của Trời đất. Cho nên trong đạo Nho, giáo hóa rất quan trọng.

7- Ðạo phải thực thi ở dụng: nghe được điều thiện thì phải đem ra thi hành, nuôi cái đức của mình mới là thành thực, chỉ nghe rồi lập lại ở cửa miệng, không thực thi thì học cũng như không.

8- Phục Hy (4486-4365) : Thời Phục Hy có con long mã từ sông Hoàng hà nổi lên, lưng có những hàng chấm như bức hình. Vua cho là điềm lành, phỏng theo chép thành Hà Ðồ, vạch ra Bát quái (8 quẻ) tượng trưng cho thiên hạ thái bình.

9- Thần Nông (trước Nghiêu, Thuấn) hiệu Viêm đế, dậy dân cầy ruộng, chợ búa, lại nếm cỏ làm thuốc.

10- Hoàng Ðế : tên Hiên Viên, là vua đầu tiên ở Trung quốc, giết xong Xuy Vưu bạo ngược, được các thủ lĩnh tôn làm Cộng chủ, gọi là Hoàng Ðế. Vua đặt ra y phục, cung thất, xe thuyền, phân biệt trên dưới. Bắt đầu chế độ phong kiến, tam cương.

11- Ðại Vũ - Hạ Vũ : Vũ là con Cổn, có công trừ nạn hồng thủy, được vua Thuấn nhường ngôi, lập ra nhà Hạ, đặt ra Hồng Phạm Cửu Trù tức 9 loại khuôn phép (hồng phạm = khuôn phép)

12- Tinh nhất chấp trun : Kinh Thư, thiên "Ðại vũ mô" nói "duy tinh duy nhất doãn chấp quyết trung" nghĩa là "Xét cho tinh, giữ một mực, tin giữ đạo Trung dung, không thái quá, không bất cập" (GS Nguyễn Khuê).

13- Thang, Vũ : Thành Thang phế vua Kiệt nhà Hạ, lập ra nhà Thương ; Vũ Vương diệt vua Trụ nhà Thương, lập ra nhà Chu.

14- Kiến trung lập cực : đứng ở mức trung dung (không thái quá, không bất cập) mà đặt ra các chuẩn mực (GS Nguyễn Khuê).

15- Hàn Tử : có lẽ là Hàn Dũ người đất Xương-lê, đỗ Tiến sĩ, hết sức chống dị đoan, can ngăn Ðường Hiến Tông đón xương Phật, vì cương trực nên bị biếm chức nhiều lần.

16- Mạnh Tử tên Kha, học trò Tử Tư (tức Khổng Cấp, cháu nội Khổng Tử), được tôn làm Á Thánh của đạo Nho.

17- Dương Chu tức Dương Tử, đề cao thuyết cá nhân vị kỷ, bác thuyết nhân nghĩa của đạo Nho, cho là nhân nghĩa chưa chắc lợi cho ai mà hại cho đời sống riêng mình, hi sinh là nguồn gốc của rối loạn, bỏ nhân nghĩa đi thì thiên hạ sẽ bình trị.

18- Mặc Ðịch cũng gọi là Mặc Tử. Mặc học có hai điểm chính là "Kiêm ái" (yêu mọi người) và "Thượng đồng" (người trên cho là phải thì người dưới cũng nhận là phải).

19- Hán Minh Ðế nằm mê thấy kim nhân, tỉnh dậy bảo quần thần đoán mộng. Bác Nghị đoán là Phật, vua bèn sai Thái Âm, Cảnh Hiến đi Tây vực cầu đạo. Thái Âm đem về hai vị Sa môn, 42 chương kinh do ngựa trắng chở về.

20- Chu Công Ðán, con Văn Vương, em Vũ Vương, có công sửa sang chính sự nhà Chu.

21- Kiến tính thành Phật : Theo Ðạt Ma Ngộ Tính Luận :"Trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật" và Huyết mạch luận: "Nhược dục kiến Phật, tu thị kiến tính, tính tức thị Phật": nếu muốn thấy Phật tất phải thấy rõ tâm tính mình. Tính tức là Phật.

22- Huyền chi hựu huyền: Lão Tử, Ðạo Ðức Kinh, "Ðồng vị chi huyền, huyền chi hựu huyền": không thể phân biệt được giữa cái "Vô" và cái "Hữu" vì nó đã "đồng với nhau" về phẩm cũng như về sự hiện hữu. Cái "huyền" rồi lại "huyền hơn nữa" đó là chỗ vào ra, biến hóa của vạn vật trong vũ trụ.

23- Hán Vũ Ðế ngưỡng mộ đạo Phật, xây nhiều chùa tháp, sau bị cận thần Hầu Cảnh làm loạn, vây cung cấm khiến chết đói ở Ðài-thành.

24- Tức Lê Lợi.

25- Ngũ hình = 5 hình phạt là kinh (trổ chữ lên mặt), tỵ (cắt mũi), phỉ (chặt chân), cung (thiến), đại tích (chém đầu).

Nguồn : Lương Đức Minh Đăng - HỌ LƯƠNG VIỆT NAM