XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG

Thứ Hai, 29 tháng 7, 2019

Cái chết bi tráng của 200 lính sinh viên


Sự thật về cái chết bi tráng của 200 lính sinh viên đại học Xây dựng Hà Nội

(Văn Hiến 27/07/19)

Hơn 40 năm sau cái chết đầy bi tráng của 200 lính tân binh, vốn là sinh viên trường Đại học xây dựng Hà Nội, gia đình thân nhân liệt sĩ mới biết: các anh hy sinh trong cuộc càn quét khốc liệt của địch vào sáng ngày 3 tháng 10 năm 1973 tại rừng tràm thuộc ấp Đá Biên, xã Thạnh Phước, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An sau ngần ấy năm đỏ mắt kiếm tìm. Hài cốt các anh đã vĩnh viễn hòa tan trong rừng tràm mênh mông nước nhưng linh hồn các anh vẫn bất tử trong lòng người dân xã Thạnh Phước. Với họ, các anh là những vị thánh, là những “thành hoàng làng đội mũ cối.

Cái chết bi tráng của 200 lính sinh viên

Năm 1972, cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn quyết liệt. Theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, hàng vạn sinh viên thủ đô đã tạm xếp bút nghiên, tình nguyện lên đường “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, trong đó có hàng trăm sinh viên Đại học xây dựng Hà Nội. Ông Vũ Trình Tường, người đã từng hòa mình trong cuộc tòng quân hừng hực năm ấy kể lại: “Tôi còn nhớ tháng 9 năm 1972, lúc đó chúng tôi là sinh viên năm thứ 2 trường Đại học xây dựng Hà Nội. Nhà trường có một đợt tuyển quân với quy mô lớn. Số sinh viên từ khóa 13 đến khóa 16 nhập ngũ là 225 người, riêng khóa 16 chúng tôi có gần 30 bạn. Hầu hết trong số này đã vượt Trường Sơn vào miền tây Nam Bộ biên chế vào Trung đoàn 207, Quân khu 8, chiến đấu ở vùng Mỏ Vẹt, biên giới Việt Nam – Campuchia. Đầu tháng 10 năm 1973, Trung đoàn 207 nhận nhiệm vụ bí mật luồn sâu xuống Đồng Tháp Mười thuộc vùng 8, Kiến Tường cũ. Đêm ngày 3 tháng 10, Trung đoàn triển khai đội hình hành quân từ Ba Thu (đất Campuchia) vượt sông Vàm Cỏ Tây đến ấp Đá Biên, huyện Mộc Hóa, tỉnh Kiến Tường (nay thuộc xã Thạnh Phước, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An) thì trời vừa sáng nên đơn vị phải ém quân vào các mảnh rừng tràm. Năm ấy, nước lên to, các gò đất bị nhấn chìm, chỉ còn những cây tràm kiên cường vươn lên giữa biển nước trắng mênh mông. Rừng tràm thì nhỏ, lại thưa thớt nên không đủ che giấu đoàn quân. Vì lội bộ suốt đêm giữa đồng nước, có đoạn ngập đến tận cổ nên anh em cả hai tiểu đoàn đều mệt rã rời, nhất là cánh Tiểu đoàn 1. Họ hầu hết là tân binh, trong đó phần lớn là sinh viên trường Đại học xây dựng mới được bổ sung về đơn vị trước đó hai ngày. Do chưa quen địa hình đồng nước, chưa có kinh nghiệm chiến trường, sáng hôm sau, khi nấu cơm, lính tân binh để lộ khói nên máy bay trinh sát của địch đã phát hiện. Vì Thạnh Phước là đường giao thông huyết mạch để chuyển vũ khí, chuyển quân từ miền Đông xuống miền Tây nên địch thường xuyên sử dụng máy bay trinh sát truy tìm dấu vết bộ đội. Ngay lập tức, trên trời, hàng chục máy bay trực thăng ào đến như một cơn bão nhả đạn như mưa. Dưới đất, hơn chục chiếc xe bọc thép M113 gắn hỏa lực cực mạnh ùa đến bao vây. Trước tình thế vô cùng hiểm nguy, đơn vị đã nhanh chóng triển khai đội hình chiến đấu với tinh thần cảm tử, quyết mở đường máu để đưa sở chỉ huy Trung đoàn thoát khỏi vòng vây. Các chiến sĩ tân binh Tiểu đoàn 1 đã bám chặt trận địa, chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Họ tận dụng từng gốc tràm, bụi cỏ, lội nước ngang ngực ngoan cường chiến đấu từ 8 giờ sáng đến mãi chiều tàn, tiếng súng mới im. Gần 200 chiến sĩ đã hy sinh trên đồng đất Tháp Mười, không một ai chịu đầu hàng địch”.

Những ngày sau, địch vẫn tiếp tục đưa trực thăng tới càn quét nhằm tiêu diệt bất cứ mầm sống nào còn sót lại trên cánh rừng tràm mênh mông nước. Tàn bạo hơn, không chỉ dội mưa bom, bão đạn, địch còn cho quân chốt các ngả không cho bộ đội ta vào lấy thi hài tử sĩ và cứu thương binh. Mãi 12 ngày sau, khi địch rút, đại đội trinh sát cùng với du kích địa phương mới tổ chức được lực lượng vào tìm đồng đội. Ông Phan Xuân Thi (thường gọi là Ba Thi), nguyên là lính trinh sát Trung đoàn 207, hiện là Trưởng ban liên lạc bạn chiến đấu và cựu chiến binh Trung đoàn 207 kể lại: “Khi đó, đơn vị giao nhiệm vụ cho đội trinh sát cùng du kích địa phương đêm đêm bơi xuồng tìm đồng đội. Duy nhất còn một chiến sĩ bị thương nặng được cấp cứu kịp thời, còn lại gần 200 thi thể nổi trên mặt nước, dạt vào cạnh những thân cây, bên những bông súng, bông điên điển. Chúng tôi phải dùng màn để vớt từng phần thi thể các anh, rồi gom các mảnh xương còn mắc trên cành cây. Đồng Tháp Mười đang mùa nước nổi. Do xung quanh toàn nước, không có đất chôn nên chúng tôi phải bó từng thi thể lại, bọc trong bao ni lông, buộc chặt vào thân cây tràm ngâm trong nước lũ, chờ đến mùa khô nhờ đồng bào chôn giúp. Chúng tôi cũng chỉ tìm được khoảng 40 thi hài. Số anh em còn lại do đêm tối cây cỏ um tùm không thể tìm thấy. Chiến trường ác liệt, đơn vị lại phải tiếp tục hành quân, đắng lòng gửi đồng đội nằm lại Đồng Tháp Mười đầm lầy chua mặn”.

Chiến trường ngày càng ác liệt. Đơn vị lại tiếp tục hành quân vào trận chiến mới. Xác các chiến sỹ bị ngâm trong nước lâu ngày trương phềnh rồi trôi dạt khắp cánh đồng, trắng cả một vùng rộng lớn. Rồi chiến dịch Hồ Chí Minh, rồi chiến tranh biên giới Tây Nam. Theo yêu cầu nhiệm vụ mới, Trung đoàn 207 giải thể, khu 8 sát nhập khu 9, tỉnh Kiến Tường sát nhập vào tỉnh Long An, Long An sát nhập vào Quân Khu 7. Trận đánh bi tráng với cái chết của gần 200 tân binh sáng ngày mồng 3 tháng 10 năm 1973 ấy, chẳng thấy ai nhắc đến.

Tấm lòng của vợ chồng anh Tư Tờ và bà con ấp Đá Biên

Sau năm 1975, dân tứ xứ đổ về ấp Đá Biên, xã Thạnh Phước, huyện Thạnh Hóa khai hoang. Nhiều người vật đất lên làm nhà thấy có nhiều xương cốt. Anh Nguyễn Văn Tư, dân địa phương thường gọi là Tư Tờ, khi đó còn nhỏ, mới 12 tuổi, thường chèo xuồng đi lượm bình tông đựng nước, cà-mèn, mũ cối… Có lần nhặt được chiếc mũ, nâng lên anh giật mình kinh hãi khi thấy bên trong mũ còn nguyên chiếc sọ đầu lâu. Anh nghe dân làng bảo, xương cốt, bình tông ấy là của những người lính ngoài Bắc chết trong một trận đánh thảm khốc. Họ bị bỏ rơi nên hài cốt trôi dạt khắp nơi. Họ chết hầu hết khi mới mười tám, đôi mươi, chết trẻ nên rất thiêng. Khi màn đêm buông xuống, nhiều người trong ấp thường nghe tiếng khóc than vì đói khát, tiếng kêu gào đau đớn vì thi thể mắc kẹt giữa các lùm cây trong rừng tràm. Có người trong ấp khi gom củi khô và lá tràm đốt lấy tro bón ruộng, vô tình đốt lẫn cả hài cốt, bị vong linh các chú bộ đội về phạt vạ, khiến cho hóa điên, chữa mãi không khỏi.

Tin vào sự hiển linh của các chú bộ đội, nhiều người dân vào ngày rằm, mồng 1, thường làm cơm cúng cầu xin các linh hồn liệt sĩ phù hộ độ trì làm ăn hanh thông, gia đình khỏe mạnh. Cá nhân anh Tư Tờ cũng có những trải nghiệm tâm linh hết sức kỳ lạ. Năm 1990, anh làm ruộng phát hiện thấy 3 bộ hài cốt không còn nguyên vẹn. Xót thương, anh đắp một nấm mồ chôn chung. Thắp nén hương thơm, anh chắp tay lầm rầm khấn nguyện hương linh các liệt sĩ có linh thiêng thì phù hộ cho gia đình vụ mùa này bội thu để sớm thoát cảnh cơ hàn. Nếu linh ứng, anh sẽ lập miếu thờ cúng. Chẳng biết có phải do các liệt sĩ phù hộ hay không, năm ấy, anh Tư Tờ trúng vụ mùa lớn, đạt hơn 500 giạ thóc. Vợ chồng anh vui mừng khôn xiết. Song do mải làm ăn nên anh quên mất lời hứa với các liệt sĩ. Đêm nọ, bé Nguyệt, con gái đầu, sinh năm 1981, vừa tròn 9 tuổi, đang khỏe mạnh bỗng lăn đùng ra ốm. Mặt xám ngoét, mắt thất thần, suốt ngày cháu ôm đầu kêu la vì đau đớn. Vợ chồng anh bán thóc lấy tiền ôm con đi chữa chạy khắp các bệnh viện mà không khỏi. Buồn bã, bất lực. Tối nọ, đang thiu thiu ngủ, anh chợt nghe tiếng trách móc, giọng đầy ai oán: “Nói lời phải giữ lấy lời. Đừng như con bướm đậu rồi lại bay”. Anh giật mình tỉnh giấc. Sực nhớ đến lời khấn nguyện và lời hứa hôm nào, sáng sớm hôm sau, anh vội lập một miếu thờ trong khuôn viên đất nhà. Chị Mai Thị Tiếp, vợ anh, sửa soạn mâm cơm cúng. Kỳ lạ sao, chỉ vài ngày sau, bé Nguyệt lành bệnh. Anh Tư Tờ nhớ lại: “Gọi là miếu cho oai chứ thực ra tui chỉ dựng bốn cái cột, kiếm mấy tàu lá về chằm rồi lợp lên trên. Sau mùa lúa, tui chèo ghe ra mua mấy viên gạch, chút xi măng về sửa lại. Miếu “bêtông hóa” rồi mà vẫn còn nhỏ xíu, vợ chồng tui cảm thấy chưa yên. Nghe nói mấy anh chết ở đất này cả mấy trăm người, miếu chút xíu vậy sao mà thờ cho đủ, tội lắm. Không có tiền thì vợ chồng vay mượn để làm”. Nghe chồng nói vậy, chị Tư Tờ cười hiền: “Tui chèo xuồng ra chợ hỏi mua tấm thiếc mà hổng đủ tiền. Vậy là chèo về, đi mượn 1 chỉ vàng bán được 300.000 đồng mua vật liệu, mướn ông thợ về mần ba ngày mới xong. Ông thợ chỉ lấy tiền công hai ngày, còn một ngày làm ủng hộ chiến sĩ”.

Hàng ngày, mỗi khi rảnh rỗi, chị Tư Tờ lại đến miếu dọn dẹp, châm nước, thắp hương. Thấy chị cúng cơm, nhiều người đi ngang qua hỏi thăm. Biết anh chị dựng miếu để thờ các liệt sĩ, bà con tới thắp hương dần đông. Chính dân làng đã đặt tên cho miếu thờ là miếu “Bắc Bỏ” với hàm ý: bộ đội người Bắc chết bỏ xác nơi đây. Lúc đầu miếu thờ còn nhỏ, lợp gianh lá cỏ, cột và khung mái làm bằng mấy cây gỗ tràm khẳng khiu, dựng trên mô đất rộng chừng 20 m2. Sau này, mỗi năm gia đình anh Tư Tờ cùng bà con trong ấp vật đất đắp bồi nên khuôn đất rộng cả trăm m2, cất lại ngôi miếu to cao hơn, lợp mái tôn vừa làm nơi thờ cúng liệt sĩ, vừa làm chỗ cho dân đi làm ruộng có chỗ nghỉ chân hay trú mưa, tránh nắng. Hàng năm, vào ngày các anh hy sinh, nhằm mồng 8 tháng 9 âm lịch, bà con trong vùng túm lại làm đám giỗ tập thể. Không chỉ người ở rạch Đá Biên mà người từ miệt kênh trên, kênh giữa và các xã khác cũng về. Thức cúng ai có gì đem nấy: từ con cá, con lươn, cặp vịt xiêm hay mấy chai rượu trắng. Có năm bà con về đông quá không đủ bát ăn phải ăn bằng cái nắp ấm. Đám cúng buổi sáng nhưng mọi người ở lại tới chiều tối, ca vọng cổ, gõ phách, gõ chén, gõ thùng cho các liệt sĩ nghe ấm lòng. Có năm bà con ở lại đông, uống hết 130 lít rượu. Ăn đám năm này, bà con tự động góp mỗi người 5.000-10.000 đồng gây quỹ để mua nhang đèn, cúng cơm, làm đám năm sau. Với người dân nơi đây, các anh là những “thành hoàng

Gần 40 năm trời tìm kiếm

Hơn 20 năm, ngôi miếu đơn sơ ấy tồn tại giữa vùng quê nghèo Đá Biên, các cựu chiến binh trung đoàn 207 và thân nhân của 200 liệt sĩ vẫn không hề hay biết. Mãi đến ngày 27 tháng 7 năm 2011, trong chuyến cùng thân nhân gia đình liệt sĩ đi tìm hài cốt, khi đến khu vực cầu 79, ấp 5, xã Tân Lập, huyện Thạnh Hóa, Ban liên lạc Trung đoàn 207 vô tình được người dân cho biết, phía trong kia có miếu Bắc Bỏ thờ những chiến sĩ quê miền Bắc hy sinh năm 1973. Nhờ đó, câu chuyện về ngôi miếu Bắc Bỏ ân tình mới được Ban liên lạc bạn chiến đấu cựu chiến binh Trung đoàn 207 biết đến. Ông Phan Xuân Thi, Trưởng ban liên lạc kể lại: “Bữa đó, xe chạy tới cầu 79 thì dừng lại hỏi thăm đường. Thoáng nghe giọng miền Bắc, anh Đoàn Văn Xẹn, bán tạp hóa ngay chân cầu, hỏi: “Mấy chú đi kiếm miếu Bắc Bỏ phải hông?”. Tôi vội hỏi dồn: “Miếu gì mà sao anh kêu là miếu Bắc Bỏ?”. Anh Xẻn trả lời: “Bà con ở đây ai mà hổng biết. Miếu đó bà con tự dựng lên để thờ mấy chú bộ đội người miền Bắc hi sinh nằm lại ở Đồng Tháp Mười này nên mới có tên vậy đó”. Nghe tới đây, tôi thấy như có luồng điện chạy dọc sống lưng. Tôi quyết định mướn ghe máy chạy vào kiếm cái miếu. Hai bên bờ kênh tràm mọc san sát. Càng chạy tầm nhìn càng bị cản trở vì bây giờ chỉ còn tràm và tràm. Chạy khoảng 10 phút, tài xế cho ghe ghé vào một gò đất. Trên gò đất nổi là ngôi miếu với dòng chữ đầy ắp ân tình của những người dân ít học: “Hi sinh gì Tổ quốc”. Dẫu có sai chính tả do người hàng xóm của anh chị Tư Tờ mới học hết lớp 1 khắc chữ, “vì” lại viết thành “gì” nhưng chính dòng chữ giản dị ấy mới chứa đựng trong đó biết bao nghĩa tình của những người dân nghèo nơi đây. Đây cũng chính là quê hương thứ hai của các liệt sỹ. Dù không được trở về nơi chôn nhau cắt rốn nhưng các anh đã được nhân dân rạch Đá Biên coi như người thân yêu ruột thịt, lúc nào cũng có nén nhang, bát cơm, chén rượu để làm ấm lòng. Tôi đã bật khóc khi nhìn thấy ngôi miếu và khẳng định đây chính là nơi đồng đội của mình đã hy sinh trong hoàn cảnh bỏ xác. Ban liên lạc đã họp, đưa thông tin về đồng đội trên các phương tiện thông tin đại chúng, cử người trong Ban liên lạc thay nhau đi tìm danh tính liệt sỹ, phần lớn là anh em miền Bắc, trong đó 2/3 là sinh viên Đại học xây dựng mới nhập ngũ, tuổi đời còn rất trẻ”.

Thân nhân liệt sĩ từ các tỉnh phía Bắc khi được biết thông tin về nơi chiến đấu, hy sinh của các liệt sỹ đã vào tận nơi để hương khói cho người thân. Biết các anh đã được người dân hương khói bấy lâu nên các thân nhân cũng được an ủi phần nào. Có thân nhân liệt sĩ vừa nghe tin liền vượt hàng ngàn cây số vào tận nhà anh Tư Tờ và đem di ảnh người thân vào gửi anh thờ tại miếu.

Thế là, sau 40 năm kể từ ngày các anh hy sinh, rất nhiều gia đình thân nhân của 200 liệt sĩ, sau biết bao tháng ngày lang thang khắp nơi kiếm tìm, nay mới thấy. Gia đình liệt sĩ Nguyễn Văn Tế đã tốn hàng trăm triệu đồng đi tìm theo sự chỉ dẫn của các nhà ngoại cảm nhưng kết quả xét nghiệm ADN lại không đúng. Họ đã mang nhầm về quê bộ hài cốt liệt sĩ vô danh từ nghĩa trang Tam Nông ở tỉnh Đồng Tháp. Trong hoang mang, đau đớn tột cùng, tình cờ gặp được ông Phạm Xuân Thi, họ mới biết, người thân của mình hy sinh ở Đá Biên. Ngày 27 tháng 7 năm 2011, khi ông Thi cùng gia đình liệt sĩ Nguyễn Văn Tế tìm về đây lại càng thêm đau đớn khi biết rằng, ngôi miếu Bắc Bỏ thờ liệt sĩ trung đoàn 207 đã có từ năm 1990. Một trận đánh có 200 liệt sĩ hy sinh, xương cốt của họ còn vương khắp vùng ngập nước ấp Đá Biên mà chỉ có một ngôi miếu thờ đơn sơ do một người dân nghèo là anh Tư Tờ cất lên mang tên “Bắc Bỏ”. Trời ơi! Chua xót quá!

Mặc dầu đã được sửa sang, tôn tạo tới 3 lần nhưng miếu Bắc Bỏ vẫn bé nhỏ đến tội nghiệp giữa mênh mông nước lũ. Mái lợp tôn, bốn bề trống hoác. Bao quanh lán lưa thưa vài gốc cây tràm làm bóng mát cho hương hồn gần 300 liệt sĩ. Bệ thờ là vỉa tường vài hàng gạch, trên láng xi măng, là nơi đặt bát nhang lớn và đồ tế lễ. Phía sau bệ thờ dựng một tấm tôn, treo lá quốc kỳ, dưới bày ba khung ảnh của các liệt sĩ sinh viên trường Đại học xây dựng. Đó là kỷ vật của ba gia đình gần đây biết tin về miếu Bắc Bỏ đã tìm về thắp nhang bái vọng người thân, gửi ảnh nhờ anh Tư Tờ cúng giỗ. Anh Tư Tờ cũng đau xót lắm. Anh bảo: “Nếu vợ chồng tui làm ăn khấm khá thì thế nào cũng sửa lại cái miếu cho đàng hoàng. Để lỡ khi người thân của mấy ảnh từ ngoài Bắc hay tin vô thăm, thấy cái miếu cũng đỡ tủi thân. Mà chắc tới chừng xây lại người ta sẽ không ghi tên là miếu Bắc Bỏ nữa đâu. Tên đó nghe buồn quá”.

“Cầu được ước thấy”. Sáng ngày 30 tháng 3 năm 2016, được sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo chính quyền địa phương, các thế hệ cán bộ, sinh viên Trường đại học xây dựng Hà Nội cùng các đồng đội, người thân của các liệt sỹ Trung đoàn 207 và nhân dân địa phương đã có mặt tại ấp Đá Biên để khởi công xây dựng Đài tưởng niệm nhằm tri ân sự hy sinh cao cả của các anh. Trong không khí trang nghiêm, đầy cảm xúc, PGS.TS Phạm Duy Hòa - Hiệu trưởng - đã thay mặt nhà trường bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các đồng chí lãnh đạo và nhân dân địa phương, những người dân bình dị như gia đình anh chị Tư Tờ, trong suốt những năm qua đã âm thầm, lặng lẽ hương khói cho các liệt sỹ là sinh viên của trường Đại học xây dựng và các trường bạn. Buổi lễ trào dâng niềm xúc động khi PGS.TS Phạm Duy Hòa cho biết, đoàn cán bộ và cựu sinh viên trường Đại học xây dựng đã mang theo hộp phù sa còn thấm đẫm nước sông Hồng, dòng sông đã nuôi dưỡng tâm hồn các anh và từ những hạt phù sa này đã mọc lên những cây ngô, bông lúa, nuôi các anh trưởng thành, bước vào giảng đường đại học rồi lên đường chiến đấu và hy sinh anh dũng trên chính mảnh đất này.

Xúc động nghẹn ngào trong buổi lễ, ông Đoàn Đức Chính, nguyên lính sinh viên Đại học xây dựng đã sáng tác bài thơ “Miếu Bắc Bó – Ngày ấy, bây giờ” ngay tại Khu tưởng niệm để tri ân các liệt sỹ Trung đoàn 207:

“Ngày ấy các bạn tôi
Đã nằm xuống nơi đây
Mấy chục năm nổi chìm
Không hương khói
Không thể tìm về quê cũ
Những “thằng lính sinh viên”
Chỉ còn biết ôm nhau mà “ngủ”
Dưới những gốc tràm trong rạch Đá Biên
Năm qua đi
Tháng qua đi
Các bạn tôi
Đã là những “Ông Thành Hoàng Làng Mũ Cối”
Chen chúc nhau ngồi nơi miếu nhỏ cô đơn
“Miếu Bắc Bỏ”
Ai đặt tên mà đau từng khúc ruột?
Ai đặt tên mà ướt đầm nước mắt?
Ai đặt tên mà nghẹn thắt con tim?
Những nông dân chân lấm tay bùn
Xì xụp khói hương
Thương những thằng con đất Bắc
Bỏ quê hương vào đây đánh giặc
Chiến tranh qua lâu rồi mà sao không về Bắc?
Chiến tranh qua lâu rồi sao chẳng có ai tìm?
Các Má, các Ba
Hương khói, bánh quà
Trái ngọt vườn nhà mùa nào thức nấy
“Thôi thì tạm nhé tụi bay...”
Miếu Bắc Bỏ
Nhỏ nhoi bập bềnh con nước
Bao năm qua
Người thân và đồng đội
Khắc khoải đi tìm
Bao nước mắt cạn khô
Bao mẹ già heo hắt
Bao đứa em ngóng đợi anh về
Mà vẫn bặt tin
Nỗi đau buồn nặng lắm các bạn ơi
Bây giờ các bạn tôi
Đàng hoàng ngồi trong “Đền thờ Liệt sỹ”
Chẳng sợ nắng mưa
Chẳng lo nước nổi
Vẫn là những “Ông Thành Hoàng Làng Mũ Cối”
Vẫn là những "thằng sinh viên" trẻ mãi đến bây giờ;
 Thày trò ĐHXD bên tượng đài tưởng niệm các LS e207



 LS Nguyễn Thanh Hà, nguyên SV năm thứ nhất ĐHXD Hà Nội


Anh Tư Tờ bên miếu Bắc Bỏ do gđ anh xây cất
Nguồn Facebook: 
Cong Giao đến LÍNH XE TĂNG

Thứ Sáu, 26 tháng 7, 2019

Khu nghỉ mát Bà Nà thời Pháp

Núi Bà Nà là một trong những núi đẹp nhất Đà Nẵng cùng với núi Ngũ Hành Sơn và núi Sơn Trà. Núi Bà Nà toạ lạc 1 khu vực thuộc về dãy núi Trường Sơn nằm ở xã Hòa Ninh, huyện Hòa Vang, cách Đà Nẵng 46 km về phía Tây Nam. Trung tâm du lịch của Bà Nà nằm trên đỉnh Núi Chúa có độ cao 1487 m so với mực nước biển.
Tiếp nối sự khám phá và xây dựng Đà Lạt, vào tháng 2-1900, Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer cử đại úy Debay thuộc Quân đội Pháp thám sát vùng núi lân cận khu vực Đà Nẵng – Huế để tìm kiếm thêm điểm nghỉ mát, dưỡng sức và chữa bệnh. Sau nhiều đợt thăm dò, đến tháng 4-1901, đoàn thám hiểm của Debay đã tìm ra núi Chúa, tức Bà Nà, trên đỉnh địa hình khá bằng phẳng, khí hậu tương tự như Đà Lạt và chỉ cách thành phố Đà Nẵng về phía tây chừng 46km.
Nhưng mãi đến năm 1912, khi toàn quyền Đông Dương ra nghị định biến Bà Nà thành một khu bảo tồn lâm nghiệp thì việc nghiên cứu rặng núi này mới được đẩy mạnh. Và rồi tháng 5 năm 1919, luật sư Beisson trở thành người đầu tiên xây dựng nhà nghỉ ở Bà Nà.
Nguồn gốc tên gọi Bà Nà, có người cho rằng khi người Pháp đặt chân đến vùng này thấy rất nhiều cây chuối nên gọi là núi Banane, lâu dần người Việt đọc chệch thành Bà Nà. Còn nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng chữ Bà Nà là tiếng Người Katu nghĩa là “núi của tui”. Một truyền thuyết khác cho rằng tên núi là tên viết tắt của Bà Ponagar hay bà Thiên Y A Na Thánh Mẫu
Đến năm 1912, người Pháp tiến hành quy hoạch khu Bà Nà, có chính sách bảo vệ động thực vật, điều tra và nắm bắt dân cư chung quanh khu vực Bà Nà. Sau Thế chiến thứ nhất (1914-1918), người Pháp đẩy mạnh xây dựng khu nghỉ mát Bà Nà, hoàn tất con đường nối Bà Nà với đường thuộc địa số 1 (sau này là quốc lộ 1) trong năm 1919, tạo điều kiện dễ dàng cho những công sở, quan chức và kiều dân Pháp đầu tư xây dựng khu nghỉ dưỡng, kinh doanh ở Bà Nà. Tính đến 23-7-1921, tại Bà Nà đã có 39 lô đất được cấp phép xây dựng của 36 chủ đầu tư, phân bố trải đều theo cụm.
Lúc đầu, xe hơi chạy từ Đà Nẵng đến Bà Nà phải dừng ngang tại cây số 28 ở Phú Thượng; đoạn còn lại đi bằng kiệu ghế hoặc ngựa, mất khoảng 3-4 giờ mới đến khu nghỉ mát. Năm 1928, đoạn đường cuối cùng lên đỉnh Bà Nà hoàn tất, với hơn 15km đường đất quanh co, uốn lượn. Lượng du khách đến Bà Nà trong thời gian đầu vẫn còn khá ít ỏi.
Bắt đầu khởi hành bằng kiệu song loan
Không khí châu Âu trên vùng đất nhiệt đới
Sân tenis và sân chơi dành cho trẻ em trong khách sạn Morin
Khách sạn sạn Morin trong góc chụp khác
Khách sạn Anh em nhà Morin trong quần thể khu nghỉ dưỡng
Nhà nghỉ mang tên Hội An
Chuyển phát thư báo
Một ngôi nhà gỗ mang phong cách nhà nghỉ vùng núi châu Âu
Nơi những người Pháp tìm hình bóng cố quốc trong thiên nhiên thay đổi bốn mùa trong một ngày
Khu nghỉ mát trên đỉnh Bà Nà
Khu du lịch Bà Nà thời Pháp
Những ngọn thác
Nơi bắt đầu của những con suối
Những cây thạch nam khổng lồ
Những cây dương xỉ che khuất chiếu cao nười lớn
Phong cảnh Bà Nà thêm quyến rũ bởi quần thể thực vật phong phú
Khách du hành bằng kiệu
Càng lên cao phong cảnh xung quanh càng đẹp
Thống kê của Pháp năm 1925 cho biết, chỉ có chừng 120 du khách chọn Bà Nà để nghỉ ngơi. Sau khi đường lên đỉnh núi được hoàn tất, số du khách mới tăng dần, đến năm 1937 đã đạt được con số hơn 1.000 người, phần lớn là người Pháp và quan chức người Việt. Các dịch vụ như điện, nước, bệnh viện, bưu điện, ngân hàng, khách sạn… đã được đưa vào phục vụ du khách. Bà Nà dần trở thành một khu nghỉ dưỡng nổi tiếng không chỉ ở Trung Kỳ mà ở toàn khu vực Đông Dương. Năm 1938, Bà Nà đã được Phòng Du lịch Đông Dương đưa vào tour du lịch 8 ngày bằng xe hơi tuyến Sài Gòn – Đà Lạt – Nha Trang – Quy Nhơn – Đà Nẵng – Huế – Vinh – Hà Nội – Hải Phòng và ngược lại. Kiệu ghế được xem là một phương tiện di chuyển đầy lý thú và rất điển hình cho du lịch Bà Nà xưa với lượng du khách ngang với những khu nghỉ mát thời đó như Le Bockor (Campuchia), Mũi Saint Jacques (Vũng Tàu), Tam Đảo, Sapa…
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Bà Nà dần vắng bóng người. Khi Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam lần thứ 2, nhân dân địa phương thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến nên đã triệt hạ các công trình xây dựng ở Bà Nà. Từ đấy, khu nghỉ mát hoang phế dần và bị cây rừng che phủ trong quên lãng gần nửa thế kỷ. Đầu năm 1998, UBND thành phố Đà Nẵng quyết định xây dựng lại Bà Nà thành một khu du lịch sinh thái có quy mô lớn với hệ thống nhà nghỉ, nhà hàng, khu bảo tồn… Con đường từ chân núi lên đỉnh Bà Nà dài 15km đã được rải nhựa, thuận tiện cho giao thông. Sau năm 2000, Bà Nà đã được đánh thức và tái tạo vị thế một thị trấn du lịch và nhanh chóng trở lại ngôi vị của một trong những khu du lịch nổi tiếng nhất của tỉnh thành phố Đà Nẵng.
Từ đầu thế kỷ XX người Pháp đã khám phá khu du lịch Bà Nà. Tạo nên bước ngoặc tên dự án du lịch thế kỷ không chỉ riêng Đà Nẵng mà cho còn cả Việt Nam. Với những ưu đãi do thiên nhiên ban tặng, với nét đặc sắc riêng do nền văn hóa – kiến trúc giao thoa, dự án Quần thể Khu Du lịch sinh thái Bà Nà – Suối Mơ được đánh giá là đã hội tụ đầy đủ các yếu tố để phát triển thành một khu du lịch độc đáo và hấp dẫn . Dự án được nghiên cứu với phong cách kiến trúc phong phú về thể loại, đa dạng về loại hình, nổi trội về chất lượng thẩm mỹ kiến trúc với sân gôn 36 lỗ, khu phố và thị trấn kiến trúc Pháp, Công viên bảo tồn và phát triển các động vật hoang dã và vui chơi giải trí, khu cắm trại, khu trang trại với các đồn điền trồng chè, khu khách sạn 5 sao, các khu biệt thự với kiến trúc hài hoà với thiên nhiên, phục hồi các công trình cổ xưa thời Pháp… Trong tương lai gần, chắc chắn nơi đây thành một điểm đến không thể bỏ qua của du khách trong nước và quốc tế trong tam giác du lịch Đà Nẵng – Bà Nà – Hội An.
Luca Galaxy tổng hợp

Phong thủy thành Nhà Hồ

          Hình chụp thành nhà Hồ năm 1923 trong thành vẫn còn nhà cửa kiến trúc xưa chưa thành đồng ruộng như ngày nay
           Người xưa nói về phong thủy của mảnh đất này, đến nay đã trải qua trên 600 năm ngẫm lại không biết đúng hay sai….
          Hồ Quý Ly rất tâm đắc với mảnh đất này, cho là đắc địa, có thể xây nền đế nghiệp lâu dài, bởi sông Mã lớn như con rồng chầu phía Tây, sông Bưởi nhỏ hơn uốn lượn như con rắn cuộn phía Đông. Hai bên là sông, trước mặt sau lưng là núi, thế vững như vậy, đây hẳn là “mảnh đất long xà ẩm thủy, có thể ở được lục thập niên ký” (tức là trên dưới 60 năm).
           Khu mật chủ sự Nguyễn Nhữ Thuyết đã dâng thư can nhưng Quý Ly không nghe. Thư viết: “Ngày xưa, nhà Chu, nhà Ngụy dời kinh đô đều gặp điều chẳng lành. Nay đất Long Đỗ (tức Thăng Long) có núi Tản Viên, có sông Lô, Nhị, núi cao sông sâu, đất bằng phẳng rộng rãi. Từ xưa các bậc đế vương mở nền dựng nước, không đời nào không lấy đất ấy làm nơi sâu gốc bền rễ […]. Xin nghĩ lại điều đó, để làm thế vững vàng cho nhà nước. An Tôn đất đai chật hẹp, hẻo lánh, ở nơi đầu non cuối nước, hợp với loạn mà không hợp với trị” (Theo giải thích của TS Đỗ Quang Trọng, Trưởng ban quản lý di tích, sở dĩ gọi là “đầu non cuối nước” vì xuôi về phía Nam thì sông Mã và sông Bưởi có gặp nhau ở một điểm, cổng Bắc thành thì gối vào núi Thổ Tượng).
           Một giai thoại khác cho rằng từ cổng chính thành mở ra một con đường lát đá dài 2,5 km chạy thẳng về đàn tế Nam Giao, con đường này giống như mũi tên, mà núi Đún nơi đặt đàn tế thì uốn vòng như một cánh cung giương sẵn. Hai yếu tố này phối hợp, làm thành một thế cực độc về phong thủy: Tên bắn thẳng vào thành. Song nói chung kể cả nếu không phạm vào cái thế này thì thành nhà Hồ cũng khó vững, bởi như chính Hồ Hán Thương (con trai Hồ Quý Ly) đã nói, mảnh đất này tuy là thạch bàn long xà nhưng “thế đất xung quanh hãy còn non lắm, nên chỉ ở được lục niên kỷ (sáu năm) mà thôi”. Nhà Hồ đã tính lầm ngay từ khi dời đô về phủ Thanh Hóa.
           Triều Hồ thất bại. Có lẽ chỉ Nguyễn Trãi là giữ tấm lòng thương cảm với Hồ Quý Ly khi ông viết: “Họa phúc hữu môi phi nhất nhật/Anh hùng di hận kỷ thiên niên” (Họa phúc có manh mối không phải một ngày/Anh hùng để mối hận mấy ngàn năm sau).


 Thành nhà Hồ ngày nay bên trong là ruộng lúa, hào sâu xung quanh thành và cầu treo đã không còn nữa
 Cổng Bắc
 Bản đồ huyện Vĩnh Lộc
 Cổng Nam (Cổng chính)
 Thành Nhà Hồ chụp năm 1923


 Thành nhà Hồ Pháp chụp năm 1923 vẫn còn nhà ở và kiến trúc trong thành
 Ảnh Google map Toàn cảnh vfaf phong thủy thủy nhà Hồ
 Cổng Tây
 Tường thành


 Cổng Đông

ĐỊNH NGHĨA VỀ CHỒNG




Chồng là can rượu nếp đầy
Nhậu về quên đậy, mùi bay khắp nhà
Chồng là cái máy mát-xa
Chồng là tổ ấm, chồng là nắng xuân
Chồng là nghệ sỹ nhân dân
Chồng là một nửa những phần buồn vui
Chồng là bợm nhậu, bạn đời.
Chồng là thần tượng một đời thanh xuân
Chồng là ong thợ chuyên cần
Chồng là duyên nợ nửa phần đời ta
Chồng là trụ cột trong nhà
Chồng là chỗ dựa cho ta hàng ngày
Chồng là chú cuội trên mây
Lần nào về muộn cũng đầy lý do
Chồng là một chú ngựa ô
Là người lãng mạn thích bồ, yêu hoa
Chồng là cấp phó trong nhà
Chồng là vệ sỹ, chồng là xe ôm
Ra đường thích phở chê cơm
Về nhà chê phở không hơn cơm nhà
Chồng là bóng cả cây đa
Chồng là bảo mẫu, là cha con mình
Khi yêu vợ, nịnh: rất xinh
Khi giận lại bảo vợ mình “táo ta”
Con ngoan thì nhận công cha
Con hư lại bảo lỗi là mẹ cho
Đêm ngủ thở ngáy o o
Hút thuốc nhả khói như là nung vôi
Nhìn gái thì mắt sáng ngời
Nhìn vợ thì trợn con ngươi gờm gờm.
Chồng là giận, chồng là thương
Chồng là con nợ tiền lương tháng ngày
Chồng là rượu ngọt men say
Chồng là nỗi nhớ tháng ngày khó quên
Chồng là bảo vệ đêm đêm
Cho vợ được ngủ bình yên say nồng
Chồng là thỏ đế mềm lòng
Sợ vợ nổi giận, sợ dòng lệ rơi
Chồng là kho báu trên đời
Chồng là lãng tử, là người đa đoan
Chồng là chú học trò ngoan
Lỗi nào cũng nhận nhưng làm lại quên
Chồng là Phật, chồng là Tiên
Chồng là cái máy in tiền cho ta
Chồng là cái máy điều hoà
Chồng là con nghiện bỏ nhà lang thang
Khi tỉnh, gọi vợ nữ hoàng
Khi say đập ghế đập bàn nói mê
Chồng là con cháu ông Đề
Nếu không quản lý ra đê mà nằm
Yêu thì yêu, bụng vẫn căm
Hễ nghe có nhậu phăm phăm ra ngoài.
Chồng là con đỉa bám dai
Khuya rồi mà vẫn vật nài nỉ non
Chồng là gương sáng cho con
Chồng là đấu sỹ vàng son một thời
Chồng là hoàng tử con trời
Vì yêu nên mới làm người trần gian….
( St )

ĐỊNH NGHĨA VỀ VỢ



Vợ là người chẳng họ hàng
Thế mà giờ đẹp lại sang nhà mình
Ngày đầu trông thật là xinh
Môi tươi, mắt thắm đến đình cũng xiêu

Vợ là đáng nể, đáng yêu
“Kính Vợ đắc thọ” là điều nhắc nhau
Nhớ vòng chung kết toàn cầu
Nhì trời, nhất Vợ đứng đầu bảng A

Vợ là mẹ các con ta
Thường kêu “Bà xã”, hiệu là “Phu nhân”
Vợ là tổng hợp : Bạn thân,
Thủ trưởng, bảo mẫu, tình nhân, mẹ hiền.

Vợ là ngân khố, kho tiền
Gửi vào nhanh, gọn- rất phiền rút ra
Vợ là Vua các loài hoa
Toả hương thơm ngát, đậm đà, ngất ngây

Vợ là quả ớt chín cây
Đỏ tươi ngoài vỏ nhưng cay trong lòng
Vợ là một đoá hoa hồng
Vợ là Sư tử Hà Đông trong nhà

Khi vui nàng đẹp như hoa
Đến khi tức giận cả nhà thất kinh
Khi chiến tranh, lúc hoà bình
Vợ là thám tử luôn rình rập ta

Vợ là một vị quan toà
Thăng đường xử án toàn là án treo
Vợ là rượu ngọt tình yêu
Không uống thì khát, uống nhiều thì say

Vợ là thùng thuốc súng đầy
Cơn ghen ập đến nổ bay trần nhà
Vợ là nắng gắt, mưa sa
Vợ là giông tố, phong ba, bão bùng

Nhiều người nhờ Vợ lên ông
Nhiều anh vì Vợ mất không cơ đồ
Vợ là cả những vần thơ
Vợ như là những giấc mơ vơi đầy

Vợ là một chất men say
Là nước hoa ngoại làm ngây ngất lòng
Vợ là một áng mây hồng
Vợ là hoa hậu để chồng mê say

Vợ là khối óc, bàn tay
Vợ là bác sỹ tháng ngày chăm ta
Vợ là nụ, Vợ là hoa
Vợ là chồi biếc, Vợ là mùa xuân

Vợ là tín dụng nhân dân
Vợ là kế toán giải ngân trong nhà
Vợ là âm nhạc, thi ca
Vợ là cô giáo, Vợ là luật sư

Cả gan đấu khẩu Vợ ư ?
Cá không ăn muối coi như đời mờ
Vợ là điểm hẹn, bến chờ
Không Vợ đố biết cậy nhờ tay ai

Vợ là phúc, thọ, lộc, tài
Chồng ngoan chăm chỉ nộp bài Vợ khen
Vợ là tổng quản, Thanh Thiên
Vợ là khoá sắt, xích xiềng cột chân

Vợ là dòng suối mùa xuân
Ngọt ngào, xanh mát, trong ngần, yêu thương
Vợ là két sắt, tủ tường
Muốn mở phải nhả lời thương ngọc ngà

Vợ là một đôi thùng loa
Mỗi khi chập mạch cả nhà nổi giông
Âm thanh tựa sư tử gầm
Cha, con lấm lét mà không dám cười

Vợ còn xếp trước cả Trời
Vợ là duyên, nợ cả đời của ta
Vợ là biển rộng bao la
Vợ là hương lúa đậm đà tình quê

Vợ là gió mát trưa hè
Vợ là hơi ấm thổi về đêm đông
Vợ là chỗ dựa của Chồng
Nhiều anh dám bảo “Vợ không là gì !”

Khoan khoan hãy tỉnh rượu đi
Vợ quan trọng lắm chẳng gì sánh đâu
Việc nhà Vợ có công đầu
Nấu cơm, đi chợ, nhặt rau, pha trà

Vợ là máy giặt trong nhà
Vợ là cassette, Vợ là ti vi
Nhiều đêm Vợ hát Chồng nghe
Lời ru xưa lại vọng về quanh ta

Vợ là làn điệu dân ca
Vợ là bà chủ, Vợ là Ô-sin
Vợ là cái máy đếm tiền
Vợ là nội lực làm nên cơ đồ

Vợ là thủ quĩ, thủ kho
Vợ là hạnh phúc, ấm no trong nhà
Vợ là vũ trụ bao la
Nhiều điều bí ẩn mà ta chưa tường

Khi nào giận, lúc nào thương
Sớm mưa, chiều nắng chẳng lường được đâu
Vợ là một khúc sông sâu
Vợ như là cả một bầu trời xanh

Vợ là khúc nhạc tâm tình
Vợ là cây trúc bên đình làm duyên
Vợ là cô Tấm thảo hiền
Vợ là cô Cám hám tiền, ham chơi

Vợ là con Vẹt lắm lời
Thích đem so sánh Chồng người, Chồng ta
Vợ là bến đỗ, sân ga
Vợ là tổ ấm cho ta đi về

Vợ là “Khúc hát sông quê”
Nốt thương, nốt nhớ tràn về đầy, vơi
Vợ là đồ cổ lâu đời
Ai mua chẳng bán tứ thời nâng niu

Vợ là cảnh sát hạng siêu
Răn đe, truy sát sớm, chiều, nơi nơi
Vợ là con Phật, cháu Trời
Rẽ mây giáng xuống làm người trần gian.
(St)