XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2016

NGHIÊN CỨU SỰ NGHIỆP VUA QUANG TRUNG

Vua Quang Trung
Nguyễn Ngọc Lanh
Khi tiếp cận Lịch Sử nước nhà, dù là để nhận thức, tìm tòi hay phát biểu, tôi nhận ra ai cũng thể hiện tình cảm và lý trí trong tư duy. Phần tôi, có cả hai, nhưng nghiêng về tình cảm hơn là lý trí. Chính vì vậy, tôi rất ưa đọc, ưa phát biểu về những bài loại này.
Một bài tôi đọc nhiều, trong đó tác giả HUỆ VŨ thể hiện tình cảm cao cả và thắm thiết hiếm thấy với đức vua Quang Trung. Khâm phục, tự hào, thương cảm, nuối tiếc… đủ cả, đối với vị vua anh hùng. Bài thu hút sự bàn luận đầy hào hứng của đông đảo người đọc, tưởng không dứt. Nếu không có lòng yêu nước vô bờ bến, tác giả Huệ Vũ không thể có bài viết này. Tuy nhiên, tình cảm yêu ghét cũng rạch ròi, không cần che dấu. Yêu nước, yêu vua Quang Trung bao nhiêu, tác giả phê phán Gia Long bấy nhiêu. Tóm lại, bài viết tìm được sự đồng cảm của nhiều người, được đăng lại ở nhiều địa chỉ. Sự lan tỏa hẳn là sẽ còn tiếp tục. 
Ca ngợi Quang Trung, tác giả có rất nhiều suy luận ưu ái với vị vua về tài thao lược, cũng như đức độ, hoài bão và tầm nhìn – nếu đức vua không mất sớm – thì sự nghiệp của Người còn gấp chục, trăm, hoặc ngàn lần như ta thấy hôm nay. 
Xin đưa nguyên văn bài của tác giả HUỆ VŨ để mọi người cùng thưởng thức.
Chú thích. Đối lập lại, là một bài nặng về lý trí, thậm chí thuần lý trí.
Điều dễ hiểu, tác giả là người ngoại quốc, George Dutton, tự bản thân không yêu, không ghét vua ta, khi viết bài chỉ nhằm một mục tiêu: Thuyết phục một hội đồng khoa học của trường đại học California (Los Angeles: UCLA) được thành lập để chấm luận án tiến sĩ cho ông. Luận án được thông qua, ông tiếp tục phát triển công trình, in thành sách. Bản thân ông trở thành Phó Giáo sư (Assistant Professor) dạy ở khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Á châu, đồng thời là Giám đốc Chương trình Liên khoa Ðông Nam Á học của trường đại học này.
Bạn đọc nào thấy thú vị có thể tìm đọc ở Nghiencuulichsu, tại địa chỉ:
https://nghiencuulichsu.com/2012/10/01/xem-xet-lai-thoi-tay-son/
Xin nhắc lại, đây là bài thuần lý trí, khác hẳn bài của Huệ Vũ và vô số bài khác ở nước ta, vốn đầy ắp tình cảm với đức vua Quang Trung.  
Nguyễn Ngọc Lanh

Nếu vua Quang Trung không mất sớm

Sau chiến thắng mùa xuân Kỷ Dậu, vua Quang Trung nỗ lực xây dựng đất nước. Dù chỉ tại vị có 4 năm ngắn ngủi, nhưng vua đã chứng tỏ ngài không phải chỉ là một nhà quân sự lỗi lạc nhất trong lịch sử mà còn là một nhà chính trị xuất sắc nhất, với hùng tâm mở một kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt.
Về chính trị, ngài chia đổi Thăng Long thành Bắc thành, chia miền Trung châu Bắc hà thành 7 trấn là: Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ, Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải Dương, Phụng Thiên, Thanh Hóa ngoại. Miền sơn cuớc chia thành 7 trấn: Lạng Sơn, Hưng Hóa, Thái Nguyên, Yên Quảng, Lạng Sơn, Cao Bằng và Tuyên Quang. Ngài tính dời đô từ Phú xuân ra Nghệ an và nhờ La Sơn phu tử xây kinh đô ở đây gọi là Phượng Hoàng Trung Ðô. Ngài chấn chỉnh lại thuế khóa, khuyến khích việc gia tăng sản xuất. Ðến năm Quang Trung thứ tư, đời sống của người dân mười phần khổ cực trước đây đã bớt đến năm sáu. Ngài đã tích cực kêu gọi nhân tài Bắc hà ra giúp nước. Ðối với La Sơn phu tử, ngài không đích thân đến cầu, nhưng mấy bận viết thư với những lời lẽ chí thành, và cuối cùng nhà Nho tên tuổi đứng đầu đất Bắc này đã nhận lời đứng xây Phượng Hoàng Trung Ðô cho ngài.
Về văn hóa, ngài cho mở trường học khắp các thôn xã. Những nơi nào không thể mở trường học thì mượn đình chùa làm nơi dạy dỗ. Vua Quang Trung là ông vua Việt nam đầu tiên đã có sáng kiến áp dụng một nền giáo dục phổ thông cho dân chúng. Và ngài cũng là vị vua đầu tiên đã thực hiện một cuộc cách mạng dân tộc là dùng chữ Nôm trong tất cả các chiếu biểu, văn thư hành chánh. Giám mục Bá Ða Lộc đã ra sức giúp Nguyễn Phúc Ánh để mong được tự do truyền đạo sau này, thì những nhà truyền giáo và giáo dân dưới thời nhà Nguyễn sau này bị nạn “Sát Tả” bức hại đến khủng khiếp, nhưng dưới thời Quang Trung, thì nhà vua đã thực hiện một nền bình đẳng và tự do tôn giáo. Những nhà truyền giáo ở đất Bắc trong thời Quang Trung như giáo sĩ Le Roy trong thư gửi cho Bladin ngày 18-7-1793, đã không hết lời khen ngợi sự tiến bộ trong công việc truyền đạo dưới chế độ Tây Sơn.
Về quân sự, quân lực Tây Sơn gồm 5 quân căn bản là: Tiền, Hậu, Trung, Tả, Hữu và những đội quân đặc biệt dùng như lực lượng trừ bị là: Tả bật, Hữu bật, Ngũ chế, Kiến thành, Thiên cán, Thiên trường, Thiên sánh, Hổ bôn, Hổ hầu, Thị Lân, Thị Loan. Ở các phủ huyện, có quân đội địa phương gồm có Ðạo, Cơ, Ðội. Quân chủ lực của Tây Sơn bấy giờ cứ 5 người mới có một cây súng trường, nhưng thiện dụng hỏa hổ, và gan dạ phi thường. Vì chuẩn bị đánh nhau với nhà Thanh sau này, ngài thu đố đồng trong nước để đúc đồ binh khí.
Về ngoại giao, thời đại Quang Trung là thời đại ngoại giao vàng son nhất lịch sử chúng ta. Từ xưa chưa có một vị vua nào tỏ vẻ lấn áp Trung hoa như vua Quang Trung. Trước hết, ngài đã không chịu thân hành đi đón sắc phong của vua Càn Long, hủy bỏ tục cống người vàng hằng năm cho Tàu để đền mạng Liễu Thăng đã có kể từ thời vua Lê Thái tổ. Và cuối cùng cử sứ bộ sang Tàu đòi hai hai tỉnh Quảng Ðông và Quảng Tây, cũng như xin cưới công chúa nhà Thanh. Ðòi hỏi của vua Quang Trung đúng là sự khiêu khích đối với Càn Long, là một ông vua cao ngạo và anh minh vào bậc nhất đời nhà Thanh. Tuy nhiên, khiếp uy Quang Trung, Càn Long đã phải chấp nhận để tỉnh Quảng Tây cho vua đóng đô và chọn ngày đưa công chúa Thanh qua Việt nam.
Ðau đớn thay, trong khi nhà Thanh chuẩn bị đáp ứng những đòi hỏi của Việt nam thì vua Quang Trung lại sớm ra đi. Vũ Văn Dũng cầm đầu phái bộ ở Bắc kinh lúc bấy giờ khi nghe tin vua mất đã ngã ra chết giấc, và sau đó có làm bài thơ khóc vua như sau:
Bố y phấn tích ngũ niên trung
Kim cổ thi vi sự bất đồng
Thiên vị ngô hoàng tăng nhất kỷ
Bất ư Ðường, Tống thuyết anh hùng
Anh Hợp dịch:
Năm năm dấy nghiệp tự thôn nông
Thời trước, thời sau khó sánh cùng
Trời để vua ta thêm chục tuổi
Anh hào Ðường, Tống hết khoe hùng.
Lịch sử không thể nói hết những nét phi thường của vua Quang Trung. Ngài là một vị tướng bách thắng. từ lúc cầm quân đánh Phú yên cho đến lúc mất chưa bao giờ biết nếm mùi thất bại. Ngài là một nhà chính trị tài ba chứng tỏ sau bốn năm xây dựng Bắc hà qua các chính sách kinh tế, văn hóa, giáo dục. Nhưng tình hình Nam kỳ, cũng như chính sách của nhà Tây Sơn đối với Mãn Thanh lúc bấy giờ, đã có hai quan điểm khác nhau đối với tương lai của Việt nam nếu ngài còn sống thêm một kỷ nữa.
Quan điểm thứ nhất cho rằng, với tài năng phi thường của vua Quang Trung, ngài còn sống thêm lãnh thổ Việt nam đã thay đổi, tình hình chính trị ở Á châu cũng hoàn toàn thay đổi bộ mặt và vua Quang Trung có thêm cơ hội để chứng tỏ thêm sự phi thường tột bực của ngài. Quan điểm thứ hai đặt ra nhiều nghi ngờ là có thể nhà Tây Sơn lưỡng đầu thọ địch và tình trạng cũng khó biết đi về đâu.
Trong lúc Quang Trung cả phá quân Thanh, thì lúc bấy giờ ở miền Nam, Nguyễn Phúc Ánh tấn công thành Gia định, và trong khi ở Thăng long vua Quang Trung bắt tay bình định đất Bắc, thì cũng trong mùa xuân Kỷ Dậu (1789), Phúc Ánh đánh bại Phạm Văn Tham, và chiếm trọn đất Nam kỳ.
Từ năm 1789 đến năm 1792, trong khi ở Bắc vua Quang Trung củng cố lực lượng để chuẩn bị đánh Tàu thì ở trong Nam, Nguyễn Phúc Ánh cũng tích cực xây dựng lực lượng để tiến ra Trung. Trong khi Quang Trung chuẩn bị mười năm để đánh Tàu, thì ở trong Nam, Nguyễn Phúc Ánh cũng dự định một thời gian 13 năm để Bắc phạt.
Ðầu năm 1789, Nguyễn Phúc Ánh chiếm Gia định thì trong năm đó, Hoàng tử Cảnh và Giám mục Bá Ða Lộc trở về, mang theo khoảng 300 tay phiêu lưu người Pháp, tàu chiến và dụng cụ quân sự. Những người Pháp góp công rất lớn cho Nguyễn Ánh có nhiều người được phong tước hầu như Jean Marie Dayot chỉ huy tàu Nhị Chích là Trí Lược hầu, Julien Girard được phong là Long Hưng hầu, Guillaume Gouilloux được phong là Oai Dũng hầu, De Forcant lấy tên Việt là Nguyễn Văn Lăng được phong là Lăng Ðức hầu, Jean Baptist Chaigneau lấy tên Việt là Nguyễn Văn Thắng được phong là Toàn Thắng hầu. Với sự giúp đỡ của những người Pháp do Giám mục Bá Ða Lộc mang tới, Nguyễn Phúc Ánh xây dựng lực lượng quân sự, huấn luyện binh sĩ theo kỹ thuật Âu châu, đóng thêm tàu chiến, xây dựng thành trì. Olivier Puymanuel là người đã xây dựng thành Gia định, và nhất là sau này đã xây thành Diên khánh kiên cố, nhờ đó mà Hoàng tử Cảnh có thể chịu nổi sức tấn công của Trần Quang Diệu. Trong số người Pháp giúp chúa Nguyễn, Théodore Lebrun và Olivier đã trở thành hai nhà ngoại giao. Họ đã đi sang Macao, Manila, Nam dương, Tân gia ba mua thêm súng ống đạn dược cho Gia định. Chỉ trong năm 1791, Nguyễn Phúc Ánh đã mua của một thương gia Bồ Ðào Nha một vạn súng điểu thương, 2000 cỗ súng gang (mỗi cỗ nặng 100 cân Anh), 2000 viên đạn nổ lớn (mỗi viên đường kính 10 tấc). Ðại bác của Nguyễn Phúc Ánh lúc bấy giờ tân tiến hơn đại bác của Tây Sơn rất nhiều, súng được đặt lên xe đẩy, bắn xa và chính xác hơn. Nguyễn Phúc Ánh cũng đã tích cực phát triển hải quân, lập xưởng thủy sư từ bờ sông Tân bình đến bờ sông Bình Trị dài trên 3 dặm lo việc đóng tàu.
Chỉ trong 2 năm xây dựng sức mạnh ở Nam kỳ, năm 1790, Nguyễn Phúc Ánh đã bắt đầu thử lửa với Tây Sơn. Tháng 4 năm này, Nguyễn Phúc Ánh sai Lê Văn Quân, Nguyễn Văn Thành, Võ Tánh đem quân đánh Phan rí, Bình thuận. Dù chiếm được hai nơi này, nhưng khi Tây sơn đem binh vào tái chiếm, Lê Văn Quân không giữ được, sau xấu hổ tự tử. Cuộc ra quân năm 1790 của Nguyễn Ánh, dù thua trận nhưng cũng chứng tỏ miền Nam không còn chỉ là nơi mong lo thế tự phòng.
Vào năm Nhâm Tý, Nguyễn Phúc Ánh và chư tướng đã bàn kế hoạch tấn công Tây Sơn, là hàng năm cứ vào mùa gió nồm, mang quân ra quấy phá. Tháng 6 năm 1792, một tháng trước khi vua Quang Trung mất, Nguyễn Phúc Ánh đã mang một lực lượng hải quân hùng hậu ra tấn công Thị nại. Cuộc tấn công của quân Nam vào cửa Thị nại gồm đủ mặt các tướng cừ khôi của hải quân Nam kỳ: Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Văn Thành, Dayot, Vannier, De Redon, D’Auray, Olivier de Carpentras.
Cuộc tấn công Thị Nại của quân Nam đã thành công rất dễ dàng. Chỉ trong giây lát, thuyền Nam quân đã xông hết vào quân cảng, đốt sạch doanh trại, thuyền bè Tây Sơn, chỉ để lại 5 chiến hạm và 20 chiếc thuyền có tay chèo, thu làm chiến lợi phẩm. Trận thủy chiến Thị nại năm 1792, nhiều tướng lãnh nhà Nguyễn cũng như các sĩ quan Pháp về sau cho rằng, nếu Nguyễn vương không có tâm trạng còn quá e sợ quân Tây Sơn, lúc bấy giờ đổ bộ lên Qui nhơn, thì trong lúc bất ngờ đó có thể chiếm được thành này và bắt được vua Thái Ðức.
Sự thành công của chiến trận Thị nại trong tháng 6-1792 của quân Nam đã chứng tỏ họ đã gây được sự lo âu cho Quang Trung. Khi sắp mất, ngài đã phải căn dặn Trần Quang Diệu: “Ta mở mang bờ cõi khai thác đất đai, có cả cõi Nam này. Nay đau ốm tất không dậy được. Thái tử tư chất hơi cao, nhưng tuổi còn nhỏ. Ngoài có quân Gia định Nguyễn Ánh là quốc thù, mà Thái Ðức thì tuổi già ham dật lạc, cầu yên tạm bợ, không toan tính cái lo về sau. Khi ta chết rồi trong một tháng phải lo chôn cất, việc tang làm lạo thạo mà thôi. Lũ ngươi nên hợp sức giúp thái tử sớm thiên về Vĩnh đô để khống chế thiên hạ. Bằng chẳng, quân Gia định kéo đến thì các ngươi không có chỗ chôn đâu” (Quang Trung Nguyễn Huệ, Bùi Tiên Khôi). Lời dặn của vua Quang Trung đã không được tướng tá Tây Sơn tuân theo, lại đưa đến những cuộc tranh giành quyền lực khuynh loát lẫn nhau.
Việc Võ Văn Dũng giết Ngô Văn Sở, Bùi Ðắc Tuyên đã làm cho Trần quang Diệu phải rút quân đang vây Diên khánh và Lê Trung trong lúc đuổi quân Nam của Nguyễn Hoàng Ðức đến tận Bà rịa cũng phải rút lui đã bỏ mất cái thế của Tây Sơn trong năm 1795. Kế đó Cảnh Thịnh đã để cây cột chống trời của Tây sơn là Trần Quang Diệu ngồi chơi xơi nước một thời gian dài. Rồi đến năm 1798, vua Cảnh Thịnh nghe lời dèm siểm giết mất Lê Trung, làm rể Lê Trung là Lê Chất phải hàng Gia định, và sau đó là Nguyễn văn Huấn lại bị lời dèm siểm của Hồ Công Diệu để bị tử hình, Cảnh Thịnh đã tự chặt mất tay chân của mình, làm nhân tâm ly tán đem thêm cơ hội thành công cho chúa Nguyễn.
Không ai không đồng ý là nếu sau khi vua Quang Trung mất, ông có một thái tử lớn tuổi, không chỉ mới lên 10 như Nguyễn Quang Toản, nội bộ Tây Sơn ổn định, thì chúa Nguyễn cũng không dễ thống nhất đất nước vào năm 1801 mà so với sức mạnh của hai bên thời bấy giờ, có thể tình trạng Nam – Bắc sẽ kéo dài rất lâu.
Lịch sử cũng đồng ý với tài điều binh khiển tướng thần sầu khấp qủy của vua Quang Trung, nếu ngài không mất sớm Nguyễn Phúc Ánh dù có mua được bao nhiêu chiến cụ tối tân của Âu châu cũng không thể ngóc đầu lên nổi.
Chiến lược của Nguyễn Phúc Ánh đối với Tây Sơn không phải chỉ mong ở sự trang bị cho quân đội bằng vũ khí Tây phương mà vận dụng những quốc gia lân bang tiếp tay cho mình. Suốt quá trình “phục quốc” của Nguyễn Phúc Ánh là cầu viện ngoại bang. Liên minh Nguyễn Phúc Ánh và Xiêm La là một liên minh rất chặt chẽ. Một thứ thế ỷ dốc để dựa vào nhau. Năm Quý Sửu 1793, trong lúc Nguyễn vương đánh Qui nhơn, vua Xiêm và đại tướng Chất Tri đã đem 5 vạn quân xuống Nam vang, 500 chiến thuyền đến Hà tiên, sai sứ giả mang thư đến Nguyễn Phúc Ánh cho biết sẵn sàng theo quân Gia định bắc chinh. vì chúa Nguyễn lúc bấy giờ đã rút quân về nên quân Xiêm La mới rút về nước. Trong năm 1794, Xiêm La đã hẹn ngày cùng chúa Nguyễn cất quân đánh Phú xuân, quân Xiêm sẽ đi đường bộ đánh mặt sau của Phú xuân, còn quân Nguyễn thì đánh mặt trước. Tháng 12-1794, Phúc Ánh đã sai sứ sang Xiêm dục động binh, nhưng vì bấy giờ xiêm bị Miến xâm lăng nên lại phải nhờ chúa Nguyễn giúp đỡ. Chúa sai Nguyễn Huỳnh Ðức, Nguyễn Văn Trương đem quân giúp cho Xiêm.
Liên minh để tấn công Tây Sơn không phải chỉ có Xiêm La, mà cả Chân Lạp và Lào. Trong năm 1791, vì Ai Lao không chịu tiến cống, vua Quang Trung đã sai Trần Quang Diệu đem quân sang Vạn Tượng, thu hết tài vật của Vạn Tượng đem về, nên Vạn tượng đã thù Tây Sơn và sau này Vạn tượng đã đem binh đánh Nghệ an, giúp Nguyễn Phúc Ánh.
Nguyễn Phúc Ánh trong nỗ lực đánh bại Tây Sơn đã không phải chỉ nhò sự giúp đỡ của người Pháp, liên kết với Xiêm La, chân Lạp, Ai Lao, mà đối với nhà Mãn Thanh cũng đã coi như một nơi có thể nhờ cậy. Trong thời gian quân Thanh xuống Bắc hà, Gia Ðịnh phái Phan Văn Trọng và Lâm Ðề mang 50 vạn cân gạo ra Bắc để tiếp quân lương cho Mãn Thanh, và dâng thơ cho Tôn Sĩ Nghị, nhưng thuyền đi đường bị gió bão đánh đắm.
Hy vọng đối với Mãn Thanh của chúa Nguyễn tiêu tan khi 20 vạn quân Thanh bị đánh tan trong 7 ngày, và sau đó vua Càn Long lại sắc phong cho vua Quang Trung. Tuy nhiên, Gia Ðịnh vẫn đặt hy vọng này. Sớ của Nguyễn Văn Thành và Ðặng Trần Thường dâng lên chúa Nguyễn đã nói lên điều này: “Hiện ta với Tây Sơn đối địch, không thể không dùng ngoại giao để cầu viện. Nhà Thanh từ khi bị Tây Sơn đánh bại, chắc cũng căm hờn để chờ cơ hội. Nay vua Gia Khánh nối ngôi, buổi đầu đang hăng hái, không phải cái khí tượng đời Càn Long nữa. Nhà Thanh vốn lo giặc biển chưa có cách khống chế, đã bảo Tây Sơn tìm bắt, nhưng nó lơ đi. Vậy nhà Thanh không chỉ giận giặc biển mà giận đến Tây Sơn nữa. Vả lại, nam bắc xa xôi, nhà Thanh tưởng đâu Tây Sơn đã chiếm cả bờ cõi Nam Việt, không ai đối đãi nổi, nên vẫn chưa định ngày xuất quân, hoặc giả đó là một cớ. Từ khi quân ta thắng trận ở Ðà nẵng, bắt được nhiều tàu giặc ô biển. Bọn thần đề nghị soạn một bài biểu, lấy mấy thuyền tàu ô đem dâng, ắt vua Thanh phải khen, nhận. Nếu nhân đó đến được chầu tận nơi, thì ta sẽ biện bạch phải trái. Một là nói rõ Tây Sơn xưng thần ở Trung quốc mà xưng đế ở ngoài, đập vào chỗ kỵ của họ mà gây hiềm khích…”
Trong năm 1798, quân Nguyễn so với Tây Sơn cũng không còn sút kém, thế nhưng họ vẫn muốn được liên kết với nhà Thanh để hai mặt đánh Tây Sơn. Ðiều này làm nhiều người cho rằng, nếu vua Quang Trung còn, cuộc chiến giữa Tây Sơn và Mãn Thanh xảy ra, quân chúa Nguyễn sẽ đánh đàng trong, quân Thanh đánh mặt Bắc, hải quân nhà Thanh và chúa Nguyễn tấn công mặt đông, liên quân Xiêm La – Chân Lạp – Vạn Tượng đánh phía tây sẽ dồn Tây Sơn vào thế bốn bề thọ địch, thì chưa có thể dám kết luận vua Quang Trung sẽ có thể phá vỡ thế tấn công đó.
Sự việc hẳn không thể như vậy. Theo một tài liệu của giáo sĩ Cadière thì giáo sĩ Le Labousse đã có viết: “Vào tháng 2 năm 1792, trước ngày chúng tôi rời bỏ các con chiên và cũng để tránh kẻ địch, họ kéo tới vài chục ngàn quân do đường Lào và đàng hoàng tiến vào Cao Miên. Người Miên cũng tính theo họ, mà về phần Nguyễn Huệ sẽ cùng hải quân ập vào các cửa bể miền Nam để chặn đường rút lui của chúa Nguyễn. Nếu dự định này được thi hành, thì nhà vua cùng chúng tôi chỉ chờ chết. Nhưng nhờ ơn trên, việc này không thấy thi hành nên chúng tôi thoát được cơn giông tố nguy hiểm ấy, hoặc do Tây Sơn e ngại các chiến hạm của người Âu châu đang đóng đầy các cửa sông Sài Côn do việc buôn bán, hoặc vì hai đạo quân của vua Xiêm La cho qua đã ngăn chúng lại ở Cao Mên”. Lá thư của Le Labousse và lời trối trăn của vua với Trần Quang Diệu trước phút lâm chung, cho thấy vua Quang Trung không thể là một người không chuẩn bị để khi có can qua với Thanh đình, thì quân Tây Sơn phải đương cự cùng lúc bốn mặt giáp công hay lưỡng bề thọ địch.
Sau khi thắng Mãn Thanh, Ngô Thì Nhậm đã thảo một bức thư nhờ Thang Hùng Nghiệp, tổng đốc Quảng Tây dâng lên vua Càn Long lời lẽ vô cùng nhún nhường:
“…Tôi là Nguyễn Quang Bình ở khuất nẻo bên An nam, bấy lâu vẫn được tắm gội trong thánh giáo…
Tôi ở hẻo lánh tận tít chân trời, đường sá xa xôi, núi sông cách trở, chẳng hay việc đó có hẳn do ý hoàng đế sai làm hay do Tôn Sĩ Nghị vì một người đàn bà xui khiến, rồi mang kiêu hãnh lập công ở biên thùy để hòng kiếm lợi lớn?
Hay tin có binh mã thượng quốc ra khỏi cửa ải, tôi nghĩ: tấc lòng sợ mạng trời, phục nước lớn của mình bấy lâu nay đã bị kẻ khổn thần ngăn trở mà cái cớ Duy Kỳ trốn bỏ nước kia lại bị che lấp không thông đạt lên được, sau này mối binh tranh hùng xảy ra thì tai hại xảy ra không phải là ít!
…châu chấu đá xe, tôi thật lòng không dám, song cửa vua xa cách muôn dặm, hễ tôi nhúc nhích điều gì thì bị kẻ khổn thần hiếp đáp không sao chịu nổi, nhưng hình tích mới dường như chống cự…
… Nép nghĩ Hoàng đế là bậc theo ý trời ban nghị hoà, làm cho cành khô được xanh tươi, cây kiệt lại nẩy nở. Xin ngài lựa theo tự nhiên, thứ cho cái tội đón đánh Sĩ Nghị, và xét cho tấc thành mấy phen đã đi gõ cửa ải…”
(Hoa Bằng, Quang Trung Nguyễn Huệ)
Lá thư của vua Quang Trung gởi vua Càn Long nói trên cho thấy vua Quang Trung rất biết người biết mình, biết chưa đủ sức chống lại đợt trả thù định huy động đến năm chục vạn binh 9 tỉnh miền Nam của Mãn Thanh, phải nhún nhường qua ải.
Sau khi Càn Long hủy bỏ quyết định huy động quân dân 9 tỉnh miền Nam Trung quốc Nam chinh, thì vua Quang Trung mới bắt đầu chứng tỏ sự độc lập của mình. Những gì nhà vua làm sau đó, đều có tính toán vì thăm dò được phản ứng của triều đình nhà Mãn. Vì thế, những đòi hỏi của vua Quang Trung như đòi Lưỡng Quảng, thì cũng gần như được thoả mãn một nửa. Vua Quang Trung có thể nuôi hùng tâm sẽ tấn công nước Tàu, vì Nữ Chân cũng là một nước nhỏ mà có thể vào làm vua Trung quốc. Và hơn nữa, bấy giờ những nghĩa sĩ Trung quốc, nhất là miền Nam Trung hoa đã có những phong trào kháng Thanh nổi lên rất mạnh.
Theo dự trù phải 10 năm, vua Quang Trung mới có thể thực hiện giấc mộng vĩ đại của mình. Tình trạng bang giao giữa hai nước cho đến năm 1792, coi như vẫn hoàn toàn thuận lợi cho Tây Sơn. Nếu ông còn sống, thu nạp công chúa con vua Càn Long, thì áp lực mặt Bắc lại có thể vì đó mà không còn phải lo lắng nữa, nếu như Quang Trung không khiêu khích thêm, và buộc Mãn Thanh phải phản ứng.
Hẳn vua Quang Trung sẽ không khiêu khích Bắc Kinh khi sứ bộ Võ Văn Dũng đã đạt những đòi hỏi. Và năm 1792, sau khi Thị nại bị tấn công là lúc Quang Trung chuẩn bị diệt mối lo nằm sau lưng. Lá thư của Le Labousse, sự lo âu của Nguyễn Phúc Ánh bày tỏ với sứ thần Xiêm La: “Rất có thể Huệ đem quân vượt qua đường Lào và Cao Mên để đánh miền Nam, thủy quân của Huệ cũng sẽ lần theo hải đạo đến Côn Lôn và hoạt động tại Xiêm La, Hà tiên, tới chiếm đóng Long xuyên, Kiên giang rồi hợp với bộ binh ở Sài Côn…” và cũng như mối lo của ngài bày tỏ với Trần Quang Diệu lúc lâm chung, cho thấy Quang Trung không khinh thường lực lượng Gia Ðịnh. Như vậy, nếu có thực hiện cuộc Bắc phạt đánh nhà Thanh, ngài phải diệt gọn lực lượng của Nguyễn Phúc Ánh trước đã. Diệt xong Nguyễn Phúc Ánh, những nước như Xiêm La, Cao Miên, Vạn Tượng không còn là mối lo đối với Tây Sơn, mà biết đâu họ lại là những nước lại xoay sang liên kết với Việt nam để ngó lên miền Bắc.
Ngài đã mất sớm. Khổng Minh mất, Tư Mã Ý được thời đắc chí là tình trạng bấy giờ. Ngài mất đất nước ta đã mất một cơ hội. Nước Tàu sau khi Càn Long mất đã đi vào con đường suy thoái. Một nước Việt dù nhỏ, nhưng có một nhà vua hùng tài đại lược như vua Quang Trung, vận nước đã xoay chuyển những bước xoay khó mà tưởng tượng.
Quang Trung mất trong năm 1792 là cơ may, là thời trời cho Nguyễn Phúc Ánh, và có lẽ cũng là vận mệnh bắt dân Việt nam phải chịu 80 năm đô hộ… Dân tộc phải chịu đựng đau buồn, không thể sánh vai cùng các nước Á châu, mà trước đây so với Việt nam họ còn lạc hậu hơn nhiều.
HUỆ VŨ 

Bộ tranh “Bình Định An Nam chiến đồ”

binh dinh an nam chien do 1

Góp thêm tư liệu mới về quan hệ chiến sự và ngoại giao Việt – Thanh thời Tây Sơn : Bộ tranh “Bình Định An Nam chiến đồ” có thơ đề vịnh bằng ngự bút của vua Càn Long

Nguyễn Quốc Vinh *
Việt Nam học – Kỷ yếu Hội thảo quốc tế lần thứ nhất, Hà Nội (15-17/7/1998)
1. Giới thiệu.
Để chuẩn bị kỷ niệm 210 năm ngày vua Quang Trung đại phá quân Thanh, chúng tôi xin phép được dành bài tham luận của mình để giới thiệu một nguồn tư liệu mới từ nước ngoài, khá đặc biệt và lý thú về quan hệ chiến sự và ngoại giao Việt – Thanh thời Tây Sơn vào cuối thế kỷ XVIII: đó là bộ tranh “Bình Định An Nam chiến đồ” có thơ đề vịnh bằng ngự bút của vua Càn Long. Như sẽ trình bày cụ thể hơn ở dưới, bộ tranh này có tính thời sự và sử liệu khá lớn vì được làm và đề vịnh vào tháng 8 năm Kỷ Dậu (1789), tức là chỉ tám tháng sau khi chiến sự Việt – Thanh kết thúc với chiến dịch Ngọc Hồi – Đống Đa vào tháng giêng, và ngay sau khi sứ bộ Nguyễn Quang Hiển sang bệ kiến và cầu hòa với vua Càn Long vào tháng 7 cùng năm.
Đặc biệt hơn là bộ tranh lại có thơ đề vịnh do chính vua Càn Long ngự chế và ngự bút, mà theo như sử sách và thư tịch còn chép lại thì Càn Long chỉ bỏ công ngự chế và ngự bút văn thơ cho một số ít các võ công hiển hách nhất trong triều đại của mình, qua đó cho thấy tầm quan trọng của chiến sự và ngoại giao của triều Thanh đối với Việt Nam, khi ấy vẫn còn được gọi là “An Nam”, đã khiến vị hoàng đế vẫn thường tự cao tự đại này phải tốn ít nhiều bút mực chống chế cho thất bại chiến sự bằng cách vớt vát thể diện với thành công ngoại giao khi triều Tây Sơn ngỏ ý cầu hòa.
Theo thu thập sơ bộ của chúng tôi thì vua Càn Long có sáng tác ít ra là trên 20 bài thơ, văn và ký sự (còn không kể đến các chỉ dụ mà có lẽ do đình thần chứ không phải nhà vua làm) về các sự kiện ở Việt Nam thời cuối Lê và Tây Sơn. Đây là một số lượng đáng kể, nhưng rất tiếc là phần lớn vẫn còn chưa được công bố và giới thiệu với giới nghiên cứu Việt Nam ngoài những chút gì đã được Quốc Sử Quán triều Nguyễn chép lại trong quyển 30 về “Ngụy Tây liệt truyện” trong sách Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập. Dĩ nhiên các tư liệu văn học này có giá trị thư tịch cũng như sử liệu không nhỏ, và chúng tôi hy vọng sẽ sớm có thể lần lượt giới thiệu chúng trong những dịp khác, còn trong khuôn khổ của bài tham luận này chúng tôi xin tạm thời tập trung giới thiệu cụ thể về bộ tranh và các bài thơ đề vịnh “Bình Định An Nam chiến đồ” mà thôi. Ngẫu nhiên chúng tôi đã có may mắn trực tiếp xem xét một bản gốc của bộ tranh “Bình Định An Nam chiến đồ” hiện được lưu giữ tại thư viện sách quý Houghton của trường đại học Harvard tại Cambridge, bang Massachusetts, Hoa Kỳ.
Bộ tranh này do một cựu sinh viên niên khóa 1921 tên là Philip Hofer tặng cho trường (cùng với 2 bộ “chiến đồ” khác thời Càn Long), và còn được bảo quản trong tình trạng tương đối tốt, mặc dù một vài bức đã có chút sứt mẻ ở các góc cạnh và có đôi chỗ đã hơi ngả màu vàng ố hay ẩm mốc. Chúng tôi đã yêu cầu thư viện cho chụp lại vi ảnh để tiện bảo quản và tham khảo bộ tranh, và qua sự tài trợ hào hiệp của học viện Harvard – Yenching chúng tôi đã xin phóng ảnh làm thác bản kính tặng Viện Hán Nôm tại Hà Nội và Bảo tàng Quang Trung tại Bình Định để các học giả Việt Nam trong nước tiện bề tham khảo và nghiên cứu.
Khi vừa đến Hà Nội, chỉ vài ngày trước cuộc Hội thảo quốc tế về Việt Nam học vào tháng 7 – 1998 vừa qua, chúng tôi đã có cơ duyên gặp một bất ngờ lý thú khi được một vài học giả trong nước chỉ dạy cho rằng ông Trần Viết Ngạc tại TP HCM đã dựa theo thông tin của một người bạn khuyết danh từ Hoa Kỳ để giới thiệu bức tranh “Trận chiến trên sông Phú Lương” (tức là bức thứ 5 của bộ tranh) trong tạp chí Xưa & Nay số 32 (10/1996)(1). Người cung cấp tư liệu cho biết rằng, bức tranh này hiện được lưu giữ tại viện bảo tàng Smithsonian tại Washington D.C., nhưng không rõ là nơi đây chỉ có một bức lẻ hay có đủ cả 6 bức của bộ tranh như chúng tôi sẽ giới thiệu sau đây. Rất tiếc là bản sao của bức tranh này lại bị chắp nối ở giữa để đến nỗi hụt mất đi hai dòng thơ chữ Hán. Ngoài ra, hai bên, nhất là bên trái, và cả phía dưới của bức tranh cũng bị cắt xén khá nhiều để dồn gọn bài thơ vào chính giữa bản sao (nên có lẽ đã làm mất đi hơn 1/3 diện tích của bức tranh). Và có lẽ vì không hiểu rõ xuất xứ và lai nguyên của bộ tranh nên bài giới thiệu đã không khỏi có đôi điều sai sót về ý nghĩa của bài thơ cũng như nội dung sử liệu của bức tranh.
Ngoài ra còn phải nói thêm rằng, trước đây các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng đã biết đến bức tranh tả cảnh sứ bộ Nguyễn Quang Hiển vào bệ kiến vua Càn Long tại Nhiệt Hà (là bức thứ 6 của bộ tranh). Bức này đã được tạp chí Nam Phong giới thiệu vào năm 1934 trong một phụ ảnh dựa theo một bản gốc được lưu giữ vào đầu thế kỷ XX tại Bắc Bình đồ thư quán (2). Quả vậy, một bản chụp lại rất xấu và nhòe của phụ ảnh này hiện được trưng bầy trong Viện bản tàng lịch sử tại Hà Nội. Và có lẽ vì các bản sao của bức tranh này lại có chất lượng kém nên vẫn chưa ai giới thiệu bài thơ ngự chế mà vua Càn Long đã đề vịnh (3). Tuy nhiên, vì chưa rõ xuất xứ của các bức tranh đơn lẻ này từ bộ “Bình Định An Nam chiến đồ” nên người ta vẫn chưa có được hiểu biết và nhận định thích đáng về chúng. Thiết nghĩ, việc suy diễn nội dung tư liệu cần phải được tiến hành một cách thận trọng, chúng tôi chỉ mong trước hết có thể cung cấp thông tin cho thêm chính xác về mặt văn bản và họa bản trong bài tham luận sơ bộ này, còn sau đó xin kính mời các bậc thức giả góp ý chỉ dạy và chung sức tìm cách xử lý nội dung tư liệu sao cho được thỏa đáng.
2. Các nguồn thư tịch Trung Quốc và Tây phương có bàn về bộ tranh.
Sách Quốc triều cung sử tục biên của nhà Thanh có nhắc đến bộ sách Khâm định An Nam kỷ lược gồm 32 quyển kể về cuộc chinh phạt An Nam vào thời Càn Long trong quyển 85 trong phần “Phương lược”(4), và có liệt kê bộ tranh “Bình Định An Nam chiến đồ” trong quyển 100 trong phần “Thư mục” nhưng lại không kèm theo chi tiết cụ thể.
Còn theo sách Thanh nội vụ phủ tào biện xứ dư đồ phòng đồ mục sơ biên thì bộ tranh “Ngự bút bình định An Nam chiến đồ lục vịnh” gồm có chín bộ, mỗi bộ 6 tờ giấy bản, mỗi tờ cao 1,6 thước (50 cm), rộng 2,8 thước (88 cm). Trong đó có một bộ đựoc vẽ bằng mực, có một bức tranh không có thơ đề vịnh, vốn có thêm lời chú rằng “Dương Đại Chương vẽ” (Dương Đại Chương hội). Tám bộ kia được in bằng mực, trong đó có một bộ vốn có tựa đề là “An Nam Nguyễn Huệ sai cháu là Nguyễn Quang Hiển vào ra mắt và được ban cho ăn yến, tranh do nhà vua sai làm” (Ngự chế An Nam Nguyễn Huệ khiển điệt Nguyễn Quang Hiển nhập cận tứ yến đồ) có ghi thêm bên cạnh rằng “Ban cho tuần phủ Giang Tây là Trần Hoài vào ngày 24 tháng 5 năm Càn Long thứ 60” (Càn Long lục thập niên ngũ nguyệt nhị thập tứ nhật tứ Giang Tây tuần phủ thần Trần Hoài). Và theo sách Quốc triều viện họa lục thì Dương Đại Chương là một trong những họa sĩ cung đình có tham gia minh họa một số tranh truyền thần và hoa điểu cho các bộ Ngự chế thi văn tập (thi tam tập, tứ tập) của vua Càn Long. Một vài nhà học giả Tây phương vào nửa đầu thế kỷ XX đã từng nhắc đến bộ tranh về chiến sự An Nam, nhưng chỉ trong phạm vi là một phụ chú cho quan tâm chính của họ là bộ tranh “Bình định Tây Vực chiến đồ” năm 1765.
Đây là một bộ tranh mà vua Càn Long đã cho khắc in biển đồng theo các bản vẽ được đặt từ Paris và qua bốn nhà họa sĩ Tây phương được lưu dụng trong cung là Joseph Castiglione (người Ý, tên chữ Hán là Lương Thế Ninh), Dennis Attiret (người Pháp, tên chữ Hán là Vương Chí Thành), Ignace Sichelbart (người Tiệp, tên chữ Hán là Ngải Khải Mông), và Jean Damascène (người Pháp, tên chữ Hán là An Đức Nghĩa). Vua Càn Long đã rất hài lòng với bộ tranh “Tây Vực” này, nên đã dùng nó làm mẫu mực để sai các họa sĩ Trung Quốc vẽ và sau đó cho khắc in bằng biển đồng ở Vũ Anh Điện cho một loạt cả chục bộ tranh “chiến đồ” kỷ niệm vũ công của mình trong vòng ba thập niên sau đó. Để lợi dụng thị hiếu yêu chuộng phương Đông thời thượng của Kỷ nguyên Ánh Sáng, một vài nhà in ở Paris đã cho sao chép và bán các tập tranh dựa theo bộ “Bình định Tây Vực chiến đồ” này. (xin tham khảo các phụ ảnh 1 – 2).
Học giả người Pháp là Paul Pelliot (của trường Viễn Đông Bác Cổ tại Hà Nội xưa kia) đã trình bày hết sức tỉ mỉ về lai nguyên của các bộ tranh “chiến đồ” thời Càn Long này trong một bài chuyên khảo về “Các cuộc chinh phạt của hoàng đế Trung Hoa” được công bố vào năm 1921. Học giả người Đức là Walter Fuchs cũng đã dựa theo các nguồn tư liệu Hán văn vừa kể trên khi bàn qua về bộ tranh “Bình định An Nam chiến đồ” này trrong bài khảo luận được công bố vào năm 1939 về “Tính cách sử liệu của bộ tranh Bình định Tây Vực chiến đồ năm 1765, và vài nhận định về các bộ chiến đồ tiếp theo”.
Trong một bài khảo luận khác về “Các bản vẽ trên biển đồng của các bộ chiến đồ thời Càn Long và Đạo Quang” được công bố vào năm 1944, Fuchs còn cho biết thêm tên của 3 họa sĩ cung đình khác (là Diêu Văn Hàn,Giá Toàn, và Y Lan Thái) đã cùng tham gia thực hiện bộ tranh “Bình định An Nam chiến đồ ”.
Tuy chỉ bàn qua về bộ tranh “An Nam quốc chiến đồ” trong một cước chú, Pelliot đã đưa ra một số chi tiết khá súc tích và lý thú. Pelliot có trích dẫn (và cải chính) một học giả người Nga là Rudakov, có viết một bài chuyên khảo về “Các cung điện và thư khố Đại Mãn tại Mukden (Thịnh Kinh)” được công bố vào năm 1901, có lẽ là dựa theo các tư liệu và hiện vật mà nước Nga đã chiếm cướp được từ các cung điện và văn khố nhà Thanh tại Mãn Châu để trả đũa sự kiện Nghĩa Hòa đoàn năm 1898. Rudakov có nhắc đến bộ tranh “Bình định An Nam chiến đồ” gồm 6 bức được gửi đến lưu trữ tại Mukden vào năm 1790, nhưng đúng ra là vào năm 1791. Theo Pelliot thì Rudakov có lẽ cũng đã lầm khi nhắc đến một bộ tranh khác nào đó cũng về chiến sự An Nam được gửi đến lưu trữ tại Mukden vào năm 1800 – 1801.
Nhưng Pellot có hơi lầm khi trích dẫn nhà giáp cốt học và kim thạch học Trung Quốc La Chấn Ngọc là người đã kể về việc ông ta được thấy bộ biển đồng (chứ không phải chính bộ tranh) “Bình định An Nam chiến tích đồ” tại phủ Khai Phong vào năm 1915 mà một bạn đồng hương họ Quách tự là Tận thần vừa mua được từ Bắc Kinh. Theo nhận xét của La Chấn Ngọc, được ghi lại trong tập du ký Ngũ thập nhật mộng ngân lục thì bộ biển đồng này có họa tiết tinh vi, thuộc dạng khắc lõm, tương tự như các biển in đồng tại Nhật Bản vào đầu thế kỷ XX này. Kỹ thuật in biển đồng này khá phức tạp nên chỉ in được một lần và sau này không ai biết cách in thêm từ các biển cũ nên khi có nạn khan hiếm đồng vào đầu đời Đồng Trị (1862 – 1875), một số đình thần đã có đề nghị xin nấu chảy các biển này để dùng nhưng may thay ý này đã bị bác. La Chấn Ngọc còn kể lại rằng, trước đó ông ta chỉ được xem qua một số bản của các bộ tranh “chiến tích đồ” tại thư viện Từ Gia Hối (Zikawei) của dòng Tên ở Thượng Hải (phải chăng đây là các thác bản của người Pháp làm ?) và có mua được vào năm 1912 trong dinh thự của Cung thân vương (là sủng thần của Từ Hi thái hậu nhà Thanh) một vài bản của bộ tranh “chiến tích đồ” về Gorkha (Tiểu Kim Xuyên) và Nepal (Khoát Nhĩ Ca) dưới thời Càn Long và về Tây Vực dưới thời Đạo Quang. Còn các bộ tranh về Tây Vực và An Nam dưới thời Càn Long thì ông chưa từng được thấy, và ông cho rằng các bộ tranh này rất quý và hiếm trong nhân gian vì xưa nay chỉ có các bậc thi thần tâm phúc được sủng ái mới được nhà vua ban thưởng các bộ tranh này mà thôi.
Khi chuẩn bị sửa chữa và bổ sung bài tham luận này trước khi đưa vào tập kỷ yếu của hội thảo, chúng tôi lại ngẫu nhiên phát hiện thêm được một bài chuyên khảo rất công phu được công bố vào năm 1954 của học giả người Pháp là Emile Gaspardone tập trung viết về bộ tranh “Bình định An Nam chiến đồ ” mà ông đã chụp lại được từ một bản gốc từng được lưu giữ tại thư viện Nhật Bản tại Bắc Bình (Bắc Kinh) vào năm 1932. Ông cho biết là đã từng xem tận mắt một số các bức tranh “chiến đồ” kể trên được triển lãm tại Bảo tàng Cố cung vào tháng 12 năm 1932 tại Bắc Kinh. Ngoài ra, ông còn xác định rằng bức thứ 6 của bộ “Bình định An Nam chiến đồ ” cũng đã từng được trưng bầy tại phòng triển lãm của Quốc lập Bắc Bình đồ thư quán, và ắt hẳn đây chính là xuất xứ của phụ ảnh trong tạp chí Nam Phong mà giới nghiên cứu Việt Nam đã từng biết đến. Trong bài khảo luận của mình, Gaspardone đã dựa vào thiên “Càn Long chinh phủ An Nam ký” trong bộ Thánh vũ ký của Ngụy Nguyên để bổ cứu cho nội dung các bức tranh (lúc bấy giờ còn bị liệt kê nhầm theo thứ tự đảo lộn giữa bức thứ nhất và bức thứ 5) và thơ đề vịnh mà ông đã cố gắng dịch nghĩa ra tiếng Pháp. Chúng tôi đã tiếp thu được nhiều gợi ý bổ ích từ bản dịch và các chú thích của Gaspardone để bổ sung một đôi chỗ cho thành quả bước đầu mà chúng tôi đã giới thiệu trên tạo chí Xưa & Nay năm 1998.
3. Nội dung bộ tranh và thơ đề vịnh
Bộ tranh “Bình định An Nam chiến đồ ” thực ra chỉ gồm 5 bức tả cảnh chiến trận giữa quân Thanh và Nguyễn Tây Sơn: lần lượt tại các địa điểm là “Gia Quan Ha Hộ” (có lẽ là gần ải Nam Quan tại Lạng Sơn), “Tam Dị Trụ Hữu” (có lẽ là gần núi Tam Tằng), sông “Thọ Xương”, sông “Thị Cầu”, và sông “Phú Lương”. Còn bức thứ 6 thì tả cảnh sứ bộ Nguyễn Quang Hiển vào bệ kiến xin cầu hòa với vua Càn Long tại Quyển A, thắng cảnh sơn trang ở Nhiệt Hà (Jehol). (Xin tham khảo các phụ ảnh 3-8). Phía trên, ở khoảng giữa mỗi bức tranh lại có một bài thơ ngự chế của Càn Long đề vịnh. Mỗi bức tranh lại có dấu ấn “Cổ hi Thiên Tử chi tỉ” (Con dấu của nhà vua đã thọ trên 70 tuổi) theo dạng dương khắc, trừ ra bức thứ 3 (tả cảnh chiến trận ở sông Thọ Xương) thì lại có thêm dấu “Do nhật tư tư” (Đạo mỗi ngày một chăm chăm) theo dạng âm khắc, ở ngay cuối dòng lạc khoản của mỗi bài thơ (5). Theo lời lạc khoản “Càn Long Kỷ Dậu trọng thu (chi) nguyệt ngự bút” thì đây là thủ bút của nhà vua được viết vào tháng 8 năm Kỷ Dậu (1789), tức là chỉ tám tháng sau khi chiến sự Việt – Thanh kết thúc.
Nếu kể đến sự việc sứ bộ Nguyễn Quang Hiển vào bệ kiến vào ngày Mậu Thân (tức là ngày 24) tháng 7 cùng năm, được ghi chép cụ thể trong sách Đại Thanh Cao Tông thực lục quyển 1335, thì bộ tranh này quả là có tính cách thời sự rất lớn. Có lẽ giá trị hiển nhiên nhất của bộ tranh và các bài thơ ngự chế đề vịnh này là tầm quan trọng mà triều đình nhà Thanh đã phải dành cho việc chống chế cho thất bại quân sự của mình bằng cách vớt vát thể diện qua thành công ngoại giao khi nhà Tây Sơn ngỏ ý cầu hòa. Quyển thứ 2 của bộ Khâm định An Nam kỷ lược (tr. 9b – 19b), cũng như quyển thứ 50 của bộ Càn Long ngự chế thi ngũ tập (tr. 9a – 18a) có chép đầy đủ về 6 bài thơ đề vịnh cho bộ tranh gọi là “Bổ vịnh An Nam chiến đồ lục luật”, lại kèm thêm một bài tựa và các phần tiểu dẫn và nguyên chú rất chi tiết cho từng bài thơ. Đọc theo một mạch 6 bài thì nguồn tư liệu văn học này lại mang nặng tính cách trần thuật lịch sử, dĩ nhiên là cũng có những hạn chế nhất định của nó, nhưng ít nhiều vẫn có thể bổ sung cho các nguồn tư liệu khác về các chi tiết lịch sử của chiến sự và ngoại giao Việt – Thanh từ cuối năm Mậu Thân (1788) đến giữa năm Kỷ Dậu (1789).
Để tiện theo dõi nội dung các sự kiện lịch sử được nhắc đến trong 6 bài thơ này, chúng tôi xin trích đoạn và phiên dịch thêm bài tựa cho cả bộ tranh cùng phần tiểu dẫn của từng bài thơ. Còn các phần nguyên chú trong văn bản thì chúng tôi xin tỉnh lược vì e rằng quá rườm rà. Tuy nhiên, khi cần giải thích cụ thể hơn thì chúng tôi sẽ dựa theo nguyên chú để chú thích thêm cho bản phiên và bản dịch dưới đây. Nhân thể chúng tôi cũng xin chân thành cảm tạ PGS Phan Văn Các và TS Cung Khắc Lược của Viện Hán Nôm đã từng góp ý và nhuận sắc cho phần phiên dịch của chúng tôi.
a. Bản phiên âm chữ Hán Bổ vịnh An Nam chiến đồ lục luật (hữu tự)
(Tự): Tuân Tôn Sĩ Nghị An Nam chiến sự lũ tích dĩ trần, nhân mệnh họa viện các vi chi đồ, bổ vịnh cận thể nhi tự chi viết:
An Nam chiến đồ phi như Y Lê Hồi Bộ, Kim Xuyên, Đài Loan chi thủy dĩ chiến nhi chung dĩ thành công dã. Phi dĩ chiến thành công tắc khả phất đồ, nhi đồ chi giả, thực lục ngã tướng soái chi thần, quân lữ chi sĩ, thiệp viễn mạo hiểm, công kiên phá nhuệ. Cánh hữu bão trung tổn khu giả, bất vi chi đồ dĩ kỷ kỳ tích tắc dư hà nhẫn. Thả Nguyễn Huệ chi hối tội khất hàng, nguyên nhân hữu chinh, tư diệc vị thường, phi thủy chung nhất sự nhĩ. Phù hữu chinh vô chiến thượng hĩ, chiến nhi hữu thành công thứ chi. (Nguyên chú: Dư tự định Y Lê, bình Hồi Bộ, tiễu Kim Xuyên, dĩ chí cận nhật kham định Đài Loan chi dịch, giai kinh chỉ thụ cơ yếu, chiến vô bất khắc, công vô bất thủ, dĩ thành thử sổ đại công. Cái kham loạn phạt bạo, nan ngôn yển vũ, tắc tuy bất năng hữu chinh vô chiến nhi câu hoạch thành công, yếu giai thiên tâm hựu thuận, nãi khắc trăn thử).
Thành nhi phục biến, hựu chung ư bất chiến nhi thành công, kỳ sự đáng giảo ư chiến nhi thành công giả, vi thắng yên. (Nguyên chú: Nguyễn Huệ phục chí Lê Thành, Lê Duy Kỳ nhưng khí kỳ quốc, khả vị biến xuất bất ý nhiên. Dư điều Phúc Khang An vi Lưỡng Quảng tổng đốc, nhưng tương tập binh thanh thảo. Đãi Nguyễn Huệ tái tứ dụ khẩn, hựu khiển thân điệt Nguyễn Quang Hiển nghệ Phúc Khang An xứ tê biểu cầu hàng. Phúc Khang An sát kỳ tình hình, thực xuất chí thành, nhiên hậu cứ tình nhập cáo. Dư nhân tư Lê Duy Kỳ bất năng lập quốc, ký trưng thiên tâm yếm khí, nhi Trung triều hựu bấtlợi kỳ thổ địa, tức sự lập binh thanh thảo, diệc bất quá qui ư hàng phục nhi cứu, vị tất tức phục kỳ tâm, tắc hà như ? Thử chi bất chiến nhi khuất giả, phát ư trúng thành, xiển công ninh chúng, chuyển vi đại thuận chi cơ. Thị cánh túc dĩ kiến thiên tâm chi hựu. Dư cung thực vi chí hậu nhĩ).
Thị khởi nhân lực sở mưu hồ ? Thiên dã ! Diểu cung lâm lị, ngũ thập tứ tải, thu thiên chi hựu, bất nhất nhi túc. Nhi ư An Nam chi sự, phục bất chiến nhi thành công, tắc dư chi sở cảm kích, hồng huống ích thâm, kính uý giả đáng. Hà như ? Gián thường luận chi.
Sử Tôn Sĩ Nghị thu Lê thành chi hậu, tắc năng nhuệ sư chí Quảng Nam hoạch Nguyễn Huệ hồ ? Hựu như Tôn Sĩ Nghị tuân chỉ tảo ban sư, tuy vô Hứa Thế Hanh đẳng tam tướng chi tổn khu, tướng vị chí ngã cảnh, nhi Lê thành phục thất, kỳ năng bất toàn sư dĩ cứu chi hồ ? Hựu như Tôn Sĩ Nghị diệc đồng tam vũ thần chi tổn khu sa trường, tắc Sĩ Nghị nãi đốc nhung trọng thần, thương quốc thể vi đại, bất đắc bất hưng sư vấn tội, thị thành gia binh vô dĩ thời hĩ !
Thả Hứa Thế Hanh ủy khúc hộ lệnh, Tôn Sĩ Nghị chấn lữ nhi hoàn, sử kỷ diệc đồng quy, tắc cánh hữu thuyết nãi nhưng tổn khu cương trường, kỳ tri phượng hữu dũng vi thường nhân sở bất năng. Mỗi nhất đạo cập, vị chi lạc lệ gia thượng. Chí Tôn Sĩ Nghị phi bất tri Trẫm chi tưởng lệ công thần, thưởng diên hậu thế, thiết diệc tổn khu, tắc kỳ công tước tất thế tập võng thế. Nhân thùy bất tử, thả bản dục xung phong chí mệnh. Đãi thính Hứa Thế Hanh chi ngôn, dĩ quốc sự vi trọng ninh qui nhi thụ Trẫm chi phạt, nhi Trẫm khởi khẳng bất lượng kỳ tâm, gia dĩ phạt tai ! Thị nhị thần giả, kỳ sự bất đồng, nhi tâm tắc đồng. Tư sự cơ chi hội, tổng nhung chấn lữ dĩ qui, tam tướng lệnh phiên quốc lập tự thù trung.
Thả Nguyễn Huệ nhân hữu thử quá nhi úy tội cầu hàng, bất lao nhất lữ dĩ định hải bang, thị giai hạo vận triền chuyển, mặc vi ha hộ, khởi dư nhất nhân tư lự sở năng cập tai ! Tự tư dĩ hậu, ích thâm kính cẩn, tĩnh đãi thiên ân, lục niên qui chính. Phù hà cảm cánh sinh biệt niệm hồ ! Thử bổ vịnh An Nam chiến đồ chi thập, sở do tác dã.
1. Gia Quan Ha Hộ chi chiến
Tôn Sĩ Nghị xuất Trấn Nam quan, tại Lạng Sơn phân binh lưỡng lộ, nhất do mai pha, lệnh tham tướng Trường Thuần đẳng chí Gia Quan lộ hội tề, nhất do giang hán, lệnh tổng binh Trương Triều Long đẳng kính xu Tam Dị Trụ Hữu đẳng xứ, Gia Quan đồn tụ. Đa nhân nhất văn đại binh thế định, vọng phong kinh dật nhi bất tùng loạn chi. Thổ quan suất lĩnh thổ dân sổ bách nhân phủ phục đầu thuận. Tự thử kính quá Gia Quan, phấn lực tiễu sát. Hoặc kỵ nhi hàng, hoặc kháng nhi tiêm, hoặc cầm nhi lục. Truy chí Ha Hộ địa phương, sơn cốc tuấn ải, thích Trương Triều Long tiệt kỳ khứ lộ, hội hợp giáp công, tiễu sát bất khả thắng kê.
Hà biên cầu cứu tuất chư quỳnh Vô ngoại vương sư sự hữu chinh Cấm lữ bất tu thất tụy phát Tổng nhung duy soái lưỡng cương binh Trì nguy trị loạn nguyên xuất chính Đan thực hồ tương đa thuận nghinh (nghênh) Đường tí na đương đại xa triệt Gia Quan nhất chiến hách tiên thinh (thanh)
2. Tam Dị Trụ Hữu chi chiến
Tổng binh Trương Triều Long thống binh tam thiên danh, nội phân nhất thiên ngũ bách danh, lệnh tham tướng Trương Thuần đái lĩnh tùng Gia Quan tiền tiến, Trương Triều Long đái nhất thiên ngũ bách danh tùng Tam Dị nhiễu chí Trụ Hữu đẳng xứ. Giáp công tiêm lục, đoạt hoạch mễ lương quân giới vô toán, sinh cầm binh biền nhất bách hư danh. Nhi phó tướng Khánh Thành lánh đái binh tam bách danh phục ư phụ cận Trụ Hữu chi dĩnh kế địa phương, sinh cầm dĩ hàng phục bạn chi Trần Danh Bính, giải phó quân doanh chính pháp, vưu cường nhân ý.
Sư hành nhị đảng khấu doanh môn Sào cận nhất tù đào phụ ân Chính lữ thiên quân cùng liệt trại Hữu trìu tả toản (6) tiễu man thôn Hoạch phiên đa mễ tư tư bão Hệ khấu trường anh na hứa bôn Thành hỉ quốc uy diên thế tướng Danh huân Tư Khắc hữu nguyên tôn
3. Thọ Xương giang chi chiến
Tổng binh Thượng Duy Thăng, phó tướng Khánh Thành đẳng đái binh kiêm trình tiền tiến. Ngũ cổ chí Thọ Xương giang, thời trị trọng vụ di mạn. Nguyễn binh thốt bất cập phòng, thương tử bất kê kỳ số. Dư chúng biện mệnh đào thử, tể đoạn phù kiều. Ngã binh chước trúc biên phiệt, khắc tức đoạt giang nhi tiền, vô bất dư dũng khả cổ.
Tam giang hoành cắng thử vi thần Cố thủ quần anh tối yếu tân Thừa vụ Định Phương yểm nha tướng Độ Lo Bốc Lậu thất trọng ngần Công kiên tất nhuệ dĩ đoạt phách Khảm trúc biên tra khả đáng (7) luân Tướng lĩnh tiền khu chúng quân phấn Gia kỳ đồng thị Hán quân nhân
4. Thị Cầu giang chi chiến
Quan binh để Thị Cầu giang. Nguyễn chúng nghị tụ nam ngạn, phả hữu tự cao áp hạ chi thế, dĩ thị liên nhật xung đoạt bất năng đắc lợi. Tôn Sĩ Nghị dương lệnh nghĩa dân đáp cái phù kiều, lệnh tổng binh Trương Triều Long dạ bán ư tả biên ám độ, sao xuất bỉ doanh chi hậu, hảm thanh chấn địa. Đại binh diệc do phù kiều độ giang giáp công, tiễu sát sổ thiên, sinh cầm ngũ bách dư nhân.
Ngộ hiểm ứng tri tập hậu công Dụ trì vị chí bất kỳ đồng Thống quân tố tất Điền Phong sách Dũng tướng thiên nhiêu Lý Tố hùng Lâm hạ cứ cao bỉ phả xí Xuất kỳ chế thắng ngã thành công Lê thành tương cận binh uy cổ Chúng chí duy dương xí tích sung
5. Phú Lương giang chi chiến
Phú Lương giang nãi Lê thành môn hộ. Nguyễn chúng kiến quan binh tương chí, tương đại tiểu thuyền chích thu chí nam ngạn giang tâm thi phóng thương bác. Ngã binh bất năng tấn độ. Tôn Sĩ Nghị sát khán Nguyễn binh thế tiệm hội loạn, lệnh tướng biền dụng nông gia tiểu thuyền cập trúc phiệt ư nhật gian tiễu sát giang tâm binh chúng. Nhi ư thứ nhật ngũ cổ Hứa Thế Hanh suất nhị bách dư nhân trực chí bỉ ngạn. Bỉ ư hôn dạ chi gian bất biện binh số, quẫn bách vô thố. Kế nhi ngã binh thương đoạt sổ thuyền, canh phiên tế độ thống gia tiễu lục, tịnh thiêu trầm giang tân thuyền sưu thập dư chích. Toàn quân độ giang, Lê thị tông tộc cập bách tính nhân đẳng toại khai thành xuất hàng, bất công nhi khắc.
Môn hộ Lê thành viết Phú Lương Bỉ tuy cố lũy chúng thương hoàng Sổ châu độc nhập chân xưng tráng Ký dũng tri phương thâm tích tang Phục quốc nhất vương nhưng khí thủ Lập từ tam tướng vĩnh lưu phương Thù trung phủ thuận tôn vương đạo Vô sự giai binh triệu cát tường
6. Nguyễn Huệ khiển điệt Nguyễn Quang Hiển nhập cận tứ yến chi đồ
Lê Duy Kỳ phục quốc hậu, bất năng tự lập, nhất văn Nguyễn Huệ phục lai hựu tức đào bôn nội địa. Thiên yếm kỳ đức, thành phi hư ngữ. Dư duy phụng thiên, hạt cảm vi việt bất trị, phục hưng binh vị bỉ phục quốc dã. Tự cứ Phúc Khang An tấu Nguyễn Huệ tái tứ dụ khẩn, hối tội qui thuận, xuất ư chí thành. Dư diệc bất dục vi dĩ thâm, nhân tức doãn kỳ sở thỉnh triệt binh. Nguyễn Huệ tiên khiển kỳ thân điệt Nguyễn Quang Hiển nhập cận thâu khổn, tịnh xưng minh tuế đương thân nghệ khuyết đình chúc li, nhân dĩ khất phong. Tạc tiếp biểu văn, gia kỳ tình từ chân chí, cấp dục đắc thiên triều phong hiệu vi vinh, toại tức sắc phong vi An Nam quốc vương. Tư Nguyễn Quang Hiển lai chí sơn trang, chính giới vạn thọ tiết, lệnh kỳ nhất thể dữ yến, dụng thị ân vinh.
Thùy năng bất chiến khuất nhân binh Chiến hậu úy uy hoài nãi thành Lê thị khả liên thụ thiên yếm Nguyễn gia ưng dữ tích triều trinh Kim thu dĩ tự thân điệt khiển Minh tuế hoàn xưng cung kỷ (8) hành Tự thử thâu thầm (9) ngoại bang tiển Gia tai na nhẫn cận ân vinh
b. Bản dịch Việt ngữ sáu bài thơ luật đề vịnh bổ sung cho bộ tranh An Nam chiến đồ (có bài tựa)
(Bài tựa): Theo lời kể một cách tỉ mỉ rõ ràng của Tôn Sĩ Nghị về chiến sự ở An Nam, ta nhân đó sai họa viện vẽ mỗi sự việc thành đồ hình, rồi làm thêm thơ cận thể để đề vịnh và viết bài tự rằng: bộ “An Nam chiến đồ ” không như sự việc ở Y Lê Hồi Bộ, Kim Xuyên, và Đài Loan là ban đầu có chinh chiến mà kết cuộc thì thành công vậy. Không có chinh chiến mà thành công thì có thể không vẽ thành đồ hình, mà vẽ ra là để ghi lại sự thực của việc bề tôi là tướng soái của ta và chiến sĩ trong quân lữ của ta vượt xa mạo hiểm, tấn công chỗ kiên cường, phá tan nơi mũi nhọn. Lại còn có kẻ vì ôm lòng trung mà thiệt mạng, nếu không vẽ đồ hình để kỷ niệm chiến tích của họ thì ta sao nỡ. Vả lại việc Nguyễn Huệ hối tội xin hàng, vốn là cái cớ để nhằm chinh phạt, điều này cũng chưa từng thấy, chẳng phải là đầu đuôi cùng một việc vậy. Ôi, kể ra thì có chinh phạt mà không phải chinh chiến là hay nhất, chinh chiến rồi mới được thành công thì chỉ là hạng thứ mà thôi. (Nguyên chú: Ta từ khi yên định Y Lê, san bằng Hồi Bộ, tiễu trừ Kim Xuyên, cho đến gần đây với việc dẹp yên Đài Loan, đều từng chỉ vạch và tiếp thụ điều cơ yếu – đánh đâu thắng đấy, tấn công đâu cũng lấy được – nên thành những chiến công to lớn này. Quả vậy, trừ loạn phạt bạo khó có thể nói là dẹp bỏ việc võ, nên tuy không có tài để chinh phạt mà không cần chinh chiến mà đều thu được thắng lợi, thảy cốt yếu đều do lòng trời giúp rập thuận cho, do đó nên mới được tốt đẹp đến như vậy). Thành rồi mà lại sẩy biến, hơn nữa kết cuộc là không chinh chiến mà thành công, chuyện này đáng ra so với chinh chiến mà thành công thì lại ưu thắng hơn. (Nguyên chú: Nguyễn Huệ quay trở lại đến Thăng Long (nguyên văn: Lê Thành), Lê Duy Kỳ lại bỏ đất nước, có thể nói sự biến đã xảy ra ngoài ý muốn. Ta điều Phúc Khang An làm tổng đốc Lưỡng Quảng, lại sắp sửa gom binh dấy tiếng thảo phạt. Nhân khi Nguyễn Huệ ba bốn phen kêu xin khẩn khoản, lại còn sai cháu mình là Nguyễn Quang Hiển đến chỗ Phúc Khang An dâng biểu cầu hàng. Phúc Khang An xét tình hình này, quả là từ lòng chí thành mà ra, rồi sau đó căn cứ vào tình hình mà báo cáo lên. Ta vì nghĩ thấy Lê Duy Kỳ không có tài lập quốc, lại có bằng cớ là lòng trời ghét bỏ, mà triều đình Trung Quốc cũng chẳng muốn lấy đất đai của hắn làm lợi, nên có sai gom binh dấy tiếng thảo phạt cũng chẳng qua khiến cho Nguyễn Huệ quay về hàng phục mà cứu Duy Kỳ, song chắc đâu đã qui thuận nổi cái tâm của hắn, vậy phải làm sao đây ! Không đánh mà nó phải khuất như thế này, xuất phát chính từ lòng thành, đã xứng là công trạng làm yên ổn chúng dân, chuyển thành cơ hội đại thuận, đó càng đủ tỏ thấy lòng trời phù hộ. Chính ta thực sự đã được hưởng phúc dầy thay!).
Đây há có phải phải là mưu tính của sức người chăng ? Đó là do trời vậy ! Thân ta bèo bọt được dự vào trọng chức đã 54 năm nay, được nhận ơn phù hộ của trời, đâu chỉ một lần mà đã trọn. Riêng về sự việc ở An Nam lại không phải chinh chiến mà thành công, nên điều mà ta cảm kích, hồng phúc trời ban cho lại càng thêm dầy, có kính sợ cũng là thích đáng. Vì sao như thế ? Ta mỗi lúc rỗi rãi vẫn thường bàn luận về chuyện này.
Giả sử sau khi Tôn Sĩ Nghị thu phục Thăng Long (nguyên văn: Lê Thành), há lại có thể tức khắc đem quân tinh nhuệ vào đến Quảng Nam mà bắt Nguyễn Huệ hay sao? Và nếu như Tôn Sĩ Nghị vâng chỉ rút quân về sớm, thì tuy không đến nỗi phải thiệt mạng bọn Hứa Thế Hanh ba tướng, nhưng tướng chưa về đến đất nhà mà Thăng Long (nguyên văn: Lê Thành) lại bị mất, lẽ nào lại có thể không trở quân lại để cứu họ hay sao? Và nếu như Tôn Sĩ Nghị cũng cùng thiệt mạng với ba tướng nơi sa trường, thì Sĩ Nghị đây là trọng thần đốc suất toàn quân, sẽ làm tổn thương lớn cho quốc thể, nên không thể không dấy binh hỏi tội, thảy sẽ xảy ra việc binh đao không ngơi vậy !
Vả lại (nhờ) Hứa Thế Hanh nhẫn nhịn mà hộ lệnh, (nên) Tôn Sĩ Nghị chấn chỉnh được quân lữ mà kéo về; chứ giả sử bản thân họ đều cùng quay về thì ắt càng có thể nói là sẽ lại thiệt mạng nơi biên cương, tài sáng suốt và dũng lược của y là cái mà người thường không thể có. Cứ mỗi khi nhắc đến thì ta lại vì y mà rơi lệ khen chuộng. Còn đến như Tôn Sĩ Nghị chẳng phải là không biết đến sự khích lệ công thần của Trẫm, từng tưởng thưởng mãi cho đến đời sau, giả tỉ như cũng thiệt mạng thì tước công của y ắt sẽ được thế tập chẳng hề sai. Con người ta ai mà chẳng chết, hơn nữa bản thân (y) cũng muốn xung phong hết mình; nhân khi nghe lời của Hứa Thế Hanh, lấy việc nước làm trọng nên thà rằng quay về mà chịu phạt của Trẫm, thì Trẫm há chẳng lượng thứ cho lòng của y mà lại tăng thêm sự trừng phạt hay sao? Hai kẻ tôi thần này, tuy sự việc của họ chẳng giống nhau, nhưng lòng dạ lại giống nhau. Nhờ cơ may này mà tướng tổng nhung chấn chỉnh quân lữ quay về, còn ba tướng thì (ta) lệnh cho nước phiên thuộc lập miếu thờ để đền đáp lòng trung.
Vả lại Nguyễn Huệ nhân có lỗi thế này mà sợ tội cầu hàng, (ta) không phải lao nhọc đến một đội quân mà an định được hải bang, đấy đều là vận tốt xoay chuyển, mặc nhiên mà che chở, một mình ta há lại lo lắng xem tài mình được đến đâu hay sao? Từ đó về sau (ta) lại càng thêm dầy lòng kính cẩn, lặng lẽ mà đón nhận ơn trời, sau sáu năm sẽ quay về (khỏi) việc chính sự (10).Ôi, (ta) đâu dám càng sống mà càng chẳng tâm niệm hay sao ! Mấy điều đề vịnh bổ sung cho bộ An Nam chiến đồ, thảy đều do đó mà làm ra vậy.
1. Trận đánh ở Gia Quan và Ha Hộ
binh dinh an nam chien do 1
Tôn Sĩ Nghị ra khỏi Trấn Nam quan, tại Lạng Sơn chia binh hai đường, một là theo đồi dốc, sai tham tướng là bọn Trương Thuần tới đường Gia Quan cùng gặp, một là theo sông ngòi, sai tổng binh là bọn Trương Triều Long chạy theo lối tắt qua các chỗ như Tam Dị và Trụ Hữu, rồi đóng đồn tụ tập ở Gia Quan. Rất nhiều người thoạt nghe đại binh thế mạnh, nghe hơi rồi kinh hãi trốn chạy mà không nghe lệnh nên tán loạn. Thổ quan dẫn dân địa phương mấy trăm người ra phủ phục đầu thuận. Từ đó (quân ta) dùng lối tắt mà qua Gia Quan, thả sức chém giết. (Bọn chúng) đứa thì quỳ gối mà đầu hàng, đứa thì chống cự rồi bị đập tan, đứa thì bị bắt mà giết đi. (Quân ta) đuổi theo cho đến đất Ha Hộ, chốn sơn cốc ải cao, vừa khi Trương Triều Long cắt đường đi của chúng, cùng hợp lại mà giáp công, chém giết không thể nào kể xiết.
2. Trận đánh ở Tam Dị và Trụ Hữu
binh dinh an nam chien do 2
Tổng binh Trương Triều Long thống lĩnh 3 nghìn quân, trong đó chia ra 1 nghìn 5 trăm tên, lệnh cho tham tướng Trương Thuần dẫn đầu theo hướng Gia Quan tiến trước, còn Trương Triều Long dẫn 1 nghìn 5 trăm tên theo hướng Tam Dị đến khuấy nhiễu Trụ Hữu và các nơi xung quanh. Giáp công tiêu diệt chém giết; thu đoạt lúa gạo, lương thực, khí giới nhiều không kể xiết; bắt sống quân lính hơn 1 trăm tên. Riêng phó tướng Khánh Thành lại dẫn 3 trăm quân khác mai phục nơi địa đầu gần ở Trụ Hữu, bắt sống tên Trần Danh Bính mà trước đã hàng phục rồi sau lại phản, đem giải về quân doanh để xử theo chính pháp, càng khiến cho lòng quân thêm phấn chấn.
Quân đi hai ngả đánh doanh môn. Kề hang trùm mán trốn vong ơn. (11) Quân lữ trong ngoài đồn trại giặc. Trở xoay trái phải triệt thôn man. Đoạt lương thóc lắm ăn vừa đủ. Xiết giặc dây dài hết chốn chuồn. (12) Mừng thay oai nước con nhà tướng, Tư khắc công danh chắt kế tồn. (13)
3. Trận đánh ở sông Thọ Xương (sông Thương)
binh dinh an nam chien do 3
Bọn tổng binh Thượng Duy Thăng và phó tướng Khánh Thành dẫn binh đi suốt đường tiến trước. Vào trống canh năm thì tới sông Thọ Xương, vừa lúc trời sương mù dày đặc miên man. Quân họ Nguyễn (Tây Sơn) bất ngờ chẳng kịp đề phòng, nên thương tổn chết chóc nhiều vô số kể. Bọn còn lại liều mạng chạy trốn như chuột, chen lấn nhau đến đứt cầu phao.
Quân ta chặt trúc kết bè, trong một khắc đã chiếm lấy sông mà vượt lên trước, dũng khí có thừa, xưa nay chưa từng thấy.
Tam Giang ngang vắt chốn bờ môi, Bến hiểm mấy vòng cố thủ thôi. Yểm trại Định Phương nhờ chướng tỏa. (14) Dùng mưu Triệu Tiết đoạt dòng Lô. (15) Nhọn tan rắn vỡ bay hồn phách. Trúc chặt bè đan tiện mảng trôi. Tướng lĩnh tiền khu quân phấn chấn. Hán nhân hai tướng khá khen ôi! (16)
4. Trận đánh ở sông Thị Cầu (sông Cầu)
binh dinh an nam chien do 4
Quan quân tới sông Thị Cầu. Quân Nguyễn (Tây Sơn) tụ tập như kiến bên bờ nam, có lợi thế áp đảo từ trên cao xuống, nhờ đó liền mấy ngày đánh chiếm mà (ta) không tài nào thắng nổi. Tôn Sĩ Nghị vờ ra lệnh cho nghĩa dân làm cầu phao, lại lệnh cho tổng binh Trương Triều Long nửa đêm lén vượt sông từ bên trái, ra mặt đánh úp phía sau quân doanh của chúng, reo hò dậy đất. Đại binh cũng theo cầu phao mà qua sông giáp công, chém giết hàng mấy nghìn và bắt sống hơn năm trăm người.
Gặp nguy khéo ứng đánh sau lưng. Chưa tiếp dụ trên ý đã cùng. (17) Thống quân mưu kế xưa nay vẫn. (18) Dũng tướng hùng tài một mực ròng. (19) Đánh xuống từ trên hừng khí giặc, Xuất kỳ chế thắng ta thành công. Thành Lê gần sát quân giong trống, Tướng sĩ một lòng đợi chiến công.
5. Trận đánh ở sông Phú Lương (sông Nhị)
binh dinh an nam chien do 5
Sông Phú Lương là cửa ngõ của Thăng Long (nguyên văn: Lê Thành). Quân Nguyễn (Tây Sơn) thấy quan binh sắp đến, đem thuyền lớn nhỏ thu từng chiếc đến bờ nam ở giữa dòng, dùng súng trường và đại bác bắn trả. Quân ta không tài nào mau chóng vượt sông được. Tôn Sĩ Nghị xét thấy quân Nguyễn (Tây Sơn) thế dần loạn vỡ, (bèn) lệnh cho tướng sĩ dùng thuyền con của nhà nông và bè trúc đánh giết binh chúng ở giữa sông vào ban ngày. Còn sang canh năm ngày hôm sau thì Hứa Thế Hanh đốc suất hơn 2 trăm quân thẳng tới bờ bên kia. Giữa lúc đêm tối mờ mịt, bọn ấy (Tây Sơn) chẳng bày bố được bao nhiêu binh, (nên) quẫn bách không thi thố được gì. Tiếp đó quân ta đánh chiếm mấy chiếc thuyền, thay phiên vượt sông đánh giết bồi vào cho thêm đau, đồng thời đốt chìm hơn chục chiếc tàu thuyền ngoài bến sông. Toàn quân vượt sông, bọn Tông tộc nhà Lê cùng trăm họ bèn mở cổng thành ra hàng; (ta) chẳng đánh mà thắng.
Cửa ngõ thành Lê gọi Phú Lương. Lũy đồn tuy chắc, chúng bàng hoàng. Thuyền đơn lén nhập, xứng tài tráng. Trí dũng vốn thừa, tiếc giỏi giang.(20) Về nước một vua đành bỏ đất.(21) Lập đền ba tướng mãi lưu hương. (22) Thưởng trung vỗ thuận, tôn vương đạo, (23) Khởi sự binh đao – điềm cát tường.
6. Đồ hình vẽ cảnh Nguyễn Quang Hiển là cháu của Nguyễn Huệ được sai vào bệ kiến và ban cho ăn yến
binh dinh an nam chien do 6
Sau khi Lê Duy Kỳ phục hồi lại đất nước thì không có tài để tự lập, vừa nghe Nguyễn Huệ trở lại, bèn tức khắc bỏ trốn sang nội địa (nước Thanh ta). Trời đã chán ghét cái đức của y, chuyện được mất thành ra lời nói suông. Ta chỉ thờ trời, sao dám chẳng trừng trị sự vi phạm quá quắt, để lại dấy binh đao bao che cho hắn (Lê Duy Kỳ) phục quốc vậy. Sau đó theo như Phúc Khang An tâu rằng Nguyễn Huệ ba bốn phen kêu xin khẩn khoản, hối tội qui thuận, đều xuất phát từ lòng chí thành. Ta cũng chẳng muốn làm ra quá đáng, nhân đó bèn thuận theo lời hắn xin triệt binh. Nguyễn Huệ trước hết sai cháu mình là Nguyễn Quang Hiển vào bệ kiến tỏ lòng thành, lại còn nói rằng sang năm sẽ đích thân đến tận nơi cửa khuyết triều đình mà chúc mừng việc sửa trị, nhân đó mà xin sắc phong. Hôm trước đã nhận biểu văn, (ta) khen cho lời lẽ của y rất đỗi chân thành, gấp mong được thiên triều phong hiệu mà làm vinh hiển, bèn tức khắc sắc phong cho làm An Nam quốc vương. Nay khi Nguyễn Quang Hiển đến tận sơn trang, đúng dịp lễ tiết vạn thọ (của ta), nên lệnh cho hắn được cùng dự tiệc yến một thể, lấy đó mà tỏ rõ ân vinh.
Ai giỏi thắng người, chẳng dụng binh ? Đánh cho biết sợ, phục tâm thành. Họ Lê đáng xót vì trời ghét. Nhà Nguyễn nên cho hưởng phúc lành. Vốn đã thu này sai cháu đến. Sang năm lại sẽ tự thân hành. Chân thành đến vậy phiên bang hiếm. Sao nỡ chẳng khen, đặng hiển vinh !
Ngoài 6 bài thơ đề vịnh của vua Càn Long ra, thì qua sự gợi ý của cước chú của Paul Pelliot, chúng tôi còn may mắn truy tìm thêm được 6 bài thơ “Cung họa ngự chế An Nam chiến đồ lục luật nguyên vận” của Vương Kiệt, lúc bấy giờ là một vị quan đầu triều của nhà Thanh. Theo niên phổ có chép trong Vương Văn Đoàn công Bảo Thuần các tập thì sau khi đỗ trạng nguyên từ năm 1761, Vương Kiệt đã đảm nhiệm chức đốc học ở các tỉnh trong nhiều năm, và sau khi về Kinh lại được lần lượt thăng dần lên đến các chức Đông Các đại học sĩ kiêm tổng tài các nơi như Quốc Sử Quán, Vũ Anh Điện, Tứ Khố Quán, Tam Thông Quán, và thị lang các bộ Lại, Lễ, và thượng thư bộ Binh kiêm Lễ bộ sự vụ, và đến năm 1786 thì lên đến chức Thượng Thư Phòng tổng sư phó, làm thầy học của thái tử là người về sau này trở thành vua Gia Khánh và có truy tặng thụy hiệu cho ông là Văn Đoan và cho thờ trong miếu tiên hiền. Vương Kiệt vẫn thường xướng họa với vua Càn Long và Gia Khánh là những người rất chuộng văn chương, và ông có cung họa một số bài thơ ngự chế của vua Càn Long về vấn đề Việt Nam, đặc biệt là một số bài thơ ngự chế tặng cho An Nam quốc vương Nguyễn Quang Bình (tức vua Quang Trung Nguyễn Huệ). Vì khuôn khổ bài tham luận có hạn, nên chúng tôi hy vọng sẽ sớm có thể lần lượt giới thiệu thêm các tư liệu này trong những dịp khác.
4. Giá trị và ý nghĩa tư liệu của bộ tranh
Như chúng tôi hy vọng đã có thể trình bầy qua ở trên, bộ tranh “Bình định An Nam chiến đồ ” với thơ đề vịnh ngự chế bằng ngự bút của vua Càn Long là một nguồn tư liệu mới có giá trị không nhỏ cho công việc nghiên cứu về quan hệ chiến sự và ngoại giao Việt – Thanh thời Tây Sơn. Với tính thời sự rất lớn của nó, chúng tôi trộm nghĩ rằng bộ tranh này có thể bổ sung một cách đáng kể cho những nguồn tư liệu từ phía Trung Quốc đã từng được giới thiệu với giới nghiên cứu Việt Nam, chẳng hạn như tập ký sự “An Nam quân doanh kỷ lược” của viên bí thư của Tôn Sĩ Nghị là Trần Nguyên Nhiếp (đã được Trần Văn Giáp sao chép và Văn Tân trích dẫn từ những năm 1950), thiên ký sự “Chinh An Nam kỷ lược” của Sư Phạm, và thiên “Càn Long chinh phủ An Nam ký ” trong bộ Thánh vũ ký do Ngụy Nguyên biên soạn mãi vào giữa thế kỷ XIX (đã được Gabriel Devéria phỏng dịch sang tiếng Pháp trích dẫn và giới thiệu từ năm 1898, và Hoàng Xuân Hãn dịch sang tiếng Việt và công bố từ năm 1968), và các nguồn sử liệu chính thức khác của triều Thanh (đã được Lý Quang Đào sưu tập và giới thiệu bằng tiếng Hoa từ năm 1976, và cũng đã được nhắc đến trong các thư mục và các tập tư liệu về Tây Sơn từ những năm 1980 và những năm gần đây tuy rằng còn chưa được trích dẫn tham khảo được một cách toàn bộ).
Dĩ nhiên là nội dung và quan điểm của các nguồn tư liệu từ phía Trung Quốc về quan hệ chiến sự và ngoại giao Việt – Thanh không khỏi có sự lệch lạc chủ quan và khiên cưỡng trong sự nhận định và đánh giá các chi tiết và sự kiện lịch sử. Tuy nhiên các nguồn tư liệu đó là những chứng tích hiển hiện còn sót lại đến nay mà không thể chối bỏ, và những chứng tích này có giá trị tư liệu không nhỏ đối với học thuật, vì theo thiển ý của chúng tôi thì bản thân tư liệu không hoàn toàn là đúng hay sai nhưng chỉ có cách nhận biết và xử lý chúng là có thể đúng hay sai mà thôi. Và trách nhiệm của người làm công tác nghiên cứu là phải nhìn nhận và tìm cách xử lý thích đáng với những nguồn tư liệu may mắn còn sót lại đó để bổ sung cho hiểu biết của mình. Do đó khi giới thiệu sơ bộ về bộ tranh và các bài thơ đề vịnh “Bình định An Nam chiến đồ ” này, chúng tôi không có ý tán đồng hay tuyên truyền cho nội dung của chúng mà chỉ hy vọng có thể khẳng định sự hiện hữu khách quan của chúng là những hiện vật và chứng tích có giá trị thời sự và sử liệu đáng kể. Còn việc xử lý và đánh giá nội dung của những tư liệu như thế này lại không phải là mục đích của bài tham luận sơ lược của chúng tôi, mà đó phải được giành cho nỗ lực và trách nhiệm chung để tìm ra những phương thức xử lý và nhận định thích đáng nhất.
Trong khuôn khổ cuộc hội thảo quốc tế về Việt Nam học và tăng cường hợp tác quốc tế này, chúng tôi hy vọng rằng bài tham luận của mình có thể góp phần khiêm tốn nhưng tích cực trong giao lưu giữa giới nghiên cứu trong và ngoài nước, qua việc giới thiệu một nguồn tư liệu mới khá đặc biệt và lý thú về một giai đoạn quan trọng trong lịch sử nước nhà. Và chúng tôi cũng cảm thấy hết sức cảm kích và hãnh diện khi có thể giới thiệu về một nguồn tư liệu mới từ nơi mái trường thân thương của mình, và nhất là qua sự tài trợ hào hiệp của học viện Harvard Yenching, chúng tôi đã yêu cầu cho phóng ảnh và làm thác bản bộ tranh bộ tranh “Bình định An Nam chiến đồ ” này kính tặng Viện Hán Nôm tại Hà Nội và Bảo tàng Quang Trung tại Bình Định để các học giả Việt Nam trong nước tiện bề tham khảo và nghiên cứu. Chúng tôi mong rằng cử chỉ nhỏ mọn này sẽ được giới nghiên cứu Việt Nam vui lòng thu nhận như là một đóng góp có ý nghĩa hợp tác quốc tế để có thể góp phần nhỏ vào thắng lợi lớn của cuộc hội thảo lần này.
Chú thích:
(*). Thạc sĩ, Đại học Harvard Hoa Kỳ. (1). Xin cảm ơn TS Phan Thùy Vinh của Viện Hán Nôm, GS Phan Đại Đoàn của Khoa Sử trường Đại học quốc gia Hà Nội, và học giả Dương Trung Quốc của tạp chí Xưa & Nay đã giúp cho chúng tôi biết thông tin này. (2). Chúng tôi cũng xin chân thành cảm tạ nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc đã cho xem qua một bản chụp lại của phụ ảnh này trong ấn bản lần thứ tư vào năm 1934 của quyển thứ hai của bộ Văn đàn bảo giám do Trần Trung Viên biên soạn. (3). Trong tập bản thảo đánh máy “Hồ sơ về di tích Tây Sơn và Quang Trung ” được biên soạn vào năm 1970, cố học giả Lê Thước có phiên âm và dịch nghĩa bài thơ này, nhưng đây vẫn là tư liệu chưa công bố. (4). Trước đây trong giới học giả Việt Nam chỉ có GS Nguyễn Khắc Kham đã đọc qua và giới thiệu sơ lược về một thủ bản không nguyên vẹn của sách này tại Đông Dương văn khố ở Tokyo, Nhật Bản vào năm 1971. (5) . Xin cảm ơn TS Nguyễn Công Việt và TS Cung Khắc Lược của Viện Hán Nôm đã giúp chúng tôi nhận dạng các chữ triện này. (6). Nguyên chú: “Khứ thanh”; nguyên văn: “toàn” (7). Nguyên chú: “Khứ thanh”; nguyên văn: “đương” (8). Nguyên văn có tự dạng là “dĩ”, nhưng xét mạch văn với vế đối thì phải là “kỷ” (9). Nguyên văn trên bức tranh là “thầm”, nhưng được sửa lại là “thành” trong các bộ Khâm định An Nam kỷ lược và Càn Long ngự chế thi ngũ tập. Xét về ngữ nghĩa thì “thâu thầm” và “thâu thành” cũng tương tự như nhau. (10). Để tỏ lòng tôn kính với nội tổ của mình là vua Khang Hy đã từng trị vì được 60 năm, vua Càn Long quyết định rằng sau khi cầm quyền được 60 năm thì sẽ nhường ngôi cho con trai là vua Gia Khánh. Bản thân vua Càn Long còn làm Thái Thượng Hoàng được thêm 3 năm nữa rồi mới qua đời. (11). Hiệp trấn Lạng Sơn là Trần Danh Bính, vốn là người dân tộc thiểu số (nên gọi là “thổ tù”), trước đã đầu hàng quân Thanh sau lại trốn về Thăng Long. Các nguồn sử liệu Việt Nam lại cho biết rằng Trần Danh Bính được Ngô Văn Sở cử làm sứ giả đến hoãn binh rồi bị Tôn Sĩ Nghị đem chém. (12). Tôn Sĩ Nghị sai phục binh bắt sống được Trần Danh Bính rồi xử theo quân pháp (13). Phó tướng Tôn Khánh Thành là chắt nội của Chấn Vũ tướng quân Tôn Tư Khắc vốn là một khai quốc công thần của nhà Thanh. (14). Tô Định Phương đời Đường, nhờ sương mù mà đánh úp trại giặc. (15). Triệu Tiết đời Tống, dung kế phá tướng Bốc Lậu của rợ Nhung tại sông Lô. Ở đây chúng tôi chỉ dịch thoát ý của nguyên văn là: “(Triệu Tiết) vượt sông Lô, (khiến cho) Bốc Lậu mất đi bến bờ quan trọng”. (16). Hai tướng ở đây chỉ phó tướng Tôn Khánh Thành và tổng binh Dương Thụy Thăng. Họ đều là người Hán tộc chứ không phải Mãn Châu. (17). Hai tướng ở đây chỉ phó tướng Tôn Khánh Thành và tổng binh Thượng Duy Thăng (là dòng dõi đời sau của Bình Nam Vương Thượng Khả Hi thời “tam phiên” mở nước của nhà Thanh). Họ đều là người Hán tộc chứ không phải Mãn Châu. (18). Theo nguyên chú thì vua Càn Long có xuống chỉ dụ cho Tôn Sĩ Nghị thăm dò vượt sông đánh úp, nhưng chỉ dụ chưa tới thì Tôn Sĩ Nghị cũng đã biết dùng kế ấy mà thắng trận sông Thị Cầu. (19). Nguyên văn và nguyên chú ở đây có ý so sánh Tôn Sĩ Nghị dùng mưu vượt sông như Điền Phong đời Đông Hán lợi dụng chỗ hở mà đánh úp H. Nam. Chúng tôi chỉ dịch thoát ý. (20). Ơ đây ngụ ý thương tiếc đề đốc Hứa Thế Hanh trước đây đã có tài dũng cảm đột phá sông Phú Lương, sau đó lại bỏ mình để chặn hậu cho Tôn Sĩ Nghị tháo lui khi quân Tây Sơn phản công chớp nhoáng trong chiến dịch Ngọc Hồi – Đống Đa. Điều lý thú là bài thơ đề vịnh cho trận chiến ở sông Phú Lương này lại dành quá nửa để nói về những sự kiện tiếp theo, trong đó thất bại chiến sự của quân Thanh dĩ nhiên đã được lấp liếm qua thành công ngoại giao với nhà Tây Sơn. (21). Lê Chiêu Thống đã được quân Thanh đưa về nhưng lại mất nước lần thứ hai. (22). Nhà Thanh đòi hỏi vua Quang Trung Nguyễn Huệ phải lập đền thờ cho ba tướng của họ bị tử trận là: đề đốc Hứa Thế Hanh, cùng hai tổng binh là Trương Triều Long và Thượng Duy Thăng. Nguyên chú không nhắc gì đến thái thú Điền Châu là Sầm Nghi Đống, vốn mang chức vị thấp hơn so với ba tướng kể trên. (23). “Thù trung” chỉ việc bắt lập đền để tưởng thưởng lòng trung của ba tướng nhà Thanh tử trận; “phủ thuận” chỉ việc hòa hiếu với nhà Tây Sơn.