XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG

Thứ Sáu, 10 tháng 5, 2024

SÔNG MÃ - DÒNG SÔNG CHỞ PHÙ SA VĂN HÓA


                                          Trần Việt Anh

          Hạ nguồn sông Mã, nơi hội tụ của các dòng sông chính của xứ Thanh để tạo nên một châu thổ màu mỡ, cũng là nơi hội tụ của nhiều dòng văn hóa xuôi - ngược, Bắc - Nam… để nảy sinh vùng văn hóa Hàm Rồng có nhiều nét riêng trên nền tảng chung của văn hóa dân tộc. Một trong những hoa trái của vùng văn hóa này là sản phẩm của văn hóa truyền thống, là nền nghệ thuật đồ đồng Đông Sơn, là các kiến trúc cổ (cả đá và gỗ) đậm đà bản sắc dân tộc.

          Nếu chỉ nói tới một dòng sông chở nặng phù sa để bồi đắp cho miền châu thổ, làm nên những cánh đồng lúa và hoa mầu tốt tươi thì chưa đủ. Qua lịch sử, sông Mã còn cõng trên lưng nó những giá trị văn hóa, để rồi đem ánh sáng trí tuệ của tổ tiên lan tỏa đi muôn phương. Qua địa phận Thanh Hóa, sông Mã đã tạo nên một nền văn hóa Đông Sơn rực rỡ, sức mạnh lan tỏa của nó được chảy suốt theo dòng thời gian và không gian, làm cho xứ Thanh ít nhiều mang dấu ấn riêng trong văn hóa chung của dân tộc.

          Bằng vào các di sản văn hóa để lại chúng ta có thể nghĩ không gian văn hóa Hàm Rồng là một điểm sáng điển hình của văn hóa xứ Thanh, một điểm hội tụ của các dòng chảy văn hóa xuôi, ngược tứ phương mà dệt thành truyền thống rực rỡ.

          Dòng thứ nhất là đi theo hướng từ núi ra biển, dòng sông bắt đầu từ Điện Biên đến Sơn La vòng qua Sầm Nưa (Lào) và quay trở lại chảy vào huyện Mường Lát, Thanh Hóa xuôi dòng chảy hợp với sông Chu ở cuối nguồn, rồi chảy ra biển. Đây là một dòng sông có độ dốc cao, chảy siết, hay đổi dòng, có nhiều thác ghềnh (tính từ Phong Ý - Cẩm Thủy ngược lên đã có 54 thác lớn nhỏ)1, ngoài thác còn có vực là những xoáy nước lớn hết sức nguy hiểm có thể nhấn chìm cả những chiếc thuyền hay tấm mảng lớn. Con sông chở nặng phù sa nhưng khó cho việc giao thông mà tổ tiên đã nói tới với tinh thần vượt thác ghềnh một cách rất anh dũng, để lại cho chúng ta những gì mà trên dòng sông khác rất hiếm, có thể thấy hầu như chỉ một dòng sông Mã trước đây mới có hò đò dọc. Đò dọc là đò di chuyển xuôi, ngược, trong các chuyến đi, những người lái đò cần sự đồng tâm hợp lực để quên đi mệt nhọc và điệu Hò rời bến, Hò đò ngược như hiệu lệnh cho những người chèo đò đưa con thuyền đi nhanh hơn, đến khi gặp thác ghềnh câu hò lại trở nên khỏe khoắn và quyết tâm hơn như Hò mắc cạn. Khi con đò lướt qua những thác ghềnh để trở về với dòng sông êm dịu, điệu hò lại trở nên nhẹ nhàng êm dịu như Hò suôi dòng, Hò làn ai..., tất cả diễn trình trên dòng sông đã được sáng tạo thành những làn điệu mà ở mỗi không gian khác nhau làm nên sự sáng tạo hò khác nhau.

          Qua những dấu tích hò, mới thấy sức lao động của người xưa đối với sông Mã chuyển hóa thành nghệ thuật lớn như thế nào, và một giả thiết để làm việc được đặt ra với chúng tôi là, ngay từ thời nguyên thủy, người đương thời đã sử dụng con sông để vận chuyển hàng hóa, buôn bán, lưu thông. Con sông sớm được mang tính giao thương bởi theo dòng sông Mã, có thể những con thuyền của cư dân ven biển đã đến tận Sơn La thuộc Tây Bắc, gần với mỏ đồng Tụ Long, nơi cung cấp cho họ nguyên liệu cơ bản, từ đó đưa về vùng đất tụ cư của mình mà thúc đẩy cho văn hóa đồ đồng Đông Sơn phát triển. Mặt khác, chúng ta luôn ngờ rằng, từ thời khá sớm quan họ Bắc Ninh đã có sự tham gia của người ngoài Biển (Malayô - Đản)/Nam Đảo, và việc so sánh với cư dân biển ở xứ Thanh đã có phần đồng nhất; lời trong bài hát “đò đưa” - dân ca Thanh Hóa - một bài hát mà giai điệu gần với “xe chỉ luồn kim” của Quan họ Bắc Ninh, trong khi đó dân ca Quan họ với lời ca và âm nhạc ít nhiều có ảnh hưởng từ âm nhạc Malayô2. Trong thời gian tiếp cận với tư bản phương Tây thì dòng sông Mã cũng mở cửa cho người ngoại quốc buôn bán, họ đã đưa vào đây dòng văn hóa mà nay dấu tích là múa Tú Huần, múa Hoa Lan (Hà Lan), mà những điệu múa ấy còn cho chúng ta thấy cách phục trang của người lính châu Âu. Các nhà khảo cổ học còn cho thấy, đương thời đã có một sự giao lưu “công cụ” giữa người Thanh Hóa với cư dân nhiều vùng khác ở những thời điểm bản lề ấy3.

          Dòng thứ hai là đi từ biển vào: Nhìn xa hơn về quá khứ cách đây khoảng 2500 năm, vùng Hoa BắcTrung Quốc có nạn bùng nổ dân số, người Hán đã tràn về phía Đông và phía Nam, đẩy một bộ phận người Tày - Thái và người Đản phải thiên di, họ đến Việt Nam, Lào, Thái Lan, đặc biệt người Đản ở gần ven biển rất giỏi nghề sông nước, họ đã tìm xuống những vùng phi Hán như Việt Nam, rồi Malayxia, Inđônêxia. Với Việt Nam, họ đã qua cửa Bạch Đằng, cửa sông Hồng, cửa sông Đáy, một dấu tích là họ đã đưa văn hóa biển vào, ở mặt kinh tế trước đây như giáo sư Từ Chi đã nói, đó là những bãi mía dọc dài ven sông. Ngoài ra, họ cũng ít nhiều để lại những làn điệu gần gũi với nhạc Chăm (ngoài vùng phân bố của tù binh Chăm dưới thời Lý, Trần, Lê). Ở xứ Thanh thì sự thâm nhập của người Đản (Malayô) có phần dễ dàng hơn, họ đã vào từ cửa sông Mã, chúng ta hiểu thành phần Malayô như cố GS. Từ Chi và Trần Quốc Vượng đã chỉ cho chúng tôi đó là một thành phần cơ bản để hình thành hệ Việt Mường.

          Những người Đản này đã đem văn hóa biển cùng với đức tính đặc biệt về văn hóa của họ là ăn sóng nói gió, linh hoạt và giỏi về nghề đi thuyền, họ thâm nhập vào một địa điểm vô cùng thuận lợi cho việc định cư và phát triển đó là vùng Hàm Rồng, họ đã góp phần tích cực phát triển nền kinh tế và văn hóa Đông Sơn với kỹ thuật đúc đồng điển hình. Có một nhà nghiên cứu, mấy chục năm trước đây đã nhìn thấy Đông Sơn và sông Mã là một điểm sáng văn hóa chung của dân tộc với câu nói “Văn minh sông Hồng mà không tính đến sông Mã thì nền văn minh ấy trở nên khập khiễng”. Điều đó càng được chúng tôi tin là chính xác khi cố GS. Từ Chi đã dạy các học trò của ông, văn hóa Bắc Bộ là thống nhất cho tới tận sông Gianh (ranh giới của Hà Tĩnh và Quảnh Bình). Chính vì thế, suốt chiều dài của sông Mã ở trên đất Thanh Hóa, di chỉ cồn Chân Tiên, tiêu biểu cho giai đoạn sớm nhất của thời đại đồng thau ở ven đôi bờ sông Mã; làng cổ Đông Sơn,... có giá trị đặc biệt quan trọng trong việc góp phần làm sáng tỏ nhiều quan điểm lịch sử mới, đã chứng minh có một nền kinh tế nông nghiệp phát triển, một tổ chức nhà nước sơ khai thời các vua Hùng.

         Trên tinh thần đó chúng tôi đi sâu vào di sản văn hóa, và chúng tôi đã tìm được một số giếng vuông ở xã đảo Nghi Sơn, (Tĩnh Gia), xã Hoằng Lộc ( Hoằng Hóa) ở gần cửa Đình Bảng Môn; đây là mô típ giếng khác hẳn với giếng của người Việt nói chung, giếng Chăm thường được xây dựng với nguyên liệu chính là gạch và đá, giếng thường có “miệng tròn đáy vuông” hoặc “miệng vuông đáy tròn”. Trong phương ngữ giao tiếp, sinh hoạt hàng ngày ở bản làng Kênh Thủy, xã Vĩnh thịnh, Huyện Vĩnh Lộc (nơi đây cũng tại chùa Hoa Long vẫn còn nhang án đá với nhiều hình tượng chạm khắc có ảnh hưởng văn hóa Malayô), một số làng thuộc xã Hà Đông, Hà Lĩnh, huyện Hà Trung vẫn tồn tại sự khác biệt trong phương ngữ đối với các làng cổ ở tỉnh Thanh Hóa4. Và, chúng ta thấy tiếng của người xứ Thanh bắt đầu nặng hơn của người Bắc Bộ (biểu hiện rõ hơn có lẽ là của cư dân Hoa Lộc - Hậu Lộc). Có phải không gian ngăn cách giữa Bắc Bộ và Thanh Hóa đó là vùng Đồng Giao (phía Nam Tam Điệp, Ninh Bình) “lắm hổ nhiều ma” để cho ít nhiều giữa hai vùng có khác nhau. Đó là suy luận của những người nhìn nhận lịch sử theo cảm tính, còn chúng ta đã thấy có như một lý do khác đó là tỷ lệ Malayô ở Xứ Thanh nhiều hơn ở Bắc Bắc Bộ. Sinh thời cố GS. Từ Chi và một vài người cộng sự của ông đã từng ngờ rằng tiếng nói từ Thanh Hóa đi vào sâu so với Bắc Bộ ngày trở nên nặng, ông và cộng sự đã kể rằng, một lần đi vào một làng bãi, nơi trước đây tập trung gốc của tù bình Chăm ở ven sông Đáy thì tiếng nói của người địa phương này như người Nghệ Tĩnh. Giả thiết đặt ra, tỉ lệ giữa người Malayô và bản địa càng cao thì tiếng nói càng nặng. Trở lại với xứ Thanh chúng ta không thể cãi được rằng, điều kiện lịch sử xã hội đã xây dựng nền kinh tế biển, đồng bằng, miền núi đan xen mà trục trung tâm giao lưu là dòng sông Mã với Hàm Rồng là điểm sáng khởi đầu, từ đó hội nhập và cũng từ đó tỏa ra. Từ nơi đây, chúng ta nhìn sang lĩnh vực khác thuộc di sản văn hóa và nghệ thuật, bắt đầu từ giai đoạn cồn Chân Tiên, các nhà khảo cổ học đã nhận thấy gốm nơi ấy có sự gần gũi với gốm Phùng Nguyên và cả với gốm đền Đồi ở sông Lam (Nghệ An). Tính đa dạng cũng như sự giao lưu văn hóa mạnh mẽ vào buổi đầu thời kim khí trên đất Thanh Hóa chứng tỏ có những bộ tộc cùng tồn tại bên nhau trong thể hòa đồng. Nghề gốm làng Vồm (Thiệu Khánh, Thiệu Hóa), thời thuộc Hán đến đầu tiền Tống, làng Vồm cận lân với thành Tư Phố - trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa lúc bấy giờ. Gốm làng Vồm với men ngọc độc đáo không chỉ nổi tiếng trong nước mà trên cả thế giới.

          Một điểm đáng quan tâm mà nay chưa giải mã được, đó là trong một dịp khảo sát gần đây chúng tôi đã tìm được đôi rồng 5 móng bằng đá ở đền thờ Đức Ông (phía sau chùa Vồm, Thiệu Khánh, Thiệu Hóa), nhỏ hơn đôi rồng ở bậc điện Lam Kinh. Nhận thức đầu tiên của chúng tôi dưới góc độ tạo hình là rồng 5 móng gắn với vua, rồng của dân là dưới 5 móng. Phải chăng nơi đây đã từng là một điểm dừng thuyền của các vua thời Lê Trung hưng từ ngoài biển vào, trước khi ngược dòng sông Mã sang sông Chu về cáo yết tổ tiên. Nếu quả đúng như vậy, địa điểm này không đơn giản chỉ gắn với kinh tế, mà rất có thể nơi đây đã từng có một hành cung thuộc thế kỷ XVII (ở ngã ba sông Lèn, ngã ba Bông và ngã ba Đầu, nơi sông Chu gặp sông Mã, những dòng nước “lang thang” gần như khắp mọi miền dồn về con sông cái (sông Mã) của xứ Thanh). Người xưa thường nghĩ mọi ngã ba là nơi “quằn quại” trong sự giao phối của hai con sông khác nhau để dồn sinh lực về nhành chính, đem phù sa, tức nguồn sống vô bờ bến xuống những cánh đồng phì nhiêu ven biển.

          Chuyển sang lĩnh vực kiến trúc và nghệ thuật, từ thời Đông Sơn với trung tâm là Hàm Rồng, hình tượng con người chiếm vị trí chủ đạo trong thế giới của muôn loài, được thể hiện trên trống đồng. Con người luôn hòa với thiên nhiên, với mọi vật nhưng luôn là trung tâm của thế giới (hình ảnh con người đánh trống, thổi kèn, đánh cá chèo thuyền ở trên trống đồng). Còn đối với nghệ thuật chạm khắc đá, gỗ truyền thống trong các di tích (đình, đền, chùa) còn lại hiện nay ở Thanh Hóa, đa phần hạn chế hơn so với di tích cùng thời ở Bắc Bộ. Riêng về nghệ thuật chạm khắc đá, mà nghệ nhân là những người thợ làng An Hoạch - Đông Sơn, Thanh Hóa đã để lại cho chúng ta những kiến trúc có quy mô khá lớn như thành nhà Hồ (cuối thế kỷ XIV); tới thời Lê với bia Vĩnh Lăng mang giá trị nghệ thuật cao, nhiều nhà nghệ thuật đã đánh giá phong cách nghệ thuật bia thời Lê sơ, đặc biệt nhóm bia Lam Kinh (thế kỷ XV) đã đạt đến mức chuẩn mực trong nghệ thuật bia ký Việt Nam, đa dạng trong kỹ thuật chạm khắc. Tới đầu thế kỷ XVII, đặc biệt như bia ở đền thờ Lê Hoàn - Thọ Xuân, có chạm hình tượng rồng phủ trùm cả bầu trời... đến thời Lê Trung hưng, các quận công là công thần của triều Lê đã trở về xây dựng quê hương, chuẩn bị cho việc thờ cúng và nơi yên nghỉ của mình, như đền thờ Nguyễn Văn Nghi (Đông Sơn) được xây dựng vào khoảng 1629 - 1632, ở đây di tích còn lại chủ yếu là hệ thống tượng thờ bằng đá (tượng người, ngựa, voi, chó và 03 tấm bia) về tạo hình và quy mô cho thấy vẻ bề thế của đền thờ, tượng và bia đã đạt được giá trị điển hình của đương thời. Đến khu đền lăng Mãn Quận Công (An Hoạch, Đông Sơn), số lượng tượng quan hầu và ngựa được bố trí nhiều hơn tạo nên một phong cách mới trong hệ thống lăng quận công ở thế kỷ XVIII, với những mảng chạm trau chuốt (chúng tôi cho rằng, việc phá lệ của triều đình về qui định số tượng chầu đối với lăng Mãn Quận Công có lẽ là biểu hiện sự suy giảm quyền lực của vua Lê - chúa Trịnh đối với các ông quận ở vùng xa)5.

          Với chất liệu gỗ, nghệ thuật tạo hình được thể hiện dễ dàng hơn mà một tiêu biểu là di tích chùa Hoa Long (Vĩnh Thịnh - Vĩnh Lộc), ở đây chúng ta bắt gặp hình tượng cô tiên dang rộng cánh, làm theo hình thức nửa tượng, nửa phù điêu, được gắn trên xà của gian giữa, rồi hiện tượng rồng chầu mặt trời, có lồng chữ Phúc hoặc chữ Lộc trong tâm, đó là hình tượng rất hiếm thấy trên các di tích cùng thời khác. Nằm trong quần thể của di tích chùa Hoa Long, ngay phía trái chùa, cùng khuôn viên là đền thờ Trần Khát Chân (ông được nhiều nơi thờ). Ở ngôi đền này, chúng ta tìm thấy nghệ thuật kiến trúc của thế kỷ XVII mà ít ngôi đền khác có được, đó là kiểu “tứ thủy quy đường”, với tòa tiền bái, hành lang và nhà hậu ôm lấy nơi thờ tự chính. Đặc biệt trong kiến trúc này có “ khu đĩ” của mái hành lang nhô cao hơn mái của tòa tiền bái, ở đây có mảng chạm với hình tượng tiên nữ cưỡi rồng, đó là đặc điểm riêng mà hầu như chỉ ở ngôi đền này mới có. Chúng ta cũng thấy một thành phần kiến trúc được coi là sớm nhất trong hệ thống kiến trúc của người Việt là chiếc xà lòng ở hai đầu hồi, chúng hợp cùng xà đai tạo nên một bộ khung kiến trúc vững chắc. Ngoài ra trên cấu kiện kiến trúc còn dày đặc những hình chạm trau chốt với nhiều đề tài khác tương đồng với đền vua Đinh, vua Lê, đền Điềm Giang ở Ninh Bình.

          Một di tích nổi tiếng khác là đền Cả/Đế Thích (Đông Thanh, Đông Sơn) mà ở đó phần nào nổi lên ý chí “giải Hoa” về mặt tư tưởng của người xưa bởi Đế Thích là một vị thần tối thượng từ thời khai thiên lập địa thuộc văn hóa Ấn Độ (Bà-la-mon/Ấn Độ giáo), sau này có lẽ đến tận đầu thế kỷ XX, đền Đế Thích mới liên quan đến ông vua cờ do những nhà Nho bất đắc trí chở văn hóa Trung Hoa thâm nhập vào ngôi đền. Đối với ngôi đền ấy có những mảng chạm đầy yếu tố dân dã, nói lên ước vọng cầu mưa, cầu mùa, cầu phúc của cư dân.

          Về với vùng cửa sông Mã (cửa Hới) có đền thờ Độc Cước (làng Núi, Sầm Sơn), một ngôi đền nằm trên mõm núi Trường Lệ, ở đây yếu tố Malayô, thể hiện rất rõ và gần như duy nhất là ở thần Độc Cước. Trên nước ta không nơi nào thần Độc cước lại được thờ phụng nhiều như ở Thanh Hóa. Sầm Sơn là nơi hình thành huyền thoại vị thần này (còn gọi là thánh Độc/Độc Cước), thần Độc Cước được đưa vào thần điện Phật giáo với tư cách như là đệ tử của Quan Thế Âm Bồ Tát. Đồng thời thần điện Đạo giáo Việt Nam còn coi Độc Cước như là một vị thần cùng Ngộ Không, làm trợ thủ cho Huyền Đàn (một tổ phù Thủy). Do vậy có thể coi đây như là một hình thức tôn giáo tín ngưỡng, pha trộn giữa tín ngưỡng dân gian với Phật giáo và Đạo giáo. Theo như Hoàng Minh Tường, sưu tầm của ông đã cho chúng ta hiểu thần Độc Cước phân thân lấy một nửa để bảo vệ ngư dân ngoài biển, nửa kia bảo vệ nhân dân đồng ruộng trong đất liền.

          Song, đối với chúng tôi, những người làm nghệ thuật, đều hiểu rằng hầu như mọi hình tượng mỹ thuật (các linh vật, mọi biểu tượng) được thể hiện thiếu như hổ phù, thần Độc Cước (hình người chỉ có một phần trên)... là biểu tượng của mặt trăng hoặc ít nhiều có liên quan đến mặt trăng, vì trong một tháng mặt trăng khuyết nhiều hơn tròn, vì thế hổ phù cũng có lúc tự nó là biểu trượng của mặt trăng (trường hợp đôi rồng chầu hổ phù) và mặt trăng thì liên quan đến thủy triều ảnh hưởng tới những con thuyền ra khơi. Mặt trăng được nhân cách hóa đó là thần Độc Cước có nghĩa con người muốn đồng nhất với tinh cầu này để hòa vào thiên nhiên vũ trụ, mong được yên ổn khi ra biển và ít nhiều cầu cho thủy triều đỡ hung dữ. Ở lĩnh vực nông nghiệp người xưa từng coi mặt trăng gắn bó rất nhiều với sự sinh sôi nảy nở, ánh trăng vàng làm cho trai gái yêu nhau, cho âm dương hòa hợp để muôn loài và nhất là cây trồng phát sinh phát triển, rõ ràng mặt trăng vừa có tác động đến cư dân nông nghiệp, cư dân biển cả. Và có lẽ thần Độc Cước, phân thân là một sáng tạo khá riêng của cư dân xứ Thanh ở vùng cửa sông Mã này, và sự phân làm hai nửa chỉ là sản phẩm muộn khi huyền thoại gốc bị tàn phai.

          Như vậy, con sông Mã đã chở những giá trị văn hóa góp phần cơ bản làm nên một xứ Thanh giàu truyền thống, nhà địa lý học Lê Bá Thảo đã nói, châu thổ Sông Mã, như là sự lặp lại của châu thổ Bắc Bộ (châu thổ sông Hồng). Chính vì vậy, có thể coi châu thổ sông Mã là hệ thống châu thổ đứng thứ ba sau châu thổ sông Hồng ở phía Bắc và Cửu Long ở phía Nam. Những giá trị văn hóa được chuyên chở trên dòng sông Mã làm nên văn hóa Đông Sơn mà trung tâm là Hàm Rồng, và Hàm Rồng còn là một danh thắng, nơi dừng chân của các danh nhân lịch sử, như: Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Trung Ngạn, Trần Nghệ Tông, Lê Quát, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông, Ngô Thì Sĩ, Ninh Tốn... với một số bài thơ bất hủ vẫn còn khắc trên những vách đá của núi Hàm Rồng./.

T.V.A

Chú thích:

1- Địa chí Thanh Hóa (2002), Tập II, Văn hóa xã hội, Nxb. Khoa học xã hội, tr. 154.

2- Lê Ngọc Tạo (2007), “Khảo cổ học xứ Thanh - Một vài thành tựu”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 2 (19), tr. 71.

3- Hoàng Minh Tường (2007), Văn hóa dân gian Thanh Hóa, bước đầu tìm hiểu, Nxb. Văn hóa Dân tộc, tr. 241.

4- Hoàng Minh Tường (2007), Văn hóa dân gian Thanh Hóa, bước đầu tìm hiểu, Nxb. Văn Hóa Dân tộc, tr. 242.

5- Lê Văn Tạo (2008), Một số đặc trưng của nghệ thuật chạm khắc đá truyền thống ở Thanh Hóa, Nxb. Thanh Hóa, tr. 88.

Tài liệu tham khảo:

1- Trần Việt Anh (2012), “Vài đặc điểm về chạm khắc gỗ trên di sản văn hóa xứ Thanh”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 2 (39).

2- Địa chí Thanh Hóa (2002), Tập II, Văn hóa xã hội, Nxb. Khoa học xã hội.

3- Kỷ yếu Hội thảo khoa học (2014), Hàm rồng - Địa danh lịch sử văn hóa đặc biệt của xứ Thanh, Nxb. Thanh Hóa.

4- Lê Văn Tạo (2008), Một số đặc trưng của nghệ thuật chạm khắc đá truyền thống ở Thanh Hóa, Nxb. Thanh Hóa.

5- Lê Ngọc Tạo (2007), “Khảo cổ học Xứ Thanh - Một vài thành tựu”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 2 (19), trang 71.

6- Hoàng Minh Tường (2005), Tục thờ thần Độc Cước ở làng Núi, Sầm Sơn,

 

Thanh Hóa, Nxb. Văn hóa - Dân tộc. (Ngày nhận bài: 15/6/2014; Ngày phản biện đánh giá: 7/8/2014; Ngày duyệt đăng bài: 21/8/2014).

Thần linh và đền thờ xứ Thanh trong dòng chảy văn hóa Việt

 

            Những đền thờ thần ở Thanh Hóa, do biến động của lịch sử mà đến nay không còn đầy đủ. Tuy nhiên, qua tư liệu có thể thấy sự phong phú, đa dạng của loại hình di tích này. Cuốn Thanh Hóa chư thần lục (năm 1903) đã cho biết đến đầu thế kỷ XX, toàn tỉnh Thanh Hóa có có 3.561 phủ, nghè, đền, miếu là cơ sở thờ tự, với 804 dương thần và 171 âm thần. Song, đó chỉ là số thần linh cùng nơi thờ tự được làng, xã kê khai và triều đình công nhận, trên thực tế, số lượng thần linh được thờ trong các làng, xã có thể vượt xa con số thống kê, bởi, triều đình đã gạt bỏ rất nhiều vị bị coi là “dâm thần”, “tà thần”, dù cho Nhân dân vẫn kính sợ hoặc ngưỡng vọng mà thờ phụng

            Ở xứ Thanh không lưu truyền tích truyện các thần khổng lồ của thời khai thiên lập địa như bà Nữ Oa hay ông Tát Bể, ông Kể Sao, ông Đào Sông,... nhưng lại có rất nhiều truyền thuyết về những anh hùng văn hóa - những người khổng lồ có công tạo lập nên núi non, sông ngòi, đồng ruộng, giúp dân sản xuất nông nghiệp, như ông Cõng đá vùng Tĩnh Gia (nay là thị xã Nghi Sơn); ông Lau vùng Quảng Xương; ông Nưa vùng Nông Cống; ông Vồm, ông Go vùng Đông Sơn; ông Nuông vùng Thiệu Hóa, Yên Định; ông Đẻn, ông Hà Rò, ông Bưng vùng Hoằng Hóa.... “Dấu vết” cho câu chuyện thách đấu giữa ông Tu Vồm với ông Tu Nưa, giữa ông Tu Vồm với Thánh Bưng/Thánh Tến liên quan tới hình dạng những ngọn núi sót nằm rải rác khắp vùng Hàm Rồng. Trong một loạt mô-típ về sự sáng tạo tự nhiên buổi ban sơ này, vai trò ông Vồm nổi lên như một nhân vật trung tâm. Dấu chân của ông in trên triền núi Đọ được dân gọi là dấu “bàn chân tiên”, như một sự tương đồng với dấu chân người khổng lồ trong truyện Thánh Gióng và nhiều truyện kể dân gian khác. Ông là người có tầm vóc kỳ vĩ, có công gánh núi lấp biển, tạo lập nên đồng bằng sông Mã, hai ngọn núi Bằng Trình và Đại Khánh ở Ngã Ba Đầu nơi sông Chu và sông Mã hợp lưu là dấu tích do đòn gánh của ông bị gãy. Về thực chất, nhân vật ông Vồm là một sản phẩm văn hóa được sáng tạo bằng tâm thức dân gian, vay mượn với tư duy mở đất buổi ban đầu của lịch sử dân tộc, là sự phản ánh quá trình đấu tranh của con người trong việc chinh phục tự nhiên để chuyển dịch bền bỉ từ miền núi cao, trung du xuống chiếm lĩnh miền châu thổ rộng lớn. Trong đó, các dòng sông (chủ yếu là sông Mã) là con đường quan trọng nhất giúp cho sự chuyển dịch này.

           Bên cạnh đó, nhiều vị thần không phải xuất hiện từ thời khai thiên lập địa nhưng vẫn có yếu tố nào đó của anh hùng văn hóa, mà ở châu thổ sông Hồng có thể kể đến Chử Đồng Tử, Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Ở Thanh Hóa, việc thờ Liễu Hạnh công chúa có nhiều dấu ấn đậm nét. Sách Thanh Hóa chư thần lục cho biết, ở Thanh Hóa có 48 làng thờ Liễu Hạnh công chúa ở 11 huyện. Nhưng sách Địa chí Thanh Hóa ghi nhận đến năm 1920, việc thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh đã phát triển mở ra nhiều phủ, đền khắp tỉnh Thanh Hóa.

             Đền Sòng thuộc phường Bắc Sơn (thị xã Bỉm Sơn), là một trung tâm thờ Mẫu nổi tiếng. Theo truyền thuyết, đền Sòng là nơi Liễu Hạnh công chúa hiển Thánh sau lần giáng trần thứ ba ở Phố Cát (Thạch Thành). Thời Nguyễn, thánh Mẫu Liễu Hạnh chính thức được triều đình ban sắc là “mẫu nghi thiên hạ”. Hai trung tâm thờ Mẫu lớn nhất và nổi tiếng nhất là Phủ Dầy (Nam Định) và đền Sòng - Phố Cát (Thanh Hóa). Tuy nhiên, trong tâm thức dân gian, đôi khi đền Sòng xứ Thanh đã được coi “thiêng” nhất.

Nhất vui là hội Phủ Dầy

Vui thì vui vậy chưa tày Sòng Sơn

(Lời hát văn cổ)

             Ở Thanh Hóa, còn gặp nhiều ngôi đền gắn với các nhân vật, sự kiện thời dựng nước đầu tiên trong lịch sử dân tộc. Thần tích ở đền Hổ Bái (Yên Định) có nội dung Hùng Trinh Vương, con trai thứ 11 của Lạc Long Quân, đến vùng hạ lưu sông Mã để chọn đất lập bộ, một vùng phên dậu của nhà nước Văn Lang ở phía Nam. Cũng ở Yên Định, có ngôi đền Đồng Cổ thờ vị thần đã giúp Vua Hùng và nhiều vị vua đời sau đánh giặc. Nhiều nhà nghiên cứu của xứ Thanh, gần đây, đã tìm ra ở Hà Trung dấu tích đền thờ Phan Tây Nhạc (một bộ tướng của Vua Hùng). Nhiều đền thờ khác của các vị thần thời kỳ dựng nước cũng xuất hiện ở Thanh Hóa như: đền thờ Mai An Tiêm (Nga Sơn), Nguyệt Nga công chúa (Hà Trung), Tướng quân Cao Lỗ (Hoằng Hóa), đền Cổ Ninh thờ Phù Đổng Thiên Vương (Yên Định), An Dương Vương (thị xã Nghi Sơn)... Những ngôi đền này một mặt khẳng định vị thế của vùng đất Thanh Hóa trong lịch sử, một mặt có thể phản ánh quá trình di cư của người Việt từ phía Bắc vào Thanh Hóa, hoặc từ Thanh Hóa đi nơi khác, mà đi đến đâu họ cũng mang theo vị thần của cộng đồng mình để thờ phụng.

         Là mảnh đất nhiều chiến tranh loạn lạc, gắn bó với sự thịnh suy của các triều đại phong kiến, nên đã nảy sinh một dạng đền thờ nhân thần. Trước hết là các vua chúa: đền Bà Triệu (Hậu Lộc), Lê Hoàn (Thọ Xuân), Đinh Tiên Hoàng (Nông Cống), Lê Thái tổ, lăng mộ các vua và hoàng hậu nhà Lê Sơ ở Lam Kinh, đền, phủ thờ các vua Lê, chúa Trịnh, vua chúa Nguyễn... Được nhân dân ngưỡng vọng hơn cả là đền thờ các vị anh hùng dân tộc - những con người gắn với sự hưng thịnh của quốc gia dân tộc, như đền thờ Triệu Việt Vương (Hoằng Hóa), Dương Đình Nghệ (TP Thanh Hóa), Lý Thường Kiệt (Hà Trung), Tô Hiến Thành, Trần Hưng Đạo (ở nhiều địa phương), Quang Trung (thị xã Nghi Sơn),... hay các nhân vật lịch sử có công lao lớn trong công cuộc chống giặc ngoại xâm như: đền thờ Lê Phụng Hiểu (Hà Trung, Hoằng Hóa), Trần Khát Chân (ở nhiều địa phương), Cao Bá Điển (Hoằng Hóa)..., rồi của những người học rộng, tài cao, đỗ đạt, được dân trọng vọng, như đền thờ Khương Công Phụ (Yên Định), Nguyễn Quỳnh, Nguyễn Quán Nho (Hoằng Hóa), Hoàng giáp Lê Bật Tứ (Triệu Sơn)...; đền của những tổ nghề, người có công giúp dân lập làng, phát triển sản xuất, như: đền Trà Đông thờ tổ nghề đúc đồng (Thiệu Hóa), đền Bà Triều thờ tổ nghề dệt săm xúc (TP Sầm Sơn), đền thờ Đào Duy Từ (thị xã Nghi Sơn), miếu Nhị thờ hai nhân vật có công lập ra làng Đông Sơn (TP Thanh Hóa)...

        Nhiều đền thờ gắn liền với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn trên đất Thanh Hóa và công cuộc xây dựng đất nước ở thế kỷ XV, như: đền thờ Lê Lợi (Thọ Xuân), Lê Lai (Ngọc Lặc), Nguyễn Chích (Đông Sơn), Đinh Lễ, Lê Liễu (Thiệu Hóa), Lê Lộng (Triệu Sơn), Lê Thành (TP Thanh Hóa), Lê Trương Lôi - Lê Trương Chiến (thị xã Nghi Sơn), Lê Viện (Hoằng Hóa), Ngọc Lan (Thọ Xuân), Nguyễn Thiện (Quảng Xương), Nguyễn Trừng (Đông Sơn), Nguyễn Trung Nghĩa (Đông Sơn), Phạm Vấn - Phạm Cuống (Hoằng Hóa)...

         Vào thế kỷ XVI - XVIII, trong xã hội Việt xuất hiện một số quận công, có uy thế khá lớn mạnh, khi công trạng đã viên mãn, họ thường xây dựng lăng mộ, đền thờ ở quê hương nhằm báo hiếu tổ tiên và cũng để vinh danh cho chính họ. Ở Thanh Hóa có đền thờ Phúc Khê tướng công Nguyễn Văn Nghi (Đông Sơn), đền thờ Lê Thì Hiến, lăng Hai Út (Triệu Sơn), lăng Trịnh Thị Ngọc Lung (Thọ Xuân), đền thờ Vệ quốc công Hoàng Bùi Hoàn (Quảng Xương), Bái Lăng (Yên Định), Khu Tán Vọng Đường và hệ thống tượng đá ở Đa Bút (Vĩnh Lộc), lăng Lê Đình Châu (thị xã Nghi Sơn), lăng Mãn Quận công (TP Thanh Hóa)... Trong loại hình đền thờ này thường có nhiều hiện vật bằng đá khá lớn và tinh xảo.

          Vài nét thoáng qua trong bài viết này không thể đề cập đầy đủ các phương diện của đền thờ ở Thanh Hóa, nhưng chỉ như vậy đã thấy sự phong phú và phức tạp trong việc thờ thần của người dân xứ Thanh nói riêng, người Việt nói chung. Tuy nhiên, khi đặt những đền thờ cùng các vị thần linh trong một không gian, thời gian lịch sử xác định, quy chiếu bằng những điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội cụ thể, chúng ta sẽ thấy được những mối liên hệ biện chứng, từ đó có thể nhận diện được phần nào nét kết tinh trí tuệ dân dã của ông cha ở thời quá khứ.

Thảo Lê (Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh)

 

Đền thờ thần ở Thanh Hóa nơi lưu giữ những giá trị về tư liệu lịch sử

 
Núi Thạch Bi ở phường Mỹ Quan, thuộc huyện Tống Sơn (nay là phần đất xã Nga Thiện, huyện Nga Sơn - PV). Non liền bến nước, móng đá thuyền chui. Trên vách đá có một chữ “Thần” viết bằng nét son tươi thắm, tương truyền vua Lê Thánh Tông ngự đề chữ đó”.

Tác giả bài viết: Tiến sĩ  LÊ NGỌC TẠO1

TÓM TẮT

     Hệ thống đền thờ thần ở Thanh Hóa vốn là chủ đề hấp dẫn không chỉ đối với giới nghiên cứu nghệ thuật mà còn đối với các nhà sử học. Mỗi đền thờ, thông qua quá trình hình thành, tồn tại và phát triển, đều có những “câu chuyện lịch sử”. Giá trị của hệ thống di tích đền thờ được nhìn nhận dưới nhiều chiều khác nhau, nổi bật là giá trị văn hóa – nghệ thuật, giá trị tâm linh và giá trị lịch sử. Trong công tác nghiên cứu lịch sử, nếu biết đào sâu khai thác các thông tin gắn với di tích thì đây cũng là một nguồn tài liệu đáng quý cho sử học.

Đặt vấn đề

     Trong tâm thức người Việt, nói đến đền thờ là nói tới tín ngưỡng thờ một vị thần mang tính tâm linh thông qua một kiến trúc vật chất có tên là ngôi đền được lưu truyền từ xưa và còn hiện diện trong đời sống hôm nay. Trên thực tế tại Thanh Hóa, trong khi rất nhiều loại hình di tích khác ít được hưng công tôn tạo, thậm chí bị xóa sổ theo thời gian và nhận thức hạn chế của con người qua nhiều biến động thăng trầm của lịch sử, thì ngôi đền vẫn được người dân chú trọng tôn tạo, gửi gắm, cầu mong những điều tốt lành. Theo nguồn tài liệu hiện lưu trữ tại Trung tâm Bảo tồn di sản tỉnh Thanh Hóa, tính đến tháng 7 năm 2017, cả tỉnh Thanh Hóa có 822 di tích đã được xếp hạng, trong đó có 01 di sản thế giới, 03 di tích quốc gia đặc biệt, 141 di tích quốc gia và 677 di tích cấp tỉnh. Trong tổng số 822 di tích đã nói có 245 ngôi đền (không kể miếu, nghè, phủ… cũng có chức năng thờ thần) trong đó có 01 di tích quốc gia đặc biệt và 30 di tích quốc gia. Như vậy, số lượng đền thờ được nhân dân tôn vinh, Nhà nước công nhận đã chiếm gần 1/3 số lượng di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh trên địa bàn toàn tỉnh. Điều đó nói lên giá trị nhiều mặt của đền thờ, đặc biệt là giá trị về tư liệu lịch sử.

     Cùng với kết quả xếp loại đã được Nhà nước công nhận, kết hợp với nhiều nguồn tư liệu khác nữa, chúng ta có một bức tranh phác thảo rằng: Đền thờ ở Thanh Hóa được phân bố khắp nơi từ miền biển, đồng bằng, trung du đến miền núi. Tuy nhiên, đậm đặc nhất là vùng đồng bằng ven biển được chi phối bởi đặc trưng về cơ cấu kinh tế truyền thống, với nông nghiệp lúa nước là trọng tâm. Bước đầu nghiên cứu hệ thống đền thờ ở Thanh Hóa chúng ta nhận thức giá trị về tư liệu lịch sử của đền thờ biểu hiện như sau:

     1. Nơi nhận diện những vị thần được thờ tự

     Khác với tôn giáo, tục thờ thần là tín ngưỡng bản địa của người Việt đã có mặt từ lâu đời trước khi các tôn giáo du nhập vào. Cùng với sự phát triển của xã hội, ban đầu ngôi đền chỉ là một địa điểm cầu cúng giản đơn sau dần cần phải có một kiến trúc được hoàn chỉnh cho phù hợp với một chỗ thờ cúng mang tính linh thiêng được dân gian gọi là nghè, miếu, đền… Tùy theo tên gọi của mỗi địa phương, song phổ biến là đền thờ. Tín ngưỡng thờ thần là một trạng thái tâm lý quan hệ đến các hiện tượng tự nhiên, xã hội mà con người cảm thụ nhưng chưa được nhận thức đầy đủ. Đó là một dạng tín ngưỡng nguyên thủy, thể hiện sự sợ hãi và kính trọng nhằm cầu mong cho cuộc sống yên vui ở một xã hội phụ thuộc nhiều vào thế giới tự nhiên.

     Các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng, tín ngưỡng thờ thần gắn với ngôi đền của người Việt cũng như người Thanh Hóa là đã có trước khi tục thờ thành hoàng cũng như kiến trúc đình làng ra đời. Theo sách Trung Quốc thần bí văn hóa2 của Chu Lập Phương giải thích: Thành hoàng tức Thành hào, hào có nước gọi là trì, không có nước gọi là hoàng, là vị thần bảo vệ thành trì cho quốc gia, phủ, châu, huyện, xã trong một thành trì. Phan Kế Bính trong sách Việt Nam phong tục cũng nói về tục thờ thành hoàng có nguồn gốc từ bản địa kết hợp với việc du nhập từ Trung Hoa như sau: “Xét về cái tục thờ thần hoàng này từ đời Tam quốc trở về đã có, nhưng ngày xưa thì nhà vua nhân có việc cầu đảo gì mới thiết đàn cúng tế mà thôi… Nước ta thuở bấy giờ đang lúc nội thuộc, tục Tàu truyền sang đến bên này, kể đến Đinh, Lê thì việc thờ quỷ thần đã thịnh hành rồi. Nhưng xét cái chủ ý lúc trước, thì mỗi phương có danh sơn, đại xuyên, triều đình lập miếu thờ thần sơn xuyên ấy để làm chủ tế cho việc ấm tý một phương mà thôi. Kế sau triều đình tính biểu những bậc trung thần nghĩa sĩ và những người có công lao cũng lập đền cho dân xã ở gần đâu thờ đấy… tổng chi là dân ta tin rằng: đất có thổ công, sông có hà bá, cảnh thổ nào phải có thành hoàng ấy, vậy phải thờ phục để thần ủng hộ cho dân, vì thế mỗi ngày việc thần một tịnh”3. Cũng ở sách này, Phan Kế Bính căn cứ vào vị trí các thần được ban sắc phân thành 3 loại:

     Thượng đẳng thần là những thần danh sơn đại xuyên và những bậc thiên thần như: Đổng Thiên Vương, Sóc Thiên Vương, Chữ Đồng Tử, Liễu Hạnh công chúa, các vị ấy có sự tích linh dị mà không rõ tung tích ẩn hiện thế nào cho nên gọi là Thiên thần. Hai là các vị nhân thần như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo… các bậc ấy đều có sự tích, công trạng hiển hách và họ tên rõ ràng, lịch triều có mỹ tự bao phong là Thượng đẳng thần.

     Trung đẳng thần là những vị dân làng thờ đã lâu, có họ tên mà không rõ ràng công trạng, hoặc có quan tước mà không rõ họ tên, hoặc những thần có chút linh dị, tới khi nhà vua sai kỳ tinh đảo võ, cũng có ứng nghiệm thì triều đình liệt vào tự điển mà phong làm Trung đẳng thần.

     Hạ đẳng thần là những vị thần dân xã thờ phụng mà không rõ sự tích ra sao, nhưng cũng thuộc về bực chính thần, thì triều đình cũng theo lòng dân mà phong cho làm Hạ đẳng thần.

     Sự xếp loại mang tính quy định ấy của triều đình phong kiến được Phan Kế Bính chỉ ra, không ngoài tình hình chung của Thanh Hóa khi chúng ta nghiên cứu về hệ thống đền thờ được bao bọc bên trong là những vị thần vốn là linh hồn của một ngôi đền.

     Với tư cách là những sử liệu, sự có mặt của các vị thần được thờ ở Thanh Hóa giúp chúng ta hiểu khái quát về xã hội Thanh Hóa qua các thời kỳ lịch sử. Ngoài những ngôi đền được Nhà nước công nhận, một nguồn tư liệu hết sức quý giá được ghi chép về các vị thần thờ ở Thanh Hóa phải kể đến cuốn Thanh Hóa chư thần lục. Đây là cuốn sách được công bố vào ngày 15 tháng 10 năm Thành Thái thứ 15 (1903), được “phụng biên” tức biên soạn theo lệnh vua, một văn bản nghiêm túc trong hệ thống “quan bản” của triều đình Huế, có lượng thông tin cao và đáng tin cậy. Trong một nghiên cứu của mình, nhà nghiên cứu Lê Huy Trâm4 căn cứ vào văn bản của Thanh Hóa chư thần lục đã phân chia các thần được thờ ở Thanh Hóa thành hai loại:

     – Nhất tính hạt phụng tự dương thần liệt vị thần hiệu (tức nam thần) với 770 vị thần.

     – Nhất tính hạt phụng tự âm vị liệt vị thần vị (tức nữ thần) với 173 vị thần.

     Căn cứ vào sách Thanh Hóa chư thần lục (Bản dịch và phụ chú hiện lưu trữ tại Trung tâm Bảo tồn Di sản Thanh Hóa) chúng ta biết cho đến khoảng đầu thế kỷ XX, toàn tỉnh có 3.561 phủ, nghè, đền, miếu là cơ sở thờ tự 804 thần nam và 171 thần nữ. Thông thường mỗi cơ sở thờ một vị thần nhưng cũng có nơi thờ nhiều thần. Việc phân bậc nam thần hay nữ thần là mang tính tương đối vì có những loại thần không thể phân biệt như: thần sấm, thần sông do đó đây là hạn chế của sách Thanh Hóa chư thần lục trong cách phân loại. Theo chúng tôi, các đền thờ ở Thanh Hóa chỉ thờ hai loại thần: nhiên thần và nhân thần, tiêu biểu là:

     Nhiên thần gồm:

Thần núi: Thờ Cao sơn tôn thần, Thái sơn tôn thần;

Thần sông: Long vương tôn thần, Long uyên tôn thân,…

thần sấm: Thiên hóa lôi công, Thiên lôi linh ứng;

Thần biển: Đông hải tôn thần, Áp lãng chân nhân tôn thần;

Thần mây: Đông phương linh ứng tôn thần;

Thiên thần: Đại càn quốc gia Nam Hải, Thượng ngàn sơn tinh công chúa tôn thần,…

     Nhân thần chiếm số lượng chủ yếu trong các vị thần được thờ ở hệ thống đền thờ ở Thanh Hóa. Đó là các bộ tướng của Hùng Vương như Phan Tây Nhạc tôn thần, Hưng Đạo Vương tôn thần, Mục uyển vũ dũng tôn thần (Lý Thường Kiệt), Kim ngô long hổ thượng tướng quân (Trần Khát Chân), Khương Công Phụ tôn thần,… các thần là Hoàng đế như Lê Đại Hành hoàng đế, Đinh Tiên Hoàng đế miếu, Lê Thái Tổ Hoàng đế,… Thần là các nghệ nhân như Thanh Xà trợ thuận tôn thần (Lê Phong – ca hát), Khổng Minh Không tôn thần (tổ sư nghề đúc đồng), tổ sư nghề dệt săm xúc (Bà Triều),… Một số đền thờ thần ở Thanh Hóa còn thờ cả những thần nước ngoài như: Chiêm quốc hoàng phi tôn thần (vợ vua Chiêm Thành), Mãn Đường hoa công chúa tôn thần (con gái Hán vũ đế)…

     Như vậy, qua các đền thờ ở Thanh Hóa, về mặt sử liệu, ta có thể hiểu được một cách khái quát diện mạo của các vị thần ở Thanh Hóa. Đó là bức tranh về xã hội Việt Nam nói chung, Thanh Hóa nói riêng trong thời phong kiến. Từ những hiện tượng tự nhiên đến các nhân vật truyền thuyết, huyền thoại, dã sử, đến các nhân vật lịch sử có công với đất nước, mang lại sự bình yên cho con người đều được tôn vinh, thờ phụng qua nhiều thế hệ, được nhà nước thừa nhận, nhân dân ghi nhớ.

     2. Nơi lưu giữ những thần tích, thần phả, những nguồn sử liệu quý giá

     Thần tích ở Thanh Hóa chủ yếu được viết dưới thời Lê Trung Hưng, vào mùa xuân niên hiệu Hồng Phúc thứ 1 (1572) đời vua Lê Anh Tông. Người soạn là Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính. Đến mùa đông niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 3 (1737) đời vua Lê Ý Tông, Quản giám Bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh Nguyễn Hiền tuân sao theo nguyên bản chính. Cũng có những bản được đời sau căn cứ vào bản gốc sao lại như Thần tích thần Bảo Hựu (Đồng Cổ) ở Mỹ Đà, xã Hoằng Minh được sao lại đời vua Duy Tân. Thần tích Khuông quốc Đô thống Lê Phụng Hiểu ở xã Hoằng Sơn, huyện Hoằng Hóa, ngoài việc ghi chép ban phong mỹ tự theo bản gốc, người sao chép còn ghi bổ sung thêm các mỹ tự được ban dưới triều Nguyễn và tổng hợp những nơi thờ thần,… Nội dung thần tích ghi chép lại sự tích, lịch sử, công lao hành trạng các nhân vật ở địa phương, vùng miền. Đôi khi là những giai thoại, chuyện kể, lời đồn có liên quan đến địa phương qua những hình ảnh, hành vi đã được mọi người truyền tụng mang tính cách siêu nhiên, thần bí, tô điểm cho sự siêu phàm của nhân vật được nhắc tới.

     Chúng ta biết, hơn 900 vị thần được thờ ở Thanh Hóa ghi chép trong Thanh Hóa chư thần lục chỉ có 229 vị được ghi thần tích. Số còn lại chưa cung cấp cho chúng ta đầy đủ những thông tin cần biết. Nhiều vị thần không có thần tích, lý lịch cụ thể về công trạng của thần khiến cho các nhà nghiên cứu phải lần mò tìm kiếm. Điều này cũng dễ hiểu, lẽ đương nhiên mỗi vị thần đều có thần tích riêng về hành trạng, công tích, song triều đình chỉ quan tâm đến các vị thần có tầm bao quát, có tầm ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống tâm linh của nhân dân, được các chức sắc trong làng xã tấu trình. Song, nhân dân có cách giải thích riêng, đều khoác lên thần những mỹ tự cao quý theo ước vọng của mình. Ngoại trừ những sắc phong do triều đình ban tặng, nhiều ngôi đền được dân tôn vinh là Thượng đẳng thần hoặc Thượng thượng đẳng thần nhằm đề cao vị thần mà cộng đồng mình đang thờ tự.

     Trong các thần tích hiện còn lưu giữ tại các ngôi đền ở Thanh Hóa, chủ yếu mang nội dung: giúp dân yên vui, giúp vua đánh giặc quán xuyến toàn bộ công trạng của thần ở bất cứ góc độ nào. Qua thần tích, chúng ta thấy được vai trò của các thần trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Ví dụ, trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở đầu Công nguyên, có sự tham gia đông đảo của nhân dân nhiều vùng đất nước, có nữ tướng Lê Thị Hoa (Từ Thiện phu nhân) công trạng của Bà được lập đền thờ ở Nga Sơn. Quản gia Đô Bác Đại Vương Trịnh Gia, biết thương người nghèo đói đem lại của cải cho nhân dân trong vùng được 72 nơi thờ. Thần tích về Cao sơn tôn thần có tới 441 nơi thờ. Theo các tác giả sách Các vị thờ thần ở xứ Thanh, thì đây là một trường hợp khá đặc biệt mà người ta dễ nhầm lẫn. Có rất nhiều thần Cao sơn như Cao Sơn là một thầy thuốc, Cao Sơn là con của Lạc Long Quân, Cao Sơn Đại Vương (Dương Tự Minh) được tiên trao cho áo tàng hình giúp vua đánh Tống5. Lại có Cao Sơn tôn thần là Cao Hiển tự Vân Trường, quận Quảng Nam nước Đại Minh, thi đậu Tiến sĩ, làm quan đến chức Thừa tướng, có công tuần tiễn ở Nam Man, khi mất được lập đền thờ;

     Đến thời kỳ xây dựng nhà nước phong kiến độc lập, các thần cả nhiên thần và nhân thần, số lượng thần tích khá nhiều. Tiêu biểu phải kể đến thần tích Đồng cổ Đại Vương ở Yên Thọ (Yên Định), Bảo hiệu tôn thần (Thần Đồng cổ ở Hoằng Minh, Hoằng Hóa), Độc cước siêu dũng (thần Độc Cước ở Hoằng Kim, Hoằng Hóa). Hàng loạt các thần tích nhân thần khác như Nguyễn Tuyên ở Hoằng Lộc, Lê Phụng Hiểu ở Hoằng Sơn, Chu Minh-Chu Tuấn ở Hoằng Hóa, Hoàng Tá Thốn ở Yên Định, Đỗ Tương ở Tĩnh Gia,…

     Nhìn chung, nguồn tư liệu thần tích hiện còn ở các đền thờ Thanh Hóa phản ánh khá đa dạng đời sống tâm linh của người dân qua các triều đại. Thần tích ở đây đều có cốt lõi của lịch sử là nguồn tư liệu quý giá bổ sung cho chính sử.

     So với thần tích, thần sắc ở các đền thờ Thanh Hóa phong phú vì đây là những sắc chỉ của triều đình ban phong, có sự lựa chọn chặt chẽ. Thực chất đây là những văn bản của Nhà nước khen thưởng cho những nhân vật có đóng góp cho địa phương đất nước. Ở các đền thờ thần tại Thanh Hóa các sắc phong đều được lưu giữ cẩn thận, bảo quản như một tài sản vô giá của địa phương, dòng họ, là niềm tự hào chân chính mà mọi người phải có trách nhiệm giữ gìn. Theo nghiên cứu của các tác giả Thần tích – Thần sắc Thanh Hóa (tập 1) thì đạo sắc cổ nhất hiện còn là đạo sắc của vua Lê Thánh Tông niên hiệu Hồng Đức (1460 – 1497) ban cho con cháu dòng họ Lê Lai được lưu giữ tại đền thờ Lê Lai ở Hoằng Hải, Hoằng Hóa. Sắc phong thời Lê Trung Hưng xuất hiện nhiều nhất vào niên hiệu Cảnh Hưng thứ 44 (1783) đời vua Hiển Tông. Đặc biệt, dưới triều Nguyễn, số lượng sắc phong tại các đền thờ hết sức phong phú đa đạng gắn với kiến trúc đền thờ ở thời kỳ này. Có vị thần được ban rất nhiều đạo sắc có tới 7 đạo như Đông Hải Đại Vương ở Bái Nại, Nga Sơn…

     Như vậy, nếu như thần tích là những tư liệu lịch sử ghi chép về lai lịch các vị thần được thờ thì sắc phong là những văn bản hành chính của Nhà nước công nhận vị trí của thần đối với dân, với nước, có ý nghĩa sâu sắc bổ sung chính sử khi biên soạn về một nhân vật lịch sử.

     3. Nơi gìn giữ những tấm bia, nguồn sử liệu quan trọng bậc nhất

     Bia ký là một thể loại ghi văn tự dưới dạng một biểu tượng văn hóa, nhiều dân tộc trên thế giới sử dụng bia ký khắc ghi văn tự, hình vẽ trên chất liệu đá, kim loại, đất nung… Bia ký ở Thanh Hóa có số lượng lớn, tập trung ở thế kỷ XV – XVIII. Nhiều bia ký to lớn về kích thước, đa dạng về hình thức bố cục, trang trí và phong phú về nội dung. Cũng như đình, chùa, các đền thờ đều được dựng bia tuy số lượng không nhiều nhưng hàm chứa nguồn sử liệu vô cùng quý giá, giúp cho chúng ta hiểu biết rõ hơn nhân vật và xã hội đã qua.

     Thông qua bia ký ở Thanh Hóa cho chúng ta biết một khuynh hướng khích lệ phát triển kinh tế thương mại, phát triển giao thông, làm đường, làm cầu, làm chợ diễn ra khá nhộn nhịp, những điều này đã được tư liệu hóa thông qua thông tin trên bia ký. Các bia như Tướng Công thọ bi dựng năm Vĩnh Tộ thứ 4 (1626) ở đền thờ Tạ Tôn Đài huyện Hậu Lộc là một ví dụ.

     Ngoài việc phản ánh một cách sinh động lịch sử, kinh tế, xã hội xứ Thanh, còn có các bia ghi công đức khai sáng dựng nghiệp của các vua chúa cho đến quan lại, công thần, tướng lĩnh: bia Vĩnh Lăng ghi công nghiệp Lê Lợi ở Xuân Lam, Thọ Xuân; 02 bia Lê Đại Hành hoàng đế điện miếu bi và Lê Đại Hành hoàng đế điền điện chí ở đền thờ Lê Hoàn (Xuân Lập, Thọ Xuân); bia ghi chép về tướng tá, công thần như Nguyễn Chích (bia Quốc triều tá mệnh công thần chi bi ở Đông Lĩnh, Đông Sơn), Lê Lệnh công sự nghiệp bi ở Thọ Phú, Triệu Sơn; Sinh từ bi ký ở đền thờ Mãn Quận Công (Đông Tân, Đông Sơn); bia đền thờ Nguyễn Văn Nghi (Đông Thanh, Đông Sơn),…

     Cũng thông qua các thông tin trên bia ký, người ta còn biết đến việc các vua, chúa thường lấy đất công ban tặng làm lộc điền và đất thờ tự cho các công thần.

     Trong hệ thống đền thờ Thanh Hóa còn lưu giữ tấm bia Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn6 dựng năm 618 tại đền thờ Lê Ngọc xã Đông Ninh huyện Đông Sơn hiện lưu giữ ở Bảo tàng Lịch sử Quốc gia giúp chúng ta nhiều tư liệu quý giá. Sự tích về Lê Cốc (tức Lê Ngọc) không được chép trong chính sử nhưng căn cứ vào ghi chép ở văn bia, nhà sử học Đào Duy Anh khẳng định đây là nhân vật lịch sử gắn liền với một thời kỳ lịch sử có quá nhiều biến động ở thời Tùy Đường. Văn bia cho biết Lê Cốc tự là Ngọc, thời Tùy được bổ làm Tuyên Úy tướng quân Thái Thú Nhật Nam sang thời Tùy Đại Nghiệp được bổ làm Thái Thú Cửu Chân đã cùng các hào trưởng địa phương nổi lên hùng cứ một phương. ng đã cùng các con tham gia chống nhà Đường trong đó có Tham Xung tá quốc hy sinh trong chiến đấu được nhân dân tôn vinh là đức Thánh Lưỡng, lập đền thờ nhiều nơi ở Đông Sơn, Triệu Sơn, Nông Công. Lê Cốc được xem là người có công đánh giặc và là Phúc thần của nhiều làng.

     Đối với Lý Thường Kiệt, một vị anh hùng dân tộc đã được nhiều công trình biên khảo của các sử gia phong kiến cũng như hiện đại đánh giá, ngợi ca. Nhưng qua văn bia do Nhữ Bá Sĩ biên soạn cho dựng vào năm Tự Đức thứ 13 (1860) tại đền thờ Lý Thường Kiệt ở xã Hà Ngọc, huyện Hà Trung chúng ta biết rõ hơn đóng góp của ông với quê hương Thanh Hóa. Sau khi tổng kết đóng góp của người anh hùng dân tộc, văn bia có đoạn: “Trộm nghĩ nói sự tích Thái úy có thể so với tài cao của Tử Trường, công lớn của Tôn Vũ Bộ, Liên Hoàng Thát là những bậc khác thường người đời cũng không ngoa lắm”.

     Tại đền thờ Lê Hoàn xã Xuân Lập huyện Thọ Xuân có bia Sáng lập Lê Đại Hành hoàng đế đại miếu bi minh tự dựng năm 1926 do Thượng thư Nguyễn Thực soạn văn bia. Nội dung cho biết bà Đặng Thị mộng hoa sen sinh ra Lê Hoàn, biên giải việc lên ngôi vua cũng như những chiến công của ông trong sự nghiệp kháng Tống bình Chiêm. Cũng tại đền thờ này còn có tấm bia dựng vào triều Lê Kính Tông (1600 – 1619). Nội dung văn bia nêu rõ những người hưng công xây đền có đến hàng trăm. Đây là tấm bia hậu điển hình về vị trí ngôi đền trong đời sống người dân và sự ngưỡng mộ của nhiều thế hệ đối với người anh hùng cứu nước,…

     Như vậy, cùng với sự hiện diện của các vị thần linh, thần tích, thần sắc, bi ký mà trong bài viết này chưa thể chuyển tải hết được, đã cho thấy hệ thống đền thờ ở Thanh Hóa thực sự là kho tàng tư liệu quý giá đối với lịch sử dân tộc luôn cần tìm biết, khai thác.                __________

Chú thích:

1. Phó Chủ tịch Thường trực Hội Khoa học Lịch sử Thanh Hóa;

2. Dẫn theo Nguyễn Văn Hải, Thần tích thần sắc Thanh Hóa, tập I, Nxb Thanh Hóa, 2015, tr.10.

3. Phan Kế Bính (2003), Việt Nam phong tục, Nxb Văn hóa Thông tin, tr.110.

4. Lê Huy Trâm (2003), Nhìn lại cuốn Thanh Hóa chư thần lục, trong Thanh Hóa thời kỳ 1802 – 1930 (Kỷ yếu Hội thảo khoa học), Nxb Thanh Hóa, tr.347.

5. Lê Xuân Kỳ, Hoàng Hùng, Thích Tâm Minh (2008), Các vị thần ở xứ Thanh, Nxb Văn học, Hà Nội, tr.9.

6. Đào Duy Anh, Cái bia cổ ở Trường Xuân với vấn đề nhà Tiền Lý, Nghiên cứu Lịch sử số 50 (5/1963, tr. 22 – 28)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

     [1]. Thanh Hóa chư thần lục, Thư viện Khoa học Tổng hợp Thanh Hóa.

     [2]. Quốc Chấn (2007), Những thắng tích của xứ Thanh, Nxb Thanh Hóa.

     [3]. Vũ Tam Lang (2008), Kiến trúc cổ Việt Nam, Nxb Xây dựng.

     [4]. Trần Lâm Biền (2008), Diễn biến kiến trúc truyền thống Việt vùng đồng bằng sông Hồng, Nxb Văn hóa Thông tin.

     [5]. Nguyễn Sỹ Quế, Nguyễn Văn Đỉnh, Nguyễn Hồng Hương (2010), Lịch sử kiến trúc truyền thống Việt Nam, Nxb Khoa học và Kỹ thuật.

Nguồn: Tạp chí Khoa học Trường Đại học Văn hóa,

Thể thao và Du lịch Thanh Hóa, ISSN 2588 – 1264, Số 01 (02), T1/2018

Ban Tu Thư (thanhdiavietnamhoc.com)

Download file (PDF): Đền thờ thần ở Thanh Hóa nơi lưu giữ những giá trị về tư liệu lịch sử

(Tác giả: TS. Lê Ngọc Tạo)

 

Thực chất và rất có thể là Cao Sơn tôn thần là Cao Biền được vua Đường sai sang Vùng Tả ngạn sông Mã dẹp giặc Nam Chiếu..nhưng chưa được ghi trong thần tích Chư Thần Lục; Còn tích Cao Hiển tự Vân Trường, quận Quảng Nam nước Đại Minh, thi đậu Tiến sĩ, làm quan đến chức Thừa tướng, có công tuần tiễn ở Nam Man, khi mất được lập đền thờ có vẻ như không trùng khớp với lịch sử Việt Nam…. các sử gia nên xem lại thần tích này;

Thứ Hai, 29 tháng 4, 2024

Máy tính điện tử (MTĐT) Minsk-22 (gọi tắt là máy Minsk-22) vào Đà Nẵng năm 1982

Tôi là sinh viên ngành toán kinh tế thuộc khoa toán kinh tế đại học kinh tế kế hoạch Hà Nội năm 1975 - 1976 có học loại máy này hôm nay tình cờ trên trang của Giáo sư Tin học Phan Huy Khánh có đăng bài viết này xin phép chủ trang lưu lại đây làm kỷ niệm một thời nhập môn tin học của Toán học Việt Nam;

GS-TS Phan Huy Khánh 

TÓM TẮT

Tác giả kể lại câu chuyện máy tính điện tử (MTĐT) Minsk-22 (gọi tắt là máy Minsk-22) vào Đà Nẵng năm 1982. Máy Minsk-22 thuộc thế hệ 2, sử dụng linh kiện bán dẫn, thuộc dòng máy Minsk, được sản xuất tại thành phố Minsk, thủ độ nước CH Belarus (thuộc Liên Xô cũ). Máy Minsk-22, đầu tiên đến Hà Nội, sau đó đến Đà Nẵng, là chiếc MTĐT thế hệ 2 cuối cùng (cũng là loại MTĐT duy nhất ở Việt Nam thời đó) chứng kiến một giai đoạn lịch sử trong tiến trình phát triển CNTT ở Việt Nam nói chung, ở Đà Nẵng, Miền Trung nói riêng. Qua các sự kiện chảy theo dòng thời gian của những năm 70, 80 thế kỷ trước, bài báo nhắc lại những kỷ niệm khó quên về những người thầy, những người bạn học, những bài tập thực hành lập trình bằng ngôn ngữ máy lần đầu tiên trên MTĐT Minsk-22 khi tác giả còn theo học lớp Toán Tính K19, Khoa Toán-Lý, trường ĐHBK Hà Nội. Câu chuyện làm sống lại một hành trình gian khổ không kém phần thú vị để đưa MTĐT Minsk-22 từ trường ĐHBK Hà Nội về trường ĐHBK Đà Nẵng và những ngày lắp đặt, vận hành cho đến khi máy Minsk-22 bị người ta “thanh lý”, rồi hoàn toàn biến mất từ đó đến nay.

1. Hồi tưởng lại

Cách đây không lâu, tình cờ vào mạng tìm kiếm tài liệu với Google, tôi tìm đọc được một bài báo thú vị nói về thầy giáo Nguyễn Bá Hào của anh Nguyễn Đăng Hà, cựu sinh viên K13, thuộc khoa Toán-Lý (trước đây là Khoa Cơ bản), trường ĐHBK Hà Nội. Thầy Nguyễn Bá Hào cũng là thầy cũ của tôi. Đó là thời gian tôi được phục viên, rời quân ngũ về tiếp tục học lại đại học với lớp K19 Toán-Tính (viết tắt cụm từ “Toán học Tính toán”), cùng khoa Toán-Lý. Hồi đó chúng tôi được gọi là “bộ đội đi học”, do đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự. Nhớ lại, tôi vào học K14 Toán-Lý được hai năm, từ năm 1971 đến 1976, tôi nhập ngũ, vào Đoàn Pháo 75 tại chiến trường B2 Miền Đông và Miền Tây Nam Bộ. Thầy Nguyễn Bá Hào đã dạy chúng tôi các môn “Hệ điều hành”, “Ngôn ngữ lập trình COBOL”. Tôi cũng được học với các thầy khác, thầy Nguyễn Văn Ba, Đỗ Xuân Lôi… Các thầy đã dẫn dắt chúng tôi đi vào thế giới mới lạ của MTĐT, tạo dựng niềm say mê và ham thích lập trình cho đến ngày nay. Ngành Toán-Tính, lập trình cho MTĐT (nay là Tin học, CNTT), hồi đó vẫn còn rất mới mẻ. Đến tháng 10 năm 1979, tôi tốt nghiệp ra trường và “được” Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) phân công, bổ nhiệm vào trường ĐHBK Đà Nẵng. Thấm thoắt đã 34 năm trôi qua. Năm 2013 này, trường ĐHBK Hà Nội tuyển sinh khoá K58.

         Điều đáng nói, anh Nguyễn Đăng Hà đã nhắc lại những kỷ niệm về thực hành lập trình trên máy MTĐT Minsk-22 tại nhà 39 Trần Hưng Đạo, Hà Nội. Chình điều này đã thôi thúc tôi tìm cách để viết bài báo này, hồi tưởng lại một thời đã học đại học ở Hà Nội, có dịp làm việc với máy Minsk-22. Tưởng rằng sẽ không có dịp nào để trở về lại quá khứ đó, nhưng như một cơ duyên, tôi lại gặp lại máy Minsk-22 “bằng xương bằng thịt” ở trường ĐHBK Đà Nẵng vào đầu những năm 80, với bao sự kiện đáng nhớ.

Câu chuyện này kể lại từ lúcMTĐT Minsk-22 có mặt tại Phòng Toán học Tính toán, thuộc Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước (UBKHKTNN) năm 1968, sau đó được bốc chuyển đến trường ĐHBK Hà Nội năm 1980, rồi được bốc chuyển bằng ô tô vào Đà Nẵng năm 1982, từ đó vĩnh viễn biến mất. Qua các sự kiện chảy theo dòng thời gian của những năm 60, 70 và 80 của thế kỷ trước, từng bước hồi tưởng lại những kỷ niệm khó quên mà tôi được biết, được làm người trong cuộc.

2. MTĐT Minsk-22 đến Hà Nội

2.1. Thời gian đầu

Theo tài liệu trên mạng, vào những năm 1960 của thế kỷ trước, nước ta bắt đầu xây dựng ngành MTĐT. Vào khoảng cuối năm 1968, đầu 1969, MTĐT Minsk-22 (Электронно-Вычислительной Машине Минск-22) được Liên Xô tặng và nhập đường biển về nước qua Cảng Hải Phòng, rồi theo đường tàu hoả về Hà Nội. Lúc này, miền Bắc đang ở trong thời kỳ chiến tranh. Để tránh bị bom đạn máy bay Mỹ phá hoại, máy Minsk-22 được “trú ẩn” tại tầng hầm của toà nhà 39 Trần Hưng Đạo, UBKHKTNN. Những người đầu tiên phụ trách Minsk-22 là GS. Nguyễn Lãm và các kỹ sư của Phòng Toán học Tính toán.

Hình 1. Nhà 39 Trần Hưng Đạo có tầng hầm  đặt MTĐT Minsk-22

Máy Minsk-22 thuộc thế hệ hai, dòng máy tính lớn (Macro Computer), dùng linh kiện bán dẫn (chưa phải mạch tổ hợp), kết hợp kỹ thuật cơ khí chính xác, được chế tạo tại Belarus, thuộc Liên Xô cũ . Phiên bản sau của họ Minsk[1] là MTĐT Minsk-32, sản xuất năm 1968. Năm 1974, máy Minsk-32 được Nhà nước mua về, đặt tại 34A Trần Phú, Hà Nội, thuộc Bộ Quốc Phòng và Tổng cục Thống kê. MTĐT Minsk-32 sử dụng ngôn ngữ máy hai địa chỉ, do được sản xuất sau nên có thể làm việc với các ngôn ngữ lập trình (NNLT) bậc cao như COBOL, FORTRAN và ALGAMS (một phiên bản của ALGOL).

Hình 2. Bàn điều khiển MTĐT Minsk-22, bên trái là máy đọc băng giấy đục lỗ, bên phải là hai tủ băng từ.

Hình 3. Các tủ linh kiện MTĐT Minsk-22.

Vào thời điểm đó, Minsk-22 là một trong những MTĐT hiện đại nhất của Liên Xô và các nước Đông Âu. Diện tích đặt máy khoảng 80m². Hệ thống Minsk-22 gồm một đơn vị trung tâm, dung tích bộ nhớ trong là 4096 ô, mỗi ô có 37 ngăn (Bit), khoảng 19KB, là một ma trận xuyến ferit từ, tốc độ xấp xỉ từ 5 đến 6 ngàn phép tính/giây sử dụng hệ 2 . Máy Minsk-22 chưa có hệ điều hành như những máy tính hiện nay.

Hình 4. Đoạn băng giấy đục lỗ 5 kênh mã M-2.

Thiết bị vào/ra gồm máy đọc/máy đục băng giấy đục lỗ, máy đọc/máy đục bìa giấy đục lỗ và teletip (dạng máy đánh chữ). Tuy nhiên thực tế chỉ dùng băng giấy đục lỗ 5 kênh theo mã điện tín quốc tế M-2 (H.4) để đưa chương trình và số liệu vào máy. Thiết bị đưa ra chủ yếu là máy in khổ hẹp (16 cột), máy in khổ rộng (128 cột). Thiết bị nhớ ngoài là băng từ có dung tích 400 ngàn ô (~15MB), băng giấy (35 ngàn ký tự), hay bìa giấy (vô hạn).

Hình 5. Cơ chế hoạt động của tủ băng từ.

Máy Minsk-22 có hai tủ băng từ (h.5 do tôi tự vẽ). Trong mỗi tủ, dải băng từ (màu nâu đỏ) được thả rơi tự do xuống hai thùng hai bên cánh cửa tủ, phía trên vắt ngang qua hệ thống điều khiển, mỗi bên có hai bánh xe ép vào băng để chuyển băng từ qua trái hay qua phải, đi qua đầu đọc/ghi nằm ở giữa. Nhìn từ bên ngoài qua cửa kính có thể thấy băng từ khi làm việc kêu lạch xạch, rơi tự do, loằng ngoằng như hai con rắn hai bên. NNLT chủ yếu là ngôn ngữ máy hai địa chỉ. Khi lập trình, sử dụng hệ 8 để viết các dòng lệnh lên giấy mẫu (H.6). Số liệu hệ 10 khi đưa vào máy bằng băng giấy đục lỗ phải đổi sang hệ 2-10, mã M-2 với những quy ước rất phức tạp.

2.2. Những ngày làm quen với Minsk-22

Đến cuối năm học thứ ba, tôi mới được đặt chân đến 39 Trần Hưng Đạo, để bắt đầu thực hành lần đầu tiên việc lập trình trên MTĐT.

Số hiệu của lệnh

Mã phép tính

Địa chỉ

ô chỉ số

α

Địa chỉ

Giải thích

Dấu

θ

a1

a2

 

 

 

 

 



 

 

Hình 6. Giấy mẫu viết chương trình.

Những ngày đó, cả 14 người lớp K19 Toán-Tính chúng tôi, ai cũng háo hức và xen lẫn hồi hộp. Máy Minsk-22 được đặt trong phòng lạnh. Vào phòng phải tụt hết dép, guốc bỏ ngoài. Khi mở cửa vào, một luồng khí lạnh tràn ra làm cái nóng Hà Nội dịp hẻ tháng bảy như dạt hết ra phía sau. Tôi nghe tiếng máy kêu vo vo khác lạ (thực chất là các máy điều hoà đời cũ, kêu to). Đập vào mắt tôi là bảng điều khiển trung tâm (H.3) với các đồng hồ, các hàng phím đèn vàng nhấp nháy, các công tắc (khoá) và phím nhấn, cứ hoa cả mắt. Phía sau bảng điều khiển là dãy các tủ khá to đứng bao quanh sừng sững. Tất cả đều được sơn một màu xanh men ngọc, rất đặc thù của dòng máy Minsk. Tôi còn nhớ có một vật trang trí trong suốt (có lẽ bằng pha-lê) đặt trên nóc bảng điều khiển trung tâm rất lạ mắt. Ngoài ba hay bốn cán bộ đang chạy máy thường trực, chúng tôi chỉ được vào phòng máy lần lượt mỗi người một lần khoảng 30 phút.

Đề được vào chạy máy, chúng tôi phải viết chương trình bằng ngôn ngữ máy trong hệ 8. Cả chương trình và số liệu lại phải được viết bằng tay lên giấy mẫu quy ước. Sau đó cả lớp gom giấy mẫu đưa đến Phòng đục lỗ để các cán bộ ở đó đục ra băng giấy. Mày đục lỗ giống máy đánh chữ, vừa đục lỗ lên băng giấy, vừa đánh mực in lên băng giấy khổ hẹp để kiểm tra lổ đục. Có lỗ đục là 1, không có lỗ đục là 0 trong hệ 2.

Bài tập chạy máy là giải hệ phương trình, tính toán ma trận, tính gần đúng hàm số… của môn “Phương pháp tính”. Sau khi đục lỗ, mỗi người nhận được cuộn băng giấy đục lỗ và một mẩu giấy in chương trình, số liệu để kiểm tra. Phải thuộc lòng mã M-2 và dò băng giấy trước khi đến phòng máy. Nóng đổ mồ hôi để dò tương ứng các lỗ theo hệ 2 với các chữ số hệ 8 và hệ 2-10 quy ước. Khi phát hiện sai sót, máy đục thiếu lỗ, cán bộ kỹ thuật đục sai, lại phải dùng lưỡi dao cạo (phải tìm bằng được lưỡi CROMA của CHDC Đức, rất hiếm hồi đó) để cố gắng khoét tròn lỗ bị thiếu hay lỗ chưa thủng (đường kính cỡ 1,5 mm), hoặc dán che lỗ lại.

Hình 6. Một đoạn chương trình bằng ngôn ngữ máy. 

Tuy nhiên chương trình vẫn chưa chạy được. Hồi hộp xem kỹ thuật viên lắp giấy vào máy đọc. Chưa kịp định thần thì máy đã đọc xong rồi. Chỉ trong tích tắc, đoạn băng (3 – 5m) đã chạy vèo qua dãy tế bào quang điện. Ngay lập tức  trên bảng điều khiển, đèn báo lỗi (Останов) sáng lên, chương trình sai, hoặc do lỗi đục lỗ. Thất vọng, hụt hẫng. Lại phải cuộn vội băng giấy mang về nhà chuẩn bị lại từ đầu. Có người chưa kịp nhìn hết phòng máy, chưa kịp thấy mặt kỹ thuật viên là ai, chưa kịp cảm nhận không khí mát lạnh, tiếng máy chạy vo vo và mùi vị rất lạ, đã phải ra ngoài dáo dác tìm dép để đến lượt người khác đang háo hực chờ ở ngoài.Nhìn nhau, mệt mỏi, nhưng ai cũng rất vui và có vẻ tự hào, quên cả cái nóng táp sầm sập vào người. Trước khi vào phòng máy chạy chương trình, ai cũng đã tìm cách tự tính bằng tay biết trước được kết quả rồi, nhưng phải vào máy nhiều lần (vừa hết đợt thực hành) để có được kết quả gần giống vậy. Cầm trong tay đoạn giấy khổ hẹp in kết quả, các chữ số in lượn sóng nhích lên, thụt xuống, chữ đậm, chữ nhạt, vỏn vẹn vài ba hàng, mà vui như mở cờ trong bụng.

2.3. Về trường Đại học Bách khoa Hà Nội

Khoảng năm 1974, Viện Tính toán và Điều khiển học, Viện Khoa học Việt Nam, nhận được máy tính mới ODRA của Ba Lan và quyết định đưa máy Minsk-22 về Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp. Năm 1977, Bộ giao máy Minsk-22 cho trường ĐHBK Hà Nội. Máy Minsk-22 vẫn đặt tại 39 Trần Hưng Đạo. Năm 1979, Trường ĐHBK Hà Nội lại được nhận máy tính mới EC-1022 và thành lập Trung tâm Máy tính  (TTMT) trực thuộc Khoa Toán-Lý. Máy EC-1022 là thế hệ sau cũa họ Minsk, là sản phẩm hợp tác của khối COMECON (SEV), phỏng IBM, thuộc đầu thế hệ 3, dùng mạch tích hợp IC (Integrated Circuit), sản xuất tại Belarus . Để sử dụng máy EC-1022, trường ĐHBK Hà Nội đã cử nhiều đoàn cán bộ của TTMT sang Liên Xô học tập. Máy hoạt động từ năm 1981-1982, đến khoảng năm 1989 thì bị “thanh lý”.

Do diện tích đặt máy EC-1022 chiếm nhiều phòng, trường đã cải tạo một phần lầu 2 nhà C1 để lắp đặt máy. Cùng lúc, cán bộ của TTMT phải làm việc ở cả hai nơi, vừa ở 39 Trần Hưng Đạo với máy Minsk-22, vừa ở trường với máy EC-1022. Do có ít cán bộ chuyên môn, TTMT không thể làm việc hiệu quả và khó quản lý, trường đã quyết định chuyển máy Minsk-22 về trường. Năm 1980, TTMT đã tháo dỡ và bốc chuyển máy Minsk-22 về đặt cạnh phòng máy EC-1022.

3. MTĐT Minsk-22 vào Đà Nẵng

Trước khi kể lại câu chuyện MTĐT Minsk-22 đã vào Đà Nẵng như thế nào, cũng cần nhắc lại một vài sự kiện. Sau khi tốt nghiệp trường ĐHBK Hà Nội năm 1979, tôi được Khoa Toán-Lý giữ lại làm cán bộ giảng dạy. Tuy nhiên sau đó, tôi lại được Bộ điều động “vào Nam” đưa vào trường ĐHBK Đà Nẵng (cũng như nhiều người khác những năm đó). Thời gian đầu, tôi về Bộ môn Toán, thuộc Khoa Cơ Bản. Về trước tôi một năm (1978) và cùng Bộ môn là chị Bùi Thị Hoàng (nay đã nghỉ hưu), xem là cùng ngành Toán-Tính với tôi. Trước đó, chị công tác tại UBKHKTNN, Hà Nội. Sau một học kỳ tham gia chữa bài tập toán và chuẩn bị bài giảng, năm học 1980-1981, tôi được Bộ môn Toán phân công dạy môn học “Kỹ thuật tính toán” cho lớp 77K3, hồi đó thuộc ngành Ngoại thương. Những năm đó hai chị em chỉ giảng dạy môn học này cho Khoa Kinh tế, thuộc trường ĐHBK Đà Nẵng (từ năm 1990 tách ra thành trường ĐH Kinh tế). Nội dung môn học gần với môn “Tin học đại cương” bây giờ, tuy nhiên chúng tôi dạy NNLT FORTRAN. Dạy “chay”, học “chay”, vì không có MTĐT. Chúng tôi đã thử đề nghị cho sinh viên được đi thực tập máy điện toán IBM360/50 ở Sài Gòn, dĩ nhiên trường không đồng ý.

Năm sau, Bộ môn Toán có thêm anh Phan Đinh Lợi, vừa tốt nghiệp K20 cùng Khoa Toán-Lý với tôi, gốc người Hà Nội. Cả ba chị em lúc đó đều mong mỏi được tách khỏi Bộ môn Toán để thành lập riêng một Bộ môn Toán-Tính và được giảng dạy chuyên ngành. Có thể những năm 80 và 81, khi máy Minsk-22 đã trải qua một thời kỳ vẻ vang, trở nên cũ kỹ hơn so với máy EC-1022 thế hệ sau đứng bên cạnh, trường ĐHBK Hà Nội tìm được trường ĐHBK Đà Nẵng để tặng lại máy Minsk-22. Cho đến nay, không còn ai nhớ những ngày tháng đó.

Cuối năm 1981, PGS. Lý Ngọc Sáng, hiệu trưởng trường ĐHBK Đà Nẵng và GS. Hà Học Trạc, hiệu trưởng trường ĐHBK Hà Nội, đã gặp gỡ nhau và đi đến quyết định chuyển máy Minsk-22 vào trường ĐHBK Đà Nẵng. Sau Tết Âm Lịch, khoảng tháng 3/1982, 5 chiếc xe ô tô “Zin Khơ” trọng tải 5 tấn mỗi chiếc lập thành đoàn chạy thẳng ra trường ĐHBK Hà Nội để nhận máy. Anh Huỳnh Đốc, trưởng Phòng Thiết bị của trường, làm trưởng đoàn (anh đã mất năm 2010), anh Doãn Văn Tân làm quản lý. Ba chị em chúng tôi cũng được tham gia, đi ra bằng tàu hoả, khi về Đà Nẵng mới theo xe ô tô của đoàn.

3.1. Đường vào Đà Nẵng

Máy Minsk-22 có khoảng 10 tủ sắt (lớn hơn tủ quần áo) và rất nhiều thùng sắt, hòm gỗ đựng máy móc, thiết bị, linh kiện, tài liệu… Một cần cẩu lớn được thuê cẩu từ lầu 2 nhà C1 xuống 5 thùng xe tải. Các tủ máy rất nặng và cồng kềnh. Để giảm xóc và tránh va đập, chúng tôi phải mua mấy xe rơm khô chở từ ngoại thành Hà Nội vào để chèn giữa các tủ, các thùng. Cận thận hơn nữa, mỗi tủ máy lại được trùm bọc kín một lớp chăn chiên. Dịp đó, Bộ môn Mac-Lênin trường ĐHBK Hà Nội gửi nhờ xe chở vào Đà Nẵng mấy thùng gỗ lớn chứa sách “Tuyển tập V. I. Lênin” được Liên Xô tặng, bìa cứng màu xanh dương, in giấy trắng tinh, rất đẹp (số sách này sau này vẫn còn nhiều, chất đống ở Bộ môn Máy tính). Do thiếu chỗ, chúng tôi quyết định tháo các thùng sách ra và chèn vào các chỗ trống trong các tủ máy. Chúng tôi bảo nhau vậy là gặp điều may mắn rồi. Có Lênin trên xe, thế nào cũng thượng lộ bình an trên cả quãng đường gần 800 cây số vào Đà Nẵng. Sáng hôm đó, trời lạnh cóng. Chúng tôi hãnh diện nhìn cán bộ, sinh viên trường ĐHBK Hà Nội dừng lại hai bên đường xuýt xoa, tò mò nhìn đoàn xe phủ bạt kín mít chạy lầm lũi qua cổng Parabol.

Qua Bệnh viện Bạch Mai, qua ga Giáp Bát, rồi ra ngoại thành Hà Nội. Miền Bắc vừa trải qua chiến tranh, bị bom đạn cày xới, phố xá, làng quê đói nghèo xơ xác. Trên hành trình xuống phương Nam, đoàn xe men theo Quốc lộ 1 rất nhỏ hẹp, nhiều đoạn như đường làng, quanh co, khúc khuỷu, đầy ổ voi, ổ gà, nước đọng vũng… Cả đoàn xe đánh võng, gầm rú, thỉnh thoảng dừng lại chờ một đàn bò ngơ ngác lửng thững qua đường, hay một xe đạp thồ thủng xăm nằm vật vã giữa đường…

Sau một ngày một đêm, rạng sáng hôm sau máy Minsk-22 vào đến Đà Nẵng. Dỡ bạt ra, hầu như các tủ máy đều bị cong vênh, trầy xước. Cửa kính một tủ băng từ bị vỡ. Nhiều linh kiện bị đứt chân, bong tróc cả mối hàn… Phòng Thiết bị lại thuê cần cẩu để cẩu toàn bộ thiết bị, linh kiện lên hai phòng kề nhau ở lầu 1, nằm giữa Khu A, vốn là phòng khách, nay là phòng Truyền thống của trường. Xúm xít, hò hè, nâng, đỡ, kê, bẩy, đẩy qua, vật lại, cuối cùng, cả hệ thống máy móc Minsk-22 cũng vào hết trong phòng.

Những ngày sau đó, tôi có cảm giác như cả trường ĐHBK đều biết đến sự kiện này, có cả tò mò và ngạc nhiên. Phòng Thiết bị vừa phải tu sửa phòng đặt máy (trước đó chưa chuẩn bị gì, mới di chuyển hết đồ đạc ra ngoài), vừa đục khoét tường lắp máy điều hoà và tiến hành lắp đặt máy. Phòng ngoài, phía nhìn ra sảnh, dùng nơi đặt máy. Phòng sau làm kho chứa linh kiện, thiết bị…. Phòng máy được lắp 6 máy điều hoà Westinghouse loại cũ đã qua sử dụng. Loại máy này chỉ có một thùng, vừa làm dàn lạnh vừa làm dàn nóng, mỗi lần bật lên, chạy kêu ầm ĩ, nước chảy giọt lênh láng ra hành lang. Những ngày đó, trừ hôm bị cắt điện, gần như được mở chạy làm lạnh cả ngày, cả đêm, 24/24, 7/7.

Nhờ “thành tích” chuyên chở, lắp đặt, và cũng đúng vào dịp đang diễn ra Đại hội Đảng CSVN lần thứ V ở Hà Nội, chúng tôi vinh dự được trường tặng ngay cho mỗi người một chiếc “Huy hiệu Đại hội Đảng V”.

3.2. Đánh vật với Minsk-22

Mấy ngày sau, trường ĐHBK Hà nội cử hai cán bộ của TTMT là Trần Quốc Hưng (thầy giáo cũ của tôi) và Lê Minh Tân vào Đà Nẵng để trợ giúp lắp đặt. Phải mất hơn một tuần để kê dịch đặt lại các tủ đúng vị trí, rồi tháo lắp, chữa chỉnh, cắm các đầu giắc dây dữ liệu và điều khiển. Máy Minsk-22 có rất nhiều dây dẫn đủ màu sắc, được bó thành từng bó lớn và dài, chạy loằng ngoằng quanh phòng. Bên trong mỗi tủ sắt có đến hàng trăm bản mạch điện tử với hàng chân cắm mạ đồng màu vàng rực trên các giá đỡ. Có thể nói, tài liệu, bản vẽ mô tả cấu trúc máy và hướng dẫn sử dụng kèm theo máy thật nhiều. Tất cả đều được đóng kẹp bìa cứng theo từng đơn vị điều khiển, từ CPU, bộ nhớ trong, các thiết bị vào/ra, đến các khối chức năng. Nhiều tài liệu khi mở ra trải dài cả mét. Mất rất nhiều công sức (nhiều hôm hỳ hục đến tận khuya) để vận hành, chạy thử, máy Minsk-22 được bàn giao chính thức cho trường.

Những ngày đó, chị Hoàng, anh Lợi và tôi luôn có mặt để lắp máy và làm quen dần cách sử dụng. Ban Giám hiệu cũng thường xuyên đến quan sát, thăm hỏi và động viên. Mỗi lần máy được khởi động, tôi nhìn thấy hai dải băng từ trong hai tủ băng từ chạy qua vắt lại, kêu lạch xạch mỗi lần ngắt. Trên mặt bảng điều khiển, cả vùng bao quanh hàng phím mã (Набор Кода, có 37 phím bấm tương ứng với 37 ô nhớ của bộ nhớ trong) sáng bóng, dùng lâu ngày nhẵn hết cả nước sơn xanh men ngọc vốn có. Được hướng dẫn, tôi bắt đầu nhớ quy trình điều khiển. Bắt đầu nhấn phím ΠУСK (Start) khởi động máy, nhấn các phím xoá bộ nhớ trong, hạn chế vùng làm việc và chỉ định địa chỉ vùng nhớ đọc vào. Lắp cuộn băng giấy đục lỗ vào một vòng nhựa và lắp tiếp vào bánh xe bên trái của máy đọc (giống máy chiếu phim). Nhấn phím đưa vào bằng băng giấy ΠЛbbод, cuộn băng giấy đục lỗ chạy vèo qua máy đọc đưa chương trình số liệu vào máy. Để vận hành suôn sẻ máy Minsk-22, cần nhiều công đoạn phức tạp và tốn kém, kể cả nhân lực và tiền bạc. Chỉ nói riêng việc phải có phòng đục băng giấy cũng đã gây tranh cãi về khâu tổ chức và quản lý và quy trình khai thác…

Sau khi bàn giao được vài tuần, máy lại hỏng. Anh Trần Quốc Hưng lại lặn lội từ Hà Nội bay vào Đà Nẵng một lần nữa để tìm nguyên nhân khắc phục. Khi phát hiện được do hỏng bộ nhớ trong (Мозу), ai cũng mừng, vì may mắn là vẫn còn được dự trữ một thiết bị nhớ mới tinh để sẵn sàng thay thế. Đó là một ma trận 64×64 xuyến sắt từ, tròn nhỏ cỡ hạt gạo. Xuyên qua nó là 16 sợi dây đồng vàng rất mảnh. Cầm nâng niu thiết bị nhớ trên tay, thấy cả mảng xuyến rung rinh, cứ có cảm giác lo sợ bị đứt dây. Sau đó thì máy cũng chạy được, chủ yếu là chạy kiểm tra mấy chương trình nhỏ đã được đục lỗ sẵn trên băng giấy mang từ Hà Nội vào. Theo yêu cầu, máy phải để chạy liên tục ngày đêm không ngưng nghỉ (kể cả hệ thống máy điều hoà). Về sau, vì phòng máy tính tiêu tốn nhiều điện quá, máy điều hoà lại hư hỏng thường xuyên, nên trường đã đề nghị tắt máy Minsk-22, chỉ khi nào sử dụng mới cho bật máy lên.

Sau khi máy Minsk-22 được lắp đặt, trường thành lập Bộ môn Máy tính, do anh Huỳnh Đốc làm Tổ trưởng Bộ môn, vừa làm trưởng Phòng Thiết bị. Khoảng một năm sau, đầu năm 1983, anh Nguyễn Ngọc Diệp ở Khoa Cơ khí đi thực tập một năm ở Pháp vừa về. Anh mang về chiếc máy tính cá nhân Sinclair ZX80 có thể nói “siêu nhỏ nhẹ” và độc đáo (nhỏ hơn bàn phím máy tính bàn). Bộ nhớ chỉ 1KB. Để đưa ra màn hình, anh Diệp phải lôi tivi đen-trắng 11 inch của nhà ra để cắm máy vào mỗi khi chạy. Hồi đó máy Sinclair đã có thể lập trình với ngôn ngữ BASIC, mà đối với tôi, hết sức lạ lẫm.

Sau đó, anh Nguyễn Ngọc Diệp được trường bổ nhiệm làm Tổ trưởng Bộ môn Máy tính. Thời gian này, Bộ môn lần lượt được nhận về những chiếc MTĐT để bàn (vi tính) mới. Đầu tiên là hai chiếc máy Apple IIe do Việt kiều Pháp mua tặng, sau đó là một chiếc máy NEC cũng được Việt kiều Nhật mua tặng. Câu chuyện đi nhận máy ở Sân bay Tân Sơn Nhất, cũng như ở Cảng Hải Phòng, sau này kể lại, cứ cười ra nước mắt. Năm 1984, tôi được bổ nhiệm làm Tổ trưởng Bộ môn Máy tính. Những năm tháng này, việc giảng dạy môn “Tin học đại cương” bắt đầu được triển khai cho hầu hết các khoa trong trường. Do được trang bị nhiều máy tính để bàn mới, và với những tính năng ưu việt của thế hệ máy tính này (thay đổi liên tục, chóng mặt cho đến nay), hầu hết mọi hoạt động khai thác máy của Bộ môn đều chỉ tập trung vào các máy để bàn. Tất cả các máy tính này đều được lắp đặt cùng chỗ trong phòng máy Minsk-22. Từ những ngày đó trở đi, gần như máy Minsk-22 đứng bất động, im lìm. Nhờ có máy tính mới, rất mới lạ đối với cả Đà Nẵng, Miền Trung Tây Nguyên, Bộ môn Máy tính đã tiếp thị và triển khai được một số hợp đồng kinh tế xây dựng các phần mềm quản lý cho các công ty, xý nghiệp ngoài trường. Nhiều cán bộ của trường và cơ quan ngoài cũng tham gia sử dụng máy vi tính. Cùng với Xí nghiệp Tính toán (nay là Trung tâm Tin học Thống kê Khu vực III), Cục Thống kê Quảng Nam-Đà Nẵng đã tổ chức các cuộc xêmine về lập trình BASIC. Ngày đó họ có máy tính một địa chỉ C8205, còn gọi là Celeron, bộ nhớ dùng trống từ (Drum).

3.3. Xẻ thịt Minsk-22

Năm 1987, tôi đi làm NCS. Cuối năm 1993, tôi về lại Bộ môn thì không còn máy Minsk-22 nữa. Cũng như số phận của các dòng MTĐT thế hệ trước, máy Minsk-22 bị xẻ thịt, “thanh lý”. Nhiều năm sau đó, ở Bộ môn, từ năm 1995 thành Khoa CNTT, vẫn còn hai hay ba tủ sắt đã gở bỏ hết linh kiện bên trong, dùng đựng đồ lặt vặt, đứng chơ chỏng ở góc phòng, chung số phận với các máy Apple IIe.

Năm 2004, Hội thảo Quốc gia lần thứ VII “Một số vấn đề chọn lọc của CNTT & Truyền thông” diễn ra tại ĐH Đà Nẵng. GS. Bạch Hưng Khang, Viện trưởng Viện CNTT, Viện KH&CN VN, đã hỏi tôi về máy Minsk-22, nếu còn thì Viện sẽ mua lại. Tôi nghĩ có thể anh Khang hỏi đùa cho vui. Tuy nhiên tôi nghĩ nếu bây giờ mà vẫn còn hệ thống máy Minsk-22 như ngày nào, thì thật là một bảo tàng quý giá về một thế hệ MTĐT dùng bán dẫn. Có thể tìm thấy ở đó thật sống động kiến trúc và nguyên lý Von Neumann phát triển từ mô hình Turing, cấu trúc phần cứng, cơ chế biểu diễn thông tin, sử dụng các thiết bị vào/ra, lập trình bằng ngôn ngữ máy 2 địa chỉ, v.v… Tất cả những kiến thức có được từ hiểu và khai thác máy Minsk-22 giúp chuyên sâu về Tin học. Ngày nay, với thế giới vi tính đa dạng, từ máy để bàn (Desktop) đến máy xách tay (Laptop), từ điện thoại thông minh đến máy tính bảng (tablet), NSD không còn biết phía sau màn hình, bàn phím là gì trong đó, và như thế nào… như là một lẽ dĩ nhiên. Có thể vài ba năm nữa, máy tính cầm tay sẽ là một phép tích hợp của tất cả những loại máy này, kể cả tivi, điện thoại… Nhưng cũng nên nhớ rằng, tất cả đều là MTĐT ở thế hệ 4, sử dụng mạch tổ hợp lớn CMOS (Complementary Metal-Oxide-Semi-conductor), hoạt động theo kiến trúc cơ sở và nguyên lý tuần tự Von Neumann.

Trong câu chuyện có kể lại sự kiện Bộ môn Máy tính đã được tham gia “thanh lý” kho băng giấy cho Làng Pháo Nam Ô nức tiếng một thời ở Hoà Hiệp, phía Bắc Đà Nẵng. Những năm 80, có được băng giấy Liên xô trắng tinh, dày, rộng 25mm, vừa dai, vừa đóng thành cuộn dài cỡ 80m, để quấn làm vỏ pháo, chắc chắn là tuyệt vời. Tôi cứ tưởng tượng dịp Tết đến Xuân về khi nhà nhà nổ pháo Nam Ô, trong xác pháo bay tung trời có thể có những mảnh giấy của máy Minsk-22 bay lả tả.

Cũng muốn kể thêm về hành trình nhận máy Minsk-22. Tôi với anh Phan Đinh Lợi đã tranh thủ chuyến đi để thực hiện “chiến dịch KT”. Khi đi ra Hà Nội bằng tàu hoả, nghe nói ở Hà Nội có vài mặt hàng rất đắt giá, nên khi tàu dừng ở Ga Đồng Hới, Quảng Bình, chập choạng tối, hai anh em nhảy bổ xuống, dồn hết tiền mang theo, ngả giá mua được một thúng trứng vịt quê và khăn mặt (xuất xứ Lào, tuồn về qua cửa khẩu Lao Bảo). Mang khăn mặt (K) và trứng (T) lên tàu, không dám lại về chỗ ngồi (sợ chị Hoàng cười cho), mà nằm ngủ vạ vật canh hàng tại hành lang một toa giường nằm. Nửa đêm có cô nhân viên đi qua xốc dậy la ầm lên “Gớm hai ông tướng này, buôn trứng như điên, mà ngủ như điên !”. Ra Hà Nội chúng tôi bán tống bán táng ở Chợ Đồng Xuân (kể lại rất dài dòng), chẳng lãi bao nhiêu mà tôi lại bỏ quên cái áo đi mưa quân đội. Trên chuyến về, theo gợi ý của gia đình anh Lợi, chúng tôi lại “tranh thủ” chất nhiều bì khoai tây (KT) lên ô tô mang vào Đà Nẵng. Thế nhưng kết cục cũng chẳng hơn gì. Bán không được, suốt nhiều ngày sau, vừa ăn vừa cho, mãi mới hết.

4. Thay lời kết

Đã hơn 32 năm trôi qua. Còn có bao nhiêu sự kiện thú vị đáng kể nữa tính từ ngày Bộ môn Máy tính được thành lập. Để viết được bài này, tác giả đã gọi điện, nhắn tin cho nhiều người, tìm kiếm trên Google. Tác giả lục tìm được trong tủ sách gia đình cuốn sách cũ “Lập chương trình cho máy tính điện tử”  do trung tâm tính toán của Viện HLKH Liên Xô xuất bản năm 1965, do ông Nguyễn Văn Kỷ và hai người khác cùng dịch ra tiếng Việt. Đây là một tài liệu hướng dẫn lập trình ALGOL-60, cách sử dụng và lập trình ngôn ngữ máy Minsk-22, rất bổ ích trong suốt thời gian tôi học đại học ở Hà Nội và sau đó theo thầy Trần Quốc Hưng lắp đặt tại Đà Nẵng.

Ngày nay, khi nghe tên Minsk, người ta nghĩ ngay đến “xe máy bình bịch” Minsk, nổi tiếng “trâu bò”, từ Belarus đến nước ta những năm 60 đến nay, một loại “xe thồ” rất thịnh hành ở vùng núi, biên giới phía Bắc. Giới trẻ, kể cả người nước ngoài, dùng xe Minsk thành “câu lạc bộ”, thành “mốt” du lịch bụi (phượt) hay kiếm sống.

It người nhớ đến chuyện Làng Pháo Nam Ô, chuyện máy Minsk-22…

Lời cảm ơn

Tác giả gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả những người đã giúp tác giả, qua trao đổi, ghi chép lại sự kiện máy Minsk-22 vào Đà Nẵng. Đặc biệt tác giả bày tỏ lòng biết ơn đến thầy giáo cũ Trần Quốc Hưng, thầy Nguyễn Ngọc Diệp, anh Đỗ Văn Uy (K17 Toán-Lý), Nguyễn Thành Sự (K18 Toán-Lý).

 Chú Thích:

[1] Minsk (tiếng Belarus: Мінск, tiếng Nga: Минск, đọc Minxcơ hay Minxcơva), thủ đô của nước Cộng hòa Belarus thuộc Cộng đồng các Quốc gia Độc lập SNG, trước đây thuộc Liên bang Xô viết.

Nguồn bài đăng : GS-TS Phan Huy Khánh