XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG

Chủ Nhật, 12 tháng 2, 2023

TỔ CHỨC QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH THÔN (LÀNG) DƯỚI TRIỀU NGUYỄN TỪ 1832 ĐẾN 1945

TỔ CHỨC QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH THÔN (LÀNG) DƯỚI TRIỀU NGUYỄN  TỪ 1832 ĐẾN 1945

I/ Tổ chức quản lý trong làng (thôn) có hai tổ chức

- Tổ chức thứ nhất là Hội đồng Kỳ mục: Gồm các quan viên về hưu, cựu Lý trưởng, phó lý, người nhiều tuổi có uy tín, có trách nhiệm cùng với tiên chỉ bàn định công việc làng, trước khi giao cho hội đồng Lý dịch;

- Tổ chức thứ hai là Hội đồng Ngũ vị Hương (Hội đồng Lý Dịch)

Bộ phận Lý Dịch (Từ Lý đến Dịch) này gồm:

1 – Lý trưởng đứng đầu chịu trách nhiệm quản lý mọi việc trong làng, thu tiền sưu, thuế, giải quyết các công việc tranh chấp, giữ đồng triện (đồng triện của Lý trưởng hình chữ nhật); Làng lớn có thêm Phó Lý giúp việc Lý trưởng;

2 – Hượng Bạ người giữ sổ sách, giá thú sinh tử, trích lục đất đai (Hương bạ cũng có con dấu hình bầu dục)

3 – Hương Mục: Giữ công việc công công trông coi các đường trong làng, kể cả đê điều (nếu có) mỗi khi ở huyện điều người đi làm đường xá hương mục phải lo điều này;

4 – Hương Bản: Giữ công quỹ của làng trong đó có việc thu chi các khoản (hương bản cũng có con dấu để đóng vào giấy tờ thu chi)

5 – Hương Kiểm: Coi việc tuần phòng trong làng, ngoài đồng điền và miếu mạo

6 – Hương Dịch: Coi công việc sản xuất, chăn nuôi, sổ sách hương ẩm và báo cáo các công việc trong làng

Về sau này còn có chức - Hương Nông coi việc khuyến nông, mương máng, tưới tiêu trên đồng ruộng; Chức Đoàn xã là người chỉ huy Đoàn viên theo hệ thống Tổng đoàn;

Nhìn chung Hội đồng Chức dịch có nhiệm vụ thu thuế má, đốc thúc phu phen, canh phòng, tuần tra bảo vệ trị an xóm làng, tổ chức tế lễ, đình đám, mở Hội hàng năm;

          Dưới chế độ phong kiến trong làng còn có phe giáp, đây là tổ chức phi hành chính; Nghĩa vụ đóng góp trong phe giáp rất nặng nề, nhất là đóng góp cho các làng trên tế lễ; Ngoài Phe giáp trong làng còn có tổ chức hội làng văn, hội làng võ (hương Binh), làng nhiêu,…Tổ chức làng văn là những người có tính hạnh thuần cẩn và biết chữ;

II/ Các Hội trong làng

1-Tìm hiểu về Giáp:

Làng xã xưa có năm dạng tập hợp người:

 - Theo địa vực (ngõ, xóm);

 - Theo huyết thống (họ);

 - Theo tinh thần tự nguyện (phe, hội phường…);

 - Theo theo bộ máy chính quyền cấp xã;

 - Theo lớp tuổi.

         Giáp là một tổ chức, một môi trường đặc biệt dành cho nam giới mà trong đó họ sẽ “tiến thân” và khẳng định vị thế bằng chính tuổi tác của mình; là một biểu hiện của truyền thống "trọng xỉ " (trọng người già, người nhiều kinh nghiệm sống và lao động, sản xuất) của làng xưa. Giáp là một tập hợp có tính cách tôn giáo việc gia nhập mang yếu tố gia đình và có trung tâm là một ngôi đền…”. Tham gia giáp theo tinh thần tự nguyện nên thường được gọi là Phe Giáp

          Hành trình “trưởng thành” của nam giới trong làng

Giáp là môi trường đặc biệt mà trong đó nam giới tiến thân, trưởng thành và xác lập vị thế của mình theo nguyên tắc “trọng xỉ” của làng xã. Chu kỳ trưởng thành đó gồm: Vào giáp, lên đinh, lên lão.

         Vào giáp: Khi đứa bé trai sinh ra, người cha phải biện một lễ mọn trình giáp để được ghi tên vào “sổ bộ” (sổ nhân danh) của giáp. Từ đó, cậu bé trở thành thành viên của giáp. Khi lớn lên, cậu bé được quyền theo cha, anh đến dự các cuộc họp của giáp. Thực ra vì còn nhỏ tuổi nên chủ yếu là cậu ta được ăn cỗ của giáp; nếu vắng mặt, cậu ta được giáp gửi phần.

        Lên đinh: Sang tuổi 18, trở thành thanh niên, anh ta phải làm lễ trình làng một lần nữa để được “lên đinh”. Đây là cột mốc chứng tỏ sự trưởng thành và đánh dấu tư cách của anh ta trong giáp, trong làng. Với tư cách trai đinh, từ lúc này cho đến khi lên lão, anh ta phải gánh vác rất nhiều trách nhiệm với làng, với nước.

        Trước hết, các trai đinh phải nộp thuế, đi phu và đi lính. Trong quãng thời gian này, mọi trai đinh trong giáp/làng phải thay nhau gánh vác công việc trong các "hội đồng niên” từ việc làm “ông lềnh” cho đến “câu đương”, “cai giáp”, cai đám”…  từ lo sổ sách của giáp đến việc đóng góp tiền của, chuẩn bị cỗ bàn cho giáp, cho làng rất vất vả và tốn kém.

        Tuy nhiên, trai đinh đồng thời cũng có những quyền lợi tinh thần và vật chất như được xác lập vị trí trong giáp, được quyền tham gia bàn bạc việc của giáp, được phân chia ruộng công của làng.

         Lên lão: Thông thường, sang tuổi 49, có nơi là 60, các trai đinh được “lên lão”. Kể từ lúc này, người đàn ông được ngồi chiếu trên, không còn phải làm các công việc trực tiếp mà được tham gia “phán bảo” hoặc “tư vấn” việc làng, việc giáp cho đám trai đinh thực hiện. Đó là con đường trưởng thành của một công dân nam giới của làng xưa theo "xỉ tước" (tước phẩm nhờ tuổi tác).

         Khác với sự thăng tiến quan tước - theo chức vụ chính quyền, hay trưởng thành theo nghĩa giàu có, sự tích lũy tài sản, trong môi trường này ai cũng có thể bình đẳng “trưởng thành”, miễn là sống thọ, sống trọn vẹn cho đến các thời điểm quan trọng của sự “thăng tiến”, của vòng đời.

         Từ một tổ chức hành chính, giáp dần trở thành một tổ chức mang tính hai mặt, vừa tổ chức theo lớp tuổi, lại vừa tổ chức theo những người cùng làng/địa vực. Một mặt, giáp mang tính tôn ty, “sống lâu lên lão làng”; mặt khác, cũng có tính dân chủ khi tất cả mọi thành viên cùng lớp tuổi đều bình đẳng với nhau, cứ đến tuổi thì sẽ thành trai đinh hoặc lên lão. Đó là một sự biến đổi sáng tạo về cấu trúc và vai trò của giáp của tinh thần dân chủ công xã của làng Việt.

2 - Tìm hiểu về Hội đồng Kỳ mục

        Hội đồng kỳ mục: Hội đồng kì mục là cơ quan quản lí truyền thống của làng xã người Việt ở đồng bằng, trung du Bắc Bộ. Hội đồng được xác lập vào nửa sau thế kỉ XV, khi Nhà nước phong kiến bỏ chế độ xã quan (quan lại do Nhà nước cử về nắm làng xã). Hội đồng có toàn quyền đối với các vấn đề lớn trong đời sống của làng như sửa đổi và bổ sung hương ước, chia hoặc đấu thầu công điền công thổ, quản lý theo kỳ hạn, đấu giá tài sản và thu chi ngân sách, sửa chữa đình chùa, mở hội, quan hệ với các làng khác... Hội đồng kỳ mục hoạt động không có nhiệm kỳ hạn định và hoàn toàn độc lập với chính quyền nhà nước cấp trên, chính quyền phong kiến cấp xã muốn thực thi các nhiệm vụ của mình phải nhờ sự giúp đỡ của Hội đồng kỳ mục.

        Đứng đầu Hội đồng kỳ mục là một Tiên chỉ, là người có phẩm hàm hay học vị, chức tước cao nhất trước khi về hưu. Khi có người cao hơn thì nhường chức Tiên chỉ cho người đó để trở thành Cựu Tiên chỉ. Dưới Tiên chỉ có Thứ chỉ.

        Tháng 8-1921, nhằm cải tổ cung cách quản lý của làng xã để nắm chặt làng xã hơn nữa, chính quyền thực dân Pháp ở Bắc Kỳ bãi bỏ Hội đồng kỳ mục, thay thế bằng Hội đồng tộc biểu. Song, Hội đồng tộc biểu không đảm đương được nhiệm vụ nên đến năm 1927, thực dân Pháp phải lập lại Hội đồng kỳ mục, làm nhiệm vụ tư vấn cho Hội đồng tộc biểu. Đến năm 1941, Hội đồng tộc biểu bị bãi bỏ, Hội đồng kỳ mục làm nhiệm vụ của Hội đồng tộc biểu, như nó từng tồn tại 20 năm trở về trước.

3 - Các hội khác trong làng xưa

3.1 - Hội Hội tư văn: là những thành viên trong một làng xã học chữ Nho, thường được gọi là hội của những kẻ sĩ dân gian ở làng quê. Sự ra đời của hội tư văn là kết quả của sự phát triển và tiếp thu Nho giáo cả về tư tưởng, văn hóa của các làng xã người Việt mấy thế kỷ trước. Khi đó, trong các làng xã hình thành nên một số đông người học chữ Nho, sau đó là các thế hệ kế tiếp nhau theo Nho học; do nhu cầu tự nhiên của cuộc sống đã làm nảy sinh Hội Tư văn. Ở thế kỷ XVI một số làng xã đã xuất hiện Hội Tư văn. Gốc gác của những người tham gia Hội Tư văn đều học chữ Nho. Họ tập hợp lại cùng sinh hoạt, giống như ngày nay người ta tập trung cùng hoạt động ở một câu lạc bộ chuyên ngành. Tôn chỉ, mục đích của Hội Tư văn là trọng đạo học, đề cao bậc thánh hiền – Khổng Tử và 72 học trò thành đạt của Ngài cùng những bậc tiên hiền đậu đạt ở làng quê. Với tôn chỉ, mục đích cao cả trên, Hội Tư văn đề ra những tiêu chuẩn xét  nhận và thu nạp thành viên riêng. Trước hết, việc kết nạp thành viên nhằm vào những người đã học chữ Nho: Nho sinh, Sinh đồ, Giám sinh, thi đỗ hoặc không thi đỗ. Với tiêu chuẩn xét chọn như vậy, ở một làng nông nghiệp bình thường khi Nho học chưa phát triển thì số thành viên của Hội Tư văn sẽ rất ít. Xét về hình thức, Hội Tư văn không chia lẻ như các giáp. Một làng, một xã cụ thể chỉ có duy nhất một Hội Tư văn. Đứng đầu Hội Tư văn do Văn trưởng hay Hội trưởng Hội Tư văn, do Hội bầu chọn. Hội trưởng là người phải có uy tín, quy định tuổi đời phải từ 35 tuổi trở lên. Hội trưởng chịu trách nhiệm điều khiển các hoạt động của Hội. Giúp việc đắc lực cho Hội trưởng từ cuối thời Lê đến đầu thời Nguyễn là Điển văn, do Hội cử ra. Điển văn lo giữ các giấy tờ, sổ sách của Hội, nhiệm vụ chính là lo văn tế trong các dịp lễ Xuân – Thu, Kỳ an, Kỳ phúc và lễ hội làng hằng năm. Điển văn có thể tham gia soạn tế, hoặc giao cho viên Tả văn lo soạn. Do vai trò đặc thù của Hội Tư văn nên tổ chức nhân sự của Hội gọn nhẹ, đơn giản, gồm Hội trưởng – Điển văn – Tả văn. Khi xem xét vai trò và hoạt động của Hội thông qua hương ước hay khoán ước riêng của Hội sẽ thấy rõ thêm. Vai trò chính của Hội Tư văn là làm chủ tế cho các lễ, tế hay là cầu an của làng xã, chủ tế phải là người hiểu chữ nghĩa, có hiếu hạnh, phu phụ (chồng vợ song toàn), không vướng bụi (không có đại tang). Do hiểu lễ nghĩa Nho giáo nên chủ tế đảm đương từ việc xét duyệt nội dung các kỳ tế Xuân – Thu, Cầu an, Cầu phúc, hội làng và các lễ tiết khác theo nông lịch trong một năm, đồng thời trực tiếp điều khiển hành lễ đúng theo khuôn phép Nho giáo và tập quán truyền thống của làng xã. Các thành viên trong Hội đều được tham dự vào lễ tế tại đình, hoặc ở Văn chỉ. Thành viên Hội Tư văn thường được mời dự lễ hiếu, hỷ ở làng. Sự hiện diện của Hội Tư văn vừa làm hãnh diện cho gia chủ, vừa là thành viên giám sát các lễ thức diễn ra theo đúng tập quán truyền thống. Ngoài việc tham dự tế lễ, Hội Tư văn ở nhiều làng có thành viên tham gia vào bộ máy quản lý làng xã, giữ chức Xã trưởng, Lý trưởng, Khán thủ, Trương tuần hoặc cầm trịch việc hội họp đình trung, hương ẩm, tham gia vào việc khuyến học ở làng. Ở một số làng, Hội Tư văn tham dự Hội đồng sát hạch học trò kỳ thi đầu năm, trước khi sĩ tử tham gia thi hương. Tư văn là thành viên tích cực nhất cỗ vũ và gìn giữ học phong ở làng xã. Những kẻ sĩ Hội Tư văn gắn bó với cuộc sống làng quê, gần gũi dân làng. Họ đem chút kiến thức Nho học để phụng sự đời sống văn hóa tâm linh vốn được lưu truyền ở làng. Có thể coi Hội Tư văn là cột trụ, là chỗ dựa của đời sống tâm linh ít nhiều ảnh hưởng của Nho giáo và ảnh hưởng sâu đậm của tín ngưỡng dân gian nông nghiệp. Tóm lại, trong xã hội làng xã cổ truyền không thể thiếu vai trò của Nho sĩ – trí thức – Hội Tư văn, một tổ chức xã hội khá quy củ và có mặt ở hầu khắp các làng quê với vai trò nổi trội trong đời sống tâm linh, văn hóa nêu trên.

3.2 -Hội  Hương  binh  (Hội    võ):  tập  hợp  những  người  cựu  chiến  binh,  những người lính đã giải ngũ sau một quãng thời gian phục vụ trong quân ngũ nay trở về làng, bất kể họ là lính trơn hay đã thăng hàm Đội trưởng, Ngũ trưởng... đều được vào hội Hương binh. Những người lính đảo ngũ bỏ nhiệm vụ không được mời tham gia Hội. Hội hương binh cũng là một hình thức tổ chức xã hội tự nguyện làng xã. Song, tổ chức có phần lỏng lẻo, những cựu chiến binh có thể tham gia hoặc không tham gia Hội Hương binh. Đứng đầu Hội Hương binh là viên đội trưởng, do cả Hội cử ra để điều hành chung công việc của Hội. Thời hạn làm Hội trưởng kéo dài từ một đến hai năm, tùy theo từng làng xã quy định. Hội Hương binh cũng xây dựng Vũ chỉ - một ngôi nhà giống như Văn chỉ của Hội Tư văn, làm một nơi hội họp, ăn uống khi hữu sự. Tuy vậy, không phải nơi nào cũng có Hội hương binh là nơi đó đều có Vũ chỉ. Hương binh cũng tham gia vào những dịp lễ tế ở đình làng với tư cách là thành viên của các giáp hay thành viên hay các tộc họ. Trong số những cựu chiến binh ở làng xã, nhiều người đã từng tham gia trận mạc vào sinh ra tử, lập được chiến công hiển hách, nên dân làng rất tin tưởng khi họ có chân trong đội tuần đinh, giữ chức Trưởng phiên, Trương tuần. Hội Hương binh được coi là nòng cốt trong việc tuần phòng bảo vệ làng xã. Dĩ nhiên, ngoại trừ nhiều thành viên thành viên của Hội do thành tích phục vụ trong quân ngũ đã được miễn trừ tuần phu, tạp dịch chung thân. Hội gắn bó với nhau không chỉ để nhớ lại những kỉ niệm quân ngũ về những ngày tháng gian khổ và vinh quang, mà điều quan trọng là sự sẻ chia cuộc sống đầy vơi của những thàng ngày còn lại nơi quê nhà. Đối với Hương binh cũng được dân làng cũng được dân làng nể trọng, biểu hiện từ cách xưng hô đến việc chia biếu phần, miễn giảm tạp dịch và vị trí chỗ ngồi xứng đáng ở đình trung. Hương binh – hưu binh, vai trò của Hội dù sao cũng hạn chế. Song, sự góp mặt của Hội khiến bức tranh xã hội của làng quê thêm phong phú sắc màu.

4 - Hương ước của làng xưa và nay

4.1 -Vai trò của hương ước: Hương ước được coi là thiết chế có tác dụng hỗ trợ pháp luật khi Nhà nước chưa kịp ban hành pháp luật hoặc chưa cần thiết sử dụng pháp luật để điều chỉnh, được ví như “cánh tay nối dài” của pháp luật và cùng với pháp luật điều chỉnh một cách toàn diện các mối quan hệ phát sinh trong đời sống xã hội. Thực tế, hương ước đang được chính quyền và người dân địa phương xem như một công cụ tham gia vào quá trình quản trị cộng đồng. Vì vậy, hương ước bên cạnh việc nên được cập nhật với tình hình thực tế tại cộng đồng thì cần nhận diện cơ chế đích thực, con người cụ thể từ cộng đồng đóng vai trò chủ chốt để duy trì tập tục, quản trị cộng đồng cũng như hòa giải các vướng mắc.

         Hương ước đã góp phần đưa pháp luật, chủ trương, chính sách của Nhà nước đi vào cuộc sống; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước; gìn giữ, phát huy truyền thống, tập quán tốt đẹp của cộng đồng dân cư ở cơ sở; bài trừ các hủ tục lạc hậu; hình thành giá trị chuẩn mực xã hội phù hợp với truyền thống, bản sắc của địa phương; phát huy và mở rộng dân chủ ở cơ sở. Qua việc thực hiện hương ước đã góp phần đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội, xây dựng nông thôn mới; phát huy quyền tự do, dân chủ ở cơ sở, động viên, tạo điều kiện để nhân dân thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ; giúp nhân dân tham gia, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước.

          Nội dung của hương ước gắn với đặc điểm về văn hóa, xã hội của địa phương. Đến nay, việc xây dựng, thực hiện hương ước còn nhằm điều chỉnh, đảm bảo thực hiện tốt các chính sách về dân số, kế hoạch hóa gia đình, giáo dục, khuyến học, y tế, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên (rừng, cây trồng...). Đồng thời, trong một số lĩnh vực quản lý, hương ước được coi là một trong các tiêu chí, chỉ tiêu đánh giá kết quả, chất lượng, như: Công nhận gia đình văn hóa, thôn, làng văn hóa; công nhận xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Như vậy, có thể khẳng định, hương ước là một công cụ quản lý gián tiếp của Nhà nước trong cộng đồng dân cư. Dù đất nước ta đang ngày một phát triển, bên cạnh công cụ pháp luật để quản lý nhà nước thì vẫn cần tiếp tục xây dựng, duy trì, thực hiện và phát huy hương ước bởi những giá trị của hương ước và nâng cao hiệu quả tự quản của cộng đồng dân cư tại thôn, làng.

4.2 - Những hạn chế của hương ước:

          Trước hết, là tư tưởng cục bộ địa phương, bè phái và những điều khoản của hương ước chỉ liên quan đến công việc, tới tập tục làng xã do vậy nó góp phần tạo ra tâm lý chỉ quan tâm đến lợi ích của làng mình “Ăn cây nào rào cây ấy”, “Trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ” ít quan tâm đến quyền lợi của làng khác. Làng với kinh tế tiểu nông tự cung, tự cấp và các tổ chức xã hội riêng, tập tục riêng đã được hương ước thể chế hóa do đó làng xã trong tâm thức của người nông dân là nhất. Thành viên nào cũng mang trong mình và tự hào về điều này. Điều này giải thích tại sao có người nông dân vì danh dự của làng dẫn đến hành động “quá tả” lao vào các cuộc tranh chấp đất đai, cãi vã, ẩu đả tập thể,... thực chất chỉ nhằm bảo vệ quyền lợi của các tầng lớp chức sắc, chức dịch trong làng.

          Thứ hai, việc quản lý làng xã bằng hương ước là một trong những cơ sở để hình thành lối sống theo lệ làng không quen sống với pháp luật, thậm chí còn coi thường pháp luật (phép vua thua lệ làng). Nhìn chung người nông dân trong làng ít được trang bị kiến thức về pháp luật và cho đến nay thì điều này vẫn còn, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa miền núi dân tộc. Đây là vật cản lớn trên con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi những nhà quản lý phải có những biện pháp tích cực trong việc tuyên truyền giáo dục pháp luật cho mọi người dân để nâng cao trình độ dân trí.

          Thứ ba, mặt hạn chế của hương ước xưa phải kể đến là việc góp phần làm tăng các hủ tục nặng nề trong đám cưới, đám tang, khao vọng, hội lễ. Một tác động tiêu cực khác từ hậu quả của những hủ tục trong cưới, tang, khao vọng, hội lễ đã tạo ra óc mê tín dị đoan, quá tin vào tôn thờ thế lực siêu tự nhiên; cưới xin chọn ngày chọn giờ, cô dâu chú rể phải so tuổi, tang ma cũng phải xem giờ để nhập quan mai táng, con cái báo hiếu cha mẹ phải coi trọng phần mộ (đến nay tình trạng đô thị hóa nghĩa trang ngày càng phát triển, mọi người đều xây mộ to lấn chiếm cả đất canh tác).

          Từ việc nghiên cứu hương ước xưa, biết được những mặt tích cực của hương ước và những mặt còn hạn chế của nó để vận dụng trong việc xây dựng quy ước văn hoá đó là hướng đi đúng trong việc kế thừa di sản truyền thống của cha ông để lại, biết “gạn đục khơi trong” trong cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, đặc biệt trong việc xây dựng nông thôn mới. Hiện nay việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở gắn với việc xây dựng nông thôn mới và văn hóa nông thôn đang đặt ra nhiều vấn đề cho người nông dân chủ thể của xây dựng nông thôn mới. Rất nhiều mối quan hệ không chỉ trong ứng xử mà còn là việc thực hiện quy định chung về môi trường, cảnh quan, mùa màng, không gian thoáng của hội hè , đình đám, trong các di tích đình, chùa, đền, miếu của làng, bản. Vì vậy từ hương ước xưa, chúng ta học được nhiều điều khi xây dựng quy ước văn hóa hiện nay. Bên cạnh đó, sau khi hoàn chỉnh khâu dự thảo, hương ước, hay các quy ước, lệ tục của làng xã, xóm, bản, thôn cần phải được trình lên cấp chính quyền có thẩm quyền để xem xét và phê duyệt; để từ đó tránh tình trạng “Lệ làng to hơn phép nước”.

Tóm lại:  “Hương ước của các làng xã người Việt để lại là nguồn tư liệu gốc rất quý giá đẻ qua đó tìm hiểu xã hội Việt Nam qua từng thời kỳ lịch sử, nhất là ở nông thôn trong quá khứ cũng như hiện tại, là vốn trí thức dân gian về quản lý cộng đồng, về sử dụng và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên của cha ông để lại mà ngày nay nhiều điều chúng ta cần học hỏi, kế thừa; Là di sản văn hoá mà trong đó chứa đựng các giá trị nhân văn, giá trị văn hoá, nghệ thuật…Việc học tập, kế thừa hương ước cổ truyền xưa để xây dựng quy ước nông thôn mới hiện nay đã và đang là phong trào quần chúng ở các địa phương, được Đảng, nhà nước ủng hộ và chỉ đạo thực hiện”

         Quy định xưa: Từ cách mạng tháng tám năm 1945 trở về trước tụ điểm dân cư nào muốn được nhà nước công nhận là đơn vị hành chính (tưc là thành một làng riêng) phải có đủ những quy định đó là:

-         Có sổ địa bạ

-         Có sổ hương ẩm

-         Có bản hương ước

-         Có đình làng

-         Có Nghè (đền) thờ Thành hoàng

-         Có Hội đồng Kỳ mục (Hội đồng bô lão)

-         Có Hội đồng Ngũ vị Hương (Hội đồng Lý Dịch, Hội đồng của Lý trưởng và 5 ông Hương)

-         Có đồng triện (con dấu bằng đồng)

Sưu tầm từ nhiều nguồn 

NGUỒN GỐC THÔN LÀNG XÃ VĨNH TIẾN


LỊCH SỬ CÁC LÀNG THUỘC XÃ VĨNH TIẾN HUYỆN VĨNH LỘC TỈNH THANH HOÁ

1 * Làng Thổ Phụ:

          Làng Thổ Phụ có tên là Thổ Sơn Trang, rồi thôn Thổ Sơn, đến đầu thế kỷ thứ XX mới đổi là Thổ Phụ. Làng Thổ Phụ xưa thuộc tổng Cao Mật, huyện Vĩnh Lộc. Hiện nay làng Thổ Phụ thuộc xã Vĩnh Tiến (Vĩnh Lộc). Làng nằm bên tả ngạn sông Mã và cách Thành Nhà Hồ khoảng 1km về phía Tây - Nam.

          Vào thế kỷ XII ở khu vực làng Thổ Phụ bây giờ đã có dòng Họ Bùi đến khai phá lập nghiệp, sau đó các dòng họ khác như họ Phạm, Họ Dương, Họ Lê…ở các nơi khác đến sinh sống và lập nên làng xóm; Đến cuối triều Hồ khu vực núi Ngưu Ngoạ đã có một vài ba hộ của dòng họ Bùi, họ Lưu, họ Nguyễn đến khai phá đất đai và sinh sống;

          Đất Thổ sơn trang lúc bấy giờ không chỉ đến làng Thọ Đồn mà còn cả làng Cẩm Bào ngày nay; Bấy giờ ở Thổ Sơn Trang có ông Phạm Đốc sinh năm 1513 (đời vua Lê Tương Dực); Phạm Đốc mặt vuông chữ điền, lông mày nét mác, tướng mạo oai phong, đi đứng nhanh nhẹn, được cha trực tiếp dạy bảo Văn bài và Võ nghệ; Bấy giờ triều đình nhà Lê rối loạn, các vua Lê liên tiếp thay nhau và sống sa đoạ cực độ. Trong khi đó nhà Mạc tìm mọi cách chiếm ngôi nhà Lê; Phạm Đốc không có chí lập công danh chỉ lấy việc đọc sách và săn bắn làm vui;

        Năm 1533 một cựu thần nhà Lê tên là Nguyễn Kim đã đứng lên phù Lê diệt Mạc. Thái sư Hưng Quốc Công Nguyễn Kim sai người tìm được Lê Duy Ninh là con của vua Lê Chiêu Tông, cháu nhiều đời của Lê Thánh Tông, đón sang Ai Lao (Lào) tôn lập; Ở làng Biện Thượng (nay là là Bồng Thượng xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc) có ông Trịnh Kiểm là người dũng lược đã theo Nguyễn Kim phò Lê diệt Mạc; Đến năm 1538 nghe tướng Nguyễn Kim phò vua Lê Trang Tông (tức Lê Duy Ninh) chống lại nhà Mạc, Phạm Đốc mới đi theo Trịnh Kiểm và được nhà vua và Trịnh Kiểm trọng dụng; Ông Phạm Đốc là người có nhiều công lao và được phong nhiều ruộng đất, trong đó ngoài đất Thổ sơn còn có ruộng đất của làng Thọ Đồn (Thọ Sơn Trang), làng Cẩm Bào (Bắc Thượng Trang) ngày nay.

        Trung tuần tháng 5 năm Mậu Ngọ Ông Phạm đốc bị cảm mạo, thuốc thang chạy chữa không có hiệu nghiệm, ngày mùng 4 tháng 8 ông mất, năm ấy ông mới 46 tuổi (tính cả tuổi mụ) thi hài ông được đưa về làng Thổ Sơn (Thổ Phụ) chôn cất; Ông Phạm Đốc sinh được 3 người con trai trên đất Thổ sơn (Thổ Phụ) vào cuối thế kỷ thứ XVI người con trai cả là Phạm Đức Thắng – Tên Bộ là Phạm đức Kỳ vẫn ở tại Thổ Sơn trang (Thổ Phụ); Người con thứ 2 là Phạm Đức Thuần – tên bộ là Phạm Đức Nho lên Thọ Sơn Trang (Thọ Đồn); Người con thứ 3 là Phạm Quý Thư – tên bộ là Phạm Quý Tâm lên Bắc thượng Trang (Cẩm Bào).

          [Trước năm 1945, làng Thổ Phụ có khoảng 100 gia đình với gần 450 người. Người dân làng Thổ Phụ có tinh thần yêu nước và có phong trào cách mạng sôi nổi liên tục. Những năm 1924 - 1928, làng có ông Vũ Văn Huyền, thường gọi là giáo Huyền đã về Hậu Lộc liên lạc với Đinh Chương Dương và một số người khác tham gia vận động người đi xuất dương về làm cách mạng, tham gia chủ trương cứu nước của Phạm Hồng Thái và Nguyễn Thái Học. Sau đó, ông tham gia thanh niên Tân Việt, Hội Việt Nam cách mạng Thanh Niên và đã trở thành chiến sĩ cộng sản và đã có nhiều hoạt động cách mạng bí mật trong những năm đầu xây dựng tổ chức Đảng.

         Dưới sự lãnh đạo của Đảng, tiếp nối con đường cách mạng của Vũ Văn Huyền, nhiều người con của làng Thổ Phụ đã tích cực tham gia hoạt động cách mạng trước năm 1945 như: Lê Đình Quỷnh, Lê Đình Huỗn, Nguyễn Văn Chí, Nguyễn Trọng Vĩnh, Nguyễn Văn Hùng, Phạm Quảng Lai, Lê Văn Khoa, Phạm Văn Lân, Vũ Văn Kháng, Phạm Văn Huế, Phạm Bảng, Lê Đình Diễn...

         Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy về việc thành lập Ủy ban vận động cách mạng các phủ, huyện. Trong tháng 7-1938, tại nhà ông Nguyễn Thành Khải (Lý Kim) ở làng Phương Giai đã có cuộc họp thành lập Ủy ban vận động cách mạng của huyện Vĩnh Lộc. Ủy ban gồm 10 người, đồng chí Lê Văn Thiệp, Tỉnh ủy viên tỉnh Thanh Hóa 1931 - 1934 làm Trưởng ban, trong đó làng Thổ Phụ có hai người là các đồng chí: Nguyễn Văn Chí và Lê Đình Quỷnh.

          Thời kỳ Mặt trận Dân chủ Đông Dương có phong trào truyền bá chữ Quốc ngữ và sách báo cách mạng, sách báo tiến bộ được lưu hành khá phổ biến. Tháng 5-1938, hiệu sách “Thanh Hóa thư quán”, được thành lập tại thị xã Thanh Hóa. Từ thị xã Thanh Hóa, hội đọc sách báo được tổ chức rộng rãi ra nhiều huyện trong tỉnh. Cuối năm 1938 làng Thổ Phụ đã tổ chức nhóm đọc sách báo và truyền bá chữ Quốc ngữ. Sau này “Thanh Hóa thư quán” bị mật thám theo dõi và kiểm soát, các đồng chí lãnh đạo và cán bộ “Thư quán” phải chuyển về các huyện, trong đó có về làng Thổ Phụ được Nhân dân tận tình giúp đỡ. Đồng chí Lê Văn Thiệp đã giới thiệu chị Đông, chị Cúc về ở nhà bà Nhàn, bà Tường để hoạt động.

          Trong phong trào đấu tranh cách mạng ở làng Thổ Phụ có nhiều người được giác ngộ và tham gia hoạt động từ lúc cách mạng đang còn gặp nhiều gian khó, điển hình như hai anh em ruột Lê Đình Quỷnh và Lê Đình Huỗn. Lê Đình Quỷnh hoạt động từ năm 1936 trong phong trào Mặt trận Dân chủ ở huyện Vĩnh Lộc, tháng 7-1939 đồng chí bị địch bắt và kết án một năm tù giam tại nhà lao Thanh Hóa. Tháng 7-1940 đồng chí được ra tù và tiếp tục hoạt động cách mạng, và đã hy sinh. Đồng chí Lê Đình Huỗn còn có tên là Lê Văn Kẽm tham gia cách mạng từ năm 1938 đến năm 1941 bị địch bắt giam ở Buôn Mê Thuột. Ra tù đồng chí được Ủy ban khởi nghĩa tỉnh Thanh Hóa cử lên chỉ đạo việc cướp chính quyền ở các huyện miền núi phía Tây Thanh Hóa và có thời gian giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban cách mạng lâm thời huyện Cẩm Thủy. Trong kháng chiến chống Pháp, đồng chí Lê Đình Huỗn được điều vào quân đội và đã hy sinh anh dũng.

          Ở làng Thổ Phụ còn có Nguyễn Trọng Vĩnh lớn lên đi làm công nhân Nhà máy in Hà Nội. Đồng chí đã tham gia hoạt động cách mạng thời kỳ Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1936 - 1939). Đồng chí Nguyễn Trọng Vĩnh bị địch tìm bắt ở làng Thổ Phụ và bị đi tù ở Đắc Lây 5 năm (1940 - 1945). Ra tù, đồng chí tiếp tục hoạt động cách mạng và trở thành thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam. Năm 1960 đồng chí được bầu là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tổ chức Trung ương Đảng, rồi làm Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa (1961 - 1963) và giữ nhiều chức vụ khác.

          Tháng 11-1939, Trung ương Đảng ra quyết định thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Ở làng Thổ Phụ từ đầu năm 1940 đồng chí Lê Đình Huỗn, rồi đến đồng chí Phạm Văn Lân tổ chức những người được giác ngộ vào mặt trận phản đế cứu quốc. Những hội viên phản đế cứu quốc là đội viên tự vệ. Lúc này làng Thổ Phụ có 13 người trong đội tự vệ có nhiệm vụ là mỗi khi có cán bộ về họp ở cơ sở thì đội viên làm nhiệm vụ canh gác bảo vệ cuộc họp, bảo vệ cán bộ thoát ly đang bí mật công tác trong làng, bảo vệ cơ quan làm báo “Đuổi giặc nước” của Đảng bộ tỉnh.

         Báo “Đuổi giặc nước” do các đồng chí Tố Hữu, Lê Tất Đắc, Hoàng Tiến Trình sau khi được cử về chỉ đạo phong trào cách mạng ở Thanh Hóa đã được giới thiệu về làng Thổ Phụ. Tại nhà đồng chí Phạm Văn Lân, tháng 7-1942, báo “Đuổi giặc nước” ra số 1 và tháng 8-1942 ra số 2.

         Từ tháng 9-1940, Nhật vào Đông Dương, thực dân Pháp đầu hàng và cấu kết với Nhật để thống trị và bóc lột Nhân dân ta. Các cơ sở cách mạng bị lục soát, tìm kiếm khám xét bất kể ngày đêm. Được cơ sở cách mạng và Nhân dân che chở cơ quan làm báo “Đuổi giặc nước” và các đồng chí lãnh đạo đều an toàn. Phát xít Nhật còn thi hành các chính sách vơ vét rất độc ác, chúng bắt Nhân dân ta nhổ lúa, nhổ ngô để trồng bông, trồng đay. Tiêu biểu cho phong trào đấu tranh là cuộc đấu tranh chống Nhật của Nhân dân huyện Vĩnh Lộc là cuộc đấu tranh của làng Thổ Phụ đuổi Nhật cướp đất trồng đay.

          Lần thứ 3, vào đầu năm 1944 bọn Nhật lại kéo đến làng Thổ Phụ. Theo kế hoạch đã bàn, làng phân công người canh gác ở các con đường và đã vận động ông Phạm Văn Tuynh (tức ông Đoàn Lơi) làm ngòi nổ đầu tiên trong cuộc đấu tranh chống Nhật của làng. Hôm đó bọn Nhật đến làng Thổ Phụ, chúng đỗ xe trên đường, rồi xuống đồng đánh đập những người đang cày bừa, sau đó vào làng đi tìm hội đồng Lý hương bắt dẫn ra đồng nhận ruộng. Lúc đó ông Đoàn Lơi dùng trống mõ của làng đánh liên hồi, lập tức tất cả người dân trong làng, người ngoài đồng tay cầm cào, cầm cuốc, cầm gậy la thét và tiến thẳng về phía quân Nhật để tấn công chúng, bảo vệ mình. Ông Đoàn Lơi tay cầm con dao cò (dao dài, cán dài) nét mặt hung dữ xông thẳng vào bọn Nhật thét “tao không sợ, tao sẽ cho bọn bay chết”. Trước thái độ dữ tợn của ông Đoàn Lơi và dân làng, bọn Nhật (và tay sai) vô cùng sợ hãi vội vàng lên xe biến mất. Từ đó dân làng Thổ Phụ mới được yên ổn làm ăn.

         Để chuẩn bị Tổng khởi nghĩa giành chính quyền theo chỉ đạo của Mặt trận Việt Minh, từ tháng 5-1945, làng Thổ Phụ đã thành lập một trung đội tự vệ với trên 30 cán bộ, chiến sĩ do Phạm Xuân Lai làm trung đội trưởng, mỗi đội viên được trang bị một thanh kiếm dài. Trung đội tổ chức tập luyện và chờ lệnh. Sáng ngày 19-8-1945, trung đội tự vệ làng Thổ Phụ đã tham gia giành chính quyền thắng lợi ở huyện Vĩnh Lộc.

         Trong quá trình tham gia phong trào đấu tranh giành chính quyền (1930 - 1945), làng Thổ Phụ có 13 gia đình được tặng Bằng có công với nước, có 9 người đã được công nhận Lão thành cách mạng và 4 người là cán bộ tiền khởi nghĩa. Tự hào hơn hết là ngày 28-1-1964 Chính phủ đã tặng Bằng có công với nước cho làng Thổ Phụ với thành tích “Đã nêu cao tinh thần yêu nước tích cực đấu tranh chống đế quốc và bảo vệ cách mạng góp phần xứng đáng vào thắng lợi của cuộc cách mạng Tháng Tám”.

          Phát huy truyền thống yêu nước và cách mạng của quê hương, trải qua các cuộc kháng chiến chống xâm lược, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong công cuộc đổi mới đất nước... làng Thổ Phụ đã luôn luôn hoàn thành và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Năm 2020, Thổ Phụ được công nhận làng nông thôn mới kiểu mẫu.

         Thổ Phụ - làng có công với nước xưa, đến nay đã được đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng, như: đường giao thông, nhà văn hóa, hệ thống đèn chiếu sáng. Ngoài việc phát triển kinh tế, người dân trong thôn còn tự giác, hăng hái tham gia làm đẹp đường làng, ngõ xóm, trồng hoa ven đường, giữ gìn vệ sinh chung. Ánh sáng cách mạng đã rọi soi cho lớp thế hệ hôm nay dựng xây quê hương giàu đẹp.] Theo LỊCH SỬ LÀNG THỔ PHỤ VĨNH TIẾN VĨNH LỘC THANH HOÁ

Ngày nay làng Thổ Phụ:

- Diện tích: 68,7 ha, trong đó: Đất nông nghiệp 40,92 ha; Đất phi nông nghiệp 23,87 ha; Đất GTTL + nghĩa địa 2,83 ha; Đất chưa sử dụng 1,08 ha.

- Dân số: 521người; số hộ: 174 hộ;

- Nhà văn hóa làng: Có; diện tích: 136 m2 ;

- Khu thể thao làng: Có; diện tích: 2.561m2 ;

- Vị trí địa lý: Phía Nam giáp Vĩnh Thành; phía Tây giáp Sông Mã; phía Bắc giáp thôn Phú Lĩnh; phía Đông giáp làng Phố Mới.

2 * Làng Xuân Giai:

Năm 1428, Lê Lợi đại thắng giặc Minh, đất nước thái bình, nhà vua có chính sách khuyến khích nông dân khai phá đất hoang hóa phát triển sản xuất, xây dựng làng xóm yên bình. Phố Hoa Nhai chuyển thành làng Hoa Nhai chuyên sản xuất nông nghiệp. Từ đây một số dòng họ lại đến sinh cơ lập nghiệp trên đất Hoa Nhai. Đời Thiệu Trị (1841 - 1847) kiêng chữ Hoa (tên huý mẹ vua Thiệu Trị) nên đổi làng Hoa Nhai thành làng Xuân Nhai. Đến đời Thành Thái (1889 - 1907), làng Xuân Nhai lại đổi thành làng Xuân Giai.

- Diện tích: 102,41 ha, trong đó: Đất nông nghiệp 71,81 ha; Đất phi nông nghiệp 24,4 ha; Đất GTTL + nghĩa địa 4,7 ha; Đất chưa sử dụng 1,5 ha.

- Dân số: 1.080 người; số hộ: 327 hộ;

- Nhà văn hóa làng: Có; diện tích: 140 m2 ;

- Khu thể thao làng: Có; diện tích: 6.000 m2

- Vị trí địa lý: Phía Đông giáp Vĩnh Long; phía Nam giáp làng Phố Mới; phía Tây giáp làng Phú Lĩnh; phía Bắc giáp làng Tây Giai.

3 * Làng Tây Giai:

Làng Tây Giai còn có tên phường Lan Giai, Tây Nhai, Tây Vệ. Đất của làng Tây Giai ở hiện nay, trước kia cũng là đất động An Tôn, huyện Vĩnh Ninh (nay là huyện Vĩnh Lộc). Vào cuối thời Trần, mảnh đất này lác đác đã có cư dân sinh sống. Từ khi xây dựng thành An Tôn (1397) nhà Hồ cho xây dựng các đường phố, xây dựng chợ, đặt ra các phường, trong đó có phường Lan Giai, nay là làng Tây Giai, chợ Tây Đô nay là chợ Tây...

Làng Tây Giai hiện có các dòng họ đang sinh sống đó là: Trương, Phạm, Nguyễn, Dương, Lê, Đào, Ngô, Lưu, Vũ, Hoàng, Đỗ, Trịnh... Trong đó họ Trương là đông nhất, nhưng họ Trương lại có tới 4 dòng đó là Trương Bá, Trương Trọng, Trương Đình, Trương Văn. Họ Nguyễn có 3 dòng, họ Phạm 2 dòng, họ Lê 2 dòng.

- Diện tích: 198,17 ha, trong đó: Đất nông nghiệp 129,79 ha; Đất phi nông nghiệp 57,74 ha; Đất GTTL + nghĩa địa 6,9 ha; Đất chưa sử dụng 3,74 ha.

- Dân số: 1.959 người; số hộ: 561 hộ;

- Nhà văn hóa làng: Có; diện tích: 312 m2 ;

- Khu thể thao làng: Có; diện tích: 2.800 m2

- Vị trí địa lý: Phía Tây giáp Vĩnh Yên; phía Đông giáp Vĩnh Long; phía Bắc giáp Vĩnh Yên; phía Nam giáp làng Phú Lĩnh.

4 * Làng Phương Giai:

Làng Phương Giai có tên là Vạn Ninh Phường, Phương Nhai, Phương Vệ. Làng có nguồn gốc từ một cụm dân cư ở Cồn Xấm (nay là đất làng Phố Mới - khu vực Ngã ba đi Kim Tân). Theo truyền lại vùng dân cư ở Cồn Xấm đã có trước khi Hồ Quý Ly cho xây dựng thành An Tôn (1397). Năm 1400 Hồ Quý Ly xưng Vương tại Tây Đô, các cụm dân cư xung quanh thành được đặt tên mới. Cụm dân cư ở Cồn Xấm gọi là Vạn Ninh Phường (phường Vạn Ninh) nằm trong khu vực hành chính Kinh đô nhà Hồ.

- Diện tích: 46,56 ha, trong đó: Đất nông nghiệp 29,1 ha; Đất phi nông nghiệp 14,0 ha; Đất GTTL + Nghĩa địa 2,42 ha; Đất chưa sử dụng 1,04 ha.

- Dân số: 629 người; số hộ: 170 hộ;

- Nhà văn hóa làng: Có; diện tích: 130 m2 ;

- Khu thể thao làng: Có; diện tích: 2.600 m2

- Vị trí địa lý: phía Tây giáp Vĩnh Thành; phía Đông giáp Thị Trấn; phía Nam giáp Vĩnh Thành; phía Bắc giáp làng Thổ Phụ.

5 * Làng Phú Lĩnh:

Làng Phú Lĩnh còn có tên là Phú Sơn. Làng nằm sát bên dòng sông Mã và lại có một quả núi nhỏ và thấp quen gọi là núi Phú Lĩnh. Nhưng núi Phú Lĩnh cũng liền một dãy với núi Ngưu Ngoạ (trâu nằm) của làng Thọ Đồn (xã Vĩnh Yên).

Làng Phú Lĩnh có Chùa Linh Giang, cách Thành Nhà Hồ khoảng 1,5 km về phía Tây. Chùa nằm sát bờ sông Mã, Tiền Đường ngoảnh hướng Tây, lưng tựa vào núi Phú Sơn (hay còn gọi là núi Phú Lĩnh). Nơi đây, phong cảnh hữu tình, sản vật phong phú, đất đai màu mỡ. Có lẽ, người xưa cho rằng đây là nơi hội tụ, hun đúc khí thiêng.

          Chùa Linh Giang được xếp hạng Di tích Kiến trúc văn hóa Nghệ thuật cấp tỉnh tại Quyết định số 460/QĐ ngày 08 tháng 11 năm 2000. Theo các cụ già trong làng kể lại, đất chùa xưa kia rộng rãi, chiếm giữ cả một góc sườn đồi và cánh bãi phù sa phía trước chùa. Phía Bắc là khu Văn Chỉ, phía Nam là đình làng Phú Lĩnh, Bến Ngự và bến đò Thổ Sơn, phía Đông dựa vào sườn núi Phú Lĩnh. Chùa ngoảnh về hướng tây (Tây Trúc), phía trước là dòng Mã Giang, bên kia bờ là làng Xổ, thuộc xã Quý Lộc, huyện Yên Định. Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, chùa Linh Giang còn cổng Tam quan, gác chuông, Phật đường, nhà Tổ, nhà Mẫu. Trong chùa có rất nhiều tượng Phật. Đặc biệt, phía trước chùa, gần Tam quan có hai cây thông cổ thụ cao tới mấy chục mét, đường kính gốc như chiếc nong đại, cỡ trên 1,5m.

Hệ thống thờ tự

         Nhà Mẫu: thực ra, đây chính là ngôi nhà duy nhất của chùa Linh Giang xưa còn lại, nhân dân địa phương quen gọi là chùa Đá. Sau khi xây dựng xong ngôi Tiền đường, ngôi nhà này được chuyển sang thờ Mẫu.

         Trong nhà có ba bệ thờ mới được xây trong những năm gần đây. Gian giữa thờ Mẫu Thiên (Mẫu Liễu Hạnh), gian bên phải thờ Đức Thánh Trần, có 3 long ngai, tượng Trần Triều ngồi trên long ngai đội mũ bình thiên, gian bên trái thờ mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải. Trong nhà còn một số đồ thờ và một chiếc chuông đồng nhỏ khoảng 10 kg. Tất cả tượng và đồ thờ, đồ tế khí đều mới.

        Nhà Tiền đường: ngôi nhà này làm năm 2006, quay về hướng tây. Lớp trên cùng là ba pho tượng Tam Thế. Lớp thứ hai là tượng Thiên thủ, thiên nhãn. Cạnh hai bên là tượng Quán Thế Âm và Đại Thế Chí, hai tay cầm cành hoa sen. Lớp thứ ba, ở giữa là tượng Phật A Di Đà, bên trái là tượng Dược Sư, bên phải là tượng Ngọc Hoàng. Lớp thứ tư, bên phải là tượng Đức Ông, bên trái là tượng Đức Thánh Hiền. Lớp thứ năm là tòa Cửu Long Thích Ca sơ sinh, phía dưới là chiếu để nhà sư tụng kinh và thực hành nghi lễ tôn giáo.

         Toàn bộ tượng trong chùa mới được nhà chùa tạo dựng và Phật tử cung tiến. Tượng và các đồ thờ, đồ tế khí đều của thời đại mới, kỹ thuật tinh xảo, trang nhã, đẹp đẽ.

          Nhà Tổ: nhà gồm bốn gian quay hướng nam, khép vuông góc với nhà Tiền đường, tạo hình chữ Đinh (J), dài 12 m, rộng 8 m. Nhà lợp ngói mũi, có chắn mái. Ba gian bên phải liên thông làm nhà thờ. Gian ngoài phía bờ sông được xây tường ngăn cách làm nhà ở cho chư Tăng. Trong ba gian nhà thờ, gian giữa lớp trên thờ Tổ Tây (Đạt Ma), có hai vị Thị giả hai bên. Gian bên phải là thờ tượng Hồ Chí Minh. Trong nhà còn một chiếc chuông đồng nhỏ mới đúc nặng khoảng 10 kg.

         Phía trước sân chùa có một tượng Quán Thế Âm Bồ tát, chất liệu bằng xi măng cốt thép, tượng cao 2,4 m, đặt trên bệ xi măng cao 1 m. Sân chùa được lát gạch. Thấp thoáng trong sân chùa có mấy cây nhãn, cây xoan già, hai cây đại mới trồng cạnh cổng ra vào và một số loại cây khác. Rải rác dưới gốc cây, góc vườn, còn sót lại những con rùa đá, đá tảng kê cột nhẵn thín với mưa nắng của thời gian, khiến ta không khỏi ngậm ngùi nuối tiếc.

          Chùa Linh Giang nằm trong một vùng một thời tấp nập ngựa xe, trên bến dưới thuyền, gửi gắm niềm tâm linh và tình cảm của hàng trăm thế hệ, đồng thời là chứng tích của biết bao những thăng trầm lịch sử.

         Chùa Linh Giang là một địa chỉ, một mắt xích không thể thiếu trong quần thể Di tích Lịch sử Thành Nhà Hồ (Thành Nhà Hồ nằm giữa hai sông, sông Mã và sông Bưởi, hai sông gặp nhau phía Nam Thành nhà Hồ, Sông Bưởi nhập và sông Mã (cuối nước) tại Vĩnh Khang; Phía Bắc Thành là núi Thổ tượng (đầu non) trên nữa gần kề có chùa Lê Sơn Núi Quan Vịnh; Phía Nam Thành có núi Đốn Sơn (Núi Đún) có chùa Tường Vân (Chùa Giáng) dưới chân núi; Phía Đông Thành có núi Hắc Khuyển cạnh núi có Chùa Thái Bình (Chùa Bèo); Phía Tây Thành có núi Phú Sơn (Hắc khuyển kéo dài) nay gọi là núi Phú Lĩnh có chùa Linh Giang (tựa lưng vào núi quay mặt ra sông Mã)

Hiện nay làng Phú Lĩnh có:

- Diện tích: 72,2 ha, trong đó: Đất nông nghiệp 41,49 ha; Đất phi nông nghiệp 25,94 ha; Đất GTTL + nghĩa địa 3,25 ha; Đất chưa sử dụng 1,52 ha.

- Dân số: 605 người; số hộ: 183 hộ;

- Nhà văn hóa làng: Có; diện tích: 144 m2 ;

- Khu thể thao làng: Có; diện tích: 1.821 m2

- Vị trí địa lý: Phía Bắc giáp Vĩnh Yên; phía Nam giáp thôn Thổ Phụ; phía Tây giáp Sông Mã; phía Đông giáp làng Xuân Giai.

6 * Làng Phố Mới:

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng từng bước công nghiệp hóa, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng lạc hậu. Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu, có phát triển kinh tế dịch vụ không những ở thành thị mà ở cả nông thôn. Thực hiện chủ trương của huyện về xây dựng khu vực Ngã Ba đi Kim Tân trở thành khu vực dịch vụ thương mại, tháng 11 năm 1993 Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Tiến cắt đất ở cho nhân dân dọc Quốc lộ 45 và Quốc lộ 217 từ khu đất có tên là Nổ Đơm đến đền Tam Tổng và xây dựng chợ Tây Đô ở khu Cồn Xấm để hình thành khu dân cư mới và là trung tâm dịch vụ thương mại của xã.

- Diện tích: 7,0 ha, trong đó: Đất phi nông nghiệp 6,14 ha; Đất GTTL + nghĩa địa 0,86 ha.

- Dân số: 420 người; số hộ: 127 hộ;

- Nhà văn hóa làng: Có; diện tích: 140 m2 ;

- Khu thể thao làng: Có; diện tích: 3.000 m2

- Vị trí địa lý: phía Bắc giáp làng Xuân Giai; phía Nam giáp Thị Trấn; phía Tây giáp làng Thổ Phụ; phía Đông giáp Vĩnh Long.

Làng Phố mới lấy ngày 10 tháng Giêng âm lịch hàng năm là ngày hội làng.

VÙNG ĐẤT BA DON ĐỘNG AN TÔN VÀ DƯA DON



Vùng đất Ba Don ở xã Vĩnh Yên, huyện Vĩnh Lộc

Dưa Don

Bao năm kiếm sng xa quê

Phn hoa cát bi mãi mê x người

Nhưng lòng vn nh khôn nguôi

Mùi dưa Ci mui mn môi thu nào

Đã tng "sơn v, hi hào"

V quê vn c thm vào trong ta

Nh mùa dưa ci quê nhà

Vi liêu xiêu bóng m già ...đã xa

Chng này rau ci ca ta

Sáng đêm m mui chc là thơm men

Nh khuya sương lnh ngoài thm

Hăng hăng mùi ci gió đêm vương v

Mn màng đất bãi ngoài đê

Quyn vào dưa mui tình quê mn mà

Đang còn mê mãi nơi xa

Mà lòng vn nh quê nhà “dưa Don”. (LVC)

          Xã Vĩnh Yên nằm ở phía tây bắc của huyện Vĩnh Lộc. Thiên nhiên đã tạo cho Vĩnh Yên một phong cảnh tuyệt vời. Trên có núi, có đồi; dưới có sông, có bãi. Đặc biệt là vùng đất An Tôn (nay gọi là Yên Tôn) còn gắn liền với nhiều truyền thuyết, sự kiện trong việc hình thành, xây dựng kinh đô triều Hồ. Nơi đây còn nổi tiếng với đặc sản dưa Don.

          Chạy dài theo bờ bắc sông Mã, vùng Yên Tôn gồm có thôn Yên Tôn Thượng, Yên Tôn Hạ và thôn Phù Lưu. Hay còn gọi là ba Don: Don Thượng, Don Hạ và Don Trung. Dãy núi An Tôn nằm dọc theo phía đông của ba thôn. Vùng đất này thời nhà Trần thuộc động An Tôn, huyện Vĩnh Ninh, Trấn Thanh Hóa. Sách Vĩnh Lộc huyện chí của Lưu Công Đạo, Tri huyện Vĩnh Lộc thời vua Gia Long năm thứ 15 (1816) viết về núi An Tôn: “Núi ở địa phận xã An Tôn, xưa gọi là động An Tôn. Núi từ Mang Trình kéo xuống liền men theo Cẩm Hoàng, trải đến Cẩm Nhất, vượt theo sông nước Quảng Bình đến Quan Hoàng, Eo Lê men theo sông mà đổ về. Nham thạch nổi lên thưa thớt, trong núi có động, thạch nhũ nhỏ giọt, nước liên tục nhỏ giọt bốn mùa không thôi. Lại thấy hai ngọn núi đột nhiên hiện lên, thế thật độc lập, giống như hai con voi đang xuống sông. Đứng từ xa mà nhìn về, hình sắc như vẽ, thiên nhiên thật đáng yêu. Mé trái núi thời Hồ gọi là thành Tây Đô” [Trích Thanh Hóa tỉnh - Vĩnh Lộc huyện chí, tác giả Lưu Công Đạo. Biên dịch Nguyễn Văn Hải - NXB Thanh Hóa - 2012, trang 31].

Núi An Tôn thuộc địa phận xã Vĩnh Yên (vào thời Trần có tên là động An Tôn), cách Thành Nhà Hồ khoảng 2km về phía Tây. Núi có hai đỉnh cao nhất là 122m và 114m so với mực nước biển. Nhiều giả thuyết và tư liệu cho biết đá xây dựng Thành Nhà Hồ được khai thác tại dãy núi 114m này. Núi làng An Tôn Thượng gọi là núi Độn (122m), núi làng Phù Lưu gọi là núi Vực (114m). Núi Độn có chùa An Tôn, chùa Lở, hang Tượng, hang Nàng, động Ngọc Thanh. Hang Nàng, nơi Hồ Quý Ly giam giữ vua Trần Thiếu Đế cho đến chết;

          Để có một làng quê tươi đẹp, trù phú, rộng rãi như hiện nay, vùng Yên Tôn đã trải qua thời gian dài hình thành và phát triển. Các cụ già trong vùng kể rằng, theo tiền nhân truyền lại, tên làng An Tôn đã có hàng ngàn năm trước. Khi cả vùng này còn hoang vu, rậm rạp, dân cư xung quanh thưa thớt, dòng sông Mã còn chảy sát chân núi An Tôn, thì làng An Tôn đã có nhiều cư dân sinh sống.

Thời Trần Thuận Tông, Hồ Quý Ly họp bàn với triều thần, ép vua dời đô về Động An Tôn. Triều thần nhiều người phản đối. Khu mật chủ sự thị là Nguyễn Nhữ Thuyết dâng thư can “... An Tôn là đất chật hẹp hẻo lánh, cuối nước đầu non, nên với loạn mà không nên với trị, chỉ cậy chỗ hiểm được thôi” [Trích Đại Việt sử ký toàn thư tập 1 - NXB Văn hóa thông tin - 2004, trang 716]. Hồ Quý Ly không nghe, vẫn quyết định dời đô. Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Đinh Sửu (1397). Mùa Xuân, tháng giêng, sai Thượng Thư Lại Bộ kiêm Thái Sử lệnh là Đỗ Tỉnh đi xem xét đo đạc động An Tôn, phủ Thanh Hóa, đắp thành đào hào, lập nhà Miếu nền xã, mở đường phố, có ý muốn dời kinh đô đến đấy, 3 tháng làm xong” [Trích Đại Việt sử ký toàn thư tập 1 - NXB Văn hóa thông tin - 2004, trang 715]

          Mặc dù không nằm sát ngay cổng thành nhà Hồ nhưng từ khi Hồ Quý Ly cho người về xây dựng kinh thành và đóng đô, vùng đất An Tôn từ đó càng phát triển nhộn nhịp. Núi An Tôn là một trong những công trường khai thác đá xây dựng kinh thành, cũng là nơi tiếp nhận vận chuyển nguyên vật liệu. Kinh đô nhà Hồ tồn tại chỉ 7 năm. Sau đó quân Minh chiếm đóng. Có lúc là hành tại của vua Lê, chúa Trịnh. Vùng đất An Tôn thực sự là điểm quan trọng. Đất lành chim đậu, cư dân phiêu tán từ các nơi dần dần về ở trong vùng thêm đông đúc. Lý giải về việc An Tôn Thượng ở phía dưới, An Tôn Hạ lại ở trên, các cụ già kể lại rằng từ xa xưa chỉ có một làng An Tôn. Khi sông Mã còn chảy sát chân dãy núi An Tôn, làng nằm ở phía đông núi. Trải qua thời gian sông lở cát bồi, sông Mã đổi dòng chảy, đã tạo cho vùng đất An Tôn bãi bồi rộng lớn. Dân chuyển dần sang phía tây dãy núi An Tôn, cho gần với sông bãi, tránh được gió bấc. Gò thượng nổi trước, lại gần với kinh thành Tây Đô, được gọi là An Tôn Thượng. Gò hạ bồi đắp sau, nên có tên là An Tôn Hạ. Thôn Phù Lưu sau này được tách ra từ hai thôn mà thành. Từ xưa nhân dân An Tôn (ba Don) sinh cơ lập nghiệp phát triển rất tốt. Dân sống chủ yếu bằng nghề nông. Cây trồng chủ yếu là lúa, ngô, dâu, đậu lạc và rau cải. Dân còn có nghề khai thác đá, cát. Cả ba thôn khi xưa đều có nghè, đình. Đương cảnh Thành Hoàng của ba thôn phụng thờ là Cao sơn Thần Tướng Đại Vương và Đương Giang Quản Gia, Đô Bác Đại Vương. Các triều vua đều có sắc ban phong mỹ tự.

          Từ An Tôn Hạ xuống đến Thọ Đồn. Vùng bãi bồi đến nay dài gần 3km, có chỗ rộng đến 600m, diện tích lên đến hàng trăm ha. Hàng năm vào mùa mưa, bãi bồi được tiếp một lượng lớn phù sa màu mỡ, rất thích hợp cho các loại cây trồng, đặc biệt là cây ngô, cây dâu và rau cải. Huyện Vĩnh Lộc không những nổi tiếng là nơi sản sinh ra nhiều danh nhân lịch sử, nhiều di tích danh thắng, mà nơi đây còn có nhiều đặc sản ngon nổi tiếng từ xưa đến nay, gắn với từng giai đoạn lịch sử. Các cụ xưa có câu: Chè lam Phủ Quảng, dưa Don, cà Giáng, táo Phương Giai, khoai làng Bồng... Dưa Don đã nổi tiếng trong tỉnh từ mấy trăm năm trước. Thiên nhiên ưu đãi cho ba Don, Thọ Đồn một bãi phù sa rộng lớn bên bờ sông Mã. Trừ mùa lũ lụt, còn lại các tháng trong năm, bãi bồi phù sa xanh mướt ngô đậu, rau cải dưa.

          Ở ba Don, rau cải được chọn để trồng bà con gọi là rau cải nứa, có nguồn gốc xuất xứ từ tổng Hồ Nam khi xưa. Cây rau cải nứa rất khác với cải sen hay cải ngọt, cải xanh. Cây cải nứa thân chỉ nhỏ bằng chiếc đũa, rau ít phân nhánh. Sau mùa mưa từ cuối tháng 9 âm lịch, chờ cho bãi đất khô, nông dân lại làm đất để gieo trồng ngô và rau cải. Khi tỉa ngô, để tận dụng đất phù sa mầu mỡ, bà con nông dân gieo xen rau cải dưa. Trên những luống ngô, đất tốt bãi bồi mát, rau cải lên nhanh như thổi, khi tới kỳ vun gốc cho ngô thì bà con nông dân cũng đồng loạt nhổ dưa thu hoạch, lúc này cây dưa đã cao, thân vàng những ngồng hoa chúm chím, gọi là cải ngồng. Dưa nhổ lên, đã có các thương lái đến mua tận bãi phân phối đi các nơi.

          Dưa Don, cách muối cũng đơn giản như các loại dưa cải khác. Muốn ăn nhanh thì khi muối cho nước, thêm lá hành, đường trắng, ớt để mau chua, tăng vị ngọt. Ngoài cách muối để nhanh ăn, nhân dân trong vùng còn có cách muối trường để dưa ngon và ăn được lâu. Dưa cải Don mua về, phơi trong mát một ngày cho héo, sau đó nhặt rửa sạch, để ráo nước, để nguyên cả cây, dùng chum sành hoặc vại to để muối. Lèn dưa vào vại, cứ một lớp dưa lại vảy đều một lớp muối hạt to. Khi đã muối dưa đầy chum vại, trên miệng vại lót vỉ tre, phủ kín bằng lớp rơm nếp đã rửa sạch phơi khô. Dùng đá cuội to để nén cho thật nặng mau nổi nước tự nhiên. Sau muối khoảng 15 ngày thì dưa đã chín vàng thơm ngon. Dưa Don muối kiểu này càng để lâu càng ngon, ăn cả cái lẫn nước. Khi ăn lấy dưa ra cắt khúc vừa ăn, bày vào đĩa, mùi dưa thơm đặc trưng, màu dưa vàng như chạch, nhìn đã thấy thèm, dưa Don ăn với thịt luộc ba chỉ, chấm nước mắm ớt. Ngày tết ăn kèm với thịt đông. Dùng dưa kho với cá đồng, ăn dưa còn thích hơn ăn cá. Thật là món ăn dân dã, đơn sơ nhưng đầm ấm, đã ăn một lần thì không quên được. Các cô gái ở vùng dưa, lấy chồng xa quê, khi về thăm nhà, lúc đi kiểu gì cũng nhổ rau cải dưa mang theo. Có cô còn xin cả vại dưa muối trường.

         Bãi bồi ven sông Mã ở xã Vĩnh Yên, có lớp đất phù sa pha cát rất dày. Nhưng đất của làng Yên Tôn Thượng lại tốt hơn cả. Trồng dưa đầu tiên và nhiều nhất, bắt nguồn từ làng Don Thượng. Dưa cải có thể gieo trồng quanh năm. Nhưng tốt nhất vẫn là vụ đông và vụ xuân. Nếu thời tiết thuận lợi, được mùa, được giá, dưa cải Don cũng đem lại một khoản thu nhập đáng kể. Song hiện nay diện tích gieo trồng dưa Don, đang dần bị thu hẹp, giá rẻ lại không năng suất bằng các loại rau cải cuốn. Chính quyền địa phương cũng rất trăn trở, tạo điều kiện cho nông dân, tuyên truyền, hướng dẫn phổ biến khoa học kỹ thuật, để mở rộng diện tích trồng cây rau cải theo hướng chuyên canh. Cố gắng giữ được sản phẩm truyền thống. Đăng ký dưa Don thành sản phẩm OCOP. Rau dưa cải là cây trồng đặc thù của ba Don từ nhiều đời nay, là món ăn truyền thống của dân tộc. Tuy nhiên vì làng ở ngoài đê bãi ven sông nên cũng gặp rất nhiều hệ lụy. Có những năm phải chạy mấy lần lũ lụt, rau mầu mất trắng. Người nông dân một nắng hai sương với đồng bãi, khắc phục khó khăn về thời tiết. Sống chung với lũ lụt, bà con nông dân vẫn duy trì cây rau mầu truyền thống, nhất là cây rau cải Don đã làm nên một thương hiệu từ xưa. Là sản phẩm ưa thích của nhân dân trong vùng.

         Hy vọng trong một tương lai không xa. Vùng kẻ Don sẽ nổi tiếng như xưa, với thiên nhiên thuận lợi, trên bến dưới thuyền, núi động hùng vĩ. Sẽ là vùng chuyên canh cây dưa Don đặc thù truyền thống. Sản phẩm có đầu ra ổn định, hiệu quả kinh tế. Để đánh thức tiềm năng, ban quản lý trung tâm di tích Thành nhà Hồ, mở thêm tour cho khách vào tham quan núi động An Tôn. Khách du lịch được tìm hiểu công trường khai thác đá xây dựng kinh đô nhà Hồ hơn sáu trăm năm trước. Không những thế, khách du lịch còn được thăm động Ngọc Thanh, tương truyền khi Hồ Quý Ly thay thế nhà Trần, đã an trí vua Trần Thiếu Đế (Trần Án) ở đây, cùng với các nàng hầu, cho đến lúc chết. Dân làng đặt tên là hang Nàng. Khách du lịch sẽ xuống thăm cánh bãi của ba Don, Thọ Đồn rộng ngút ngát, tham gia gieo trồng thu hoạch với nông dân để trải nghiệm. Vào thăm các ngôi đình cổ, tìm về cội nguồn, tiếp cận với 19 đạo sắc phong bằng chữ Hán của các triều vua ban phong cho thành hoàng của làng, từ mấy trăm năm nay, vẫn còn nguyên mầu mực. Lễ hội Thành Hoàng truyền thống đầu xuân, với các điệu múa văn hóa dân gian. Được nghe lại những câu ca dao:

Hỡi cô có thắt lưng xanh

Có về Don Thượng với anh thì về

Don Thượng có Sập nằm kề

Có sông tắm mát lại kề bãi ngô.

 


Sưu Tầm từ trang Tạp chí Xứ Thanh

12-2020

N.H.M

Chủ Nhật, 5 tháng 2, 2023

TRUNG THỰC- TÀI GIỎI VÀ THẬT THÀ - KHÔN NGOAN


Tại sao không dạy Trung thực, sáng tạo, tài giỏi mà lại dạy Thật thà, khôn lỏi, khôn ngoan ? Thấy gì qua đọc loạt truyện cổ tích được dạy trong trường phổ thông điển hình là truyện “Trí khôn của ta đây”

           “Một con cọp từ trong rừng đi ra, thấy một anh nông dân cùng một con trâu đang cày dưới ruộng. Trâu cặm cụi đi từng bước, lâu lâu lại bị quất một roi vào mông. Cọp lấy làm ngạc nhiên lắm. Ðến trưa, mở cày, Cọp liền đi lại gần Trâu hỏi:

– Này, trông anh khỏe thế, sao anh lại để cho người đánh đập khổ sở như vậy?

Trâu trả lời khẽ vào tai Cọp:

– Người tuy nhỏ, nhưng người có trí khôn, anh ạ!

Cọp không hiểu, tò mò hỏi:

– Trí khôn là cái gì? Nó như thế nào?

Trâu không biết giải thích ra sao, đành trả lời qua quýt:

– Trí khôn là trí khôn, chứ còn là cái gì nữa? Muốn biết rõ thì hỏi người ấy!

Cọp thong thả bước lại chỗ anh nông dân và hỏi:

– Trí khôn của anh đâu, cho tôi xem một tí có được không?

Anh nông dân suy nghĩ một lát rồi nói:

– Trí khôn tôi để ở nhà. Ðể tôi về lấy cho anh xem. Anh có cần, tôi sẽ cho anh một ít.

Cọp nghe nói, mừng lắm.

Anh nông dân toan đi, lại làm như sực nhớ ra điều gì bèn nói:

– Nhưng mà tôi đi khỏi, lỡ anh ăn mất trâu của tôi thì sao?

Cọp đang băn khoăn chưa biết trả lời thế nào thì anh nông dân đã nói tiếp:

– Hay là anh chịu khó để tôi buộc tạm vào gốc cây này cho tôi được yên tâm.

Cọp ưng thuận, anh nông dân bèn lấy dây thừng trói cọp thật chặt vào một gốc cây. Xong anh lấy rơm chất chung quanh Cọp, châm lửa đốt và quát:

– Trí khôn của ta đây! Trí khôn của ta đây!

Trâu thấy vậy thích quá, bò lăn ra mà cười, không may hàm trên va vào đá, răng gãy không còn chiếc nào.

Mãi sau dây thừng cháy đứt, Cọp mới vùng dậy ba chân bốn cẳng chạy thẳng vào rừng không dám ngoái nhìn lại.

Từ đó, cọp sinh ra con nào trên mình cũng có những vằn đen dài, vốn là dấu tích những vết cháy, còn trâu thì chẳng con nào có răng ở hàm trên cả”.

.............................

          Ở đây anh nông dân đã dùng mẹo mực (toan đi, lại làm như sực nhớ ra điều gì), thủ đoạn lừa dối (trí khôn tôi để ở nhà) con cọp để con cọp mắc bẫy bị trói và bị đốt hòng giết chết con cọp mặc dù con cọp ban đầu đã rất tử tế với anh nông dân (quá ác độc) và được tác giả câu truyện gọi đây là trí khôn của con người;

Vậy khôn là gì, khôn phải chăng bao hàm cả không lỏi và khôn ngoan; Khôn có gì lợi cho cá nhân và xã hội “Khôn là Có khả năng suy xét để xử sự một cách có lợi nhất, tránh được những việc làm và thái độ không nên có; Khôn lỏi là khôn vặt, luôn tìm cách giành lợi riêng cho mình một cách ích kỉ; Khôn ngoan là khôn trong cách xử sự, biết tránh cho mình những điều không hay;” Tóm lại khôn chì có ích cho cá nhân không có ích cho xã hội vì khôn chỉ là khả năng suy xét để né, tránh những điều không có lợi cho mình và kiếm lợi trong đó nếu có thời cơ. Người khôn khác và ngược hẳn với người tài giỏi, người tài giỏi không né, không tránh mà trực diện đối đầu đấu tranh và chinh phục các khó khăn thử thách của thiên nhiên và thú dữ, người tài giỏi dùng đầu óc thông minh sáng tạo của mình phát minh ra lửa, ra vũ khí, chế tạo ra cạm bẫy để bắt và giết thú dữ….Do vậy trong câu chuyện cổ tích trên tác giả nên viết lại là trâu hay hổ (cọp) sợ người không phải là do con người khôn mà là con người giỏi hơn, thông minh hơn nên họ có khả năng chết tạo ra cạm bẫy để bắt hoặc vũ khí để giết chúng nếu vậy thì câu chuyện cổ tích sẽ có giá trị giáo dục cao hơn; Sẽ dạy ra được những con người của phát minh và sáng tạo, dạy ra được những con người có khả năng chinh phục thiên nhiên và thế giới, những con người biết sản xuất vật chất cải thiện và không ngừng nâng cao đời sống con người; Đây có thể cũng là nguyên nhân người Việt mình chưa có giải Nobel bởi vì trong giáo dục và đời sống thường ngày từ xa xưa cho đến nay luôn coi trọng không ngoan hơn tài giỏi;

          Hệ thống truyện cổ tích được giảng dạy và truyền thụ trong kho tàng cổ tích Việt hầu hết cấu thành na ná kiểu “trong gia đình thằng anh khôn ngoan khi sống với cha mẹ và khôn lỏi khi bố mẹ chết chiếm hết gia tài của thằng em và thằng em chấp nhận không phản kháng sau đó được bụt (Thánh thần) cứu giúp”; Không bao giờ đề cập đến khả năng thằng em nỗ lực phấn đấu bằng sự thông minh, chịu khó và tài giỏi của mình làm giàu chính đáng và vượt xa thằng anh; Vô tình truyện cổ tích đã ca ngợi sự khôn ngoan khôn lỏi của người anh, ca ngợi sự thật thà chịu đựng của người em, thủ tiêu sự đấu tranh của người cô thế, Quyền lợi của người cô thế bị áp bức bóc lột chỉ có thể dựa vào thần phật mà thôi; Phải chăng đây cũng là nguyên nhân mà người dân ngày nay đến chùa đông như vậy;

          Trong giáo dục cũng nên dạy trung thực thay cho thật thà bởi vì Trung thực khác với thật thà, trung thực là không dùng sự giả dối để đánh lừa người khác hay che đậy bản thân, nhưng có quyền im lặng không nói những điều không nên nói. Nói nôm na là bên trong người trung thực luôn tồn tại chữ “trí”. Còn thật thà là chỉ nói thật không nói dối, nhưng là nói thật không biết chọn lọc, cái gì cũng nói thật (không tồn tại chữ trí trong lời nói của mình) thật thà kiểu vô minh.

Tóm lại trong giáo dục nên tập trung dạy Trung thực, sáng tạo, tài năng, bỏ dạy Thật thà, khôn lỏi, khôn ngoan./.