XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG

Thứ Năm, 9 tháng 3, 2017

Vũ điệu của cái bô

                                                  Nguyễn Quang Thân

Thế là không hy vọng gì nữa rồi. Nhà máy đóng giầy phá sản. Cả năm nay Hảo sẽ không có việc làm. Đề tài, số tiền trợ cấp ban đầu và bản quyền bán cho nhà máy tan thành mây khói. Khách hàng đã tẩy chay thứ giầy bong mũi của nhà máy trước khi loại keo dán tuyệt vời của Hảo qua được bát quái trận thủ tục.
Vậy mà cũng phải ăn, phải gửi tiền cho con gái lên Hà Nội học thêm, phải nuôi cái xe đạp tàng, hễ mó đến là ăn vạ tiền nghìn. Rồi chén cà-phê đen mỗi sáng, quên nó một bữa là Hảo thấy mình đang mọc đuôi ra.
Thế nào cũng phải làm một cái gì! Nhưng ngoài cái chuyên môn được ghi trong mảnh bằng phó tiến sĩ, Hảo không biết làm gì khác. Cũng không thể như Tứ, hoạ sĩ ở tầng dưới. Tứ thường không biết ngày mai mình ăn gì, ăn ở đâu. Tứ nói: “ Đói là con hổ, đừng nhìn nó, nhìn là nó vồ ngay”.
Nhưng Tứ đã bước vào phòng đúng lúc Hảo đang nghĩ đến anh, nhem nhuốc như cái xơ mướp nhúng vào thùng bột màu.
– Này cậu, có việc này hợp với cậu lắm. Nhưng pha cà-phê uống cái đã.
Hảo lóng ngóng múc cà-phê vào phin. Hay là Tứ rủ mình làm bạc giả? Trông mặt y như đang thu vén quần áo để vào Hoả Lò.
– Việc gì thế?
– Giữ trẻ! Tháng một trăm tì, có ăn trưa. Được chưa?
– Tốt quá. – Hảo nghi ngờ, chùm rẽ quạt toé từ mắt xuống đôi gò má – Món thơm thế đâu đến phần mình. Với lại còn cơ quan...
– Thì đã bảo người ta cần mà. Chăn một thằng bé ba tuổi rưỡi, nói tập toẹ. Vừa chăn vừa dạy tiếng Anh để lớn lên biết đọc tên các công ty trong phố và phân biệt được nhà vệ sinh nam nữ ở sân bay. Việc cơ quan thì để tớ gà cho. Đăng ký một đề tài thật kêu, đại khái thế này: “Ném một cái nhìn vào quy trình chế tạo keo dán mũi giầy ở địa phương ta”, nhớ là phải có chữ ta, không cần xin trợ cấp, xin hai năm ngồi nhà nghiên cứu, được chưa?
Không bị Tứ rủ đi làm bạc giả là phúc rồi. Hảo đăng ký đề tài, anh có chữa lại vài chữ của Tứ. Ném một cái nhìn, không được. Cuối cùng: Tiếp cận hyperbole tính duy vật biện chứng... song ngữ: Faire une hyperbole.... (tiếng Pháp) và To take a hyperbola... cộng thêm hai trang đề cương (cũng song ngữ). Được rồi, rất có e! Hảo qua mặt được chủ nhiệm Uỷ ban khoa học kỹ thuật tỉnh vốn trước là giáo viên cấp III. Trong bản dịch đề cương tiếng Anh có mấy tiếng khó dịch, Hảo bịa ra, nhưng chắc là ông không biết. Ông thường bắt cán bộ làm thuyết minh song ngữ nhưng bản thân ông không phân biệt được tiếng Pháp với tiếng Anh, trừ tiếng Nga nhờ những chữ N ngược kỳ lạ của nó. Ông nói: “ Cậu khá lắm, tính tư tưởng, tính địa phương, đề tài của cậu ưng cái bụng mình lắm rồi. Nhưng có xin trợ cấp không đấy ? Không hả. Tốt, nhớ khao nhé!”. Ông ký một cái rẹt, chữ ký như con bọ cạp đang bò.
Thế là Hảo có hai năm rỗi rãi. Sẽ khao, sẽ khao. Ông chủ nhiệm và cả Tứ nữa, những nhà Mạnh Thường Quân của khoa học.
Một chú chó Nhật sủa lách nhách rồi te tái tuồn dưới chân hai người. “Ê, Mi-mô-sa, Mi-mô-sa, ngoan nào... Xin mời hai bác...”. Chị chủ nhà nhặt vội con chó lên, nghi ngại nhìn cái ống quần lem nhem của anh hoạ sĩ dắt mối. Tứ xăng xái:
– Tôi dẫn anh Hảo đến như đã hứa với chị. Bây giờ tôi phải đi treo cờ mồng một tháng năm. Xin hai vị cứ tự nhiên.
Hảo nhìn chị chủ nhà. Chị đẹp, sang trọng và thừa thãi. Áo quần, mỡ phần, không gian và thời gian.
– Chắc anh Tứ đã nói với anh. Cháu cần một người có học trông nom, bố cháu nói ở Nhật người giữ trẻ đều phải qua đại học. Tôi giao cháu cho anh ban ngày, anh ở lại ăn trưa, ngủ với nó hai giờ mỗi ngày, nhất thiết phải cho nó ngủ hai giờ như ở nhà trẻ. Và dạy tiếng Anh cho cháu. Tôi muốn mướn một cô giữ trẻ. Nhưng chồng tôi lại muốn có một người đàn ông, anh ấy nói cháu phải có nam tính mạnh mẽ để đua ganh với đời.
Mọi việc đã xong xuôi. Chị nói: “ Ban đầu hẵng biết thế. Còn sau này...” Rồi chị nhìn xoáy vào mắt anh (anh khẽ rùng mình), khuôn mặt lặng lẽ buồn chán và sung mãn của chị bỗng bừng sáng. Có lẽ chị cũng có học, không phải loại mướn vua về múa như anh nghĩ. Anh hỏi: “Cháu đâu? ”. Rõ ràng là chị đã quên mất thằng bé. Chị ừ hữ: “Tôi cho cháu về bên ngoại. Anh cứ gọi nó là thằng Cu. Chúng tôi vẫn gọi cháu thế cho dễ nuôi. Mai xin mời anh đến”.
Sáng hôm sau chị chủ nhà và thằng Cu đón anh ở cửa. Con Mi-mô-sa đứng cạnh. Nó có vẻ ngạc nhiên khi thấy anh dám dắt một chiếc xe đạp như thế vào cái sân rải sỏi. Chị thì nuột nà trong bộ mút-xơ-lin màu thiên lý, thoa sơ sài một lớp phấn mỏng lên mặt. Chị đẩy thằng Cu lại cho anh: “Nào, Cu chào bác đi, chào thầy đi!” Cố gắng như một cái máy không nhạy, nó nói: “Cháu chào cô ạ!” Chị chữa: “Chả là tôi đã cho cháu vào nhà mẫu giáo mấy ngày, con nói lại đi, chào chú ạ!” Chị dẫn anh và nó sang một phòng nhỏ cạnh phòng khách. Một cái bàn học cho trẻ. Chiếc đi văng gỗ mà anh sẽ ngả lưng buổi trưa. Cốc và những chai nước lọc. Chị nói: “Nghe anh Tứ bảo anh nói tiếng Anh như người Anh phải không? Hôm nào về mà hai bố con bi bô được với nhau là anh ấy mừng lắm. Anh ấy nói tiếng Anh như gió”. Hảo định cải chính: “ Tôi nói tiếng Anh như người Việt” nhưng thằng Cu đòi ị. Nó nhăn mặt, duỗi tay ra và lấy tay bưng đít. Chị chủ nhà nói: “ Bác để tôi – chị nhăn mũi – quên đưa vào đây một cái bô, bà Múi ơi!” Người nấu bếp chưa vào chị đã bế thằng Cu ra ngoài. Lát sau chị vào, tay thằng bé, tay cái bô. “ Dọc hành lang một đoạn là toa lét. Anh cứ đổ vào đó rồi giật nước là được” . Chị đặt cái bô vào góc nhà như người nhạc trưởng cất gậy lên giá. Điệu vũ chấm dứt. Hảo nhìn cái biểu tượng nhà nghề trắng muốt, chỉ mong chị chủ nhà đi khuất. Năm năm trước đêm nào anh cũng mơ thấy mình xúng xính trong bộ quần áo tiến sĩ cổ truyền. Chị đưa anh hai chiếc chìa khoá: “Đây là khoá phòng. Đây là cổng. Thỉnh thoảng bác dẫn cháu đi chơi, tuỳ ý bác”. Rồi chị lên lầu, vẻ tự hào đã hoàn thành nhiệm vụ người đạo diễn.
Hảo hỏi thằng Cu: “Oắt xi o nêm mơ?” Nó nhìn anh trân trân một giây rồi tái mặt: “ Đ...bu mày!” Nó tưởng anh vừa chửi nó. Phải nói là nó chửi rất du dương. Ngày hôm nay phải dạy bằng được câu này cho nó: “Oắt xi o nêm mơ, tên cháu là gì chứ không phải câu chửi tục. Nhân loại chưa đổ đốn đến mức biến một câu vấn danh thành câu chửi”. Chấm dứt buổi học tiếng Anh đầu tiên.
Mọi thứ dù phi lý đến đâu mà lặp đi lặp lại mãi thì vẫn chấp nhận được dễ dàng. Việc anh thành người giữ trẻ thì cũng chỉ cần một tuần để trở thành dĩ nhiên. Dĩ nhiên như một giáo sư nổi tiếng ốm đau kéo dài phải đốt sách để sưởi, như việc cái xe đạp nào cũng phải tòn teng một tấm biển số thời nào. Hai mươi tờ giấy năm ngàn đủ sức mạnh biến Hảo thành người giữ trẻ mẫn cán trong ba mươi ngày. Chị chủ nhà không chú ý đến anh hơn bà Múi, người nấu bếp lầm lũi như cái bóng. Từ ngày có anh đến làm, chị được giải phóng khỏi thằng con trai nên rỗi rãi hơn. Chị lên lầu xuống lầu, đọc sách trong khi anh túi bụi trong phòng với thằng Cu và cái bô, đã bắt đầu nhớ cái giá sách và những ngày nhàn rỗi đọc chữ thánh hiền. Thỉnh thoảng chị pha một một cốc nước chanh mời anh với dáng vẻ của người làm việc từ thiện rồi cũng tiện mồm kể lể chuyện nhà chuyện cửa. Chồng chị trước đây là thuyền trưởng viễn dương. Nhờ anh mà chị được nhìn thấy đồng đô-la xanh rờn đầu tiên và hình những tổng thống Mỹ quá cố. Khi túi đã hơi nặng, anh tìm cách lên bờ. Anh bảo chị: “ Thời nay chỉ leo được lên mới thắng, dưới đất bao giờ cũng thua”. Anh biết đầu tư chiều sâu và lên dần. Bây giờ anh phụ trách một văn phòng đại diện ở Hồng Kông, môi giới mua những con tàu hàng vạn tấn đến những chiếc nịt vú. Anh nói: “Một chuyến đi Nhật cứt đái cùng mình chỉ thắng một hai cây. Bây giờ ký xạch một cái tôi có bạc triệu!” Hảo không biết chị kể một cách thành thực những chuyện ấy với anh để làm gì, chị có tâm đầu ý hợp với người chồng ở xa hay không. Chị kể một cách buồn chán, mệt mỏi; là người tiêu tiền, chị không có cái say mê của những con sói săn mồi. Chị là con kền kền cái lười biếng rỉa xác một con voi. Chồng chị thỉnh thoảng có viết thư nhưng hai năm nay anh không hẹn ngày về. Hảo cảm thấy, với chị thì anh vĩnh viễn không về nữa.
Thằng Cu có người trông, sạch sẽ hơn. Nó học tiếng Anh cũng khá và mến thầy. Để giải quyết chuyện cái bô, Hảo đã tập cho nó ra toa-lét mỗi khi có nhu cầu. Cuối tháng đầu chị trả lương cho anh, đưa luôn cả tháng sau, tặng thêm cho anh năm mươi ngàn. Thấy anh lưỡng lự, chị nói: “Anh cầm đi. Chúng tôi giàu lắm . Anh không tưởng tượng được chúng tôi giàu như thế nào đâu. Nhưng ở cái đất hay nhòm ngó nhau thế này mình cũng phải giữ ý".
Một sáng anh đang ở trong phòng với thằng Cu thì ông Vị đi xe máy đến. Qua cửa sổ anh nhìn thấy ông chải chuốt hơn ngày thường tuy ít đường bệ hơn so với những lúc ông đi lại dọc hành lang nghe một cán bộ khoa học thuyết minh cái gì đó sau lưng mình. Chị ngồi tiếp ông hàng giờ trong phòng khách. Buổi chiều trước khi Hảo ra về, chị mời anh uống trà. Chị nói: “ Ngày mai tôi phải vắng nhà mấy ngày. Anh giúp tôi ngủ lại và trông hộ cháu được không ?” Anh đáp được. Suy nghĩ một lúc chị hỏi: “Anh có biết cái ông hồi sáng đến thăm tôi không?” Anh nói: “ Không”. Chị nhìn anh vẻ tin cậy: “Thôi chẳng giấu anh làm gì, sợ anh nghĩ tôi không đàng hoàng. Ông ấy là bồ tôi đó”. Thấy Hảo cảm động vì lời thổ lộ ấy, chị duyên dáng níu nhẹ vào ống tay áo anh: “ Nhưng tôi đã quyết định dứt ông ấy ra. Ngày mai chúng tôi cùng đi Sầm Sơn. Lần cuối cùng rồi thôi. Anh giúp tôi nhé?” Chị kể trước đây mấy năm chồng chị khéo léo đưa chị đến với ông ấy. Đối với sự nghiệp của anh, cũng là của thằng Cu, chị không nề hà gì. Ông ấy giúp đỡ chồng chị đến nơi đến chốn nhưng không hề để mắt đến chị, món mỡ trước miệng mèo. Đã có ai ở thành phố này dám coi chị như củ khoai cơ chứ? Lòng tự ái nổi lên, chị tìm cách khám phá con người mẫu mực kia và chị yêu ông ấy lúc nào không biết. Khi chị hiểu ra sự cao đạo của ông là một cái bẫy chinh phục nguy hiểm của những người có tuổi thì cũng là lúc chị chán ông ta. “ Cuối cùng thì chồng tôi thắng, nhưng tôi chẳng được gì. Anh giúp để tôi làm chuyện chia tay với ông ấy trót lọt” . Anh đáp: “Vâng, tôi trông nhà hộ và kín miệng nữa”. Chị cười buồn: “Chẳng cần đâu. Cả thành phố biết chuyện tôi với ông ấy rồi. Họ chưa đưa lên ti-vi là may”. Hảo nói: “ Chị đừng mang theo con chó nhỏ”. Chị ngạc nhiên: “Vì sao vậy?” Bỗng chị mỉm cười: “ Tôi nhớ ra Sê-khốp rồi. Anh yên tâm. Thời nay không ai dùng chó làm môi giới cho yêu đương đâu!” Ngừng một chút, lần thứ hai Hảo thấy khuôn mặt chị rạng lên. Chị nói hấp hổi: “ Tôi sẽ mang theo con chó. Tôi là một con mù mà lại muốn đi tìm ngọc quý. Mi-mô-sa sẽ dẫn đường cho tôi” . Chị mang Mi-mô-sa đi thật. Chị còn tin có một người nào khác đang chờ chị ở Sầm Sơn ư?
Ba ngày sau chị và ông Vị về nhà. Một chiếc Toyota đậu trước cổng. Nghe tiếng còi Hảo ra mở cổng như một người gác gian mẫn cán. Anh bất ngờ chạm mặt ông Vị. Nhưng cả hai không chào nhau, không nói gì. Ôi tiền giấy và sắc đẹp, những lá bài của số phận éo le.
Nhìn nét mặt cau có, dồn nén và thân thể sung mãn của tuổi già đang chín một lần trước khi rụng của ông Vị, Hảo biết là mấy ngày ở Sầm Sơn ông chỉ được xơi thịt thỏ. Túi tiền có thể vơi chút ít, nhưng cái túi tục luỵ kia thì chắc vẫn còn nguyên. Nó làm ông cáu giận. Hảo nghe tiếng cãi cọ trên lầu, ở phòng khách.
Nhưng rồi ông cũng phải ra đi. Chị gọi dây nói cho xe đến đón ông, tươi tỉnh, lịch sự đưa ông ra đàng hoàng. Ông thì hầm mặt vì tiền mất tật mang, chỉ biết tự an ủi là đã giữ gìn được phẩm chất trong chuyến đi biển đầy rẫy những trò ăn chơi tư sản.
Hảo biết không mấy người vui vẻ khi bị người tình buộc về hưu.
Chị chạy đến gặp Hảo sau khi ông đi khỏi, mời anh sang phòng khách uống trà. “Thế là trút được món nợ Liễu Thăng!” Chị nói, ve vuốt con Mi-mô-sa, nó liếm tay chị, kiêu hãnh vì đã giành lại được chị và tự hào vì ông già giàu có, oai vệ kia đã ao ước được một số phận như nó hôm nay mà không có: được chị ve vuốt, nâng niu. “Sao có một dạo ông ấy dễ thương thế. – Chị nói. – Bây giờ thì chỉ dạy dỗ, khuyên bảo suốt ngày !” Chị lại ve vuốt con Mi-mô-sa, thì thầm: “ Sầm Sơn năm nay đẹp lắm, mày có nhớ Sầm Sơn không con, Mi-mô-sa?” Hảo thầm đoán là ở Sầm Sơn con chó nhỏ này đã đóng được một vai trò gì rồi.
Anh không nhầm. Ba hôm sau, một chàng trai, trẻ hơn chị vài tuổi, đến nhà. Anh ta dắt chiếc CBT 125 màu nòng súng vào sân, cởi chiếc mũ mô-tô khỏi đầu rồi nhoẻn miệng cười với ngôi nhà. Hảo vì nể nhìn chiếc xe mới thấy lần thứ hai trong đời, lần đầu Tứ giới thiệu nó cho anh ỡ bãi xe, nói rằng ở cái thành phố ăn chơi đồ Nhật này chỉ mới thấy xuất hiện vài cái. Anh gọi chị xuống, bàn giao khách cho chị rồi vào phòng với thằng Cu. Người khách nhìn anh không chút ngạc nhiên như chính anh ta đã từng mướn vài chục thằng đầy tớ cỡ đó.
Họ nói chuyện với nhau trong phòng khách. Rồi chị thét bà Múi ra chợ. Bữa trưa có bún chả, ốc nhồi thịt và một chai Giôn bộ 1 giá nửa chỉ vàng khách mang tới và những gói kem vừa đông lạnh trong chiếc máy làm kem sau cốp xe. Hảo cùng ngồi ăn với họ. Hợp đồng đã ghi có ăn trưa. Chị uống vài hớp rượu quý nói luôn mồm, cười luôn miệng, trông chị trẻ ra mấy tuổi so với ngày hôm qua. Chị giới thiệu khách với Hảo: Anh X. đây là con ông Y., gọi ông Z. bằng bác họ (Hảo nghe tiếng họ từ lâu), tốt nghiệp đại học ở Ba Lan, mười năm nay đi đi về về, không quốc tịch, không hộ khẩu, hộ chiếu ba năm đổi một lần (cái khoản này thì chính tôi cũng không hiểu vì sao mình có – anh nói – lúc cần cứ hỏi pa-pa), nay là nhà kinh doanh bự, nguồn vốn không xác định rõ nhưng lớn lắm và đảm bảo là không có chuyện Nguyễn-Văn-Mười-Hai 2, buôn bán từ đầu vi-đê-ô đến chổi đót xuất khẩu... Anh đây còn có một căn hộ ở Vác-xa-va, giữ thường xuyên một phòng ở Pa-lat Sin-ga-po và vừa bay từ đó về tuần trước. Chị nói: “ Ở Sầm Sơn ông Vị tâm sự với tôi rằng, không có các ông thì bọn trẻ bố láo đảo lộn cơ đồ lên mất. Nhưng khốn nỗi ông ấy khôn g phân biệt được cá thu khô với cá thu tươi ở chợ cá Sầm Sơn, phải không Mi-mô-sa?” Con chó vắt ngang trên đùi chị ư hử đồng tình. Chị tiếp: “ Theo tôi những người như anh X. đây...” Anh X. đây đưa bàn tay lên. “Hẵng khoan, hồi nãy em nói gì nhỉ. À, ông ấy đã, đang và sẽ... còn anh thì ngay cả khi dùng tiếng Anh, anh không bao giờ chia động từ theo thì quá khứ và tương lai cả. Tôi đang nói, tôi đang sống. Thì hiện tại muôn năm!” Anh hạ bàn tay xuống và nhón một con ốc nhồi thịt. “Để em nói hết đã mà! Theo em thì chính những người như các anh sẽ đưa chúng ta ra khỏi cuộc khủng hoảng. Có phải thế không anh Hảo?” Hảo nghĩ, không biết chị nói cuộc khủng hoảng nào, của đất nước hay của chị? Anh đáp : “Tôi không sành chính trị nhưng tôi biết chắc muốn giải quyết vấn đề thì ai cũng phải cứng rắn”. Chị là người thông minh. Chị cười hồn nhiên: “Anh nói đúng chóc! Phải thế, chứ như ông Vị thì... như con sứa ấy!” Người khách tỏ ra kém thông minh và ghen tị nhỏ nhen khi thấy chị vừa khen anh người làm nói leo. Anh mím cái miệng đỏ hồng riết róng, nhìn đĩa trứng vịt lộn chưa ai đụng tới rồi quay sang chị: “Vấn đề là tiền! Em mua quả vịt lộn này bao nhiêu ? Bảy trăm à? Tôi hứa, nếu em ra lệnh, trong ngày mai tôi sẽ (lại sẽ rồi – Hảo nghĩ) có đủ tiền hạ giá trứng vịt lộn ở thị trường thành phố này xuống một nửa. Và tôi giữ giá đó trong một tuần, em chịu không?” Chị lại cười ré lên, lần này vì lòng tự ái được ve vuốt. Hảo nhăn mặt cố nghĩ xem vị anh hùng này làm cách gì và sẽ bỏ ra bao nhiêu để hạ giá trứng vịt lộn xuống còn một nửa. Nếu anh ta làm được như thế, Hảo sẽ cố tranh thủ ăn lấy vài quả, mấy lâu nay anh quên mất thứ thực phẩm dành riêng cho những tay bá chủng heo nọc này rồi. Nhưng thật ớn những trò nói khoác. Suy cho cùng là do lỗi của đế quốc Anh. Chúng sản xuất ra thứ Johnny Walker ngon quá. Sau khi chấm nước mắt do trận cười, và không ngừng bị ám ảnh bởi từ “cứng rắn” anh vừa phát hành, chị hỏi Hảo: “ Còn anh, anh nói nữa đi, ý anh thế nào?” Hảo đáp: “Xin lỗi, tôi không sành chính trị”. Nhà kinh doanh giơ tay lên như ông giáo trẻ dạy cho chú học trò chậm hiểu: “Đây không phải là chính trị. Đây là chuyện làm cường dương cả một thành phố. Chúng ta x ẹp như dán quá lâu rồi!” Chị lại cười, làm một cử chỉ e lệ gọi là, rồi nói: “Anh yêu, thế thì anh hạ giá trứng vịt lộn đi!” Hảo muốn kìm sự hưng phấn đang quá đà do chai rượu Anh gây ra. Anh hỏi anh yêu: “Bao giờ thì anh định cư hẳn trong nước để làm ăn?” Anh yê u lấy khăn lau miệng, nói qua kẽ răng: “ Khi nào chúng tôi có đại biểu trong quốc hội – Anh cười tinh quái – Nếu không thì ai bảo vệ vốn liếng của chúng tôi chứ?”
Sau bữa trưa, họ lên phòng của chị. Hảo trở về cái đi-văng. Thằng Cu đã ngủ, cạnh nó là một cái bô đầy. Anh múa tiếp điệu vũ của mình rồi nằm xuống cạnh nó. Tiếng nhạc êm dịu lọt qua bức trần xuống tai anh. Đó là những bài hát tiền chiến rất quen thuộc. Anh nhớ mẹ lạ lùng. Cái hố trống trong ngực anh to dần ra, to mãi đến hư vô. Bữa cơm quá tải làm anh khó ngủ. Anh nhớ mẹ cũng giàu, cũng sang trọng, sang trọng cả lúc không còn giàu nữa. Cả trong những ngày chiến tranh liên miên. Tất cả vàng bạc, hạt xoàn mẹ đưa anh, lúc đó mới ba tuổi, để tự tay anh thả vào khe của cái hộp gỗ sơn son trong Tuần lễ vàng. Mẹ bảo với bố: “ Tôi gánh gạo đường xa cho các con”. Miếng vườn cả nhà vỡ hoang ven bờ suối dưới sự chỉ huy của mẹ, tiếng vo gạo buổi sáng, nước gạo chảy men bờ như sữa. Chim hoạ mi hót sau mấy cây ổi mẹ trồng, con rắn mai gầm lâu lâu lại xuất hiện, chạy qua sân rồi biến mất trong đám hương nhu, làm thành một sự kiện trọng đại. Rồi cái tang đầu tiên: bố chết vì bom bi trong một trận oanh kích. Cái tang thứ hai, người anh cả ở Trường Sơn. Đến lượt anh, đứa con yêu của mẹ cũng biến mất ở chân trời Đông Âu, mang theo hy vọng về một cuộc sống tử tế của cả nhà. Lúc anh về thì mẹ đã mất. Và cùng với mẹ là cả một vũ trụ đáng kiêu hãnh và nuốt tiếc cũng mất nốt. Hảo như đui mù. Anh không được chuẩn bị cho sự nghèo khổ và bệ rạc, không được chuẩn bị để sống với người vợ trước đây để sống trong cảnh ngộ hiện nay. Không chuẩn bị để thành người ở, làm công cho người đàn bà thông minh nhưng tinh quái, có lương tri và dâm đãng nữa. Anh cố nghĩ một tính từ khác nhưng không được. Thú thực là anh ghét và ghê tởm khi chị dám cả gan và sai lầm khi đồng loã đánh giá nền chính trị thông qua những người đàn ông liệt dương trên giường mình, dù trong đó có cả một ông xếp không ra gì của Hảo. Và cũng thật khó chịu thấy mắt chị sáng lên khi con dê cỏn dằm đô-la kia đòi có ghế trong quốc hội của nền vô sản chuyên chính. Khi đó anh tưởng nếu có cuộc bầu cử thì chị sẽ bỏ cho y ta mười phiếu một lúc. Nhưng tại sao chị vẫn phát tiền công cho anh hàng tháng? Tại sao chị vẫn làm cho anh có cảm tình và nhiều lúc thèm muốn chị nữa? Tại sao chiếc CBT 125 giá ba mươi triệu ở ngoài sân kia vẫn đè cái bóng cao cả của nó lên những giấc mơ nghèo khổ của anh? Tại sao cái thế giới êm dịu và lung linh những ước mơ của mẹ, và cũng cả của anh nữa lại biến mất dễ dàng đến thế? Phải chăng sau một sự kiện kinh hoàng năm đó, lời lão thầy bói đã ứng nghiệm? Mùa hè ấy, thời tiết bình thường, mẹ cho ấp một ổ gà, khi nhấc xuống, trong ổ lúc nhúc một bầy rắn con, còn mấy cây ổi sau nhà thì ra mười ba quả bứa chua loét. Hôm ấy một lão thầy bói ôm tay nải qua làng. Mẹ làm thịt một con gà giò, ông ta xem chân gà rồi nói: “ Ông tổ nhà này ngày xưa nhiều thất đức. Bà hãy cẩn thận. Trong nhà này rồi sẽ có người đi ở !” Ông ta còn nói những chuyện nhảm nhí khác. Dân quân xóm trói ông vào một cái cọc, phơi nắng nửa ngày rồi mới cho đi. Năm đó bố chết, rồi đến anh cả. Gia đình trĩu nặng tang tóc. Bây giờ đứa con út của mẹ đi ở.
Tiếng nhạc buồn phòng trên ngừng bặt. Cái đầu vi-đê-ô bắt đầu rên rỉ những pha phim xếch (trước đây chị vẫn dùng cái hộp nhựa Nhật Bản ấy để khởi động nhà đạo đức luống tuổi của chị). Rồi tiếng rên điện tử cũng im nốt nhường chỗ cho nhạc đời hang động. Con Mi-mô-sa bị bỏ rơi buồn bã vào phòng, liếm bàn tay Hảo thõng xuống đi văng. Anh nhấc nó lên, kéo tai nó, tên ma cô mất dạy, thằng mối lái vô phúc, những con chó nhỏ vô tích sự thời Sê-khốp hay thời hiện đại đều thế cả. Nằm trong lòng Hảo, nó nhìn lên trần như anh, có thể nó còn thấu suốt hơn anh bằng bản năng chó của nó.
Một tuần lễ liền ngôi nhà yên tĩnh ở góc phố ròn rã tiếng CBT 125. Những bữa cơm trưa quá tải với sự đồng loã tội lỗi của những chai rượu Anh và kỹ nghệ vi mạch Nhật Bản. Nhưng chủ nhật anh ta không đến. Chị đưa tiền lương cho Hảo, tăng lên hai trăm ngàn (để bù trượt giá, chị nói) và giữ anh ở lại ăn cơm tối với chị. Chị buồn, nét mặt căng thẳng tuy vẫn kiêu sa. Hảo đã nếm mùi những cơn cớ tâm sự của chị. Họ lấy ghế vải ra ngồi ở sân sau. Chị nói: “ Anh tiên tri thật! Giá không mang Mi-mô-sa đi thì tôi đâu có rước ngữ ấy về nhà!”
Chị nhìn anh với đôi mắt của người vừa thoát khỏi tai nạn. Như một nhà thám hiểm Nam cực sống sót, chị kể cho Hảo nghe chuyện mấy ngày ở Sầm Sơn. Hôm ấy, chị để Mi-mô-sa trên bờ biển để xuống tắm với ông Vị. Họ tìm một góc vắng. Vì hễ hai người mặc áo tắm đi vào đám đông là y như lũ trẻ la lối: “Bố ơi, bố nhường chúng con đi bố!” Tuy khó chịu vì thứ ngôn ngữ máy nước ấy, nhưng từ cái góc vắng kia chị vẫn nhìn về phía một bộ phận nhân loại trẻ trung và thô bỉ một cách chân thành ấy. Còn ông Vị thì tìm mọi cách để sử dụng đôi bàn tay vàng. Ông càu nhàu: “ Tại sao em lại không mặc bộ bi-ki-ni hai mảnh của Thái ấy?” Ông vẫn thường phàn nàn mốt Hà Nội dạo này quá hở hang, nhưng trong một chuyến đi Băng Cốc về, chính ông đã mua tặng chị hai bộ bi-ki-ni ấy. Hôm đó chị cố ý mặc bộ đồ tắm cổ điển được mậu dịch quốc doanh đứng đắn của chúng ta phát hành những năm bảy mươi sau khi mẫu đã được sở văn hoá xét duyệt. Một bộ đồ tắm có thể cấp bằng tiết hạnh khả phong. Ông Vị đành phải đầu hàng bộ đồ ông đã từng duyệt mẫu trước đây. Bực bội vì ông lão sắp bị giảm biên chế ngầy ngà, chị quên mất con Mi-mô-sa. Trời lại đổ một trận mưa nữa. Thế là họ lạc mất con chó. Đến chiều tối, sau khi ăn cơm xong, khi ông Vị đang càu nhàu lên án bộ đồ tắm khốn nạn, trút lên nó những từ người ta thường chỉ dùng trong các cuộc tranh luận triết học và đạo đức thì anh ta đến. Anh ấy ôm con Mi-mô-sa trên tay. Trong khung cảnh biển sau cơn mưa, chàng trai thật tuyệt vời. Chiều hôm sau, trong khi ông Vị đi nói chuyện về vai trò người phụ nữ mới (bài tủ của ông) cho công đoàn công ty du lịch thì chị với anh đi vào rừng thông. Chị cám ơn anh vì đã tìm hộ con Mi-mô-sa. Anh cám ơn vì chị đã làm cuộc đi biển cô đơn của anh có ý nghĩa. Anh gọi chị là bà làm chị kiêu hãnh, sau đó là chị làm chị ấm lòng và cuối cùng là em làm chị sung sướng. Cuộc cách mạng về xưng hô ấy chỉ diễn ra trong vòng mười lăm phút. Phút thứ mười sáu thì anh nói là anh đã thuê hai hec-ta rừng thông chiều nay để không ai được phép lai vãng qua. Phút thứ mười bảy thì lưng chị đã lấm đầy cát và sau đó chị bắt đầu cuộc hành trình vào thiên đường lần đầu tiên trong đời. Trước đây ông Vị chỉ mô tả cái thiên đường ấy cho chị bằng lý thuyết. Những pha mô tả của bọn nhà văn ba xu thường được thay bằng những dấu chấm chấm cũng không làm thoả mãn chị.
Tối đó, chị sang phòng ông Vị (họ vẫn thuê hai phòng từ lúc đến Sầm Sơn). Ông rất mừng vì chị đã tự nguyện nộp xác, vì buổi diễn thuyết thành công, “ chị em nuốt từng lời” và theo cá nhân ông thì cần phải khôi phục khí thế của phong trào ba đảm đang trước đây. Chị ngắt lời ông: “Anh yêu em đi!” Chị quyết định tặng ông một bữa tiệc chia ly no xôi chán chè như bữa cơm người ta vẫn thường cho tử tù ăn trước ngày ra trường bắn. Ông sững sờ vì hạnh phúc cũng như kẻ tử tù kia đang nằm mơ thấy cái cọc thì bỗng thấy trước mắt mình một con gà mái quay, nghẹn ngào nhìn nhưng không ăn được. Ông đổ tội cho tính đãng trí, bỏ quên chai rượu tắc kè ở nhà, chửi sự quản lý khách sạn xuống cấp vì cái giường cứ kêu cót két, chửi rủa cả cái váy ngủ của chị, làm gì mà phải dùng đến hai cửa ra vào làm ông lầm lẫn lung tung, sự xa xỉ điển hình của nền dân chủ tư sản!
Cũng như mọi lần, ông chẳng bao giờ chịu trách nhiệm về bất kỳ sự thất bại nào. Tuy vậy ông vẫn trấn an chị: “Em hãy tin, tôi đã, đang và sẽ cố gắng...”
Sáng hôm sau chị giục ông ra về để kịp ngày hẹn với anh ấy, người đã mua hai hec-ta rừng thông một chiều cho chị.
Chị thở dài:
– Nhưng tôi lại chán ngấy anh ta rồi! Thằng tư sản mới cũng chẳng hơn gì lão già đạo đức giả? Sao cái số tôi nó nhọ thế này hả anh!
Hảo tự chửi mình vì quả thật trong anh có loé lên một chút hả hê dễ hiểu. Anh đứng lên, xin phép chị ra về. “Đừng vội, anh. – Giọng chị thân mật khác lạ – Anh về bây giờ thì tôi chết buồn mất. Tại sao tôi chỉ gặp phải lũ dở hơi? Chúng chui ở đâu ra lắm thế hả anh?”
Hảo cảm thấy sự chán chường của chị là thành thật. Nó lan toả trên da thịt anh cùng mùi nước hoa Pháp và hơi thở thơm tho của chị. Suy cho cùng thì chị cũng đáng thương. Ít nhất chị cũng có cái can đảm và hào phóng làm việc phân phối lại của cải đã trấn được của những thằng dại gái. Chị đã nuôi được một phó tiến sĩ bằng ba lần số lương chính của y, vớt y ra khỏi cảnh thất nghiệp dài dài được mã hoá bằng cụm từ nghiên cứu có tính chiến lược trong cái vỏ những đề tài không ai cần đến. Nhưng anh cứng rắn trở lại, kiên trì sự đố kỵ muôn thuở của người nghèo, sự ghê tởm của hàn sĩ bị phỉ báng. Rồi anh khôn khéo đứng lên.
Số phận xô đẩy anh theo hướng khác. Mấy tuần sau chị ốm. Thóc mách như một thằng ở thực thụ, anh đoán thầm nhà kinh doanh không quốc tịch kia đã kịp đầu tư một vật lạ vào nội địa trước khi bị trục xuất. Anh lên thăm chị, vừa là phải phép vừa bị lòng nhân ái thúc bách. Chị nằm bất động trên giường, tay duỗi ngoài chiếc chăn mỏng. Chị đập nhẹ bàn tay như cánh bướm bảo anh ngồi xuống mép giường cạnh mình. Vì mấy cái ghế xếp Nhật Bản đã bị thu lại và cũng không thể ngồi lên cái táp-đờ-nuy, vật duy nhất có thể ngồi lên trong phòng, anh đành chiều ý chị. Tay anh run lên khi nắm lấy cái mép giường. Chị nhìn thấy tất cả trong một cái liếc mắt rồi cầm lấy tay anh, bàn tay chị dịu dàng như cánh bướm cầu xin sự giúp đỡ. Chị nói: “Anh có thể thu xếp đi với tôi một vài ngày không?”. Anh nhìn con Mi-mô-sa nằm duỗi dưới chân không đáp.
Rồi anh đi với chị sau khi hai người đã thu xếp được người trông thằng Cu và nhà cửa. Anh sẽ phải đưa chị về một bệnh viện nhỏ nào đó ở Hà Nội. Đúng như anh đoán, chị cần tống khứ nhanh chóng giọt máu được đầu tư một cách vội vã của nhà kinh doanh trẻ. Chị cần anh đóng vai một người chồng cho đỡ tủi thân và hợp lý. Từ khi mới đi lại với nhau, ông Vị đã yêu cầu chị làm việc này ở bất cứ chỗ nào cũng được trừ ở thành phố ông đang nổi tiếng và có quyền lực. Bởi vì dù đứa con trong bụng chị là của ai thì dư luận cũng sẽ nghĩ là của ông, điều ấy rất bất lợi cho ông trong những cuộc bầu cử. Vậy là quá đủ lý do để anh phải đưa chị đi.
Họ xuống tàu vào lúc sẩm tối rồi vào một khách sạn gần nhà ga. Cô tiếp tân nhìn họ một cách tình tứ, bảo họ có thể thuê một phòng cũng được. Chị thuê hai. Anh ghi nhận với chị cách làm ăn thoáng của ngành du lịch. Rõ ràng mọi việc đang đổi mới. Chị nói: “ Nhà trống thì phải thoáng!” Họ ở đêm đầu tiên trong bầu không khí hoà hoãn, không xâm lấn biên giới của nhau. Hôm sau chị vẫn không vào nhà thương ngay. Chị đòi anh đưa thăm các địa điểm nổi tiếng của Hà Nội. Anh đưa chị đi Văn Miếu để tỏ lòng yêu mến văn hoá nước nhà, đến cầu Thăng Long để ngưỡng mộ tình hữu nghị Xô-Việt. Cuộc đi chơi kết thúc ở hàng chả cá nổi tiếng giữa những ông tây bà đầm trả bằng đô-la. Thế là nhờ chị mà anh đã hoàn thành vượt mức kế hoạch 9 năm trước thời hạn. Anh định đúng vào năm 2000 sẽ tập trung toàn lực đi ăn một bữa chả cá đầu tiên và cuối cùng trong đời. Ăn xong, uống cà-phê xong, cái hoá đơn đặt lên bàn làm anh suýt ngất tưởng như mình vừa mua cả tháp Ép-phen. Nhưng chị rút ví ra kịp thời, trên bộ mặt hơi xanh xao không chút cảm xúc. Anh nhẹ nhõm thầm nhận ra rằng, chị là người đàn bà đầu tiên đi ăn với anh mà anh không phải mó tay vào ví lần nào. Chị đòi đi Hồ Tây. Họ lên Hồ Tây. Cô bán hàng mang đến cho họ hai cái ghế mây cạnh gốc cây tù mù và hai chai nước ngọt do Viện kiểm sát nhân dân thành phố X. sản xuất. Chị nắm tay anh: “Anh mệt không?” Anh nói: “ Văn hoá chỉ khác tình dục ở chỗ nó làm cho con người ta hào hứng mà không mệt”. Chị mỉm cười: “ Thế thật! Ở Hà Nội có người đã chi cho tôi hai triệu một ngày nhưng không hề dẫn tôi đến một di tích văn hoá. Trí thức các anh dễ thương thật” . Anh nghĩ: có lẽ công thức trước đây của họ là: Quán đặc sản - giường ngủ. Còn trí thức: Văn Miếu - Nhà triển lãm Ngô Quyền. Vào cửa hai trăm đồng một vé, kem que cạnh đó cũng hai trăm mà những ba màu. Trí thức nói chung là ít phải trả tiền dù đi với mỹ nhân. Chỉ hơi tốn nước bọt mà thôi. Thời nào cũng vậy.
Chị không để anh có thì giờ suy nghĩ lan man. Chị xiết mạnh tay anh, bàn tay chị ấm nóng: “ Vậy mà tôi chưa bao giờ lọt được vào mắt xanh một anh trí thức”. Anh nói: “Vì chị quá đẹp còn họ thì quá nghèo. Thánh nhân đãi khù khờ chứ đâu có phù hộ người hay chữ”. Chị bình luận: “ Thánh ghen tỵ đấy mà! Chắc cũng có một nữ thánh nào đó ghen ghét tôi. Tôi cố tìm lấy một người mà không thấy...” Chị thở dài. Cái khuynh hướng phủ nhận sạch trơn ba bốn mạng đàn ông một lúc của chị làm anh khó chịu. Nhưng anh thấy mủi lòng, bản chất hay dao động của trí thức. Anh nói: “Rồi chị sẽ tìm thấy”. Chị đột ngột nhìn vào mắt anh: “Anh có biết tại sao chồng tôi cứ nằm lỳ ở Hồng Kông không về? Anh thử đoán xem!” Anh im lặng. Chị nói:
– Anh ấy bị SIDA! Thật tồi tệ. Hành động yêu nước cuối cùng của anh ấy là đề nghị HU 3 đăng ký mình vào danh sách bệnh nhân của Hồng Kông chứ không phải nước ta. Gian lận thêm cho bọn tư bản một người sa đoạ cũng chẳng oan gì.
Anh cảm thấy chạm được bằng xúc giác nỗi đau khổ của chị. Giọng chị trở lại bình thường:
– Tôi đòi ly dị, nhưng ông Vị khuyên tôi: “ Đừng có đánh mất lòng tin. Khoa học sẽ chữa được cái bệnh tai quái đó. Rồi ngày nào đó chồng em sẽ về”. Như thơ Xi-mô-nốp vậy. Tôi thì biết thừa tim đen của ông. Nếu ly dị lỡ tôi đòi lấy ông, như thế thì sự nghiệp ông tan tành. Vả lại ngân sách ái tình của ông ấy được tư bản Hồng Kông trợ cấp một nửa, nửa kia moi ruột nhà nước thì tiện bao nhiêu. Tôi nói về ông ấy như vậy anh có coi thường tôi không?
Anh đáp: “Tôi là nhà khoa học. Tôi thích có dữ kiện trong mọi vấn đề”
– Tôi căm ghét ông ấy còn vì câu chuyện khủng khiếp này nữa. Hôm đó chúng tôi đi xem xi-nê với nhau. Lúc chen chúc vào rạp, một bà nọ dẫm guốc bảy phân lên chân tôi. Tôi la trời. Đáng lẽ một câu xin lỗi là xong, chị ta lại chối bay biến và còn chửi tôi nữa. Chúng tôi túm tóc nhau lời qua tiếng lại. Không biết vì vô tình hay cố ý, chị ta chửi tôi là “ con đĩ non xí xớn với thằng dê già!”. Ông Vị tím mặt. Người ta mời chúng tôi vào phòng bán vé. Khai tên tuổi, nơi làm việc và xin lỗi nhau. Tối hôm ấy trên giường nhà tôi, ông ấy chỉ vặn hỏi tôi về người đàn bà ngoa ngoắt nọ. Ông rút sổ tay ra ghi. Ba tháng sau, tôi gặp lại chị, thân tàn ma dại ngồi bán rau. Chị buộc phải thôi việc, chồng chị nghỉ bảy mươi phần trăm, hai con nhỏ. Tôi hỏi chị vì sao nên nỗi thế. Chị làm thủ kho, để thất thoát hai mươi mốt miếng xà phòng bảo hộ lao động. Tôi thì tôi biết con nhện nào đã dệt tấm lưới bắt con ruồi cái ốm đói kia. Tôi van xin ông ấy. Nhưng ông chỉ cười gằn: “ Phải nghiêm để nâng cao dân trí”. Thế đấy. Ông trả công tôi bằng cái quyền chính là thứ tôi và anh, cả chị thủ kho kia nữa đã cho ông ấy. Còn thằng cha đầu tư? Nó làm tôi sung sướng nhưng nó trả tiền tôi từng ngày, có khi hàng triệu, nhưng trả từng bữa, nghĩa là trả theo sản phẩm. Nó bảo cả thế giới người ta đều làm như thế.
Chị buông tay anh, ôm mặt. Anh không thể ngồi im. Anh lặng lẽ lấy tay vuốt tóc chị, trong lòng trào lên thứ tình cảm của người anh trai. Chị ngước mắt nhìn anh vẻ biết ơn: “Anh khác họ nhiều lắm!” Rồi chị vòng tay qua cổ anh, chị hôn anh.
Đêm ấy chị sang với anh. Ngon lành và thơm như một múi mít và thanh thản nữa. Anh không dối mình đã hơn một lần anh thèm muốn chị. Nhưng giờ đây anh lạnh băng. Cũng chẳng phải anh trinh bạch như gã chăn cừu của Đô-đê nâng niu giấc ngủ của cô chủ trên vai mình. Chị cũng không phải là một vì sao lạc. Chị phô bày cái bản năng dữ dội nhưng bao giờ cũng hồn nhiên của một người đàn bà. Nhưng anh không thèm chị. Giá chị để cho anh bình tĩnh, anh sẽ an ủi chị như một người anh. Nhưng chị đã quýnh lên và cáu: “Trí thức chỉ là thế này thôi à? Trong sách người ta không dạy anh ư?” Chị hạ mình trước anh, làm cả những điều chị chưa hề làm với người khác. Nhưng anh chỉ rúm ró lại trong nỗi đau của một hàn sĩ. Chị trần truồng đi ra cửa để về phòng mình, ném đại mảnh vải Thái Lan nhỏ xíu vào mặt anh rồi rít lên trong cơn giông bão đàn bà: “ Lại một con sứa nữa! Tôi còn căm ghét anh hơn cả ba thằng kia!”
Một tháng sau, khi đã bình phục sau trận ốm, chị cho một anh xích-lô gửi nhờ xe. Anh ta kể: nhà, vợ con anh bị cháy thành tro, hai tháng nay anh ngủ trong xe ở sân ga, chân cầu. Bà Múi thầm thì với Hảo: “Cứ cách một đêm hắn lại lên phòng ngủ với cô. Thằng khốn nạn!” Hảo bảo bà: “Ơ -rê-ka! Cô chủ đã tìm thấy!” Bà ta chưa được học tiếng Hy Lạp, tưởng anh điên, chạy biến vào bếp.
Tiếng Anh cuối cùng Hảo dạy cho thằng Cu là The Man – người đàn ông. Hôm sau anh thôi việc. Anh lững thững đi bộ về nhà. Trời sẩm tối. Một đoàn tàu hàng dừng lại sân ga. Anh nhìn thấy công nhân xếp dỡ đang chuyển xuống đất mười hai toa tàu trứng vịt lộn. Những sọt trứng toả ra một vòng hào quang, những quả trứng nhú khỏi đám cọng rơm như đầu những dương vật của một loại người hùng mạnh chưa từng có. Cũng chưa từng có công ty nào ở thành phố này buôn về một số lượng nhiều ghê gớm như thế.
Sáng hôm sau trên các phố nhan nhản biển hàng viết bằng phấn: vịt lộn – hạ giá năm mươi phần trăm! Người ta lo ngại xì xào rằng, một năm nữa dân số của thành phố chắc sẽ phát triển vô tội vạ.
Trại sáng tác văn xuôi Hải Phòng
                                                      Tháng 7. 1991
                                                Nguyễn Quang Thân
(Văn Nghệ, số 43 (1659), 26.10.1991)
1 Johnny Walker, nhãn rượu whisky
2 giám đốc công ty Thanh Hương, đã làm sạt nghiệp hàng chục ngàn người gửi tiền lấy lời. Vụ xì-căng-đan Nguyễn Văn Mười Hai đã kéo theo dây chuyền phá sản hàng chục hợp tác xã tín dụng từ Sài Gòn đến Hà Nội.
3 phiên âm từ WHO, tên tắt tiếng Anh của Tổ chức y tế thế giới, mà tên tắt tiếng Pháp là OMS.

 PHÊ BÌNH VĂN HỌC 
                              Lại Nguyên Ân
Khi dự định viết bài này, tâm trí tôi thỉnh thoảng lại nhớ đến tên một truyện ngắn của Nguyễn Quang Thân, truyện “Vũ điệu của cái bô([1]). Ấy là chuyện đầu thời mở cửa, anh kỹ sư thời bao cấp nay lâm cảnh thất nghiệp, rồi tìm được việc làm tại tư gia một thiếu phụ bỗng chốc giàu lên, hoặc do có vốn liếng gì đó hoặc nhờ có chồng đi tàu viễn dương…   Công việc của anh kỹ sư trong vai trò mới là gia sư kiêm bảo mẫu, dạy tiếng Anh cho đứa trẻ chưa đầy bốn tuổi nhưng cũng phải thường xuyên đổ bô cho nó theo nghĩa đen.
Tôi nhớ cái tên truyện “vũ điệu của cái bô” ấy, vì đang chứng kiến những chuyện có vẻ rất khác thế nhưng hình như vẫn giống như thế.
Chả là tôi có biết ba bốn chị bạn, bây giờ phải gọi là bà bạn. Mấy bà này sau thời đại học, đã yên vị ở một cái viện tọa lạc giữa thủ đô, đã kịp sang Nga hoặc Ðông Âu kiếm về cái bằng phó tiến sĩ (“hữu nghị” hay không, chẳng cần bàn); cách đây dăm bảy năm một buổi sáng thức dậy nghiễm nhiên đồng loạt trở thành tiến sĩ; công việc thì cực kỳ an nhàn: mỗi tuần đến Viện một lần, mỗi năm đưa đăng chừng 01 bài báo trên tạp chí của Viện; còn lại, thời giờ là của mình, ai giỏi giang thì mỗi năm “đánh” dăm bảy công-ten-nơ hàng bán sang bên Nga bên Tiệp, hoặc kinh doanh nhà đất, ai tự thấy tài lực ít thì lại có dư thời gian chăm sóc chồng con, lo cho chồng lên chức, lo cho con du học sang Mỹ sang Úc. Những người đàn bà thành đạt ấy hễ gặp nhau ở Viện thì chỉ dành thời gian hỏi thăm nhau về con cái, rồi bàn tán chuyện váy áo, chứ mấy khi nói chuyện học thuật chuyên môn!
Cứ tưởng như đã đạt đến tiễn sĩ rồi thì chẳng cần làm gì nữa, đã ngồi ở cái viện “cả nước chỉ có một” này thì chẳng có gì phải phấn đấu nữa. Thế mà vài ba năm nay, mấy bà tiến sĩ này bỗng chạy đôn chạy đáo, phấn đấu cật lực.
Thì ra, họ tính toán với nhau cả rồi. Này nhé, đã có học vị tiến sĩ rồi, phải phấn đấu để có học hàm phó giáo sư, thì mới được xê dịch tuổi nghỉ hưu được thêm 5 năm nữa so với tuổi nghỉ hưu thông thường của viên chức. Ở xứ nào kia người ta mới hoài nghi cái việc người lao động nhảy dựng lên đòi làm việc nhiều hơn mức mà chủ sử dụng lao động yêu cầu, chứ ở ta đây, tâm thế chung của công chức Việt Nam vẫn là muốn cống hiến nhiều nhất, muốn giữ trọng trách đến nhắm mắt tắt hơi…, nói cho sát nghĩa đen ra là muốn về hưu muộn. Mà ai không tin cái sự “nói chung” ấy thì hãy thông cảm với cái sự “nói riêng” này, rằng ở tuổi năm mươi lăm, các bà trẻ này vẫn còn trẻ lắm, còn có thể làm thêm nhiều việc lắm (các cụ ta xưa mà nhìn thấy mấy bà này hẳn sẽ bảo họ có thể đẻ thêm vài lứa nữa!). Nếu tiếp tục gặp nhau ở viện mà chuyện gẫu về con về cháu, về ô-sin, về cưới hỏi, về váy áo… liền liền dăm bảy năm nữa thì vẫn hay hơn là ở nhà, loanh quanh giữa mấy cái chợ, cái siêu thị, cái máy giặt, cái máy tập thể dục, cái tivi!
Tính toán đâu vào đấy rồi, họ phấn đấu, thực hiện cho bằng được! Phải có được tổng cộng mấy trăm giờ dạy cho bậc cao đẳng, đại học; phải hướng dẫn thành công một số nghiên cứu sinh bậc thạc sĩ hoặc tiến sĩ.
Mấy bà tiến sĩ này, tôi biết, vốn ngại lắm chuyện dạy học, thế mà nay bỗng nháo nhào tìm nơi thỉnh giảng. Ở Hà Nội hiếm chỗ dạy thì đi xa, Thái Nguyên, Hải Phòng, Nghệ An, Ðà Lạt, Quy Nhơn… Tàu xe có vất vả chút ít thì được bù lại ở cách đối xử: ở Hà Nội mỗi tiết dạy may ra được tính gấp đôi, nhưng ở xa có thể tính gấp ba gấp bốn lần. Tổng số giờ dạy chẳng mấy mà đủ. Chuyện tìm học trò (nghiên cứu sinh) có khó hơn, nhưng càng nơi xa càng dễ tìm. Ở các trường đại học, cao đẳng nơi ấy có thiếu gì những giảng viên trẻ, chỉ mới có học vị cử nhân, chỗ đứng trên bục giảng còn chông chênh nếu không gắng gia cố bằng tấm bằng thạc sĩ. Những cử nhân là phụ giảng hay giảng viên ấy, ngay tại nơi “vùng sâu vùng xa” của mình bỗng gặp được các tiến sĩ về thỉnh giảng, là chuyện tưởng như chỉ có trong mơ. Và với nỗ lực của hàng trăm tiến sĩ như mấy bà mà ta đang nói đến này thì sẽ kéo theo hàng ngàn nghiên cứu sinh tỉnh lẻ được ân cần chỉ lối đưa đường ra Hà Nội làm luận án thạc sĩ, tiến sĩ.
Ở Việt Nam luôn luôn có những chuyện trái nhau.
Ví như để vào đại học, bạn phải tự mình ra thành phố lớn dự thi, phải tự lo lều chõng cơm nắm cơm đùm, tự mình chen chúc tàu xe, tự tìm tự lo chỗ trọ; đủ thứ khó khăn, bạn phải tự mình chịu lấy, vượt qua. Người ta gạt đi không hết những người muốn trở thành sinh viên, nhưng hình như người ta phải thắp đèn đi tìm nghiên cứu sinh. Chả thế mà giới giáo sư đại học cưng họ lắm. Tôi nhớ ông Hiêu ông Sư (hay là vài ông nào đấy, chính cống giảng viên đại học) từng kể: “Bọn nó thi ngoại ngữ chẳng biết gì, đáng 0 điểm; chúng tôi vớt cả”; “Bọn nó bảo vệ đề cương, chẳng ra gì, đáng 2 điểm; chúng tôi vớt, cho 8 điểm. Không cho đỗ lấy đâu ra nghiên cứu sinh cao học?”
Ðại khái thế thôi. Chuyện thủ tục làm nghiên cứu sinh cũng rườm rà, rầy rà lắm. Ở xứ ta, khi con người kết nối thành cơ chế, bao giờ nó cũng hành hạ kẻ muốn lọt qua, muốn được OK. Nhưng con người xứ ta cũng có trăm kế ngàn phương để lọt qua các cánh cửa tưởng rất khó mở. Rốt cuộc thì mọi thủ tục sẽ xong. Cái khó còn lại là nội dung luận án. Các nữ tiến sĩ đóng vai trò bà thầy hiểu rõ điều này. Họ đã nhận các nghiên cứu sinh kia là trò thì họ sẽ ra tay trợ giúp.
Ðề cương luận án dĩ nhiên các bà thầy phải soạn cho nghiên cứu sinh thì mới qua được các hội đồng. Bảo vệ đề cương xong rồi, mấy cô cậu ấy lên tàu về trường rồi, các bà thầy lo làm tư liệu, làm dàn bài dàn ý cho bọn họ. Cố nhiên các bà thầy chẳng chịu ngồi tra cứu lâu trong thư viện làm gì, chỉ cần đến cổng thư viện ở phố Tràng Thi, hẹn hò trò chuyện với mấy nhân viên thư viện, nêu yêu cầu tìm cho những tài liệu abc của những tác giả xyz trên những tờ báo này tạp chí kia của năm này năm kia, có thì chụp photocopy cho v.v…chứ chẳng cần kỹ lưỡng làm gì. Dăm bữa nửa tháng sau, đơn đạt hàng sẽ được thực hiện. Danh mục “tư liệu tham khảo” cho luận án của nghiên cứu sinh đến đấy coi như căn bản xong. Công đoạn quan trọng nhất vẫn là nghiên cứu sinh tự viết ra luận án, rồi bà thầy sẽ đọc, góp ý và giúp sửa chữa, bổ sung nâng cao, hoàn chỉnh dần cho đến lúc đưa ra bảo vệ thử…
Ðối với thiên hạ, làm nghiên cứu sinh tức là làm người nghiên cứu; làm luận án là cốt để chứng tỏ người nghiên cứu biết tự đề xuất và giải quyết những đề tài nghiên cứu độc lập; trên một đề tài cụ thể phải có những phát hiện mới so với những người nghiên cứu đi trước. Nhưng đấy là mẫu mực lý tưởng, nó xa vời lắm. Ở xứ ta, giúp nghiên cứu sinh thành công trong luận án trước hết là lợi ích của các thầy hướng dẫn. Mỗi thầy cần có thêm một số trò từ cử nhân trở thành thạc sĩ, tiến sĩ. Khi đã vào cuộc đến nửa đường rồi, các nghiên cứu sinh sẽ nhận ra điều ấy, và nếu cần họ sẽ tận dụng cơ hội. Cố nhiên có những nghiên cứu sinh biết tự giải quyết công việc của mình. Nhưng những nghiên cứu sinh cần đến các bà thầy tiến sĩ mà tôi đang kể vốn không phải là những người học giỏi. Viết một bài luận hàng trăm trang,− dù đã sẵn đề cương, dù đã được hỗ trợ bởi hàng trăm công thức diễn đạt có sẵn, −  đối với họ vẫn là việc quá khó. Dù đã đứng giảng ở bục giảng đại học, cao đẳng, họ vẫn viết câu sai, hoặc nói cho rõ hơn, họ không hề biết những chỗ sai khi họ viết. Hiểu biết chung, kiến thức chung, cần có để diễn giải các vấn đề của luận án, hình như họ rất thiếu. Các bà thầy, ở chỗ riêng tư thường lắc đầu bảo nhau: “Chúng nó chẳng biết gì cả, chẳng đọc gì cả, chẳng hiểu gì cả!” Thế nhưng cái quyết tâm biến bọn người “chẳng biết gì cả” ấy thành thạc sĩ, thành tiến sĩ của các bà vẫn không lay chuyển. Nghe những cái đề các bà thầy chọn cho nghiên cứu sinh thì thật to tát: so sánh chủ nghĩa nhân đạo ở văn chương Nguyễn Du với văn chương Victor Hugo, xác định chất nghịch dị trong văn Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, v.v… đại khái thế. Thế mà hình như nghiên cứu sinh còn chưa hiểu thật rõ thế nào là chủ nghĩa nhân đạo, chưa biết chất nghịch dị là cái gì, còn chưa đọc hết tác phẩm Nam Cao, tác phẩm Vũ Trọng Phụng, nói gì đến tác phẩm Victor Hugo…
Họ chưa biết nhiều thứ nhưng đừng xem thường họ. Họ đã là công chức, đã là thầy giáo. Trở lại làm nghiên cứu sinh là trở lại làm học trò, họ sẽ không quên các phép thuật của học trò trong thi cử mà tựu trung khá giống chuyện kinh tế, nghĩa là sao cho có lợi nhất, tốn ít sức nhất, đạt hiệu quả cao nhất. Một bài học nghiên cứu sinh thời Liên Xô còn được rỉ tai nhau làm mẫu. Anh phó tiến sĩ nọ, con quan, cũng là con nhà văn, từ Việt Nam sang Nga thêm một lần làm nghiên cứu sinh bậc đốc-tờ, nay ở Việt Nam gọi là “tiến sĩ khoa học”, để phân biệt với những tiến sĩ vốn là phó tiến sĩ (“tiến sĩ” không “khoa học”). Anh ta cân nhắc rồi thực hiện bản luận án khoa học có tên (dịch): “Chủ nghĩa quốc tế của nền văn học Xô viết”; phụ đề là: “Ðề tài Việt Nam trong sáng tác của các nhà văn Liên Xô”. Nghĩa là, trên thực tế, anh ta chỉ làm cái việc dễ làm là tập hợp một mớ thơ văn thù ứng cảm khái hữu hảo khi một số vị nhà văn xứ lạnh kia đến làm khách mời ở xứ nhiệt đới này. Cái mớ tác phẩm mà chắc các tác giả của chúng cũng chỉ coi như thoảng qua, không thuộc phần chính yếu của văn nghiệp mình. Làm cái công việc cỏn con ấy nhưng lại dành được cái học vị cao nhất mà trường đại học có thể cấp cho, thế thì rẻ quá, lãi quá còn gì!
Mấy nghiên cứu sinh là học trò mấy bà thầy tiến sĩ, do thầy chọn cho các đề tài quá sức mình, đã vận dụng bài học “hiệu suất tối đa” của tiền bối kia bằng cách khéo léo sao cho trăm dâu đổ một đầu… thầy; thầy nghĩ ra đề thì thầy đi mà viết!
Người ta biết, có những sinh viên, nghiên cứu sinh được thầy cho làm luận án mà đề tài là cành nhánh  công trình của thầy; luận án của trò được viết xong thì tức là một vài chương lớn trong công trình của thầy cũng mặc nhiên hoàn thành; khi thầy hả hê công bố công trình của thầy thì trò xem đó bỗng thấy mình trải nghiệm cái cảm xúc của kẻ có tài sản bị tước  đoạt; nhưng thật khó mà chứng minh được cho thiên hạ tin  rằng vị giáo sư khả kính lại “đạo văn” của những môn đồ chỉ vừa đỗ thạc sĩ, tiến sĩ! Chuyện các trò có thể viết hộ thầy là chuyện may mắn của ai kia, chứ mấy bà thầy ta đang nói tới này không có diễm phúc có được những học trò giỏi giang. Đã không giỏi giang lại còn lười; chỉ được cái thói tinh quái, “đọc” được sự tính toán của thầy đằng sau việc đào tạo mình, cho nên cứ ỳ ra khiến thầy sốt ruột. Nó không chịu viết, nó không viết được, không khéo rồi chính mình phải viết!
Mà các bà thầy phải viết thật. Cầm tay chỉ việc mãi trò vẫn không viết được, mấy bà thầy bảo nhỏ với nhau: Thà mình viết thẳng ra còn hơn! Cố nhiên chẳng ai quên cái luận văn vẫn mang tên học trò. Mà công sức và sự hy sinh cho các học trò của các bà thầy nào chỉ có thế thôi đâu! Còn bao nhiêu việc trước mắt từ nay đến lúc bảo vệ thử, bảo vệ thật, nào nghe ngóng việc lập hội đồng, nào phản biện kín phản biện hở, nào thăm dò khả năng bỏ phiếu chung cuộc! Cho đến lúc đám bạn bè của các trò có thể tặng hoa, mở sâm-banh, còn nhiều việc lắm. Việc của trò, của nghiên cứu sinh cả. Nhưng các bà thầy biết, mình phải lo gần như tất tần tật. Hao công lắm, đôi khi còn phải bù chì chút ít từ tiền túi của mình nữa. Làm chuyện lớn thế kia mà! Biến một số cô cậu vào loại không biết gì thành tiến sĩ là chuyện lớn hẳn đi chứ, dễ mấy ai làm được? Trò đỗ tiến sĩ, thầy sẽ có đủ điểm cho kỳ xét duyệt chức danh tới đây, nghĩa là trò mặc nhiên giúp thầy trở thành phó giáo sư!
Ðang ngồi viết giúp luận văn cho cô cậu nghiên cứu sinh học trò mình mà những ý nghĩ phấn chấn cứ náo nức trong đầu mấy bà thầy phó giáo sư tương lai. Tay các bà múa lên trong vũ điệu…
Vũ điệu của cái bô!
Thật thế. Hành động của mấy bà nào có khác gì vai trò gia sư kiêm bảo mẫu mà anh kỹ sư thất nghiệp trong câu chuyện nói ở đầu bài này bất đắc dĩ phải làm? Anh ta thì bất đắc dĩ, các bà lại xăng xái.
Vì mưu cầu cái chức danh phó giáo sư, biết bao bà biết bao ông đang lao vào phục dịch trong các vườn trẻ ươm mầm thạc sĩ, tiến sĩ đang mọc ra ở không ít nơi trên khắp đất nước này?
Tôi chẳng biết có bao nhiêu tiến sĩ hàng năm được ấp nở ra theo kiểu trên đây. Dẫu số lượng tiến sĩ có nhờ thế mà trở nên đông đảo, dẫu số lượng phó giáo sư có nhờ thế mà nhanh chóng nhiều lên, tôi vẫn không tin rằng chuyện này có giúp gì cho sự tăng trưởng của đội ngũ chuyên gia giỏi, cho sự tăng trưởng của khoa học.
                                                                                                                                               4.10.2003
                                                                                                               Tiền phong chủ nhật số 42 (19-10-2003)
Văn nghệ số 43 (25-10-2003)

([1]) Truyện ngắn Vũ điệu của cái bô  của nhà văn Nguyễn Quang Thân đăng tuần báo Văn nghệ  (Hội nhà văn VN) số 43, ngày 26/10/1991.
© 2009 Lại Nguyên Ân
Bản in:
MÊNH MÔNG CHẬT CHỘI …
Tiểu luận-phê bình văn học của LẠI NGUYÊN ÂN
NHÀ XUẤT BẢN TRI THỨC
53 Nguyễn Du, Hà Nội
Tel: (84-4) 3945 4661 ٠ Fax: (84-4) 3945 4660
Email: lienhe@nxbtrithuc.com.vn
Website: nxbtrithuc.com.vn
Chịu trách nhiệm xuất bản: Chu Hảo
Biên tập: Nghiêm Thị Thanh; Nguyễn Anh Quân
Bìa: Phạm Xuân Thắng
Trình bày: Lều Thu Thủy
In 1.000 bản, khổ 14×20,5 cm tại Xưởng in Tạp chí Tin học và đời sống, số 1 Phùng Chí Kiên, Cầu Giấy, Hà Nội. Quyết định xuất bản số: 06 QĐ-NXB TrT của Giám đốc NXB Tri Thức ngày 23/02/2009. In xong và nộp lưu chiểu Quý I năm 2009.
Nguồn: Bản đăng trên http://phebinhvanhoc.com.vn/ đã được sự đồng ý của tác giả

Thứ Tư, 8 tháng 3, 2017

NGÀY NÀY NĂM 1979 IN LANGSON CITY

                                          Đồng đội: Nguyễn Mạnh Hùng

Viết cho B và đồng đội, cùng bạn FB

Nhà báo Nhật Takano bị trúng đạn của Tào bắn bừa hôm qua 7/3.
Bọn mình lên thu dây thông tin, thoải mái, cứ dây của tỉnh đội LS lấy cho đầy khung.

Báo chí Tây đã lên, một cặp anh chị nhà báo hỏi B, mới ở Cam ra, sao da xanh như sốt rét, B gầy gò nhất trong bọn, chém zó gật đầu, khoắng tay.

Tiểu đội trưởng Tiếm (Quảng Ninh) can trường, anh trả phép đúng ngày 22/2 đến LS đang chiến dữ dội; đại trưởng Quế C3 trên đường về phép thì quay lại.

Anh Tiếm chỉ huy nhóm thu dây đi khắp Langson city.
Chiến tranh, tự dưng là chú lùn hay Bạch Tuyết với ngôi nhà hoang vắng đến rờn rợn, sau này còn nhiều lần vào nhà vắng chủ trên nẻo đường biên giới.

Anh Tiếm bảo, muốn vào nhà thì nép bên, báng súng đập cửa nếu tào cài lựu đạn thì chạy lăn xuống. Nhưng không có lựu đạn.
Vào 1 nhà dân phố có vẻ khang trang.

Mò gác măng rê còn mỡ, bột mỳ, trên bàn còn phin cà phê cạn, cốc cặn như thể rất gần, mà gần lắm chưa đến 10 ngày qua.

Rán mỳ đẫy mỡ chén, lục tủ thấy đầy quần áo và xèng lẻ, dường như dân cố ý vứt, chứ xèng cục và Gold không thấy đâu.

Sau này B quay lại thăm chủ nhà và xin lỗi, ông chủ bảo đúng rồi.
Cấp tổ trưởng dân phố về trước, họ bảo chúng tôi định chơi kiểu Hà Nội mùa Đông 1947, đục tường các nhà, cản đường, đánh nhau với Tào, nhưng lệnh trên gấp phải đi ngay, ta nói rõ pháo sẽ bắn nát Lạng sơn khi Tào vào, nhưng ngày 5/3 Tào lượn hết thành phố, chuồn về bên Kỳ lừa, rồi rút chậm.

Nhân dân Lạng Sơn dũng cảm.
***
Lại bắn lợn, thằng L bắn thế nào mà con lơn 30 ký xổ ruột chạy mãi đến mắc cây mới nằm, thấy man rợ.

Đến bệnh viện tìm thuốc bổ, sau bán lấy tiền uống riệu hút thuốc.
Hoang tàn và nghèo nàn quá mà thàng Tào dã man, lính công binh Tào ốp bộc phá đánh hai đầu và chính giữa các ngôi nhà to đẹp và nhà máy tinh dầu hồi của Pháp làm.

Cuộc chiến như cơn lốc tàn phá. Nỗi kinh hoàng còn lại, dần nhạt phai trong các nhân chứng.
***
Thằng Ch (phố Bạch Mai) được cử đi làm công tác thương binh liệt sỹ. Nó cố gắng cao. Lính Tào chết chúng đốt vùi và mang đi, trôi sông thì bỏ. Ch. hoàn thành nhiện vụ, được trên cho về phép. Nó mặc thường phục, giấu ba lô, nhưng mẹ nó ở chợ Đồng Xuân về bảo lấy ba lô và đồ lính hóa vàng. Mẹ nó mua quần áo ở Ga Hàng cỏ cho nó dùng. Tử khí ám ảnh quá.
***
Năm 1980 được về phép, miềng tìm đến nhà Th bạn học quê ở LS, cùng chú lính bị thương nhẹ đã lành, xin tá túc qua đêm, được nhường chăn ấm, giường đôi, cơm lạc và rau thịt,...bạn tốt, chú lính đi cùng xúc động. Mình cảm ơn, đi 4 năm sau về trường chẳng gặp lại bạn nữa. Th đã về LS, nhà phố Cửa Đông, nghe nói làm sếp banking, nay nghỉ hưu rồi.
Chắc bạn nhớ kỷ niệm, đâu ngờ chiều biên giới cuối năm có hai người lính đến nhà.

Thứ Bảy, 4 tháng 3, 2017

7 NGUYÊN TẮC SỐNG CỦA ĐẠI BÀNG CON NGƯỜI CẦN PHẢI HỌC

Tôi vốn là một người ngang tàng, thích làm ngược với những gì người ta khuyên bảo hoặc người ta hay làm. Tôi không biết tại sao mình lại thích loài chim Đại Bàng cho đến khi đọc được bài viết 7 nguyên tắc sống của Đại Bàng thì tôi đã hiểu, và càng thêm yêu quý loài chim này.

7 nguyên tắc sống của Đại Bàng


Nguyên tắc 1:
Đại Bàng chỉ bay với những con Đại Bàng khác hoặc bay một mình và chúng lại chọn bay ở một độ cao rất lớn, không bay chung với chim sẻ, kền kền, quạ,… không chen lẫn vào “đường bay” của các loài chim hay gia cầm khác như ngỗng, vịt trời,… tuyệt đối tránh bay chung với các loài chim nhỏ hơn.
Việc Đại Bàng chọn con đường riêng, né tránh các loài chim sẻ, quạ trên đường bay dạy cho chúng ta rằng không cần phải giống với mọi người, chúng ta có thể trở nên khác biệt. Đồng thời cần học cách tránh xa những đối tượng luôn cản trở, níu kéo hay làm ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống của mình.
Nguyên tắc 2:
Vừa bay ở một độ cao lớn, Đại Bàng đồng thời lại có tầm nhìn rất xa, đôi mắt của nó có khả năng tập trung vào con mồi ở khoảng cách 5 km. Một khi phát hiện ra con mồi từ xa, thậm chí chỉ là loài động vật gặm nhấm, nó sẽ chú tâm và dành sự tập trung tuyệt đối của mình vào con mồi, từ đó thiết lập ra cách tiếp cận nhằm bắt bằng được con mồi đó. Không có vấn đề gì có thể cản trở hay làm Đại Bàng thay đổi mục tiêu cho đến khi nó bắt được con mồi.

Nếu bạn có sự kiên định, có sự tập trung cao độ và một tầm nhìn rộng thì sẽ không có vấn đề gì trong cuộc sống có thể gây trở ngại trên con đường dẫn bạn đến thành công.
Nguyên tắc 3:
Khác với Kền Kền – là loài thường ăn động vật chết, thối rữa. Đại Bàng không bao giờ ăn những thứ đã chết mà nó chỉ thích săn mồi và ăn khi con mồi còn tươi mới.

Hãy cẩn thận với những gì bạn mắt thấy và tai nghe, phải nhớ rằng những gì chúng ta đã có rồi sẽ bị cũ đi và lỗi thời, vì vậy, cần phải làm mới bản thân mình bằng cách học hỏi, thay đổi và tiến bộ hàng ngày.
Nguyên tắc 4:
Đại Bàng thích các cơn bão – nó được xem là loài chim duy nhất yêu thích các cơn bão, bởi khi những đám mây xám xịt kéo đến cùng mưa gió thì đó là lúc Đại Bàng trở nên vui mừng. Gió và bão cho phép nó có một cơ hội để lướt cao hơn từ đôi cánh của chính mình, vượt lên trên cả những đám mây. Trong khi đó, các loài chim khác lại tìm cách ẩn trú trong các vách đá, cành và những hốc cây.

Cuộc sống sẽ có những cơn bão tố, liệu chúng ta có biết tận dụng để chuyển hóa và nâng bản thân lên tầm cao mới? Biến những cơn bão của cuộc sống thành điều thuận lợi và thưởng thức thành quả gặt hái được qua những thách thức.
Nguyên tắc 5:
Đại Bàng là một loài vật đặc biệt bởi nó luôn có cách thức để kiểm tra trước khi đặt niềm tin vào con khác. Cụ thể: Trước khi Đại Bàng cái cho phép con đực được giao phối, nó sẽ cắp một cành cây khô để bay vào không trung trong khi con đực đuổi theo nó. Nếu đạt đến độ cao mong muốn thì nó sẽ thả nhành cây xuống cho rơi tự do, con đực phải thả mình rơi nhanh hơn cành cây để bắt lại trước khi cành cây kịp rơi xuống đất và mang nhành cây đó đưa lại cho con cái. Tiếp tục, con Đại Bàng cái sẽ cắp cành cây để bay lên cao hơn nữa và lại thả cành cây để cho con đực đuổi theo. Điều này sẽ diễn ra và kéo dài hàng giờ đồng hồ với độ cao ngày càng tăng cho đến khi con cái cảm thấy bị con đực chinh phục thì mới cho phép con đực được giao phối với nó.

Trong đời sống cá nhân hay trong mối quan hệ kinh doanh, việc đặt niềm tin đúng chỗ cũng như sự cam kết của đối tác giúp cho chúng ta có một cuộc sống hạnh phúc, công việc thành công.
Nguyên tắc 6:
Để chuẩn bị cho việc đẻ trứng, Đại Bàng đực và con cái tìm đến làm tổ ở một vị trí rất cao, thường nằm trên các vách đá, nơi không có bất kỳ động vật săn mồi nào có thể tấn công và làm hại chiếc tổ được. Cả hai sẽ phân chia nhiệm vụ trong việc nuôi nấng, bảo vệ đàn con, con cái có nhiệm vụ đẻ trứng và bảo vệ chúng còn con đực xây dựng tổ và đi kiếm mồi. Con đực sẽ đi tìm cành cây khô, chắc chắn để đặt trên các khe hở của vách đá, và thu nhặt những loại cành nhỏ hơn để xếp vào tổ. Trước khi lót tổ bằng một lớp lá cây, nó còn chọn những cành khô và có gai đặt ở bên dưới, kế đến là một lớp cỏ mềm và sau đó rũ bỏ trên mình để tạo thành một lớp lót mềm mại nữa trước khi hoàn thành cái tổ. Để dạy cho con tập bay, Đại Bàng mẹ sẽ ném chúng ra khỏi tổ, các con non thì hoảng sợ nên ngay lập tức nhảy lại vào tổ. Đại Bàng mẹ liền trút bỏ những lớp lót mềm mại trong tổ, giữ lại các gai trần rồi tiếp tục ném những con non ra ngoài. Khi các Đại Bàng con nhảy lại vào tổ thì chúng bị gai nhọn đâm chích và chảy máu, bắt buộc nó phải nhảy ra khỏi tổ lần nữa. Hoàn thành bài học đó, Đại Bàng mẹ sẽ đẩy các con ra khỏi vách đá vào không trung, khi chúng kêu gào lên trong sợ hãi thì Đại Bàng cha sẽ bay ra để bắt chúng trở lại trước khi rơi xuống đất. Bài học này sẽ được thực hành liên tục cho đến khi Đại Bàng con tiếp thu kiến thức và bắt đầu vỗ cánh tập bay.

Cuộc sống trong gia đình của chúng ta tưởng như thiên đường, êm ái và thoải mái nhưng có thể ẩn chứa đâu đó là gai nhọn. Gai của cuộc sống dạy chúng ta rằng cần phải khỏi tổ ấm, học hỏi, phát triển và tạo dựng một đời sống độc lập. Những người thật sự yêu thương sẽ không để cho chúng ta trở nên suy yếu, lười làm việc, họ có thể đẩy chúng ta vào con đường khó khăn nhờ đó mà phát triển và thịnh vượng. Ngay cả trong các hành động, họ dường như muốn gây khó khăn nhưng thực ra lại là những ý định tốt mà họ dành cho chúng ta.
Nguyên tắc 7:
Đại Bàng cũng rất biết cách để chuẩn bị cho tuổi già… Khi chúng trở nên già nua không còn nhanh nhẹn như trước, bộ lông của chúng trở nên yếu và nó có cảm giác sắp chết thì Đại Bàng sẽ tìm đến một một nơi sâu trong hang đá. Tại đây, nó sẽ tự nhổ hết tất cả lông trên cơ thể của mình cho đến khi bộ lông rụng sạch hoàn toàn. Nó ở lại trong hang để ẩn náu cho đến khi cơ thể phát triển mới lông, sau đó nó mới ra khỏi hang và trở lại cuộc sống.

Điều này nhắc nhở rằng, thi thoảng chúng ta cần phải gạt bỏ những thói quen cũ, những thứ không cần thiết, các cám dỗ gây cho chúng ta gánh nặng… để làm lại, khiến cho mọi thứ trong cuộc sống trở nên thuận lợi, tốt đẹp hơn.
 (sưu tầm)

Thứ Sáu, 3 tháng 3, 2017

Phong thủy sơn hà– Bát quái trận đồ.

Người lập trận mà không khéo, sẽ bị kẻ khác cao tay hơn phá trận thì tiêu tan sự nghiệp. Nếu không thì mình cũng tự chết trong cái trận thế của mình lập ra luôn.

Năm 1010 Lý Thái Tổ đời đô về Thăng Long, với mong muốn Đại Việt mai sau sẽ như rồng bay lên. Vì đó là long mạch. Chân mạng đế vương. Cây lá tốt tươi bốn mùa. Đất voi phục hổ ngồi. Là kinh đô trái tim của Đại Việt.
Người thầy của Lý Thái Tổ là thiền sư Vạn Hạnh đã đặt bày ra việc này. Vì ngài đã nhìn thấy Đại Việt sẽ là Thăng Long. Là đất nước sẽ có rồng bay lên sau này. Vì thế người tu đạo có tuệ giác phi thường, họ có cái nhìn sắc xảo về thời cuộc, nhưng cũng sâu sắc về quá khứ vị lai. Chính ngài đã nuôi lớn và dạy dổ Lý Công Uẫn để mai sau trở thành Hoàng Đế Đại Việt là Lý Thái Tổ. Đó là một trong những vị vua anh minh có công lớn cho đất nước Việt Nam chúng ta….
Sau này chính quyền Ngô Đình Diệm được thành lập ở Miền Nam vào năm 1955. Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ được mời xây dựng dinh độc lập tại Sài Gòn. Rồi viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, thư viện quốc gia, chợ Bến Thành. Và đặc biệt là sự xây dựng có tính mê tín trấn ếm bùa chú, là công viên Hồ Con Rùa, và trại giam Chí Hòa giữa lòng đô thành Sài Gòn. Ông này là một nhà tư tưởng nhưng làm nghề kiến trúc. Là một kiến trúc sư, công trình sư giỏi hiếm hoi của Việt Nam. Những công trình của ông đều mang đậm dấu ấn tư tưởng “đông tây giáo hòa” rất nổi tiếng ở Việt Nam trong thế kỷ 20.
Khi ông xây dựng Dinh Độc Lập gần xong, thì có người nói với tổng thống rằng, phải mở một đường băng lớn trước mặt Dinh Độc Lập, để khi có biến thì tổng thống sẽ lên máy bay mà bay luôn. Vậy là tổng thống đồng ý, và bản thiết kế chính đã bị sửa. Và sau đó thì người ta mở rộng con đường phía trước dinh ra như một đường băng ngắn từ sở thú đâm thẳng tới trước cổng Dinh Độc Lập luôn. Con đường đó ngày nay là đường Lê Duẫn. Không biết cái này có phải mưu kế này của Cộng Sản hay không? Nhưng các đời tổng thống ở trong cái dinh này đều nguy khốn hết. Không chết cũng bị thương, hay lên đường lưu vong mất xứ. Ha ha!
Còn nói về công trình kiến trúc Hồ Con Rùa, thì xem như là cây kiếm cắm xuống, để giữ đất Sài Gòn cho vững chắc. Không biết có hiệu nghiệm hay không, mà đến nay người ta vẫn giữ nguyên hiện trạng này. Nhưng về cái nhà tù Chí Hòa thì thật là một công trình thâm độc quá. Đó là vì ông kiến trúc sư tài năng này thiết kế nó giống như bát quái trận đồ, âm dương ngũ hành theo tư tưởng âm binh Trung Quốc. Nó có cửa sanh và cửa tử. Cố bắt cố giết người tù không lối thoát. Người nào bị nhốt vào đây là khỏi ra luôn. Nó như địa ngục trong lòng người, bởi vì nó chính là địa ngục trong lòng thành phố Sài Gòn mà.
Như chúng ta vẫn biết. Tâm trí con người là cỏi đấu tranh, cỏi thấp luôn tạo nghiệp. Vì thế có người tính toán làm ăn thành đạt, nhưng cũng có người tán gia bại sản tiêu tùng tình tiền tù tử. Tư duy bát quái trận đồ là tư duy đấu tranh bày trận hại người. Là đấu tranh ở cỏi quỷ thần bậc thấp, nay thắng nay bại không có chính khí. Như Khổng Minh Gia Cát Lượng tính toán như thần, mà cũng không qua ý trời đến nổi phải thổ huyết mà chết. Nếu xét theo Phật pháp thì không có người ác để trừng trị thắng hay thua. Vì mấy cái thắng thua thiện ác đều không thật, nên Phật không bao giờ xem con người là tội phạm, để đuổi cùng giết tận người ta. Kẻ đuổi cùng giết tận thì cuối cùng cũng tan xác mà chết thảm thương thôi.Tội phạm hay không là bởi chính người đó tạo nghiệp và trả nghiệp mà thôi. Nhà tù là một hình thức địa ngục hữu hình thế gian. Nhưng trong lòng người nếu đầy căm thù uất hận, lúc nào cũng tính toán hại nhau, thì cũng chính là địa ngục rồi. Người bày trận hại người không thành vì người ta có đạo lớn che chở, còn mình thì bị nhốt trong chính cái địa ngục của mình bày ra luôn. Bọn thầy pháp là tà đạo, nó dùng âm binh bùa ngãi cỏi quỷ thần đấu tranh. Sai khiến quỷ thần hảm hại người khác để trục lợi vật chất về mình. Nó giống như mấy tay maphia ngoài đời, sai giang hồ đâm thuê chém mướn vậy mà.
Đấu tranh là tránh ở đâu?
Do đó theo Phật pháp con người đã tạo nghiệp thì phải trả. Luật nhân quả không thể chạy thoát được đâu. Không trả sớm thì trả muộn. Không trả lai rai thì trả nhiều một cục to đùng. Nó giống như chúng ta vay nợ ngân hàng vậy. Trước sau gì cũng phải trả, không thì bị xiết nợ mất cả nhà cửa luôn. Tuy nhiên trong cỏi quỷ thần người Trung Quốc biết cách tính toán luồn lách được. Như việc xem sao cầu sao để tránh xui xẻo một phần nào. Nhưng về già người đó cũng phải trả. Vì thế chúng ta thấy những người cả đời tính toán luồn lách hay ho lắm, giàu sang tiếng tăm nạt nộ người đời dữ lắm. Nhưng khi về già đùng một cái bị bỏ rơi hiu quạnh cô độc, rồi bệnh tật ập tới đau đớn hạnh hạ cả thể xác lẫn tâm hồn…Và cuối cùng phải chết trong đau đớn khủng khiếp để trả quả báo dồn lại một cục đó…
Do đó nếu xã hội ngày càng văn minh, thì phải hướng tinh thần nhân dân theo khoa học phương tây. Có nghĩa là dẹp hết thầy bùa thầy pháp, cúng kiến quỷ thần đi. Các chùa có thờ quỷ thần, nếu dẹp được thì dẹp hết, chỉ để thờ Phật thôi. Còn không dẹp được thì xây một cái nhà ngang sau chánh điện để thờ quỷ thần. Bởi vì từ chỗ này con người mê tín dị đoan bậy bạ. Chúng ta tin có cỏi quỷ thần, và chúng ta cũng biết nó là tà đạo, là hại nhiều hơn lợi. Nên chúng ta dẹp đi chứ không phải bãi bỏ tín ngưỡng thờ cúng của nhân dân.
Hãy nhớ! Tư duy lý trí phương tây tận cùng đưa đến cực đoan, là tà kiến tà đạo. Nhưng tư duy bùa phép mù mịt cầu xin của người phương đông, là cuồng tín tà giáo, thì còn là tội ác lớn hơn. Nhà nhước phải canh chừng hai hiện tường này có thể xảy ra trong xã hội của chúng ta. Và nhà nước phải biết nó bắt nguồn từ đâu thì dẹp ngay cái chổ đó là xong.
Cái gì dẫn tới bi kịch là phải ngăn chặn nó lại ngay….
Hiện giờ nhà nước Trung Quốc, đang bày trận địa bát quái ngũ hành mờ mịt trời đất, làm bọn phương tây chẳng biết đầu mà rờ. Ha ha! Và đó cũng là định hướng tầm nhìn chiến lược quốc gia của chủ tịch Mao để lại, nên bây giờ không một ai có thể sửa chữa được hết. Họ làm vậy hòng để thâu tóm tất cả Châu Á, trong đó có cả Việt Nam. Vì thế Việt Nam tàn thì cũng không tàn, và tiến lên cũng không nổi, là do sự trấn áp của họ mà thôi…
Nên nhớ! Trận địa bát quái ngũ hành âm dương, là tư duy tính toán của quỷ thần tà đạo. Bây giờ Việt Nam có người đã giải được trận pháp ác đạo này rồi. Nên người Trung Quốc bày trận ra thì chỉ để nhốt mình thôi. Ha ha! Đáng cái đời tham lam tàn ác quá nha!.Ha ha ha! Vui hen?
Vì như chúng ta đã biết, người Hán ở Trung Quốc đã mấy lần chết trong cái trận đồ bát quái của mình rồi. Đó là khi nguyên khí quốc gia cạn kiệt, nên bị bọn mọi rợ Mông Cổ và rợ Mãn Thanh xâm lược, cai trị thật nhục nhã dã man khủng khiếp. Bọn Mông Cổ khi chiếm Trung Quốc xong, nó còn tính giết sạch người Hán để có chỗ nuôi súc vật. Nhưng trời đất có đức hiếu sinh nên người Hán lúc đó thoát nạn. Vậy mà bây giờ giới lãnh đạo ở Trung Quốc vẫn không biết mình đang nằm ở đâu trong cái lò bát quái mới chết chớ?
Ngày xưa, tôi có đi làm công ty của người Hoa gần mười năm. Và từ đó lòng tôi mới có một sự kính trọng yêu quý người Hoa thiết tha vô cùng. Âu đó cũng là nhân duyên. Vì thế bây giờ tôi không nở nhìn thấy hơn một tỷ mấy người Hoa thân yêu, đi vào cửa tử của cái bát quái trận đồ địa ngục kia được. Mà Trung Quốc thất bại thì Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều, thì cũng coi như là thất bại luôn. Bây giờ biết tính sao trời? Rất tiếc là tâm tính người Hoa khi gặp thời phát triển mà không cứu Việt Nam, mà còn nhân đó ức hiếp Việt Nam mãi. Nếu bây giờ Trung Quốc qua được kiếp nạn bát quái trận đồ này, thì phúc lớn cho thiên hạ lắm, nhất là Việt Nam ta đó.
Nghĩ phải trái, tình lý thương đau yêu ghét căm hờn, phúc họa giữa Việt Nam và Trung Quốc, đúng thiệt là bi kịch đau lòng quá đi. Híc híc!
Người Trung Quốc khôn ngoan tính toán quá làm chi, biết đâu bên nước Nam kia có người còn lập ra đại trận Thiên La Địa Võng trời đất mịt mù rồi, bít kín đường đi lối về rồi. Ha ha ha! Trước sau gì bạn hiền của mình cũng “tiến thoái lưỡng nan đi về lận đận” mà thôi. Ha ha! Bây giờ chỉ còn một cách là nghe lời ta đi. Ta chính là Bậc Toàn Thắng Vương đây! Ha ha! Không thì cứ để ba năm, rồi gom hết tất cả mấy trăm ngàn thầy bùa thầy pháp, bấm quẻ bấm độn, xem sao xem bói, coi vận nước sao trời tinh tú thử đi, thì thấy lời ta nói có đúng không? Ta thấy quốc mạng của người Trung Quốc kẹt cứng không có đường nào ra hết rồi. Ha ha! Nếu đi tới nữa là chết cho nhanh..Ha ha! Trời cao có mắt mà, mấy ngàn năm đè đầu cởi cổ người ta riết làm chi? Bây giờ nguyên khí thằng em nó mạnh hơn nó đè cho tắc thở luôn..Ha ha!
Hãy nhớ! Người gặp đại nạn mà không chết tất về sau sẽ là anh hùng. Nước Việt Nam ta xưa nay đau khổ khói lửa chiến tranh mãi miết không ngừng. Kể từ thời Chúa Nguyễn Hoàng vào Nam lập nghiệp, thì chính ông là người có đức lớn, tài trí hơn người nên giang sơn bờ cỏi nước Nam mới mở rộng mãi tới ngày nay. Sau này có Hồ Chí Minh là người lận đận tai nạn nhiều, nhưng xứng đáng là bậc anh hùng cứu quốc, do cái đức của người quá lớn. Còn mấy ông như ông Ngô Đình Diệm này kia là tài có to, nhưng đức không lớn. Đức lớn là phải biết nhẫn nhục chịu đựng thiệt thòi hy sinh cho người khác no ấm yên vui. Mình có thể bị thiệt hại, nhưng lòng luôn muốn bảo vệ cho người. Như thế mới gọi là đức lớn được. Còn đàng này người Trung Quốc tham tàn quá xá, thì chết cứng là phải rồi còn gì đâu mà khóc với sầu..Ha ha!
Thời Mao Trạch Đông tranh chấp với Tưởng Giới Thạch. Rõ ràng là ông Mao được lòng người hơn, có tâm thế bình tỉnh vững vàng hơn. Còn ông Tưởng thì tư thế bên ngoài mạnh mẽ hơn ông Mao. Hãy nhớ! Tâm thế và tư thế nó giống như nước với lửa. Như trí mưu và sự bình tỉnh sáng suốt, như tài với đức vậy. Thuở ban đầu đất nước còn hàn vi khốn khó, ông Mao rất yêu quý đồng bào chiến sỹ. Ông đã từng chống gậy đi bộ vượt Trường Giang với mọi người, chứ không đi xe hay cho người khiêng. Đêm lạnh ông đem áo đắp cho chiến sĩ đồng bào. Tin đó truyền đi cả nước hân hoang vui mừng. Trái lại ông Tưởng thì ỷ vào quân đông sức mạnh, mưu kế công thành, thuật dùng binh biến hóa hơn người. Nên suốt ngày kéo quân vây đánh quân Cộng Sản mãi, rồi giết hại dân lành không biết bao nhiêu mà kể. Khi quân Nhật tấn công thì không chịu hòa với Cộng Sản, để cứu nước đến nổi bị thuộc hạ bắt trói. Người hung hăng thiếu sáng suốt như thế sao không thua ông Mao, là người điềm tỉnh sâu sắc chắc chắn và mưu lược. Nhất là ông đề ra những chiến lược chịu đựng gian khổ, để chiến thắng quân Tưởng rất là thông minh.
Vậy mà sau này lên nắm quyền sinh sát cả nước. Ông Mao đã áp dụng những mưu kế của bọn tiểu nhân để sát hại đổi thủ chính trị, của mình một cách quá tàn ác. Từ đó đức lớn của ông mất dần. Kế đó ông Đặng Tiểu Bình cũng vậy. Vì Việt nam cứng cỏi khó dạy khó sửa, nên ông Đặng đã phạm nhiều sai lầm trong cách ứng xử độc ác thâm hiểm với Việt Nam. Từ đó về sau đức lớn của nước Trung Hoa vĩ đại mất dần. Và từ đó tầm nhìn chiến lược phát triển của họ vô tình đã đi ngược với tinh thần thời đại. Điều này càng dài lâu, thì lại càng dấn sâu vào khó khăn mịt mù không thể xoay sở được nữa...
Cho nên ngày nay chúng ta đã biết. Dù Trung Quốc chưa bao giờ có lòng tốt với Việt Nam cả. Nhưng dù sao nếu nhìn toàn cục mà nói: Thì Trung Quốc và Việt Nam có gắn liền sinh mệnh với nhau. Điều này người Trung Quốc nên hiểu nhiều hơn người Việt Nam, thì mới tháo gở được vấn đề của mình, cũng như của Việt Nam luôn. Vì Việt Nam lúc nào cũng khó khăn muôn trùng khi một mình bơ vơ giữa biển lớn, mà sau lưng thì có Trung Quốc luôn chèn ép bóp nghẹt không ngừng. Vậy mà Việt Nam vẫn tồn tại vươn lên phát triển được. Và Việt Nam làm được như thế là nhờ đức lớn của Hồ Chí Minh để lại. Thứ hai là các nhà lãnh đạo của Việt nam thật bản lĩnh sáng suốt, đã biết cách lèo lái con thuyền đất nước đi đúng hướng, trong mọi tình huống bằng các phương pháp đối nội và đối ngoại khôn ngoan phù hợp nhất.
Đức lớn là không có chết đâu.
Bây giờ nhìn lại từ thời nhà Lý đến giờ, thì Việt Nam có mấy người gọi là đức lớn như sau. Đó là Lý Thái Tổ, Trần Thái Tông, Lê Lợi. Nguyễn Hoàng, Hồ Chí Minh. Mỗi con người đó đều “lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo” hết. Thắng không đuổi cùng giết tận, thua không nản chí mà lập chiến khu chiến đấu chờ thời cơ. Lịch sử Việt Nam thì vậy. Còn lịch sử Trung Quốc cũng như thế thôi, và điều này thì người Trung Quốc chắc cũng tự biết rồi.
Hãy nhớ! Mỗi người lãnh tụ có đức lớn như vậy, thì sẽ làm cho quốc gia thịnh trị nhiều nhất khoảng bốn trăm năm. Vậy người vô đạo như Tần Thủy Hoàng chỉ có một đời mấy chục năm, cho dù đã hoàn thành đại nghiệp thống nhất thiên hạ rồi đó. Còn Lưu Bang và Mao Trạch Đông ai có đức lớn hơn. Và bờ cỏi giang sơn giữ được bao lâu thì người Trung Quốc họ cứ tự tính ra là biết liền chứ gì.
Còn Bác Hồ có đức lớn, có công cứu nước Việt Nam ta trong tù đày nô lệ là công lao và sự hy sinh của người lớn lắm. Cái sự đau khổ hy sinh của người đến tận ngày nay là vô cùng tận, mà không ai biết hết được đâu, chỉ vì cái nhận thức của Cộng Sản khác với Phật Giáo mà thôi. Thôi việc này không nên nói. Nhưng ta chỉ giận đời con cháu Bác Hồ sao vô lương tâm đến thế? Suốt ngày ăn chơi tham nhũng không biết sợ không biết chán. Tuy nhiên đảng ta cũng sáng suốt, khi luôn biết lựa chọn người đứng đầu nhà nước là người có đức lớn, nên đảng mới vững mạnh được.
Ngày nay nhà nước Trung Quốc nên đặt ra một cái chức gì đó, để tôn thờ cái đức lớn chính nghĩa của mình thì mới mong yên ổn được. Cái chức đó chỉ là biểu tượng thôi, và không có quyền lực gì ráo hết, nhưng nó phải lớn nhất nước. Người được giữ chức đó không phải bầu, mà do nhà nước chỉ định không kỳ hạn, không có nhiệm kỳ gì hết. Vì cả nước xét coi ai là người có đức lớn nhất nước như một thiền sư, một học giả, hay nhà giáo dục gì đó. Người đó y như là vua vậy, và phải được lòng người để cân bằng các thế lực trong nước, cũng như cảnh báo các thái độ cực đoan hiếu chiến có thể xảy ra…Và nếu bây giờ Trung Quốc chịu làm như vậy, thì từ từ tai nạn sẽ giảm dần rồi sẽ dễ thở hơn…Tuy nhiên còn nhiều thứ nữa…
Hãy nhớ! Từ một gia đình, cho đến quốc gia và cả thế giới. Thì mỗi thời kỳ lịch sử nó sẽ ứng hợp khác nhau. Đế chế Anh đã từng mạnh nhất thế giới hơn cả trăm năm. “Mặt trời không bao giờ lặn trên nước Anh” đó là câu thành ngữ đầy tự hào của người Anh. Lúc đó nước Mỹ bây giờ cũng chỉ là thuộc địa của Anh thôi. Nhưng đến khi nước Anh biết co lại và vẫn giữ vững tâm thế của mình, thì an ổn ngon lành như thường. Nên nhớ, nước Anh có đức lớn, nên bao lần mấy thằng giặc như Napoleon hay Hitler muốn tấn công cũng không thành. Và lịch sử nước Anh là một nước quang vinh lỗi lạc nhất. Vì họ là giống người cao quý văn minh nhất. Bây giờ đất nước họ tuy nhỏ, như tinh thần nguyên khí quốc gia rất mạnh. Nên tôi nghĩ nước Anh nếu đem so sánh hết tất cả các nước trên thế giới này, từ cổ chí kim thì không có nước nào hơn được cả.
Còn thời đại này là nước Mỹ lãnh đạo thế giới bằng chính khí chính nghĩa. Sở dĩ nước Mỹ được như ngày nay là do nước Anh “lót đường” và nhường chỗ cho. Vì chỉ còn hai trăm năm nữa là loài người bước chân đến thiên đàng rồi. Và đó cũng chính là thời đại huy hoàng nhất của loài người. Nước Anh ngày xưa làm chủ thế giới bằng cái bạo tàn. Nhưng khi họ vào Ần Độ vấp phải những cuộc đấu tranh bất bạo động ở đây. Cũng như ở Philipin vv. Ở đâu họ cũng thấy người dân bản xứ mọi rợ, đều có khả năng dạy cho họ về những bài học làm người lớn lao nhất. Từ đó trái tim họ thức tỉnh để rút lui trước khi bị đánh bại hoàn toàn.
Một con người hay một quốc gia, mà biết tiến thoái đúng thời thế thì yên ổn thành đạt. Ngược lại nếu không biết thì sẽ tiêu vong. Cái đó chính là các chính sách đối nội, đối ngoại phải trợ sức cho nhau thành công, chứ không phải chồng chéo rối loạn ngược chiều nhau làm hại nhau.
Nước Mỹ làm chủ thế giới từ đây đến hai trăm năm nữa, thì sẽ mất về tay Trung Quốc. Và vì sao như thế. Vì lúc đó con người chúng ta đã suy nghĩ khác hẳn bây giờ rồi. Nữ Thần Tự Do của nước Mỹ đã chiến thắng tất cả, đã soi sáng tất cả. Nhưng khi đó là sự soi sáng dùm cho Trung Quốc lên ngôi. Trung Quốc lên ngôi thì Việt Nam cũng huy hoàng sáng láng đẹp trai con bà hai luôn. Ha ha! Vì lúc đó tại đại lục đã là thiên đường dân chủ tự do, kết tinh với tinh thần từ bi yêu thương của đạo lớn phương đông. Còn cái gọi là Cộng Sản gì đó thì đã là quá khứ rồi..Ha ha! Sự thật là như thế ai mất lòng ráng chịu nhe! He he!
Tuy nhiên người Trung Quốc mà giác ngộ Phật pháp được, là thoát ra cái trận đồ bát quái này, thì họ mới tiến lên được tới chỗ đó, nếu không thì đi thụt lùi rồi húc đầu vô tường luôn. Cho nên bây giờ tôi phải nghĩ cách không cho bọn phương tây chiến thắng Trung Quốc. Và đó là điều tôi phải quyết tâm làm, vì nó có liên quan đến đất nước tôi, dân tộc tôi. Ha ha! Vì tôi biết tư tưởng cực đoan phương tây mà trả thù thì khủng khiếp lắm đó. Vã lại nếu Trung Quốc mà qua được đại nạn này, và đối xử tốt đẹp chút xíu với Việt Nam thôi, thì Việt Nam sẽ được nhờ nhiều lắm…Ha ha!
Người Trung Quốc chắc cũng biết câu nói của Lão Tử chứ gì. Trong cái to xác hầm hố của Trung Quốc bây giờ thì đang chứa cái mầm mống của bại vong. Và trong cái ốm yếu tả tơi của Việt Nam bây giờ thì đang chứa cái mầm mống hưng thịnh như vũ bão. Ha ha! Trời cao có mắt mà. Vậy bây giờ Việt Nam và Trung Quốc có chung sinh mệnh tinh thần, cũng như bờ cỏi thiên nhiên địa lý không tách rời nhau được. Vậy cả hai đều phải hợp tác mà sữa chữa đi. Việt Nam cần kinh nghiệm phát triển của Trung Quốc, còn Trung Quốc phải cần ta dẫn đường chỉ lối đi ra cái trận đồ bát quái đen thui đó. Lòng ta không bao giờ muốn hại ai, cho dù người đó là kẻ thù giết cha giết mẹ ta đi nữa. Ha ha ha! Tin hay không là do người! Sinh mệnh người trong tay người, mà không lo thì trời cứu cũng không được đâu. Sở dĩ ta muốn cứu người vì cội nguồn gốc gát của ta là từ người mà ra đó. Thế thôi! He he!

Hãy cố vươn vai mà đứng

To son lên môi lạnh lùng

Hãy cố yêu người mà sống

Lâu rồi tai nạn cũng qua...

Thôi cứ như vậy đi. Người biết mình biết ta thì dễ. Người làm khó ta thì người cũng tiêu tùng sớm luôn, mà ta cũng ảnh hưởng ít nhiều thì cũng phải chịu thôi chớ biết sao bi giờ? Ha ha! Anh em hại nhau thì người ngoài sao cứu được. Anh em mà giúp nhau thì cùng nhau vững bước đi lên, và người ngoài cũng vui lòng. Tình thế bây giờ rất khó khăn cho Trung Quốc rất lớn. Vì Trung Quốc đang bị “Thập Diện Mai Phục’ như vầy mà còn làm khó Việt Nam thêm chút xíu nữa, thì quả là sai lầm khôn tả. Cái sai lầm này sẽ đẩy Trung Quốc tới chỗ trở thành Osin của thế giới thì chán lắm nhe!
Thôi nói tới đây thôi. Bây giờ tôi xin nói lại về cái vụ phong thủy nhà cửa ở Việt Nam.
Ngày xưa khi dời đô về Thăng Long. Thiền sư Vạn Hạnh có tính toán rằng: Sau này nước Nam ta sẽ hóa rồng bay lên tại đây. Tuy nhiên thủ đô Hà Nội đất Bắc Việt Nam là nơi linh khí núi sông hội tụ là không sai. Nhưng về địa lý thì quá nhỏ bé, (chỉ bằng 1 phần 20 thủ đô Bangkok của Thailand). Và lại nằm ngay trong vùng khống chế của hạm đội tên lửa Nam Hải của Trung Quốc. Ngoài ra tiềm lực kinh tế của miền Bắc không bằng miền Nam. Vậy nếu đặt thủ đô ở đất Bắc thì chúng ta chậm giàu, chậm phát triển hơn để thủ đô ở trong Nam. Nhưng bù lại chúng ta bảo tồn được khí lực hùng vĩ của núi sông. Còn nếu đem thủ đô vào Nam thì thoát khỏi sự không chế của thiên triều phương Bắc, và dĩ nhiên chúng ta sẽ phát triển rất nhanh. Nhưng nguyên khí quốc gia bốn ngàn năm bị mất là điều đáng tiếc vô cùng. Thôi thì cứ như vậy là tốt nhất. Đất nước Trung Quốc bây giờ nguyên khí tiêu tán rất nhiều, họ có chỉa tên lửa vào thủ đô của chúng ta, thì cũng không bắn được phát nào đâu mà lo. Vì đó là đất Thăng Long, và ngày hôm nay đã có một con rồng vàng bay lên rồi đó nhe! Ha ha!
Còn về phần cái nhà tù bát quái trận đồ Chí Hòa thâm độc tàn ác kia, nằm giữa lòng thành phố Sài Gòn. Thì nên phá bỏ ngay đi, rồi san bằng làm công viên trồng cây xanh lên. Ở giữa đó xây một cái đài cao thờ ông Phật Tỳ Lô Giá Na bốn mặt nhìn bốn hướng đông tây nam bắc. Phật này chính là sức mạnh của thực tại thiên nhiên, còn gọi là Vạn Pháp Vô Ngã. Phật này thờ ở phía Nam là tốt nhất. Nó sẽ nhận được linh khí từ đất Bắc Thăng Long Hà Nội thì đất nước vươn lên mấy hồi. Còn cái cây kiếm do Ngô Đình Diệm cắm xuống ở Hồ Con Rùa thì cũng phải bỏ đi cho. Vì họ Ngô nghĩ rằng mình là anh hùng chống kiếm giữ đất xưng đế phương Nam đó. Đế đâu không thấy mà chỉ thấy đế sống nổi lấy gì giữ đất. Ngày nay đất nước ta đã thống nhất lâu rồi, thì cắm gươm cắm kiếm như vậy là làm đau lòng đất mẹ phương Nam. Cho nên phá bỏ cái cây kiếm đó luôn đi là hanh thông tấn phát ào ào thôi..Ha ha!
À! Cái này không phải mê tín nhe! Nhưng khi tư tưởng con người đạt tới chỗ thông suốt, thì những vấn đề tâm lý nó cũng rõ ràng như khoa học vậy thôi. Thực tại thiên nhiên và tâm linh tâm thức là một. Chúng ta không vô đạo vô thần, nhưng chúng ta cũng đừng mê tín dị đoan bậy bạ. Vấn đề tôi nói ở đây là chúng ta không biết thì thôi, thì cho nó mù mịt cắm đầu xuống đất luôn. Nhưng nếu biết thì chúng ta nên điều chỉnh như cân bằng tâm trí là an ổn. Và một đất nước cũng vậy. Hình thể núi sông là tự nhiên nó tốt, nhưng chúng ta không biết, và làm sai hết vì tham lam ngu dốt. Nên bây giờ phải sửa chữa lại cho trong ngoài ăn khớp với nhau là tốt thôi có gì đâu…Vì tôi ghét nhứt là bùa chú mộng mị duy tâm nghen. Đời tôi ghét nhứt là nhang khói khấn vái lạy lục. Tôi là con người chỉ đọc triết tây và sùng bái khoa học. Nhưng chả biết sao lại hốt nhiên đại ngộ như vầy, chứ tôi không phải cái loại bùa phép thần thánh u mê nhe!
Vậy một cái nhà tù nằm trong lòng thành phố, thì nó cũng như một khối đau khổ nằm trong lòng người. Cho nên nhà tù và chùa chiền là phải đem ra ngoài thành phố dân cư đông đúc đi là tốt nhất. Không đem ra được thì không nên xây mới thêm cái nào hết. Một dân tộc biết sống vượt qua đau khổ thì mới thành công. Người phương tây họ giàu có như vậy, nhưng triết học của họ là địa ngục. Người trí thức nghèo khổ ở phương tây giá lạnh là khổ nhất thế giới. Họ sống hoang vu từ trong ra ngoài cho đến chết mà thôi. Vì thế từ đây trở đi, người phương tây sẽ rất ái mộ đạo Phật. Và những gì tôi nói đây là rất sâu kín, mà cũng rất rõ ràng thích hợp với căn cơ người phương tây. Vì người phương tây đi từ ác đến thiện. Mà hôm nay họ được gặp tôi, là họ tin hiểu liền còn nhanh hơn mấy cha nội nhà giàu mới nổi ngã mạn người Châu Á nữa.
Hãy nhớ! Tôi đã từng sống hai năm trong trạng thái thần kinh cùng cực, nên tôi biết thế nào là nổi đau khổ bất tận cùng cực của con người phải mang. Đó là nổi thống khổ từ tâm lồng lộng của kiếp người. Cứ mở kinh Phật ra xem phần địa ngục vô gián đi là sẽ rõ. Bệnh thần kinh nó y hệt như thế đó. Và đức Phật Thích Ca ngày xưa cũng đã từng đi qua 12 cửa địa ngục rồi, mới nói kinh Địa Tạng chính xác như vậy chớ. Đừng tưởng cái gì rồi sẽ hết. Không có hết đâu, mà nghiệp chướng trùng trùng lớp lớp, hết cái này tới cái kia nếu như chúng ta cứ mở rộng ra mãi không ngừng. Vì con người ở đâu cũng khổ hết. Nhiều người quan niệm mình phải phấn đấu tới cái chỗ đó là hết khổ. Nhưng khi anh có công ty có tập đoàn rồi. Làm tổng thống rồi, thì nổi khổ đau còn cao hơn. Và trong bất cứ trường hợp nào, chúng ta cũng phải vượt qua thôi chớ biết sao bi giờ? Chúng ta mà sai lầm thì sẽ kéo theo mấy ngàn người chết đói. Một ông tổng thống sai lầm thì cả nước điêu linh khốn cùng…Hãy nhớ lấy.
Hơn một thế kỷ nay, loài người chỉ kinh ngạc sửng sốt với cái trí tuệ khoa học hữu vi thôi chớ gì? Nhưng cái trí tuệ vô vi của mỗi một người thôi nó còn kinh khủng hơn gấp mấy ngàn lần cái trí tuệ khoa học hữu vi đó nữa. Hãy chờ đó, có phim hay coi hoài luôn nha!..Ha ha ha!
Tóm lại, nói về phong thủy nước ta, giang sơn gấm vóc của quê hương mình như vậy là tuyệt vời rồi. Nước ta có biển rộng núi cao, có dãi Trường Sơn làm thành trì vững chắc, có bờ biển rộng thông suốt từ Bắc chí Nam. Thủ đô đặt ở đất Thăng Long Hà Nội là vượng khí lên tới trời xanh. Miền Nam phá cái nhà tù khám lớn Chí Hòa trận đồ bất quái đi là xong. Ngoài Bắc là Niết Bàn, là rồng vàng ẩn mình trên mây không ai thấy được. Còn trong Nam là Thực Tại, là thờ Phật Tỳ Lô Giá Na bốn mặt ngoài trời. Còn mấy cái chùa nào còn thờ Phật Tỳ Lô Giá Na ở trong chùa, thì cũng phải đem ra ngoài luôn. Không đem ra ngoài được, thì phải dở cái nóc chùa đó ra mà đặt mấy tấm kiếng trong suốt vào thì mới được. Còn nếu như tìm được cái núi nào cao nhất miền Nam, rồi đặt tượng Phật Tỳ Lô Giá Na bốn mặt lên đó thờ, là ngon nhất rồi đó. Làm cái gì cũng phải đúng âm dương hài hòa thì vượng khí phất lên tại Niết Bàn. Và phải có chỗ đón lấy ở Thực Tại mà phát triển ào ào lên chớ. Chúng ta làm như thế thì thành công huy hoàng chớ có gì đâu mà lo…Ha ha ha

Kính chúc Việt Nam tấn phát an toàn. Kính chúc tình anh em Việt Nam – Trung Quốc vững bền yêu quý lẫn nhau muôn đời

Trí đức thiên địa trời người là ở chỗ này. Cân bằng tâm trí cũng giống như phong thủy hữu tình vậy thôi. Trong ngoài ứng hợp điều hòa cân bằng, thì không mắc kẹt là tấn phát an toàn. Vạn sự như ý cát tường hanh thông vi vu…
Nguồn: FB Hà Hùng


Thứ Tư, 1 tháng 3, 2017

Binh chế trong lịch sử

  • Lê Nguyễn
  • Thứ hai, 27 Tháng 2 2017 10:52
  • font size giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ
Lịch sử loài người là một chuỗi dài những cuộc tương tranh và quân đội hầu như hình thành đồng thời với sự hình thành cơ cấu quốc gia. Song, qua thời gian, tổ chức quân đội thường thay đổi cho phù hợp với lực lượng cơ hữu và tình hình an ninh trật tự trong nước, mối quan hệ với các nước láng giềng và trong khu vực.
QUÂN ĐỘI QUA CÁC TRIỀU ĐẠI 

 Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT), ngay từ thời kỳ đầu lập quốc, nhân dân ta đã phải đối phó với giặc ngoại xâm: Phù Đổng Thiên vương phá giặc Ân, Hai Bà Trưng đánh tan quân Hán … Điều đó chứng tỏ quân đội đã có mặt từ lúc hình thành cơ cấu xã hội đầu tiên. Song thời kỳ này còn mang nhiều màu sắc truyền thuyết nên không thể biết được tổ chức quân đội ra sao. Phải đợi đến sau hàng ngàn năm Bắc thuộc, khi nhà Ngô giành lại chủ quyền và nhà Đinh thống nhất đất nước, sử sách mới ghi khá rõ nét tổ chức của quân đội Việt. Thời Đinh Tiên Hoàng, đơn vị quân đội cao nhất là đạo, mỗi đạo có 10 quân, mỗi quân có 10 lữ, mỗi lữ có 10 tốt, mỗi tốt có 10 người. Người tổng chỉ huy quân đội thời đó là Thập đạo tướng quân Lê Hoàn, coi toàn bộ 10 đạo quân trong nước, về sau trở thành vua Lê Đại Hành.
Năm 1428, sau khi đánh đuổi quân Minh ra khỏi bờ cõi, trong 25 vạn quân đã kháng chiến gian khổ, Bình Định vương Lê Lợi cho 15 vạn người về làm ruộng, giữ lại 10 vạn quân chia làm 5 đạo: Đông – Tây – Nam – Bắc đạo và Hải Tây đạo.
Thời Trịnh-Nguyễn phân tranh, ở Đàng ngoài, chúa Trịnh đặt ra hai thứ quân: Ưu binh ở kinh thành, canh giữ cung vua, phủ chúa, và Nhất binh ở các trấn, chia thành nhiều cơ, cứ mỗi cơ 200 người thì 100 người tại ngũ, 100 người về làm ruộng, lần lượt luân phiên nhau như thế. Còn ở Đàng Trong, các chúa Nguyễn có khoảng 30 ngàn quân chia thành 5 cơ: Trung cơ, Tả cơ, Hữu cơ, Tiền cơ, và Hậu cơ. Quân số này có lẽ được bổ sung thêm trong thời gian xảy ra 7 lần đụng độ giữa quân Trịnh và quân Nguyễn vào những năm từ 1627 đến 1672. Đến khi chúa Nguyễn Ánh tiêu diệt xong nhà Tây Sơn, lên ngôi với niên hiệu Gia Long, tổ chức quân sự được cải tiến để đảm bảo sự ổn định chính trị. Tại kinh thành Huế, có tổ chức Kinh binh gồm ba thứ quân: Thân binh, Cấm binh và Tinh binh, chia thành doanh, vệ, đội, ngũ; một doanh có 5 vệ, một vệ có 10 đội, một đội có 50 người.
Phục dịch nhà vua có các đội Cẩm y, Kim ngô, Loan giá, Thị vệ, còn bảo vệ kinh thành có Thần cơ, Tiên phong, Long võ, Hổ oai, Hùng nhuệ … Tại các trấn (về sau là tỉnh), có Cơ binh, chia thành cơ và đội.
Ngoài bộ binh, triều Nguyễn còn tổ chức chặt chẽ hệ thống thủy binh, tượng binh, kỵ binh, pháo thủ binh … Theo J.B. Chaigneau, một người Pháp làm quan triều Gia Long và Minh Mạng với tên Việt Nguyễn Văn Thắng, quân đội nhà Nguyễn vào đầu thế kỷ XIX vào khoảng từ 80 ngàn đến 200 ngàn người, tùy tình hình và nhu cầu sử dụng mà tăng hay giảm. Riêng thủy quân có 26.800 người với khoảng 1 ngàn tàu thuyền lớn nhỏ.

 
  
 
CÁC NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC QUÂN ĐỘI

Quân đội thời xưa được tổ chức trên nguyên tắc “động vi binh, tĩnh vi dân” hay “ngụ binh ư nông”. Khi có biến, mọi người đều ra trận, khi thái bình, phần lớn trở về làm ruộng, chỉ giữ lại một thành phần nhỏ để canh gác, bảo vệ trật tự trị an và phục dịch vua quan. Năm 1728, chúa Trịnh Cương đặt ra phép mộ lính: phàm người nào cơ thể khỏe mạnh, tình nguyện làm lính thì nộp đơn xin xét duyệt để sung vào đội ngũ và được cấp cho quan điền để sinh sống. Đến năm 1733, chúa Trịnh Giang thấy nhiều người tình nguyện quá, phải tốn nhiều ruộng đất để cấp, thuế tô sút kém, nên bỏ hẳn lệ này.
Triều Gia Long đặt ra phép giản binh, lấy lính trong số dân đinh với tỷ lệ thay đổi tùy theo vùng, chẳng hạn ở Trung kỳ, cứ 3 đinh lấy 1 lính, ở Bắc kỳ cứ 7 đinh lấy 1 lính, còn ở Nam kỳ thì 5 đinh lấy 1 lính. Lại ban lệ biền binh, lính chia làm 3 phiên, 2 phiên về quê quán làm ăn, 1 phiên ở lại ban và luân phiên nhau. Về trang phục, đời Đinh đã định cách ăn mặc đồng nhất, binh sĩ nào cũng có áo giáp, mũ bình đính để phân biệt với dân thường. Đến thời Nguyễn, mỗi binh lính được cấp hàng năm hai bộ quần áo, gồm áo đen lót màu vàng, quần lụa tinh màu đỏ, cùng thắt lưng, đẫy bằng vải. Lương bổng gồm có gạo và tiền. Ngay đầu thế kỷ XIX, triều đình qui định các làng xã phải gánh vác chi phí về trang phục cho binh lính trong địa hạt của họ.
Thông thường có hai tệ nạn xảy ra trong việc binh. Một là nhờ người đi lính thay, hai là đào ngũ. Năm 1728, chúa Trịnh Cương định rõ biện pháp tróc nã những ai mướn người đi lính thay. Người mướn hay người đi thay đều bị xử tội đồ, tức bị đày đi lính phương xa để làm những việc hạ tiện như chăn voi, chăn ngựa, xã trưởng và quan sở tại dung túng việc mướn người đi lính thay cũng bị tội.
Năm 1859 khi cuộc chiến Việt-Pháp bùng nổ, vua Tự Đức ban chỉ dụ đối phó với nạn đào ngũ ngày càng nhiều bằng ba biện pháp trừng trị:
- đào ngũ lần thứ nhất: xuyên cây qua vành tai
- đào ngũ lần thứ hai: đánh 100 gậy
- đào ngũ lần thứ ba: chém đầu
Trong lãnh vực võ trang, ngoài các binh khí thời cổ như gươm đao, giáo mác, cung tên, đầu thế kỷ XVII, chúa Trịnh cho lập sở đúc súng đại bác, mở trường bắn. Tuy vậy, đến thời Tự Đức, trang bị vũ khí của quân lính vẫn còn khá lạc hậu: một đội 50 người chỉ có 5 khẩu súng điểu thương, mỗi lần bắn phải châm ngòi. Cả năm, lính mới tập bắn một lần, mỗi người chỉ được bắn 6 phát, ai bắn quá số đó phải bồi thường. Vì tình trạng ấy mà năm 1861, trên 30 ngàn quân của Tổng thống quân vụ đại thần Nguyễn Tri Phương ở đồn Chí Hòa phải thất thủ trước 3 ngàn quân Pháp với súng ống hiện đại hơn nhiều.

 
    
 
VÕ QUAN NGÀY XƯA

Do sự hạn chế của sử liệu thời trước, người ta chỉ biết một cách đơn giản rằng chức quan võ đời Hùng vương là Lạc tướng. Đến đời Đinh-Lê, tổ chức quân đội đã có qui củ, nhưng cũng chỉ thấy có thập đạo tướng quân, chức quan võ cao cấp nhất của triều đình, không rõ những người trông coi các quân, lữ, tốt, ngũ gọi là gì. Đời Hậu Lê, tổ chức quân sự cao cấp nhất là Ngũ phủ: Trung quân, Đông quân, Tây quân, Nam quân, Bắc quân. Mỗi phủ đặt một đô đốc phủ, có tả hữu đô đốc trông coi. Năm 1664, chúa Trịnh Tạc đặt thêm hai chức quan võ cao cấp nữa là Chưởng phủ sự và Thự phủ sự. Một điểm đặc biệt trong thời Lê-Trịnh là giới nội giám (hoạn quan) rất được tin dùng, nên trong triều, ngoài hai ban văn và võ, còn có giám ban, quyền hành thực tế rất lớn. Dụng ý của chúa Trịnh khi lập ban này nhằm biến họ thành một thế lực hậu thuẫn cho mọi hoạt động của chúa. Song về sau, giới này quá lộng quyền, gây sự oán thán cho các hàng quan lại khác nên cuối cùng bị giải thể vào năm 1780.
Dưới triều Nguyễn, quan chế được vua Gia Long đặt định và vua Minh Mạng hoàn chỉnh với hai hệ thống văn quan và võ quan, cùng có 9 phẩm cấp (cửu phẩm), mỗi phẩm cấp có hai bậc: chánh và tòng. Chánh nhất phẩm bên văn quan có tứ trụ triều đình, theo thứ tự từ trên xuống, gồm: Cần chánh điện Đại học sĩ, Văn minh điện Đại học sĩ, Võ hiển điện Đại học sĩ, và Đông các Đại học sĩ; còn bên võ quan có: Ngũ quân Đô thống, đô thống chưởng phủ sự, gồm Trung quân, Tả quân, Hữu quân, Tiền quân, Hậu quân. Quan võ dưới hàng chánh nhất phẩm có Đô thống (tòng nhất phẩm) ở kinh đô, trông coi hết các doanh. Đứng đầu mỗi doanh là các Chưởng vệ (tòng nhị phẩm), đứng đầu mỗi vệ là một Vệ úy (chánh tam phẩm), đứng đầu mỗi đội là một Chánh đội trưởng suất đội (tòng ngũ phẩm). Ở các tỉnh, viên võ quan cao nhất là Lãnh binh, hàm chánh tam phẩm. Ở các tỉnh thành lớn, đôi khi có chức Đề đốc, hàm chánh nhị phẩm, bằng với Tổng đốc và Thượng thư (thành Hà Nội). Quân đội ở tỉnh chia ra Cơ và Đội, đứng đầu cơ là Quản cơ (chánh tứ phẩm), đứng đầu đội là suất đội (tòng ngũ phẩm). Về mặt hệ cấp, tuy có sự sắp xếp các phẩm cấp ngang nhau giữa văn quan và võ quan, song thành kiến “trọng văn khinh võ” vẫn luôn tiềm tàng trong nếp nghĩ của người xưa. Trong dân gian thường truyền tụng các câu thơ:
Văn thì cửu phẩm là sang,
Võ thì tứ phẩm còn mang gươm hầu
hay:
Văn quan mất một đồng tiền,
Làm cho quan võ mất quyền Quận công
Sở dĩ có thành kiến này một phần vì văn quan là những người có học vấn cao, đỗ đạt trong các kỳ thi chọn người tài. Để được cử giữ chức tri huyện vào hàng chánh lục phẩm thôi thì đã phải đỗ từ cử nhân trở lên; còn quan võ chức Vệ úy vào hàng chánh tam phẩm cũng chỉ chọn trong những người có sức mạnh, giỏi võ, phần lớn không có mấy “chữ thánh hiền” trong bụng. Để giảm thiểu bớt sự chênh lệch giữa quan văn và quan võ trong cái nhìn của xã hội phong kiến, các triều đại xưa đã tính đến việc mở trường dạy võ. Thời Lê Dụ Tông (1706-1729), chúa Trịnh Cương mở trường học võ, đặt quan giáo thụ để dạy, mỗi tháng tiểu tập một lần, ba tháng đại tập một lần. Đến triều Nguyễn, năm 1846, vua Thiệu Trị mở trường dạy võ tại kinh thành, và năm 1865, vua Tự Đức cho mở kỳ thi võ tiến sĩ đầu tiên. Từ đó về sau, các khoa thi võ thường mở song hành với khoa thi văn, nhưng với qui mô hạn chế hơn. Các bài thi võ gồm đủ thập bát ban võ nghệ, thí sinh thi võ kỳ thi Hội phải sử dụng thành thạo 18 món binh khí, đấu quyền, đấu roi, đấu côn. Chẳng những thế, thí sinh còn phải dự kỳ đối sách, bình luận về Tôn Ngô binh pháp, Binh gia yếu lược … Những người đỗ kỳ thi võ tiến sĩ được gọi là Tạo sĩ. Đề đốc Lê Trực là một trong những người đỗ võ tiến sĩ đầu tiên vào thời kỳ này, sau năm 1885, ông là một lãnh tụ kháng chiến nổi bật của phong trào Cần vương, rất được tướng sĩ dưới quyền yêu kính và kẻ thù là thực dân Pháp cũng phải nể trọng.