XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG

Thứ Bảy, 21 tháng 2, 2026

KÌ NHÂN


Tôi là kẻ vô thần, trước sau vẫn vậy. Từ nhỏ, tôi đã ưa quậy phá, lại hóng hớt hiếu động, nhưng rất tò mò và ham hiểu biết. Lớn lên biết nghĩ hơn mà vẫn luôn nói không với lý số hay những việc cúng bái dị đoan, lại càng khó tin vào sức mạnh của những siêu nhiên hay siêu nhân. Tuy vậy, tôi đã nghe và đã thấy chuyện về một vài kì nhân bằng xương bằng thịt. Giờ nghĩ lại, tôi chỉ còn biết cám ơn số phận đã cho mình được gặp gỡ họ và tôi luôn đặt những kỉ niệm ấy ở một góc trang trọng trong vốn sống của mình. Năm rồi, thế giới xôn xao về sự ra đi của vị hòa thượng Thích Tuệ Sỹ, một gương mặt lớn trong thế giới phật học, bậc tri thức thượng thừa đã có một gia tài đồ sộ những trang viết để lại cho đời. Vợ tôi nói: “Thích Tuệ Sỹ là một nhà thơ vĩ đại, cả đời em chắc cũng không thể viết nổi một câu thơ trí tuệ như cụ”.

Thật may mắn cho tôi đã có kỷ niệm đẹp với đối với người mà ngay từ phút ban sơ, tôi đã gọi ông bằng thày.
…Sài Gòn những ngày miền Nam mới giải phóng, với tôi cái gì cũng mới lạ, cái gì cũng muốn tìm hiểu. Gần bốn tháng trời tại thành phố lớn nhất Việt Nam, tôi hết sức hài lòng với những “chiến tích”: sưu tầm được cả một bao tải sách gồm nhiều thứ quý hiếm, từ các sách văn học rất đa dạng đến 14 bộ chưởng Kim Dung; được khoác áo thi đấu cho đội bóng chuyền quận Phú Nhuận, nơi có nhà của bà chị con bác; được tận mắt nhìn các danh thủ bóng đá Sài Gòn trên sân Tao Đàn như Tam Lang, Tư Lê, Cù Sinh, Ngôn, Thà..; được đến tham quan phòng tập bóng bàn, nơi có tay vợt số 1 miền Nam là Vương Chính Học. Còn nữa, được cùng 2 nhạc sỹ đàn anh là Phạm Tuyên, Cầm Phong gặp gỡ nhạc sỹ Trịnh Công Sơn và sau đó nghe Trịnh Công Sơn ôm đàn hát. Song có lẽ cơ may số một của tôi trong những ngày đáng nhớ ấy lại là việc được tiếp xúc với một nhân vật khác, một kì nhân mà mãi đến sau này tôi vẫn chưa lượng hóa được một cách cụ thể về tài năng và giá trị của ông ấy. Năm rồi, con người kỳ dị ấy đã về cõi, làm xao động trên khắp các trang viết, khiến tôi không thể không nhớ lại những kỉ niệm với ông – hòa thượng Thích Tuệ Sỹ.
Tôi không sao nhớ chính xác được ngày tháng, chỉ biết sau lần đi quận V xem đá bóng về, bỗng gặp nhà văn Nguyễn Khắc Phục ở trên đường phố Nguyễn Huệ. Phục gọi to tên tôi: “Lưu ơi, đi với tao ngay, chúng ta sẽ được gặp Suzuki của Việt Nam”. Thì ra anh bạn đã có thông tin về hòa thượng kì tài Thích Tuệ Sỹ, người đươc xem như vị thánh sống tại miền Nam. Nghe nói Thích Tuệ Sỹ đang có mặt tại chùa Vĩnh Nghiêm, Phục chở tôi trên chiếc Hon da 90 màu đỏ tức tốc lên đường.
Dựng xe ở cạnh gốc cây to, chúng tôi đi qua khoảng sân rộng để vào trong phương trượng. Từ xa, tôi nhìn thấy hai người một già và một trẻ, người trẻ có đôi mắt sáng lạ thường, đang ngổi nói chuyện. Tụi tôi không biết ai là Thích Tuệ Sỹ, nhưng cứ đoán là cụ già. Khi đến gần, tôi bỗng thấy người trẻ hơn đưa tay ra phía chúng tôi có ý ngăn lại. Hai gã hiếu kì cứ bước thêm thì vị ấy nói ôn tồn: “Xin thí chủ quay ra ngay, ngoài kia có tên đạo chích đang lấy trộm con ngựa hồng của thí chủ đó”. Giật mình, chúng tôi vụt quay lại và thấy chiếc xe Hon da 90 màu đỏ đang bị một tên trộm dắt đi và định tẩu thoát. May mắn là nhìn thấy có người, hắn đã hoảng hốt vứt xe bỏ chạy. Lúc đó tôi mới biết hòa thượng trẻ chính là Tuệ Sỹ. Tiếc là cuộc gặp gỡ ấy quá ngắn ngủi, ông đã phải đi ngay khi có người đến tìm. Thế rồi phải đến sáu năm sau tôi mới có dịp gặp lại kì nhân, khi tôi đã là công dân thành phố Buôn Ma Thuột, Đắc Lắc. Đó là thời gian ông phải lang thang khi mới ra tù.
Gặp lại Tuệ Sỹ lần này, chính tôi đã được ông khai sáng thêm nhiều điều, đúng với tinh thần của trường phái Đại thừa. Tôi cũng mạnh dạn kể cho ông nghe lai lịch của mình, ông luôn nhìn tôi với con mắt thiện cảm và gọi tôi là “thí chủ”. Chúng tôi xấp xỉ tuổi nhau, vậy mà sự hiểu biết của ông so với tôi là quá ư vượt trội, hầu như ở mọi lĩnh vực. Tôi bất ngờ vì kiến thức về Trung Hoa cổ đại của ông, kể cả vốn Hán tự mà tôi có chút hiểu biết. Và đến một lần ông làm tôi rùng mình kinh ngạc. Hôm ấy ông ghé thăm nhà tôi, một căn buồng ở trong khu gia cư của Trường Trung cấp Tài chính tỉnh Đắc Lắc, nơi vợ tôi là giáo viên. Khi ông đến, nhà có mình tôi, lát sau có thêm anh Trí, là giáo viên trường này. Đang vui chuyện, bỗng Tuệ Sỹ hỏi tôi:
-Thí chủ có tin là tôi có thể tắt điện ở Sài Gòn không?
Tôi ngơ ngác không hiểu, vì chưa bao giờ nghe đến chuyện một người lại có thể tắt được điện, lại tắt ở một nơi rất xa, làm gì có chuyện kì lạ như thế. Rồi Tuệ Sỹ nói luôn:
-Thí chủ không tin, vậy tôi có thể tắt điện căn phòng này được không?
Thấy tôi cười và tỏ ra không tin, Tuệ Sỹ hỏi tôi muốn ông tắt điện kiểu gì thì cứ nói. Tôi liền kéo Trí ra ngoài hội ý vài phút. Quay trở vào, chúng tôi thông báo muốn ông tắt điện theo lối đánh mooc: tạch tạch tè, tạch tạch tè. Ông bảo tụi tôi chờ ông một lát, rồi ngồi quay mặt vào tường. Khoảng mươi phút sau, tôi và Trí ngớ ra khi đèn nhà tôi tắt rồi mở, đúng như đề nghị của chúng tôi. Rất thân tình, Tuệ Sỹ đề nghị chúng tôi thử giải thích về điều này xem sao. Tôi thật quá khâm phục, suy nghĩ một tý rồi cho rằng: Mỗi một người đều có nhân điện và từ trường riêng của mình, nhưng làm sao đủ sức làm tắt điện? Có thể nào trong lúc ngồi thiền, thày đã phái âm binh của mình “lên đường” và tìm ra được dòng nhân điện của người phụ trách điện nơi đây, sau đó tạo ra một phản xạ có điều kiện cho người ấy tắt đóng cầu giao theo cách thày muốn?
“Kha..kha..kha…” Thày Tuệ Sĩ cười lớn, còn tôi và Trí chỉ biết cúi đầu bái phục khả năng của thày. Lần ấy, Tuệ Sỹ xem tướng rất kỹ cháu thứ 2 của tôi, lúc cu cậu vừa đi đâu đó về nhà. Ông mượn bút, xin một mảnh giấy nhỏ, viết vài dòng ngắn gọn bằng chữ Phạn và bảo tôi hãy cất nó vào đầu giường nơi con trai ngủ, sau đó ông ra về.
Hơn một năm sau, lúc ấy tôi dọn về nhà bố vợ ở trên đường Hùng Vương, cách ngã sáu Ban Mê chừng 1 km. Một ngày chủ nhật, cu Tuấn nhà tôi đi chơi từ sáng đến trưa vẫn không thấy về, cả nhà lo quá, bởi thường thì cháu chỉ quanh quẩn đâu đó, nó mới gần 7 tuổi mà. Đầu giờ chiều, chúng tôi vẫn nháo nhác tìm, kể cả ra đồn công an trình báo nhưng vô vọng, mẹ cháu đã nước mắt lưng tròng. Bỗng tôi nghĩ đến thày Tuệ Sỹ và tính chuyện đi tìm thày. Nghe đâu Tuệ Sỹ ở cái am nào đó dưới xã Hòa Khánh, ngoại ô Buôn Ma Thuột. Tôi lấy xe máy đi xuống đường 14, vừa đi vừa suy nghĩ mông lung. Bỗng phía trước lề đường bên phải, tôi chợt thấy ông đi bộ ngược lên. Thần giao cách cảm hay sao ấy, tôi dừng xe kể vội mọi chuyện. Thày Tuệ Sỹ nói ngay: “Nhờ thí chủ chở tôi về nhà. Tôi muốn xem lại mảnh giấy cũ” và trèo lên xe. Tôi phi về nhà và lấy mảnh giấy kia đưa cho Tuệ Sỹ. Thày cầm tờ giấy, hít một hơi dài suy nghĩ rồi nói nhanh, giọng đặc chất Huế: “Xin cho 2 chữ bình an”. Đoạn thày nói với tôi là cháu đang chơi ở gần nhà, phía Tây Bắc, không có gì phải lo lắng. Sau đó, thày lại vội vàng đi. Tôi lập tức vọt xe theo hướng này vì biết ngay gần bệnh viện 48 của quân đội có một buôn dân tộc, biết đâu cu Tuấn đã chơi với mấy cậu nhỏ ở đó. Vừa đến nơi đã thấy Tuấn chơi đùa với bạn, tôi tóm cổ lên xe đưa về. Đến nhà mẹ cháu quá mừng, bà vừa cầm roi quất vào đít cu cậu vừa khóc …Vụ việc này thật sự kinh khủng, tôi không làm sao hiểu được, phải chăng Tuệ Sỹ biết cả phép Kỳ môn Độn giáp? Phải chăng thày cũng nắm được hình thức kì lạ đã có từ hơn 5000 năm trước, loại hình huyền bí mà cả Gia Cát Lượng và Napoleon từng sử dụng một cách uyển chuyển, ba hư bảy thực?
Khi tôi chuyển chỗ ở xuống khu tập thể Phan Bội Châu, thày Tuệ Sỹ có vài lần ghé chơi và lần nào tôi cũng được thọ giáo những điều kì lạ khác. Những năm ấy, tôi lao vào công việc của một nhà nghiên cứu văn hóa và âm nhạc dân tộc, thường xuyên xa nhà đi xuống huyện, xã, buôn làng y như một nhà Folclore thực thụ, đến nỗi sức khỏe sa sút rồi lại mắc bệnh thương hàn, rụng mất mấy cái răng, gày còm ốm yếu và phải nằm bệnh viện. Một lần ghé thăm và trò truyện, thày Tuệ Sỹ kể tôi nghe câu chuyện thật hấp dẫn.
Truyện rằng hồi kết thúc thế chiến II, một tội phạm chiến tranh người Đức, lo sợ bị ra tòa án quốc tế nên đã trốn biệt và sang tận Colombia sinh sống. Tại đây anh ta luôn hoảng sợ và bị mặc cảm về cái chết. May sao anh ta lại gặp được một pháp sư tốt bụng người bản địa. Nghe qua hoàn cảnh của kẻ tị nạn, pháp sư khuyên anh ta một điều ghê gớm: Hãy tự tin đến với những người vừa qua đời, tìm cách nằm qua đêm cạnh họ, vừa nằm vừa cầu mong được tha tội…Và cuối cùng anh ta đã được cứu rỗi.
Nghe chuyện của thày, tôi vô cùng hưng phấn. Bởi tôi vốn là đứa trẻ tinh nghịch từ nhỏ, từng trốn học đi xem người Tàu bốc mộ, lớn lên từng một mình bốc mộ cho một người đàn ông nơi trường tôi sơ tán hay nhiều lần khâm liệm người chết. Tôi cũng từng vào nằm ở nhà xác bỏ trống ở bệnh viện Đắc Lắc để thử xem có ma như người ta đồn đại hay không. Thế là tôi quyết định thực hành theo lời thày kể. Tôi lần lượt chọn những người vừa chết, loại bị tai nạn giao thông hay bị điện giật và không có bệnh truyền nhiễm, rồi đến nhà xác, nhẹ nhàng nằm xuống bên cạnh họ trên mấy cái ghế đá trong nhà xác, tay cầm điếu thuốc. Chuyện ấy lan ra, đến mức có lần mấy tay văn nghệ sỹ trong tỉnh bàn nhau mục sở thị, họ đến nhà tôi từ tinh mơ và vợ tôi bảo cháu Lâm là anh của cháu Tuấn dẫn sang bên nhà xác.
Hôm ấy, tôi đang nằm cạnh thi hài một thanh niên bị ngã xe ở cầu 14. Mới tờ mờ sáng đã nghe tiếng gọi “bố ơi!” ở bên ngoài. Nhìn ra thì thấy Lâm, một tay bịt mũi, miệng run run gọi bố mà buồn cười…Mấy hôm sau, tôi vừa về đến nhà bố vợ ở phố Hùng Vương, bà nhạc đã cho tôi là thằng khùng, rồi bảo vợ tôi đem quần áo tôi ra ngâm xà phòng “kẻo lây bệnh sang sắp nhỏ”. Phải khá lâu sau đó, nhiều bạn bè ở Tây Nguyên mới hiểu nguyên do vì sao tôi làm thế, vì sao mà tôi dần khỏe mạnh hẳn lên.
Nhưng lý do tâm linh hay là khoa học của những câu chuyện liên quan tới thày Thích Tuệ Sỹ lại chính là điều mà cho đến tận bây giờ, tôi cũng chưa sao hiểu và giải thích nổi.
Ngày mãn xuân ngồi nhớ thày Tuệ Sỹ, tôi không quên bài thơ hai chúng tôi cùng đọc ngày nào và mong gặp lại thày ở nơi xa kia:
Cổn cổn Trường Giang đông lệ thủy,
Lãng hoa đào tận anh hùng.
Thị phi thành bại chuyển đầu không,
Thanh sơn y cựu tại.
Kỷ độ tịch dương hồng!
Bạch phát ngư tiều giang chử thượng,
Quán khan thu nguyệt xuân phong,
Nhất hồ trọc tửu hỉ tương phùng.
Cổ kim đa thiểu sự,
Đô phó tiếu đàm trung!
Trích "Điều còn lại".
Lưu Nguyễn

Phỏng thơ cho bài viết

KỲ NHÂN
Tự nhận đời mình vô tín tâm,
Không tin huyễn hoặc chuyện âm thầm,
Mà duyên lại gặp người siêu tuyệt,
Khắc giữa tim sâu một dấu trầm.
Thích Tuệ Sỹ
Thế giới bâng khuâng lúc tiễn Người,
Trang kinh còn ấm giữa trùng khơi,
Vợ tôi khẽ nói: thơ như núi,
Một chữ hàm linh vượt cõi đời.
Sài Gòn mới giải phóng năm xưa,
Sách quý đầy bao, mộng vẫn vừa,
Mười bốn Kim Dung còn đỏ lửa,
Tao Đàn rộn bước giữa say sưa.
Phú Nhuận áo đấu khoe màu,
Tao Đàn danh thủ lướt qua cầu,
Tam Lang, Tư Lê còn nhớ mãi,
Vương Chính Học tung bóng nhiệm mầu.
Trịnh Công Sơn
Có buổi nghe đàn họ Trịnh ca,
Tiếng rơi như gió thoảng hiên nhà,
Nhưng cơ may nhất đời phiêu bạt,
Lại gặp kì nhân giữa chốn xa.
Nguyễn Huệ chiều buông nắng nhạt màu,
Bạn gọi: “Suzuki Việt Nam đâu!”,
Chùa thiêng Vĩnh Nghiêm còn bóng ngựa,
Xe đỏ suýt bay khỏi gốc sầu.
Người trẻ mắt trong như ánh thiền,
Chặn lời nhắc khẽ chuyện ngoài hiên,
Quay ra đã thấy tên trộm vội,
Bỏ lại “ngựa hồng” giữa phố yên.
Sáu năm gặp lại chốn Ban Mê,
Gọi tôi “thí chủ” giọng Huế quê,
Đại thừa khai mở bao điều lạ,
Trí tuệ mênh mang tựa biển thề.
Một tối đèn kia bỗng tắt rồi,
“Tạch tạch tè” vang giữa khoảng trời,
Cười lớn, Người như mây thoảng nhẹ,
Mà tôi run rẩy suốt canh dài.
Mảnh giấy Phạn ngôn đặt cạnh giường,
Hơn năm con lạc giữa mù sương,
Người bảo: “Bình an, Tây Bắc đó”,
Tìm ra con trẻ giữa yêu thương.
Kể chuyện tha hồn bên xác thân,
Đức kia trốn tội cuối cùng ân,
Tôi theo thử nghiệm nơi nhà xác,
Để thấy sinh – tử cũng phù vân.
Người đời bảo dại, gọi tôi khùng,
Mẹ vợ ngâm đồ sợ vi trùng,
Bạn hiểu về sau vì lẽ sống,
Thân tâm tự chữa giữa mông lung.
Đến nay chưa rõ lẽ huyền cơ,
Tâm linh hay chỉ chuyện bất ngờ,
Chỉ biết đời tôi nhờ gặp gỡ,
Mở thêm một cánh cửa hư vô.
Mãn xuân ngồi nhớ bóng thiền sư,
Trường Giang sóng cuộn mãi thiên thu,
Thành bại thị phi rồi cũng hết,
Cười trong trọc tửu giữa sương mù.
Nếu hữu duyên còn nơi viễn phương,
Xin gặp Người trong ánh tịch dương,
Một chén phong nguyệt cùng tri kỷ,
Cổ kim tan giữa tiếng vô thường.
Phỏng bài viết từ trang Lưu Nguyễn

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét