XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG

Thứ Hai, 27 tháng 5, 2019

ĐẠO QUÂN TRUNG QUỐC THẦM LẶNG


Từ Fb Nhà báo Chu Vĩnh Hải

Vào tháng 7-2014, lần đầu tiên tôi trực tiếp đối diện với những nhà đầu tư ở nước ngoài của Trung Quốc. Lần đó trong vai một người bán hàng, tôi đi cùng một doanh nhân ở Sài Gòn đến cụm nhà máy nhiệt điện Duyên Hải ở Trà Vinh theo chính đề nghị của phía tổng thầu Trung Quốc để bàn về việc cung cấp nguyên liệu và vật tư cho công trình này.Trước khi đàm phán, chỉ với những câu hỏi của nghề báo, tôi đã xác định được rằng: cụm nhà máy nhiệt điện này chưa có thiết kế tổng thể và thiết kế chi tiết, thế nhưng chủ đầu tư và tổng thầu Trung Quốc vừa thi công vừa thiết kế. Hiện trường ngổn ngang và bề bộn chứng tỏ sự nghiệp dư và cẩu thả của nhà thầu. Khi đàm phán trong phòng máy lạnh, các nhà đầu tư Trung Quốc cứ thoải mái và hồn nhiên hút thuốc lá khiến người bạn doanh nhân và tôi ho sặc sụa. Giờ giải lao, anh bạn doanh nhân hỏi tôi: " Ý anh thế nào?". Tôi trả lời không suy nghĩ: "Đây là một đối tác không thể hợp tác. Họ vô trách nhiệm, vô văn hóa và mất lịch sự." Người bạn doanh nhân cười : " Em cũng có suy nghĩ giống anh.".
VẠCH MẶT KẺ THAM LAM VÀ TÀN PHÁ
Đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc và các khoản cho vay của chính phủ Trung Quốc từ lâu đã được báo chí thế giới đặc biệt quan tâm thông tin. Qua truyền thông, các chuyên gia và học giả cũng đã liên tục thông tin và bình luận về hai vấn đề bức xúc này. Nhưng đa phần các bài báo, các bài phân tích đều đề cập đến một dự án cụ thể, một khoản vay cụ thể. Không hài lòng với các thông tin manh mún, hai nhà báo người Tây Ban Nha là Juan Pablo Cardenal và Heriberto Araujo đã bỏ ra hơn 2 năm ròng rã, từ năm 2009 đến đầu năm 2011 để lấy tài liệu, điều tra và viết nên cuốn sách Đạo Quân Trung Quốc Thầm Lặng. Bản gốc tiếng Tây Ban Nha có tên La Silenciosa Conquista China xuất bản năm 2011 tại Tây Ban Nha, bản dịch Anh ngữ có tên là China’s Silent Army của Catherine Mansfield xuất bản tại Anh và Hoa Kỳ vào năm 2013. Bản tiếng Việt có tựa đề Đạo Quân Trung Quốc Thầm Lặng được dịch giả Nguyễn Đình Huỳnh chuyển ngữ từ bản dịch tiếng Anh, được Nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành năm 2016. Những câu trích dẫn có ngoặc kép trong bài này được lấy từ bản dịch tiếng Việt.
Hai nhà báo người Tây Ban Nha, đúng nguyên tắc báo chí độc lập và khách quan, đã tiến hành đến trực tiếp hiện trường tác nghiệp để tìm hiểu về các dự án do Trung Quốc đầu tư hay tài trợ để tránh rơi vào các bẫy giai thoại và truyền miệng. Và cũng để bảo đảm tính độc lập của cuốn sách, hai nhà báo này đã không tìm tài trợ từ bất cứ nguồn nào, hay nói cách khác, họ tự bỏ tiền túi cho những hành trình cam go và tốn kém. Họ đã đến hơn 20 quốc gia, bay 80 chuyến bay với tổng chiều dài 235.000 km, và họ đã “vượt qua mười một biên giới đất liền và mạo hiểm sinh mạng của mình trong hành trình 15.000 km trên những cung đường nguy hiểm và những lối mòn bẩn thỉu”, theo lời hai nhà báo này. Hai nhà báo J.P. Cardenal và H. Araujo đã thực hiện tổng cộng 500 cuộc phỏng vấn trong những hoàn cảnh cực kỳ khó khăn. Cũng theo hai nhà báo này, họ đã thỏa thuận với nhau sẽ tuân thủ một nguyên tắc cơ bản là ngoài việc lắng nghe tất cả các phía, họ sẽ ưu tiên tiếng nói từ các cấp của nhà nước Trung Quốc, những người đang điều khiển đằng sau sự bành trướng của Trung Quốc. Hai nhà báo dũng cảm này đã không đặt ngọn đuốc dưới ánh đèn sân khấu mà làm sáng tỏ những góc tối nhất. Kết quả là, một cuốn sách không dựa vào những tài liệu mơ hồ, những đồn thổi vu vơ, chỉ dựa vào những tư liệu sống động đã ra đời.
Theo đánh giá của các nhà điểm sách, Đạo Quân Trung Quốc Thầm Lặng là cuốn sách đầu tiên khảo sát sự tăng trưởng chưa từng thấy của đầu tư kinh tế Trung Quốc vào thế giới đang phát triển và tác động của nó ở các quốc gia tiếp nhận, đồng thời đưa ra bức tranh thực tế hiếm hoi về cỗ máy tàn phá khủng khiếp là tập đoàn Trung Quốc- “China Inc”.
ĐẦU TƯ HAY TÀN PHÁ?
Theo Đạo Quân Trung Quốc Thầm Lặng, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc chủ yếu diễn ra trong các ngành khai thác tài nguyên. “Lời nguyền tài nguyên”- một thuật ngữ dùng để chỉ việc khai thác tài nguyên chỉ có lợi cho một nhóm người, có hại cho cộng đồng, tàn phá môi trường hoàn toàn đúng với các ông chủ Trung Quốc. Myanmar, một nước láng giềng của Trung Quốc là nạn nhân thảm hại đầu tiên mà cuốn sách nhắc đến.
Vào năm 2005, cứ mỗi 7 phút lại có một chiếc xe tải chở 15 tấn gỗ xẻ khai thác bất hợp pháp ở Myanmar qua cửa khẩu và bon bon tiến về Trung Quốc. Hay nói cách khác, mỗi năm có một triệu mét khối gỗ xẻ quý giá biến mất khỏi rừng Myanmar để đáp ứng nhu cầu gỗ tăng cao ở Trung Quốc. Tài sản rừng và đa dạng sinh học khổng lồ của Myanmar đã khiến Trung Quốc vươn vòi bạch tuộc vào khu vực Kachin, khai thác khốc liệt các khu rừng, các khoáng sản và đá quý. “Công thức thường được áp dụng: người Myanmar cấp phép khai thác tài nguyên thiên nhiên cho ai trả giá cao nhất trong khi người Trung Quốc trả giá cao và chẳng thắc mắc gì. Bên thứ nhất trở nên giàu có một cách ghê tởm, còn bên thứ hai lấy đi ngọc bích, vàng và gỗ. Những người thua cuộc duy nhất là hơn một triệu dân phần lớn nghèo khó trong vùng, những người không thấy điều kiện sống của mình cải thiện chút nào dù tài sản quốc gia bị cướp phá tàn bạo”.
Công cuộc khai thác mỏ của các ông chủ người Trung Quốc tại khu vực Cachin của Myanmar đã làm bùng nổ các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm và AIDS. Trong cuốn sách, một người dân bản địa đã mô tả vùng đất Cachin là một nơi dã man như thời trung cổ, đó là vùng đất tàn bạo và tuyệt vọng, tràn lan ma túy, AIDS, bệnh tật, là chỗ trú khốn cùng, là đày ải không cùng và đau khổ triền miên.
Cộng hòa liên bang Nga cũng là một nạn nhân tồi tệ của việc người Trung Quốc tận lực khai thác gỗ ở khu vực Viễn Đông. Trong khoảng thời gian dài kể từ năm 1992, mỗi năm có khoảng 10 triệu mét khối gỗ từ CHLB Nga xuất sang Trung Quốc, điều đó cũng có nghĩa là, mỗi năm các tay chơi Trung Quốc khai thác và mua từ Nga 10 triệu mét khối gỗ quý. Quá trình khai thác theo lối tận diệt rừng của người Trung Quốc với sự tiếp tay tích cực của những người Nga tham lam đã làm suy thoái nghiêm trọng hệ sinh thái vùng Viễn Đông. Quá trình hủy diệt này đã tác động tiêu cực đến loài hổ quý hiếm Siberia: rừng kiệt quệ và không còn nguồn thức ăn nên loài hổ Siberia đã nhiều lần phải ăn thịt lẫn nhau.
Mozambique cũng là nạn nhân đau thương của lòng tham Trung Quốc. Người Trung Quốc “ cho người Mozambique vay tiền để những người này làm hình nộm kiếm cho công ty giấy phép mà theo luật chỉ cấp cho công dân Mozambique. Cũng bằng cách cấp các khoản vay cho người Mozambique để họ mua các phương tiện cần thiết và nộp tiền mặt ký quỹ theo yêu cầu của chính quyền để có giấy phép khai thác , các công ty Trung Quốc chồng chất các khoản nợ lên người dân địa phương, buộc họ phải bán tài nguyên thu được từ rừng cho người Trung Quốc với điều kiện rất thuận lợi”. Hai nhà báo Juan Pablo Cardenal và Heriberto Araujo không có số liệu về gỗ quý từ Mozambique xuất sang Trung Quốc nhưng họ dẫn lời một doanh nhân kinh doanh gỗ người Tây Ban Nha ở Mozambique: “ Dưới tay người Trung Quốc, 25% rừng đã biến mất ở các tỉnh Sofala, Zambezia và Nampula, đó mới là kể sơ. Bốn hoặc 5 năm nữa sẽ không còn lại gì. Nếu khai thác gỗ vẫn tiếp tục ở mức hiện tại, toàn bộ dự trữ gỗ cứng của Mozambique sẽ bị xóa sổ trong vòng chưa đầy mười năm”. J.P. Cardenal và H. Araujo kết luận chắc nịch : “Sự làm ngơ hoàn toàn của chính quyền Trung Quốc trong việc theo dõi nguồn gốc của gỗ- một quy trình được các nước có trách nhiệm thường xuyên thực hiện- hoàn tất cách làm của tội ác hoàn hảo này”.
CHO VAY TRÁCH NHIỆM HAY CHIẾM ĐOẠT?
Các khoản cho vay của chính phủ Trung Quốc đối với các quốc gia nghèo thực chất là gì? Là ân tình, là trách nhiệm, là giúp đỡ, hay là một âm mưu, hay là chiếm đoạt? Đạo Quân Trung Quốc Thầm Lặng giúp người đọc có câu trả lời chuẩn xác.
Công hòa dân chủ Congo (DRC) có lẽ là quốc gia nghèo đói và chậm phát triển nhất thế giới. Và Trung Quốc đã chọn quốc gia nghèo đói này để ký kết hợp đồng lớn nhất của mình ở Châu Phi. Trên cơ sở hợp đồng đã ký trong năm 2008, Trung Quốc chịu trách nhiệm xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu cho sự phát triển của DRC để đổi lấy quyền khai thác trữ lượng đồng và coban khổng lồ của quốc gia này trong vòng 30 năm tiếp theo. Không có chính sách cả hai cùng thắng trong hợp đồng có nhiều điều khoản mù mờ, có lợi cho Trung Quốc, có hại cho DRC. Không có công bằng trong hợp đồng thế kỷ này. “ Trước tiên, giá trị của nguồn tài nguyên mà Trung Quốc có được từ khai thác mỏ của Congo vượt áp đảo đầu tư của Trung Quốc. Trong khi các công ty nhà nước Trung Quốc đầu tư 6 tỉ đô la thông qua Ngân hàng Eximbank của Trung Quốc, lợi nhuận mà coban và đồng có thể mang lại cho Sicomines – công ty liên doanh chịu trách nhiệm quản lý đầu tư, tiến hành xây dựng cơ sở hạ tầng mới, vận hành mỏ và phân chia lợi nhuận thu được từ khai thác tài nguyên này- có khả năng đạt từ 40 tỉ đến 120 tỉ đô la, nói cách khác, gấp từ 6 lần đến 20 lần giá trị đầu tư”. Hai nhà báo Tây Ban Nha xác quyết rằng, hợp đồng này đã làm DRC mất ít nhất là 20 tỉ đô la từ tài nguyên khoáng sản. Người Trung Quốc chân thành hay người Trung Quốc tham lam?
Angola là nạn nhân đau đớn của các khoản vay từ Trung Quốc. Vào năm 2004, giữa Angola- một quốc gia có trữ lượng dầu mỏ cực kỳ lớn và Trung Quốc ký một thỏa thuận đặc biệt, theo đó, Trung Quốc sẽ cho Angola vay 14,5 tỉ đô la thông qua các ngân hàng nhà nước của Trung Quốc, Angola sẽ trả cho Trung Quốc mỗi ngày 200.000 thùng dầu, và cho phép các công ty Trung Quốc khai thác tài nguyên khoáng sản của Angola. Trung Quốc được gì ngay sau khi thỏa thuận có hiệu lực? Mỗi ngày có 200.000 thùng dầu cho một thị trường khổng lồ đang đói nhiên liệu, một lô khai thác dầu ngoài biển Angola. Angola nhận được gì? Một nhà hoạt động xã hội người Angola nói với hai nhà báo Tây Ban Nha: “(Trung Quốc) đã thực hiện một số dự án xây dựng lớn ở Angola. Không có cái nào trong số đó được bàn giao. Hoàn toàn không. Và điều đó dẫn chúng tôi đến một câu hỏi: họ có thực sự cho chúng tôi vay? Tiền có thực sự đến và liệu nó có bị đánh cắp hay bị làm sao?”.
Tại Angola, Trung Quốc đã tài trợ và tiến hành xây dựng sân bay quốc tế có tổng vốn đầu tư 2 tỉ đô la. Dự án này, theo thiết kế, rất lớn, và dự kiến hoàn thành vào năm 2010. Nhưng vào thời điểm năm 2010, dự án này chỉ là những bức tường lạnh lùng. Tuy nhiên, chính quyền Angola không bao giờ phàn nàn về tiến độ rùa bò của dự án mà họ cho rằng rất có ý nghĩa với sự phát triển của Angola. Những khoản hối lộ hậu hĩnh từ giới doanh nhân Trung Quốc đã làm cho mồm miệng các quan chức nín lại.
Ai thắng, ai thua trong thỏa thuận Angola- Trung Quốc? Không ai khác ngoài con cá mập luôn luôn đói khát.
Thế giới văn minh từ lâu đã đặt ra câu hỏi: chính phủ Trung Quốc lấy nguồn tiền nào để cho các nước nghèo vay một cách phóng khoáng khi mà cách đây hơn 10 năm họ chưa có tiềm lực mạnh như bây giờ? Trong quá trình thực hiện thiên phóng sự điều tra Đạo Quân Trung Quốc Thầm Lặng, hai nhà báo J.P. Cardenal và H. Araujo đã tìm thấy câu trả lời chính xác, và đây thực sự là một sự thật đau đớn: “Từ đâu các ngân hàng Eximbank và CDB có được nguồn lực không giới hạn của họ? Làm thế nào mà một quốc gia đang phát triển như Trung Quốc lại có thể trở thành một thế lực tài chính hùng mạnh khi phần còn lại của thế giới đang phải trải qua khủng hoảng kinh tế? Công thức thần kỳ của Trung Quốc là gì? Câu trả lời cho bí ẩn này được tìm thấy ngay tại trung tâm của chế độ độc tài: nói ngắn gọn, chính người dân Trung Quốc chi trả cho giấc mơ và tham vọng của nhà nước Trung Quốc, cho dù họ có thích hay không. Vì sao? Một mặt, Eximbank và CDB tự tài trợ cho chúng bằng cách phát hành trái phiếu cho các ngân hàng thương mại Trung Quốc mua, một khoản chi được bảo đảm bởi khoản tiền gửi tiết kiệm của 1,3 tỉ người Trung Quốc. Vì không có phúc lợi nhà nước, người dân Trung Quốc tiết kiệm trên 40% thu nhập của họ, mức tiết kiệm cao nhất trên thế giới. Mặt khác, số lượng tiền gửi khổng lồ này được kết hợp với điều các nhà kinh tế gọi là “thắt chặt tài chính”, trong hệ thống của Trung Quốc có nghĩa là người gửi tiền buộc phải thua lỗ với khoản tiết kiệm của họ. ….Vì vậy, tổn thất tài chính người dân Trung Quốc phải gánh chịu vừa khớp với nhu cầu của “công ty Trung Quốc”, sử dụng số tiền này(với lãi suất trên thực tế bằng 0) cung cấp cho các công ty nhà nước tài chính giá rẻ để thực hiện cuộc chinh phục toàn cầu… Vì vậy, cây đũa thần kỳ diệu của việc tài trợ vốn không giới hạn được trả với giá cực đắt bởi những người tiết kiệm Trung Quốc, đồng thời, đối thủ cạnh tranh thương mại của Trung Quốc tố cáo nguồn tín dụng ưu đãi này là không công bằng”.
Đạo Quân Trung Quốc Thầm Lặng là một cuốn sách rất đáng để đọc, nhất là đối với những người muốn tìm hiểu cách thức bành trướng toàn cầu của “công ty Trung Quốc” đang làm thay đổi cuộc sống của mọi người trên hành tinh này. Cuốn sách này cũng sẽ giúp người đọc hiểu tại sao Trung Quốc lại vồ vập với chiến lược “một vành đai, một con đường”, hay chiến lược “Trung Hoa mộng”. Cuốn sách cũng chỉ ra rằng, chỉ có các quốc gia có nền chính trị độc tài- nơi các chính trị gia luôn hào hứng với các khoản hối lộ khổng lồ, mới vồ vập với các khoản đầu tư và các khoản cho vay từ chính quyền Trung Quốc.
Kính mời các bạn đón đọc

CHÓ

Một người bạn với đời mình có thể...
Cùng với ta trong những lúc cơ hàn
Hãy hy vọng và tin vào loài chó
Chưa bao giờ chúng phân biệt hèn sang...

Chúng xem ta như một người cao cả
Mặc dù ta là một kẻ ăn mày!
Lòng trung nghĩa chứa đầy trong ánh mắt
Chẳng nét gì mang ý định đổi thay...

Khi lỡ vận lê gót mòn khắp phố
Luôn bên ta có người bạn chân tình
Đêm giá rét chưa nửa lần rời bước
Ngày đói lòng cám dỗ cũng coi khinh

Ta cảm động còn mi là đứa bạn
Tuy bốn chân mà cư xử hơn người
Cũng biết khóc,biết buồn khi ta khóc
Cũng biết mừng khi cảm thấy ta vui...

Cảm ơn lắm ta còn mi chó ạ!
Mi vì ta cũng nghiệp dĩ mà thôi
Ta thấy xót khi mi nằm thè lưỡi
Và buồn nhìn với đôi mắt xa xôi...

Lư Châu.

Thứ Sáu, 24 tháng 5, 2019

Mẹo chữa bệnh dân gian

1.Ngủ chảy nước dãi do Tỳ Vị mất cân bằng
Tăng cường đi bộ, khoai lang ăn nhiều
2.Ngủ nghiến răng gan nóng uất đấy mà
Đỗ đen nấu cháo, ta hay ăn vào
3.Ngủ hay mộng mị chẳng yên yên
Tay đặt lên bụng, thế nằm thẳng ngay
4.Đi bơi chân bị chuột rút đừng lo
Tay bên không bị giơ cao lên trời
5.Vừa nôn vừa bị đi ngoài
Lá vối, vỏ quýt ta đem uống liền
6.Chỉ bị đau bụng nhẹ thui
Nước nóng, nước lạnh trộn cùng uống luôn
7.Yếu bóng vía sợ bị ma nhập
Củ tỏi giã nát ta mang theo người
8.Huyết áp bị tụt bất ngờ
Hít vào hóp bụng thế là nó lên
9.Trời lạnh huyết áp lên cao đột ngột
Ngâm chân nước nóng thế là xuống ngay
10.Đột nhiên quên béng thứ gì
Ngón tay gõ nhẹ " Ấn đường" nhớ ra
11. Lẹo mắt, đũa cả đánh cơm
Hơ nóng áp lẹo vài lần khỏi ngay.
12. Dính mưa dị ứng mề đay
Đồ khô, hơ nóng ta thay mặc vào.
13. Bị ong đốt phải làm sao
Tía tô bóp nát rịt vào chỗ đau.
14. Rết cắn lá Ớt lấy mau
Đem giã lấy nước bôi vào vết thương.
15. Độc rắn, nhựa Đu đủ xanh
Bôi, rồi thái quả sắc nhanh kịp thời.
16. Dạ đề trẻ khóc không ngơi,
Xác Ve sao, tán, uống bồi nước Cơm
17. Dị ứng Kinh giới, Đinh lăng
Rau má, Diếp cá đun cùng Tía tô.
18. Quai bị, muỗi đốt sưng u
Hạt Gấc nướng, ngâm giấm, từ từ xoa.
19. Bị sốt vi rút mùa Hè
Kinh giới, Diếp cá lấy về đun lên.
20.Trẻ em, Kiết lỵ mấy phen
Cỏ sữa đun uống, vài lần cầm luôn.
21. Lang ben dùng rượu ngâm riềng,
Hay Phá cố chỉ thường dùng mà bôi.
22. Muốn gan thải độc cấp thời
Phan tả diệp sắc uống thời độc ra.
23. Muốn cho hết bệnh vàng da
Nhân trần sắc uống thay trà sớm trưa.
24. Méo mồm khi gió lạnh về
Uống liền kinh giới, lâu thì khó cân.
25. Muốn cho hôi miệng hết dần
Lá Ổi sắc đặc ta cần súc luôn.
26. Khi nào mới bị sâu răng
Hạt Cau ngâm rượu ta dùng ngậm ngay.
27. Cẩu tích đun uống hằng ngày
Thận khỏe, răng chắc mặt mày tươi vui.
28. Mụn nhọt, mẩn ngứa muốn lui
Lá Đinh lăng sắc, uống chơi ngày ngày.
29. Mộc thông giúp Sữa thông ngay,
Lá Đinh lăng, lá Mít đem thay đun dùng.
30. Khi cai lại muốn sữa ngừng
Lá Dâu tươi sắc, nhẹ nhàng sữa lui.
31. Táo bón, có sữa Bò tươi
Thật nhiều theo sức ta thời uống ngay
Hoặc rau Diếp cá, rau Đay,
Mùng tơi, Dền đỏ, hàng ngày nấu ăn.
32. Tiêu chảy, có Hồng xiêm xanh
Cùng với lá Ổi, đun thành thuốc ngưng,
Hoặc riêng vỏ Măng cụt dùng
Sắc nước cho uống, bệnh cầm thảnh thơi.
33. Muốn gan mát, mắt sáng ngời
Có trà hoa Cúc ta mời bạn thân.
34. Áp huyết thấp muốn cho tăng
Trà Gừng pha uống dần dần lại lên.
35. Áp huyết cao muốn hạ luôn
Hoa Đại hãm uống vài bông nhẹ đầu.
36. Rôm sảy muốn trẻ hết mau
Nước Dừa tươi đó uống vào rất ngon.
37. Kỷ tử nếu ta thường dùng
Trẻ lâu, da đẹp sánh cùng thời gian.
38. Muốn cho béo đẹp mỡ màng
Sữa Ngô nếu có ta dùng thường xuyên.
39. Muốn mau tiêu mỡ giảm cân,
Táo mèo, vỏ Bưởi sắc dùng vui thay.
40. Muốn chân khỏe mạnh, dẻo dai
Ngũ gia bì đó sắc thời uống luôn.
41. Muốn cho khỏi bệnh đại tràng
Lá Mơ tam thể ta ăn thật nhiều.
42. Dạ dày muốn cho khỏi đau
Vỏ trứng Gà sấy, bột này ta chiêu.
43. Khô mắt, quáng gà về chiều
Ngày ngày Bí đỏ làm nhiều mà ăn.
44. Bụng lạnh muốn ấm từ trong
Củ Riềng sắc uống, vừa dùng lạnh tan.
45. Muốn cho mát ruột mát gan
Bột Sắn dây uống, nóng tan nhẹ liền.
46. Muốn cho phần ngực ấm êm
Gừng tươi giã nhuyễn nước đem uống dần.
47. Muốn cho phần ngực mát lành
Hạt Mã đề sắc nước dùng bệnh lui.
48. Đái đục, rễ cỏ tranh sao
Sắc đặc lấy nước uống vào tiểu trong.
49. Muốn cho vào giấc ngủ nhanh
Lạc tiên đun uống lại thành tiên ngay.
50. Da mặt trắng mịn, lá Dâu,
Vừng đen đun nước, cho vào mật Ong.
51. Muốn cho bệnh trĩ khỏi nhanh
Hoa Thiên lý đó ta ăn hằng ngày.
52. Nếu ta ăn uống không tiêu
Đun nước củ Sả uống nhiều cho thông.
53. Bị ho, ngực họng nhiều đờm
Vỏ Quýt đun nước uống thường tiêu tan.
54. Miệng nôn, trôn tháo bệnh nan
Hoắc hương, vỏ Quýt, ta đun uống liền.
55. Thời tiết mất giọng, tiếng khàn
Uống nước vỏ Quýt, giọng thanh hết rè.
56. Chanh leo đừng bỏ hạt đi
Đó là thần dược phòng ngừa ung thư.
57. Đám tang, bốc mộ nhớ ghi
Có Gừng, Tỏi nào sá chi hàn tà.
58. Cam tẩu mã, nào phải sợ
Cóc thiêu toàn tính lấy tro rắc vào.
59. Trẻ mồ hôi trộm, lá Dâu
Hái buổi sáng sớm, đun sau uống dần.
60. Hay bị mồ hôi tay chân
Lá Lốt vừa uống, vừa ngâm cũng lành.
61. Trời lạnh áp huyết vọt lên
Ngâm chân Gừng, Muối hoả liền thoái lui.
62. Rét run, tái mặt, thâm môi
Giã cho uống nước Gừng tươi ấm dần.
63. Gan nhiễm mỡ, bụng béo tròn
Sao vàng vỏ Bưởi, đun dùng rất hay.
64. Có Hp trong dạ dày
Đừng quên uống cạn trà Dây thường thường.
65. Lại hay bị bệnh đau lưng
Có củ Cẩu tích ta dùng chớ quên.
66. Xương khớp bị đau triền miên
Ngoài vườn có dây Đau xương trị lành.
67. Đau vai gáy, Dâu cả cành bỏ lá
Sao vàng, hạ thổ mà thành thuốc thang.
68. Rau Dền, rau Má, Cải xoong
Là món bổ máu ta dùng yên tâm.
69. Nhân sâm và củ Đinh lăng
Dùng vào bổ khí, lực tăng sức bền.
70. Bí trung tiện muốn thông nhanh
Có hạt Mít luộc, ăn liền gió đua
71. Bí đại, tiểu tiện Phèn chua
Đem phi, tán bột, rốn kia rắc vào.
72. Tiểu nhiều muốn giảm thì sao
Nấu cháo củ Súng ăn vào giảm ngay.
73. Muốn đi tiểu nhiều hàng ngày
Có rau Cải đó, ta nay ăn đều.
74. Nếu ai bị chứng giời leo
Nhựa cỏ Sữa đó bôi vào đừng quên.
75. Bản đồ bệnh lưỡi trẻ em
Cà tím cô đặc, lấy bông thấm vào.
76. Lá rau Ngót, bệnh lưỡi tưa
Giã vắt lấy nước, bôi thừa sức tan.
77. Mồ hôi muốn thoát dễ dàng
Có củ Khúc khắc ta mang ra dùng.
78. Đã lâu bị nhịn đói lòng
Chỉ nên ăn cháo loãng chớ dừng no cơm.
79. Khi bị ngộ độc thức ăn
Món ngon trước mặt chớ nên chào mời.
90. Bị đỉa chui vào trong người
Mật Ong đặc trị ta thời dùng ngay.
81. Mật Ong dẫu thật là hay
Trẻ dưới 01 tuổi ta nay tránh dùng.
822. Suy dinh dưỡng, Cao ban long
Dùng cho trẻ nhỏ thuốc thần chớ quên.
83. Đứt tay, chảy máu vết thương
Lấy tro giấy đốt ta đem rịt vào.
84. Lưu thông máu não làm sao
Dùng rau Ngải cứu ăn vào nhẹ thôi.
95. Sốt cao muốn hạ kịp thời
Diếp cá với cỏ Nhọ nồi đừng quên.
86. Mào gà trắng sao cháy đen
Tử cung ra máu đun dùng cầm ngay.
87. Tiêu sỏi gan, mật: Nghệ vàng
Lấy về làm thuốc ta đừng có quên.
88. Muốn tiêu sỏi thận: trái Thơm
Nướng trên than củi với cùng phèn chua.
99. Bệnh gout cần phải phòng ngừa
Đỗ xanh cả vỏ, ta cho ăn nhiều.
90. Trẻ ho có lá Hẹ tươi
Đường phèn cùng hấp ta rời kháng sinh.
91. Đau mắt đỏ Diếp cá tanh
Rửa sạch giã nhuyễn ta đem đắp vào.
92. Chẳng may bỏng lửa, nước sôi
Lá Bỏng giã nhuyễn, đắp vào vết thương
93. Viêm họng có quả Trám đen
Bỏ hạt, ninh kỹ thêm đường uống nhanh.
94. Bong gân lá Láng ta dùng
Hơ nóng, ngâm nước gạo xong đắp vào.
95. Mồ hôi trộm, lở, chốc đầu
Lá Bỏng vắt nước, uống vào thật hay.
96. Kiết lỵ nhăn nhó mặt mày
Rau Sam ( hoặc cỏ Sữa )đun nước uống ngay mau lành.
97. Xơ vữa động mạch để phòng
Rau Sam, Gừng sống ta cùng đun sôi.
98. Bắp cải viêm loét dạ dày
Trần qua, vắt nước, ta thay nước dùng.
99. Viêm loét dạ dày trên đường
Bột Sắn dây uống tạm hàn vết đau.
100. Bị bỏng do Ớt rát cay
Lá Ớt giã nát lấy ngay đắp vào.
101.Đi ngoài ra cả máu tươi
Hoa hòe sao cháy, đun sôi ta dùng.
102. Nóng quá mũi chảy máu cam
Nhọ nồi mát máu đun làm thuốc thôi.
103. Dạ dày xuất huyết, gấp rồi
Củ Bạch cập nướng cháy hơi mà dùng.
104. Đừng dại nghịch nhựa xương rồng
Nó có chất độc loét tung da dày.
105. Sốt xuất huyết, phải cấp thời
Mau tìm Diếp cá, Nhọ nồi trị ngay.
106. Trời lạnh, huyết áp lên cao
Ngâm chân nước ấm hạ rồi áp ơi.
107. Mưa lạnh xương nhức, khớp đau
Uống, ngâm lá lốt đã sao cho vàng.
108. Mùa Đông lạnh thấu tận xương
Củ gừng nướng cháy, ta đun uống liền.
109. Trời lạnh bị đau một bên
Gội đầu nước Quế ấy liền hết đau.
110. Quả dâu ta chín, thật hay
Bổ huyết, sáng mắt, tóc này thêm đen.
111. "Cam lồ" nước bọt chớ quên
Nuốt ực xuống bụng, tiêu tan bệnh mà.
112. Mụn thịt (cơm) nhìn chớ có buồn
Tía tô vò nát bôi vào rụng thui
113. Hóc xương , đọc thần chú câu này:
" Gần thì ra, xa thì vào" thế là nó trôi.
114. Trung tiện mà thấy khó khăn
Hạt mít đem luộc ăn vào thật hay
115. Tiểu tiện mà bí, bụng chướng thật nguy
Hành ta đem luộc uống vào hay ngay
116. Đại tiện mà gặp khó khăn
Phèn phi tán bột, rắc vào rốn thui.
117. Mồ hôi mà nó chẳng ra, nặng người
Lấy Hương Nhu tía , vừa uống vừa xông
118. Tác mũi , mà nó chẳng thông
Lấy máy sấy tóc hơ ngay ấn đường
119.Mùa Đông, trời lạnh ngủ chẳng ngon.
Đun gừng đã nướng, thêm đường cho ngon.
120. Bệnh Gout xin cũng chẳng có gì lo..
Tía tô, lá Vối, đỗ Xanh dùng lâu khỏi liền
121.Đi lạnh, đưa đám.. sợ nhiễm hàn tà
Về xông bồ hết, vỏ bưởi..trục hàn tà ra
122. Nắng nóng sợ nhiễm nhiệt tà
Vỏ quả dưa hấu uống vào bạn ơi
123. Trúng phong méo miệng thật lo
Kinh giới đun rượu uống cho sớm vào

Nguồn: Phuc Toan Anh

VỢ LÀ GÌ

Tôi, vốn yêu phụ nữ
Và kính vợ xưa nay.
Nhưng vẫn phải thừa nhận
Một sự thật thế này.

Vợ, về mặt triết học,
Là thực thể khách quan
Luôn tồn tại độc lập,
Hâm hâm và gàn gàn.

Nó nằm ngoài ý muốn
Của chúng ta, đàn ông.
Vợ là hàn thử biểu
Đo nỗi sợ của chồng.

Vợ, về mặt kinh tế,
Là ngân hàng cá nhân.
Gửi tiền vào thì dễ,
Rút thì rất khó khăn.

Ngân hàng ấy sai phạm,
Mà sai phạm thường xuyên.
Nhưng không được khiếu nại,
Phải ngậm ngùi mất tiền.

Vợ, về mặt tài sản,
Thì nhàm cũ, lỗi thời,
Nhưng không thể thanh lý,
Đành phải dùng suốt đời.

Vợ, về mặt xã hội,
Là cá nhân tự do,
Tình nguyện cùng chung sống
Rồi kêu mất tự do.

Nhưng cái tự do ấy
Nếu ta, các ông chồng,
Giả vờ muốn trả lại,
Thì họ lại nói không.

Vợ về mặt công nghệ,
Là một trạm ra-đa,
Thu và phát cực nhạy
Chuyện lớn nhỏ trong nhà.

Vợ, với người cày ruộng
Là mảnh đất khô cằn.
Gieo trồng không kết quả.
Bỏ thì sợ đói ăn.

Vợ, với các ông giáo,
Là học trò ngu lâu.
Giải thích mãi chẳng hiểu.
Chỉ hỏi đúng một câu.

Với người mua vé số,
Vợ là một vận may.
Ai cũng mong độc đắc
Nhưng suốt đời trắng tay…

Tóm lại, vợ là thế.
Vốn chẳng hay ho gì.
Nhưng ai cũng cần vợ.
Tin hay không thì tùy.
















Thái Bá Tân

Độc thần kiếm và những vũ khí lợi hại của danh tướng Tây Sơn


Độc thần kiếm, song thần côn hay tam thần đao là những vũ khí huyền thoại của các danh tướng Tây Sơn, khiến kẻ thủ khiếp đảm. 
Trong lịch sử Việt Nam, khởi nghĩa Tây Sơn là phong trào nông dân duy nhất giành được thắng lợi hoàn toàn. Thành quả đó có sự đóng góp rất lớn của những danh tướng kiệt xuất gắn liền vũ khí lợi hại.

Độc thần kiếm
Đây là thanh kiếm cổ mà Nguyễn Nhạc tình cờ mua được lúc đi buôn trầu trên thượng nguồn sông Côn (Bình Định), khi ông và hai em trai còn chưa dựng cờ khởi nghĩa.
Kiểm cổ trong Bảo tàng Quang Trung ở Tây Sơn, Bình Định. Ảnh: Phạm Ngọc Dương/VTC News.
Sau khi có được bảo vật, ông mang tặng cho thầy Trương Văn Hiến. Trương sư phụ biết là kiếm quý nên cất giữ rất kỹ. Khi Nguyễn Nhạc xây dựng xong cơ sở chiến đấu, xuống An Thái thăm thầy và vấn kế, Trương Văn Hiến trả lại thanh kiếm cho Tây Sơn vương để làm đại sự.
Theo sách Võ Nhân Bình Định, cây độc thần kiếm dài hơn sải tay, có thể chém sắt. Khi lưỡi gươm được rút ra khỏi vỏ, ánh hào quang tỏa ra lóa mắt. Người dân tộc vùng Tây Sơn thượng tin rằng đây là thanh kiếm của thần ban cho nhà vua nên gọi là kiếm thần và gọi Nguyễn Nhạc là "Vua Trời".
Nguyễn Nhạc còn dùng kế khiến nhiều người tin đây là thanh kiếm trời ban cho ông. Một hôm, Nguyễn Nhạc cùng bộ hạ ở An Khê về đến Hoành Sơn thì ngựa lồng lên, rồi thẳng cổ phi nước đại. Đến chân núi phía trong gò Sặt, cương ngựa bị đứt khiến Nguyễn Nhạc té nhào xuống đất, chân bị trật khớp không đứng dậy được.
Đám tùy tùng chạy đến xoa bóp hồi lâu mới bớt. Khi đứng dậy lên ngựa, Nguyễn Nhạc chợt thấy chuôi kiếm ló ra nơi vách đá trên sườn núi. Ông sai người lấy thì thấy một thanh kiếm cổ, lưỡi sáng. Ai nấy đều mừng, cho rằng đó là kiếm trời ban. Sau này, ngọn núi đó mang tên hòn Kiếm Sơn.

Song thần côn
Đó là hai cây côn của võ tướng Võ Đình Tú và Đặng Xuân Phong. Ngân côn của tướng quân Võ Đình Tú màu trắng được rèn bằng bạch thiết, rất chắc và khá nặng, phải hai người khiêng. Tương truyền, Võ Đình Tú múa côn dưới mưa, người không dính giọt nước.
Thiết côn của tướng quân Đặng Xuân Phong màu đen, nặng như ngân côn.
Ngân côn và thiết côn chỉ lớn bằng cổ tay, dài quá đầu, song rất nặng. Khi lâm trận, côn múa lên, ngân côn tạo thành đạo bạch quang, thiết côn tạo nên luồng hắc quang. Đường côn đi đến đâu, vũ khí của đối phương văng lên tứ phía, người ngã rạp như rạ gặp bão.
Cũng theo sách Võ Nhân Bình Định, một lần, hai vị cao thủ dùng côn thi đấu biểu diễn cho hoàng tử Quang Toản xem. Đường côn qua lại nhanh như chớp, mạnh như gió bão, đẹp như "rồng bay phượng múa". Gia tướng đến xem chật cả trong lẫn ngoài. Tiếng hò reo, vỗ tay vang cả một góc thành .

Tam thần đao
Đó là ba cây đại đao của Nguyễn Huệ, Trần Quang Diệu và Lê Sĩ Hoàng.
Nguyễn Huệ dùng Ô Long đao, cán bằng gỗ mun đen nhánh, lưỡi được làm bằng loại kim khí màu đen. Khi đao ra khỏi vỏ, khí lạnh tỏa ra một vùng khá rộng. Thanh đao không có hào quang, chỉ có khí lạnh, rất sắc bén. Nó rất nặng, phải một người vác mới nổi.
Huỳnh Long đao là vũ khí của tướng quân Trần Quang Diệu, do sư phụ Diệp Đình Tòng truyền tặng. Cặp Ô Long và Huỳnh Long đao phối hợp tung hoành trong trận đánh quân Xiêm tại Rạch Gầm, Xoài Mút. Các chiến công của Trần Quang Diệu đều do thanh Huỳnh Long góp phần tạo nên.
Xích Long đao là vũ khí của tướng Lê Sĩ Hoàng. Ông quê ở Quảng Nam, nổi tiếng có sức khỏe, lúc nhỏ chăn trâu cho phú ông trong thôn. Một hôm trâu bị cọp bắt, sợ chủ bắt đền, ông chạy trốn vào rừng sâu và lạc đường.
Ông gặp được người truyền thụ võ nghệ, chuyên sử dụng cây đao Xích Long của sư phụ ban tặng.
Năm Quang Trung thứ hai (1789), vua Quang Trung tổ chức khoa thi võ đầu tiên tại kinh đô Phú Xuân, Lê Sĩ Hoàng ra ứng thí. Ông tỉ thí với Trần Quang Diệu, hai thanh đao Huỳnh Long và Xích Long như đôi rồng hợp nhau múa lượn, người xem vỗ tay hoan hô vang dậy.
Hai bên bất phân thắng bại. Vua Quang Trung cao hứng, truyền đem Ô Long đao ra để tỷ đấu cùng Lê võ sinh. Lê Sĩ Hoàng cung kính quỳ tâu: Với Trần tướng quân, hạ thần còn chưa địch nổi, huống chi bệ hạ.
Nhà vua đắc ý, vỗ vai họ Lê, cười nói: “Khanh là Hứa Chử của ta đó!”. Sau đó, vua cởi chiếc cẩm bào đang mặc, ban cho Lê Sĩ Hoàng.

Theo Nguyễn Thanh Điệp (Zing)

NHỮNG GHI CHÚ THÚ VỊ VỀ PHÚ NHUẬN




Cầu Kiệu. Không ảnh 1955. Photo by Raymond Cauchetier.
Rời cầu Kiệu đi về Saigon sẻ qua một cái chợ, ngày xưa gọi là chợ Xã Tài, chợ bắt đầu là một nhóm bạn hàng ngồi tụ tập lộ thiên và có tên là Chợ Mới. Vì thế Cầu Kiệu thời ấy có tên là cầu Chợ Mới. Sau có ông Lê Tự Tài, xã trưởng Phú Nhuận, quyên góp tiền của bà con bán hàng, để mua vật liệu xây dựng, nhà lồng chợ bằng tre, lá. Mấy năm sau, mới thay bằng cột gỗ, lợp ngói, và được người dân gọi là Chợ Xã Tài. Đầu thế kỷ 20, người ta cho xây mặt tiền chợ nhà lồng và đắp lên đó mấy chữ nổi: “Marché de Xa Tai”. Nhưng tồn tại chẳng bao lâu, thì được thay bằng chữ “Marché de Phu Nhuan”, tức Chợ Phú Nhuận hiện nay. Đây là một trong các ngôi chợ lâu đời nhất ở Sài Gòn. Xã Phú nhuận thời ấy là một xã lớn có đền 72 ngôi đền chùa (Trương Vĩnh Ký trong Saigon et ses environs), nhưng đa số không còn tồn tại đến ngày nay.
Cách cầu Kiệu không xa, có lăng Đô-đốc Võ Di Nguy, lăng Ông Trương Tấn Bửu, một danh tướng thời Gia Long Minh Mạng, một thời là Tổng Trấn Gia Định Thành.

 Saigon 1971-72. Photo by Terry Nelson. Có lẽ là đường Chi Lăng, nay là Phan Đăng Lưu.



Đây là các em Oanh vũ của Gia đình Phật Tử. Ngã ba Võ Tánh-Trương Tấn Bửu.
Danh từ ‘Oanh vũ’ là tên của một loài chim được lấy ra từ trong những câu chuyện đạo và chuyện tiền thân của Đức Phật như “Lòng Hiếu Chim Oanh Vũ”, “Lòng Nhân Từ của Chim Oanh Vũ”…
Ngành Oanh Vũ bao gồm các em ở độ tuổi từ 7 tới 12 tuổi. Trong Gia đình Phật Tử được chia theo các Bậc học: Mở Mắt, Cánh Mềm, Chân Cứng và Tung Bay. Còn 1 Bậc khác nữa đó là Bậc Sơ Sanh.
Ngành Oanh Vũ là nền tảng quan trọng của một Đơn Vị Gia đình Phật Tử, bởi vì một em Oanh Vũ ngoan sẽ trở thành một em Thiếu Nam, Thiếu Nữ tốt.
 Hai rạp cinéma Văn Cầm: VĂN CẦM Phú Nhuận và VĂN CẦM Chợ Quán.
Hình trái: Văn Cầm - đường Võ Di Nguy, Phú Nhuận.
Hình phải: Văn Cầm - đường Trần Hưng Đạo, gần ngã tư Trần Hưng Đạo–Nguyễn Biểu, sau 1965 là đại lý nhập cảng xe gắn máy Honda đầu tiên của Việt Nam. Rạp Lux xây năm 1973-1974, ở số 647 Trấn Hưng Đạo, phía trái của Rạp Văn Cầm khoảng 5-6 căn.

Cổng Tòa soạn báo Thiếu Nhi trước 1975, ở đường Thiệu Trị, nay là Trần Hữu Trang.-Tư liệu: Báo Thiếu Nhi

NHỮNG GHI CHÚ THÚ VỊ VỀ PHÚ NHUẬN.
Do có viết vài bài mang cảm xúc cá nhân về Phú Nhuận, thỉnh thoảng tôi được hỏi thêm về vùng đất này. Để chia sẻ tốt nhất có thể, xin đưa một bài trích từ cuốn sách nghiên cứu “300 năm Phú Nhuận” xuất bản năm 1988 tức 31 năm trước (*). Do chọn lọc theo góc nhìn riêng, tài liệu này không đầy đủ những điều cần biết về Phú Nhuận. Xin chia sẻ cho những ai quan tâm đến vùng đất này.

NHỮNG GHI CHÚ THÚ VỊ VỀ PHÚ NHUẬN
Tên Phú Nhuận được cho là có từ câu : “Phú nhuận ốc, Đức nhuận thân” (tạm hiểu là : giàu có làm đẹp con người, đức độ làm đẹp bản thân) trích trong sách Đại Học của Trung Hoa cổ.

Phú Nhuận đông dân lên từ khoảng 1850, do người đàng ngoài vào Nam lập nghiệp. Trong số đó có ông Lê Tự Tài từ miền Bắc vào và huy động bà con khẩn hoang lập ấp vùng cầu Kiệu. Đó là lý do chợ Phú Nhuận ngày nay từng có tên là chợ Xã Tài (ông Lê Tự Tài là xã trưởng khi Phú Nhuận được đặt thành xã).

Khu vực quanh cầu Kiệu là tụ điểm dân cư đầu tiên của Phú Nhuận rồi mới lan dần ra do dân từ lục tỉnh lên và người Hoa đến khai khẩn, làm rẫy trồng hoa màu, thuốc lá.
Cuối thế kỷ 19, khu sân Gôn ở phường 9 ngày nay là nơi trồng thử nghiệm 10 ngàn cây cao su và đây là vườn cao su đầu tiên trồng thí nghiệm quy mô lớn nhất Đông Dương.

Ngày xưa người dân gọi đường Phan Đăng Lưu ngày nay là đường Hàng Sao vì ở ven đường có những cây sao cao vút.
Cư dân Phú Nhuận được sách xưa của Pháp đề cao là có tài làm nghề thủ công như thêu, đan, cẩn, thợ bạc, chạm, nhuộm, đóng giày… Giới nhà thầu xây cất của cả thành phố thường đến Phú Nhuận tuyển thợ giỏi nghề thợ mộc, thợ sơn, hồ, gò, đúc, rèn…
Đến 1930, Phú Nhuận còn hoang vắng như miền quê, có cò trắng bay trên cánh đồng, có ao vũng để câu cá. Phú Nhuận nổi tiếng về cá lia thia (Chắc tại vậy mà ông cùi ở hồ Biểu Chánh phất lên nghề bán cá đá!). Đến khi sân bay Tân Sơn Nhứt được xây, Phú Nhuận đã thành vùng ngoại ô quan trọng và càng đông dân hơn.

Tại góc đường Hoàng Văn Thụ - Trần Huy Liệu (xưa là Võ Tánh - Trương Tấn Bửu) khoảng năm 1929-1933 là sân banh. Lúc đó phong trào đá banh rất sôi nổi nên sân dần nâng cấp được chọn làm nơi thi đấu giữa các đội hạng nhứt của Sài Gòn - Gia Định.
Đường Cô Giang ngày nay, xưa gọi là hẻm Đội Có. Thời Pháp thuộc, phía người Hoa có ông Hui Bon Hoa (Chú Hỏa) có nhiều nhà đất thì phía người Việt có ông Đội Có làm chủ nhiều nhà đất ở Phú Nhuận. Ông đi lính Pháp, lên chức Đội. Khi chợ Phú Nhuận phát triển, đất hai bên đường từ cầu Kiệu đến ngã tư Phú Nhuận còn nhiều nơi bỏ trống, sình lầy, ông mua với giá rẻ, cất nhiều dãy phố, làm giàu vì là phố thương mại. Phía trong hẻm gần chợ, ông mua nhiều miếng lớn, trong hẻm mang tên ông sau này. Ông còn mở dịch vụ xe khách với hãng “Bửu Hiệp” chạy tuyến Sài Gòn - Đà Lạt. Sau ông kinh doanh rạp hát, một rạp ở đầu cầu Kiệu bên Tân Định và rạp Văn Cầm ở Phú Nhuận. Ông có lấy một người dì của nghệ sĩ Kim Cương làm vợ.

Phú Nhuận là nơi duy nhất ở miền Nam có thú tiêu khiển “cô đầu” du nhập từ miền Bắc từ năm 1934, tập trung ở ngã ba Lò Đúc (nay là Phan Đình Phùng – Nguyễn Trọng Tuyển tức Võ Di Nguy – Nguyễn Minh Chiếu trước 1975). Ngôi nhà tổ chức hát đầu tiên được gọi là “Nhà Bà Cụ”, không rõ cụ là ai. Khách đến chơi nghe hát cho vui rồi đi tìm “lạc thú” khác. Giá thời ấy khá cao, mỗi suất một phòng nghe đàn hát tốn 5 đến 10 đồng. Nhiều trọc phú phía Sài Gòn thuê đứt ba bốn phòng chiêu đãi thân hữu, bày rượu thịt ê hề, say sưa ồn ào.

Về các lăng miếu, ngoài lăng Trương Tấn Bửu ở đường Nguyễn Thị Huỳnh (Tự Đức cũ), có lăng Võ Tánh xưa nằm trong Tổng Tham mưu nên người dân không thể viếng, nay nằm trong quân khu 7, gần đài nước. Lăng thủy sư đô đốc Võ Di Nguy thời Nguyễn Ánh trên đường Phan Đình Phùng ngày nay.

Chùa Từ Vân ngày nay trên đường Phan Xích Long xưa gọi là chùa Bà Đầm có nguyên do: một công chức Pháp tên Barbanson lấy vợ Việt lai Hoa tên là Lý Thị Ly. Bà này sùng đạo Phật, bỏ tiền ra xây chùa. Bà là vợ ông Tây nên chùa bà xây gọi là Chùa Bà Đầm. Tư liệu không cho biết tên chính thức thời đó là gì. Bà mất năm 1942.

Nhà văn Sơn Nam nhận xét về người Phú Nhuận xưa: “Ở Phú Nhuận, rõ là nét tươi sáng của người Việt yêu đời sang trọng mà không xa hoa. Vui tươi hiếu khách mà không ồn ào. Nhạy bén trước thời cuộc, gắn với với lao động, dồi dào lòng yêu nước”.

CẦU VÀ ĐƯỜNG Ở PHÚ NHUẬN: (theo Khánh Giang):
Đầu thập niên 1920, những con đường ở Phú Nhuận được phân cấp từ Hương lộ đến đường Liên tỉnh. Thí dụ như đường Trần Kế Xương bây giờ là Hương lộ 22. Đoạn Phan Đình Phùng – Nguyễn Kiệm là Tỉnh lộ số 1 phụ. Đoạn Phan Đăng Lưu – Hoàng Văn Thụ là Tỉnh lộ số 1 kép... Cho đến thập niên 1940, ngoài các con đường có tên Pháp và một ít tên Việt, các con đường nhỏ vẫn còn mang tên số như:
Đường Nguyễn Kiệm là đường 17.
Đường Thích Quảng Đức là đường 19.
Đường Nguyễn Văn Đậu là đường 20.

Tuy vậy, người dân Phú Nhuận thích gọi theo tên đường theo cách thực tiễn tùy theo quang cảnh, nghề cư dân, chùa chiền...
Cầu Công Lý hồi xưa là cầu Mac Mahon lúc đầu xây sườn bằng sắt rất hẹp, lót ván nhỏ chỉ vừa một chiếc xe hơi nhỏ. Bên này cầu phía Phú Nhuận là con đường đá xanh, đất đỏ... chỉ đi vài bước là tới ruộng. Từ nội thành Sài gòn ra sân bay Tân Sơn Nhứt không đi qua cầu này được mà phải vòng qua cầu Kiệu hay cầu Bông, đi theo đường Hoàng Văn Thụ (Võ Tánh cũ) ra sân bay. Thập niên 1940, ven đường có nhũng biệt thư xây cất cầu kỳ theo lối Pháp, vài nhà có mái nhọn độc đáo kiểu ở xứ lạnh. Lúc đó đã có cư xá Đỗ Hữu Vị (thuộc phường 12, không rõ bây giờ là ở đâu). Cầu Mac Mahon lúc này đã có xi măng tráng nhựa, hai bên có lối hẹp dành cho người đi bộ. Cuối thập niên 1950 được đúc, nới rộng ra, phóng dài, hai bên có lối dành cho xe máy. Ven đường, ngoài các biệt thự là các dãy phố nhà mái thấp chen giữa các rẫy rau, tưới bằng nước giếng “cần vọt”. Phía bên cuối đường có nghĩa địa nhỏ khoảng chục ngôi mộ.

Đường Phan Đình Phùng: xưa là Tỉnh lộ số 1 phụ (cuối thế kỷ 19) - Paul Blanchy nối dài (1902) - Louis Berland (thập niên 1930) - Võ Di Nguy (1954-1985). Từ 1935-1936 trên đoạn Hai Bà Trưng chạy ngang cầu Kiệu đến ngã tư Phú Nhuận có đường xe điện, dừng ở chợ Tân Định và chợ Xã Tài (chợ Phú Nhuận) và chỉ hai năm thì ngưng. Cầu Kiệu lúc đầu tên là cầu Chợ Mới, dựng bằng cây vắp và ván trai. Đầu thế kỷ 20 mới làm sườn sắt, Pháp đặt tên là cầu Paul Blanchy nhưng vì khó gọi nên dân vẫn gọi là cầu Kiệu. Tài liệu có nhắc đến chùa Quan Thánh thờ Quan Công ở phường 17 của người Triều Châu nằm trên đường này. Họ là nhóm người Tiều trồng cải, kiệu dọc theo hai bên cầu nên người dân mới gọi là cầu Xóm Kiệu rồi dần thành cầu Kiệu. Sau nhóm người này dời về miệt Bình Thới nên giao việc quản lý chùa cho Hội Phú Hữu, nên gọi là đền Phú Hữu. Sau thành garage xe hơi (Phải chăng đây là “đình ông Cọp” giờ là Nhà sách FAHASA Phú Nhuận?)

Đường Nguyễn Kiệm: xưa là đường đất đỏ, đủ cho hai xe thổ mộ tránh nhau. Ven đường có trồng tre, chuối, rải rác vài căn nhà không ra cái xóm. Từ ngã tư Phú Nhuận đi lên Gò Vấp đi ngang xóm Vườn Mít, trồng mít ăn trái và lấy hột xay làm bột. Vườn Mít chỉ phỏng đoán nằm ở phường 9,3 và 5, đã mất dấu vết. Giữa thập niên 1940 quanh chợ Nguyễn Đình Chiểu bây giờ là vườn hoa hồng. Nhị tỳ Nước Hẹ nằm cạnh cổng xe lửa số 10, đây là một trong những nhị tỳ (nghĩa trang) xưa nhất Phú Nhuận từ cuối thế kỷ 19, nay không còn.

Đường Hòang Văn Thụ: Có công binh xưởng I-wai của Nhật, nay là Nhà thiếu nhi Phú Nhuận (trước năm 1961 gia đình tôi ở trong cái xóm I-wai gần đó, có nhiều cây cối um tùm).

Đường Nguyễn Văn TrỗI: Trước năm 1932, đường này còn nhỏ bé, nhà cửa thưa thớt với rẫy trồng rau cải. Nhờ có sân bay mà đường nâng cấp lên, lần hồi thành sang trọng. Giới tư sản lớn ở Sài Gòn có nhà, tiệm buôn ở trung tâm thành phố đến chiều tối mới về biệt thự ở Phú Nhuận để tĩnh dưỡng hoặc cuối tuần để ăn uống với bạn bè. Phía sau các biệt thự là bãi đất trống. Từ cầu Công Lý đi thẳng đến công viên Chiến Thắng, giáp đường Hoàng Văn Thụ là “mũi tàu” (có cây xăng), khoảng thập niên 1940 có một cây xoài cổ thụ hai gốc nên gọi là cây xoài đôi. Dọc đường có: Trường tiểu học Nguyễn Đình Chính là trường duy nhất của thành phố được viện trợ của ngân hàng Hồi giáo Thế giới giúp xây dựng năm 1983 (sau, nếu nhớ không lầm là mở rộng hơn bằng cách nhập thêm Nhà hát Phú Nhuận kế bên. Nhà hát này trước 1975 là bãi đất trống huấn luyện quân khuyển). Ủy ban nhân dân quận Phú Nhuận xưa là trụ sở Đảng Hắc Long của Nhật từ 1941-1945. Thánh đường Hồi giáo bên kia đường do giáo cả Mơ-Li xây năm 1969. Nhà văn hóa Phú Nhuận hiện giờ trước kia là câu lạc bộ báo chí của Mỹ. Xóm Mô phía phường 8 có nhiều mô đất và hầm của Nhật đào từ 1941-1945 để tránh bom quân đồng minh. Đầu đường Nguyễn Văn Trỗi ở công viên Chiến Thắng bây giờ, xưa là xóm Sỏi Cơm (đất phủ một lớp sạn nhỏ) là xóm nghèo dân phần lớn làm trong sân bay Tân Sơn Nhứt. Xóm năm giữa một đồng cỏ rộng, nay là sân banh quân khu 7.

Đường Huỳnh Văn Bánh: từng có tên là đường Chùa Phật (vì có chùa cổ Phú Long Tự), rồi đường Chùa Ông (vì có chùa Quan Thánh đế thờ Quan Công), rồi đường Lò Rèn vì tập trung nhiều lò rèn móng ngựa. Đó là các tên không chính thức. Năm 1954 là đường Nguyễn Hùynh Đức, đổi thành tên Huỳnh Văn Bánh từ 1985. Thập niên 1940 là đường mòn hẹp, gồ ghề, nhà vắng, dắt xe đạp đi cũng khó. Đầu thập niên 1950 đường đắp đất, đôn cao, xe ngựa xe bò ọc ạch đi qua. Ven đường, trước chùa Cây Sai (chùa Phú Thạnh bây giờ) là nghĩa địa không người trông coi, cỏ dại lấp mồ mả, dân chúng đem rác đến đổ. Sau mới tráng nhựa từng đoạn, nhà phố phát triển mạnh từ 1965. Cư xá Kiến Thiết ở phường 14 xây năm 1960 trên đất ruộng gồm hai khu: Ngói Trắng trên đường Huỳnh Văn Bánh và Ngói Đỏ trên đường Đặng Văn Ngữ, xây sau nên khang trang hơn.

Đường Trần Huy Liệu: từng là đường Capitaine Faucon (thập niên 1940), Trương Tấn Bửu (1954) rồi Trần Huy Liệu (1985). Nhà thờ Phú Nhuận góc đường Hoàng Văn Thụ - Trần Huy Liệu do vị linh mục tên Đại xây 1942, là nhà thờ đầu tiên của giáo xứ Phú Nhuận, còn gọi là “nhà thờ Nam” để phân biệt với các “Nhà thờ Bắc” của người di cư sau 1954.

Đường Lê Văn Sĩ: xưa là Eryaud des Vergnes (thập niên 1940), Trương Minh Ký (1945) Nguyễn Văn Trỗi (1975) rồi Lê Văn Sĩ (từ 1985). Đi ngang xóm Vườn Xoài (phường 13) có từ thế kỷ 19, có vườn xoài rộng lớn ăn ra tới Lăng Cha Cả. Khu này người Pháp lập nhà nghỉ mát, cấm người Việt léo hánh đến. Sau năm 1954 là nơi quy tụ của giáo dân xứ Bùi Phát. Vườn Xoài chỉ còn dấu tích tên gọi, nhà thờ Vườn Xoài. Còn nhà thờ Đa Minh, tức nhà thờ Ba Chuông thì năm 1954 là kho xăng dầu của quân đội Anh – Ấn và bị Việt Minh đốt cháy.

Đường Cô Giang: hẻm Đội Có (như đã đề cập phía trên). Trên đường có mộ Võ Di Nguy xây đầu thế kỷ 19 bề thế và hoa mỹ. Trên đường có Giếng Nước đất Phán Hùng (phường 2) cạnh nghĩa địa Hai Ngàn (đã giải toả), thời sau 1945 là nơi xử tử lính thực dân Pháp bằng cách quăng xuống giếng. Có cầu Cụt, một cây cầu ngắn nên khu đó gọi là xóm Cầu Cụt. Có xóm Bắc của người miền Bắc vào giữa thập niên 1940 và năm 1954, phần đông theo đạo Phật, dựng đền chùa theo kiểu Bắc như chùa Hải Đức (1947), đền Hùng Vương (1961)...
Đường Nguyễn Đình Chiểu: lúc đầu là hẻm Lê Văn Bền (1940-1950), Nguyễn Đình Chiểu (từ 1975). Chợ nhỏ Nguyễn Đình Chiểu sau này bắt đầu nhóm khi chợ Phú Nhuận bị đốt ngày Nam bộ kháng chiến. Lúc đầu là chợ chồm hổm, sau dời vào trong hẻm với hai dãy phố.

Đường Trần Hữu Trang: là đường Thiệu Trị (1954) rồi Trần Hữu Trang (từ 1985). Chợ Mới ở đây xây 1984 trên nền cũ nghĩa địa Phong thần (có hầm Phong thần bằng đá chứa hài cốt).

Đường Đoàn Thị Điểm: từng gọi là hẻm Chu Mạnh Trinh (từ giữa thập niên 1950, do có trường tư thục Chu Mạnh Trinh). Cuối đường là khuôn viên dinh tỉnh trưởng Tân Bình, có bãi cỏ rộng. Sau là bệnh viện tư của bác sĩ Hồ Văn Nhựt. Chủ đất là ông Cafford, có cửa hàng bán súng săn ở Sài Gòn nên tòa nhà này gọi là “nhà lầu Cafford”, sau bán đất lại cho Địa ốc Ngân hàng (Crédit Foncier) gọi là “đất nhà băng”. Toà nhà bị đốt năm 1945.
Đường Trần Kế Xương: từng là Hương lộ 22 (1930-1940), Trần Kế Xương (từ 1954, đúng ra là Trần Tế Xương - nhà thơ).

Đường Phan Tây Hồ: từ 1945-1946 đường này được gọi là “đường Âm phủ” vì vẻ u ám, hoang vắng, là nơi Việt Minh xử tử lính Tây. Phía nam là xóm Mả Đen với một nhóm mộ cổ còn lại từ 1863, bằng ô dước ngã màu đen, tương truyền chôn người Khơ-me đã từng định cư ở đây từ thế kỷ 18.

Đường Hải Nam: có tên từ năm 1954, do có một nhóm người Hoa gốc Hải Nam sinh sống lâu đời ở Phú Nhuận có khu nghĩa địa nằm cạnh đường này (nay đã giải tỏa).
Phạm Công Luận (lược trích)
(*): Trần Bạch Đằng chủ biên. Tham gia có Nguyễn Đình Đầu, Sơn Nam, Khánh Giang, Đỗ Chí Long.do bộ phận nghiên cứu sưu tầm lịch sử quận Phú nhuận xuất bản 1988.
--Phạm Công Luận
https://www.facebook.com/pcluan/posts/10213086889481713
 Sinh hoạt chợ Phú Nhuận.

Ảnh : Đức Trí

Một góc sân lăng Phó tổng trấn thành Gia Đình Trương Tấn Bửu trên đường Nguyễn Thị Huỳnh

Ảnh: Đức Trí


Thứ Tư, 22 tháng 5, 2019

Muộn


     Dương Thu Hương      
         
Muộn màng rồi, phải không anh ?
Thôi thì, hãy giữ yên lành cho nhau
Nào ai Dám trách ai đâu
Đừng nhìn em thế, mà đau đớn lòng
Anh về đi ! Kẻo người mong
Chắc là con trẻ cũng trông ngóng nhiều
Mình em trở lại vườn yêu
Vườn hoa rụng trắng ngõ chiều lối xưa
Quá mùa nên cải thành dưa
Trầu không héo lá, mà chưa kịp vàng
Muốn sang mà chẳng kịp sang
Dẫu là một chuyến đò ngang cuối ngày./.