XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG

Thứ Sáu, 17 tháng 7, 2026

BẠN VÀ TÔI

Đời người mấy thuở cùng quê,
Mấy ai chung một lời thề năm xưa.
Dẫu bao nắng sớm mưa trưa,
Tình kia vẫn đượm như vừa hôm qua.
Có thời áo vá đường xa,
Miếng cơm sẻ nửa vẫn là anh em.
Nghèo mà chẳng thẹn với đêm,
Giàu lòng nghĩa bạn, chẳng thèm hơn thua.
Mỗi người một nẻo nắng mưa,
Một người phố lớn một người quê hương.
Dẫu không chung một con đường,
Vẫn chung ký ức vấn vương một thời.
Tháng năm tóc bạc da mồi,
Được còn gặp gỡ đã vui lắm rồi.
Đâu cần chức trọng danh ngôi,
Chỉ cần còn gọi: “Bạn ơi!” chân thành.
Chuyện xưa như bóng cây xanh,
Che bao kỷ niệm ngọt lành tuổi xuân.
Bao phen bão nổi phong trần,
Nghĩa tình còn đó, muôn phần chẳng phai.
Mai này dẫu tóc trắng phai,
Dẫu chân chậm bước, dẫu vai mỏi mòn.
Bạn còn, ta vẫn sắt son,
Ấm hơn chăn gấm, quý hơn bạc vàng.
Nâng ly cà phê bên hàng,
Mặc mưa ngoài ngõ mênh mang đất trời.
Cười lên một tiếng bạn ơi,
Để quên năm tháng một thời gian nan.
Đời người ngắn tựa mây tan,
Có nhau đã đủ muôn vàn niềm vui.
Mai sau khuất bóng cuối trời,
Tình xưa vẫn sáng trong lời nhớ nhau

LỜI CHA NÓI DỐI


Năm chín tuổi tiễn cha ra trận,
Con òa khóc níu vạt áo sờn.
Cha cười bảo: “Rồi cha sẽ lại”,
Ngoan cùng mẹ, đợi buổi hoàng hôn.
“Giặc tan cha sẽ về ngay đó,
Ông bà vui, mẹ bớt ưu phiền.
Cha còn đón cho con em nhỏ,
Nhà mình đầy tiếng cười bình yên.”
Con tin mãi lời cha năm ấy,
Đếm từng mùa lá rụng sân quê.
Đợi cánh võng, đợi bàn chân cũ,
Đợi người cha chẳng kịp quay về.
Năm mươi mốt mùa xuân đất nước,
Khúc khải hoàn vang khắp non sông.
Riêng mái nhà âm thầm hiu quạnh,
Vẫn chờ cha giữa khoảng mênh mông.
Ôi lời hứa hóa thành lời dối,
Để đời con khắc khoải đêm ngày.
Em chẳng có như điều cha nói,
Mẹ ôm sầu tóc trắng dần thay.
Tờ báo tử lạnh hơn dao cắt,
Xé tim người còn sống bơ vơ.
Con lặng lẽ ôm tờ giấy mỏng,
Ngỡ trời nghiêng, đất cũng thẫn thờ.
Bao năm lặn khắp miền chiến địa,
Hỏi rừng sâu, hỏi núi, hỏi ngàn.
Hỏi dòng suối, hỏi từng tấc đất,
Cha nằm đâu giữa cõi mênh mang?
Con chỉ ước tìm nắm xương cũ,
Đón cha về đất mẹ quê hương.
Để chiều khói quyện bên mồ lạnh,
Ấm linh hồn qua mỗi tuần hương.
Cháu thơ hỏi: “Ông đâu hở nội?”
Con nghẹn ngào chẳng biết đáp sao.
Chỉ lặng lẽ nhìn lên di ảnh,
Nước mắt rơi ướt cả vành khăn.
Vu Lan đến, mẹ hoài ngóng đợi,
Mắt mờ dần vẫn ngóng ngoài hiên.
Đến cuối đời không còn đợi nổi,
Mang theo niềm hy vọng chưa yên.
Giờ tóc con cũng pha màu bạc,
Bóng đời nghiêng xế phía hoàng hôn.
Muốn theo mẹ về nơi cha đợi,
Một lần thôi trọn nghĩa vuông tròn.
Nếu linh thiêng cha còn nghe thấy,
Xin tìm hai chú giữa ngàn xa.
Dẫu rừng thẳm hay nơi biển rộng,
Anh em cùng trở lại quê nhà.
Để con cháu đời đời hương khói,
Để quê nghèo thôi nặng niềm đau.
Cha ơi… lời dối vì non nước,
Con hiểu rồi… nhưng vẫn nghẹn đau.
Thơ cho 27/7/2026

GẶP LẠI EM SAU BA MƯƠI LĂM NĂM.


Ba mươi lăm năm anh về đất Bắc,
Để em hoài ở lại với Sài Gòn.
Hai phương trời ôm hai miền thương nhớ,
Mỗi cuộc đời một lối rẽ cô đơn.
Ngày chia biệt chẳng một lời hẹn ước,
Chiến tranh qua còn chia cắt lòng người.
Anh lặng lẽ theo dòng đời xuôi ngược,
Em âm thầm giữ ký ức chưa vơi.
Thời gian phủ màu lên từng mái tóc,
Xóa tuổi xuân trên ánh mắt môi cười.
Chỉ kỷ niệm vẫn nguyên vẹn trong dạ,
Theo tháng năm lặng lẽ chẳng hề nguôi.
Rồi một bữa vô tình trên mạng cũ,
Anh gặp em giữa biển rộng nhân gian.
Trang Facebook hiện nụ cười quen thuộc,
Lòng bâng khuâng như sống lại xuân vàng.
Bao lần hẹn rồi bao lần lỡ hẹn,
Cuối cùng rồi cũng gặp giữa Sài Gòn.
Quán nhỏ nép bên dòng sông lộng gió,
Chiều bình yên xua bớt những héo hon.
Em vẫn thế dịu dàng như thuở ấy,
Nét đoan trang chưa nhạt dấu thời gian.
Chỉ đôi mắt sâu hơn màu năm tháng,
Chứa vui buồn qua mấy độ hợp tan.
Anh cũng khác sau bao mùa dâu bể,
Nửa đời người nếm đủ vị buồn vui.
Mái tóc bạc kể bao điều chưa nói,
Mỗi nếp nhăn là một chặng đường dài.
Ta kể lại những bạn bè năm cũ,
Những con đường rợp bóng phượng sân trường.
Những mơ ước đã tan vào năm tháng,
Vẫn còn đây hai tiếng gọi quê hương.
Ba mươi lăm năm đủ dài em nhỉ,
Để yêu thương thôi nhức nhối trong lòng.
Để hờn trách hóa thành cơn gió nhẹ,
Bay ngang đời như chiếc lá sang sông.
Không còn hỏi vì sao anh rời bước,
Cũng chẳng buồn nhắc chuyện cũ năm xưa.
Chỉ mừng được thấy em còn mạnh khỏe,
Nụ cười hiền như nắng cuối chiều thưa.
Lúc chia tay anh nhìn em mỉm cười:
“Sài Gòn rộng vẫn cho mình gặp lại.”
Em khẽ đáp, mắt long lanh như nước:
“Có lẽ duyên chưa cạn giữa trần ai.”
Mình gặp lại đâu để yêu từ đầu,
Cũng chẳng để vá những điều dang dở.
Chỉ gặp lại để cảm ơn năm tháng,
Đã chữa lành bao vết cắt bơ vơ.
Thanh xuân cũ khép bằng chiều rất lặng,
Bằng bình yên sau mấy cuộc đổi dời.
Em ở lại… anh trở về đất Bắc…
Mà nghĩa tình còn ở mãi trong tim
Hình ảnh chỉ mang tính minh hoạ

SINH NHẬT CỦA TÔI

Hôm nay thêm một vòng xuân,
Lật trang năm tháng bâng khuâng cõi lòng.
Nhìn về dâu bể long đong,
Đời như con nước xuôi dòng thời gian.
Bính Thân số phận đa mang,
Sinh ra giữa buổi gian nan nước nhà.
Lọt lòng quê cũ hiền hòa,
Vĩnh Lộc đất Tổ – Thành Nhà Hồ thiêng.
Tuổi thơ chân đất qua triền,
Đường làng Don Hạ nối miền ước mơ.
Mái tranh, bảng gỗ đơn sơ,
Thầy cô gieo những vần thơ đầu đời.
Lớn lên khăn gói xa xôi,
Về Hà Nội học một thời thanh xuân.
Kinh tế Kế hoạch chuyên cần,
Nuôi bao khát vọng góp phần dựng xây.
Đang khi sách vở còn đầy,
Tiếng quân lệnh gọi những ngày non sông.
Năm bảy tám bước lên đường,
Vào Nam giữ đất giữa trường lửa bom.
Tuổi hai mươi gửi núi sông,
Bốn năm áo lính bạc cùng gió sương.
Đồng đội chia ngọt sẻ thương,
Có người nằm lại chiến trường mãi xa.
Ngày về bụi phủ phong ba,
Lại ngồi ghế học như là thuở xưa.
Bạn bè tóc đã điểm mưa,
Riêng mình tiếp giấc mộng chưa trọn đầy.
Ra trường nối nghiệp dựng xây,
Mười năm Thanh Hóa tháng ngày gian lao.
Công trường nắng đổ mưa trào,
Mồ hôi thấm đất - tự hào thi công.
Rồi theo tiếng gọi non sông,
Gia Lai thủy điện, thủy nông bao mùa.
Hai mươi bốn năm nắng mưa,
Băng rừng vượt suối sớm trưa quản gì.
Đập cao giữ nước xuân thì,
Dẫn dòng tưới mát những khi hạn dài.
Biết bao sỏi đá vai gầy,
Đổi bằng tóc bạc tháng ngày hy sinh.
Đường đời lắm nỗi đinh ninh,
Được thua xin gửi nghĩa tình cho nhau.
Đi qua bão tố bạc đầu,
Vẫn yêu đất nước, vẫn giàu niềm tin.
Sinh nhật chẳng ước cao sang,
Chỉ mong con cháu bình an tháng ngày.
Bạn bè còn được cầm tay,
Cùng ôn chuyện cũ, cùng say nghĩa tình.
Nếu mai tóc trắng như mây,
Vẫn là người lính những ngày năm xưa.
Quê hương còn bóng Thành Nhà,
Là nơi giữ trọn hồn ta suốt đời.
Cảm ơn cha mẹ sinh thành,
Cho con một kiếp dẫu nhiều gian truân.
Bảy mươi mùa nắng đã gần,
Vẫn xin ngẩng mặt đón xuân với đời.
13/7/2026

XƯA TRỌNG KHÔN HƠN TÀI

NAY MUỐN PHÁT TRIỂN PHẢI TRỌNG TÀI HƠN KHÔN

Có một câu nói đáng để suy ngẫm:
“Xưa trọng khôn hơn tài. Nay muốn phát triển phải trọng tài hơn khôn.”
Đây không phải là sự phủ nhận giá trị của “khôn”, mà là lời nhắc nhở về sự chuyển đổi trong thang giá trị của một xã hội đang hướng đến phát triển bằng tri thức, khoa học và đổi mới sáng tạo.
Trước hết, cần phân biệt rõ giữa khôn và tài.
Khôn là khả năng ứng xử linh hoạt trước hoàn cảnh. Người khôn biết tránh điều bất lợi, biết nắm bắt thời cơ, biết lựa chọn con đường ít rủi ro nhất. Trong lịch sử, khi con người còn phải vật lộn với thiên tai, chiến tranh, đói nghèo, sự khôn ngoan giúp con người tồn tại. Vì thế, ông cha ta mới có những câu như: “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”, “Một điều nhịn, chín điều lành” hay “Khôn sống, mống chết”.
Nhưng khôn cũng có nhiều cấp độ. Có khôn ngoan dựa trên đạo lý và trí tuệ, nhưng cũng có khôn lỏi – chỉ chăm chăm tìm lợi ích cho mình bằng mưu mẹo, lách luật hoặc lợi dụng người khác. Khi xã hội quá đề cao cái “khôn” mà không phân biệt hai khái niệm này, rất dễ dẫn đến tâm lý “miễn mình có lợi”, còn lợi ích chung bị xem nhẹ.
Ngược lại, tài là năng lực tạo ra giá trị mới. Người tài không chỉ biết thích nghi mà còn biết thay đổi hoàn cảnh. Họ sáng tạo ra máy móc, công nghệ, thuốc chữa bệnh, phương pháp quản lý, tác phẩm nghệ thuật hay những phát minh làm cuộc sống tốt đẹp hơn.
Nếu người khôn tìm cách đi đường vòng để tránh núi, thì người tài mở đường xuyên núi.
Nếu người khôn tìm cách thích nghi với dòng nước, thì người tài xây cây cầu bắc qua dòng nước ấy.
Đó là sự khác biệt căn bản giữa tồn tại và phát triển.
Lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy, những quốc gia vươn lên mạnh mẽ đều đặt người tài vào vị trí trung tâm. Họ đầu tư cho giáo dục, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và trọng dụng nhân tài. Chính những con người ấy tạo ra giá trị mới, nâng cao năng suất lao động và thúc đẩy sự phát triển bền vững.
Trong khi đó, nếu một xã hội chỉ coi trọng sự khôn khéo trong ứng xử mà chưa thực sự khuyến khích sáng tạo và năng lực chuyên môn, thì rất dễ xuất hiện tâm lý ngại đổi mới, sợ thất bại và thích chọn những giải pháp an toàn hơn là tìm kiếm những bước đột phá.
Điều đó không có nghĩa là người tài không cần khôn.
Một nhà khoa học tài năng nhưng thiếu sự khôn ngoan trong ứng xử có thể gặp nhiều trở ngại. Ngược lại, một người rất khôn nhưng không có năng lực thực chất cũng khó tạo ra những giá trị lớn cho xã hội.
Vì vậy, điều cần hướng tới không phải là loại bỏ cái khôn, mà là đặt cái tài ở vị trí dẫn dắt và để cái khôn phục vụ cho cái tài.
Khôn giúp người tài tránh sai lầm.
Đạo đức giúp người tài không lạm dụng tài năng.
Trung thực giúp người tài giữ được uy tín.
Sáng tạo giúp người tài mở ra những chân trời mới.
Đó mới là nền tảng của một xã hội văn minh.
Trong giáo dục cũng vậy. Nếu chỉ dạy trẻ biết “khéo léo”, “khôn ngoan”, biết tránh rủi ro mà không khuyến khích tư duy độc lập, sáng tạo và tinh thần dám thử thách, thì rất khó hình thành những con người có khả năng tạo ra các giá trị mới.
Một nền giáo dục hiện đại không chỉ đào tạo những người biết sống khéo, mà còn phải đào tạo những con người biết suy nghĩ, biết sáng tạo, biết làm việc xuất sắc và biết cống hiến.
Vì thế, câu nói “Xưa trọng khôn hơn tài. Nay muốn phát triển phải trọng tài hơn khôn” có thể được hiểu như một lời hiệu triệu thay đổi tư duy.
Từ chỗ coi trọng sự khéo léo để tồn tại, hãy chuyển sang coi trọng năng lực để phát triển.
Từ chỗ chỉ biết thích nghi với hoàn cảnh, hãy hướng đến cải biến hoàn cảnh.
Từ chỗ chỉ tìm cách hơn người, hãy tìm cách tạo ra giá trị cho nhiều người.
Một dân tộc sẽ không thể trở thành hùng cường nếu chỉ có nhiều người khôn. Nhưng một dân tộc biết trọng dụng người tài, đồng thời nuôi dưỡng sự trung thực, sáng tạo và trách nhiệm, sẽ có nhiều cơ hội tạo nên những thành tựu lớn.
Vì vậy, trong thời đại kinh tế tri thức và cạnh tranh toàn cầu hôm nay, có lẽ khẩu hiệu phù hợp không còn là “khôn để tồn tại”, mà nên là:
“Có tài để kiến tạo, có đức để phụng sự và có khôn để hành xử.”
Đó mới là sự kết hợp hài hòa giữa trí tuệ, năng lực và nhân cách – nền tảng của sự phát triển bền vững cho mỗi con người và cho cả một quốc gia.

16 QUY TẮC SỐNG THEO LUẬT BẤT THÀNH VĂN

16 quy tắc bất thành văn nằm lỏng trong thế giới người lớn. Cho dù đó là công việc, mối quan hệ hay cuộc sống, bạn sẽ thọ ích được rất nhiều điều nếu bạn hiểu những quy tắc bất thành văn sau đây.
I/ Khía cạnh thứ nhất là về mối quan hệ giữa mọi người với nhau.
1 - Lòng tốt của bạn đối với người khác như viên kẹo ăn vào sẽ biến mất, tính xấu của bạn đối với người khác như vết sẹo rời xa thì lưu lại mãi mãi. Đây là bản chất của con người. Sống ở đời ai chẳng ôm tấm lòng chân thành, mong có được tình cảm chân thật để đổi lấy. Mãi cho đến khi mình đẩy vết bầm tím, chúng ta mới nhận ra rằng trong mối quan hệ giữa người lớn với nhau, không phải tất cả các trái tim và tâm hồn đều có thể đổi lấy sự biết ơn vô tận. Nếu bạn cho đi vô điều kiện thì bạn sẽ bị tổn thương bởi chính mình. Tục ngữ có câu trà không quá đậm, cơm không quá no. Bước chân ra ngoài xã hội nên nhớ lòng tốt phải có nguyên tắc của nó ấy mới là bậc khôn ngoan;
2 - Hai là, trên đời này ít người thật tâm muốn bạn có một cuộc sống tốt đẹp, phần lớn người ta sẽ chỉ lén lút đọc truyện cười của bạn mà thôi. Khi bạn tầm thường như những người xung quanh, mọi người vẫn có thể là bạn, nhưng khi bạn đạt được thành tựu vinh quang ở đó, bạn sẽ có ít bạn bè xung quanh mình hơn. Bởi vì do tâm lý đố kỵ mà thành công của bạn sẽ vô hình gây ra những nỗi đau cho nhiều người. Bạn càng thành tựu, vẻ vang bao nhiêu họ càng bực bội, ghen tị với bạn bấy nhiêu. Tôi thương bạn nghèo nhưng tôi lại sợ bạn giàu, ghét những gì bạn có, cười khi bạn không có. Điều đó đúng với rất nhiều các mối quan hệ.
3 - Ba là, khi bạn trưởng thành, bạn nhận ra rằng đôi khi bạn nói ra sự thật, bạn phải xin lỗi người khác vì bạn đã phơi bày chúng ra. Vậy muốn cuộc đời suôn sẻ thì hãy luôn giữ mồm giữ miệng. Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta thường được thầy cô dạy rằng phải là con ngoan trò giỏi, chỉ sau khi bước chân vào xã hội, chúng ta mới nhận ra rằng không phải tất cả sự thật đều có thể được nói toạc móng heo, không phải sự thật nào cũng có thể được nói ra một cách nhanh chóng. Đôi khi một câu nói bạn thốt ra sẽ vô tình làm tổn thương lòng tự trọng của người khác. Và cũng đôi khi những nhận xét thiếu suy nghĩ của bạn sẽ khiến bầu không khí hài hòa trở nên gượng gạo, khó chịu. Thẳng thôi, đừng thẳng quá. Nói thật tuy thẳng thắn nhưng có thể làm tổn thương người im lặng, ra vẻ thiếu hiểu biết, hèn nhát nhưng có thể giữ được lễ nghĩa, thể diện cho nhau. Mặc dù thuốc đắng đã tật, sự thật mất lòng nhưng trong thế giới người lớn có những lời thả nuốt vào bụng còn hơn phơi bày lên bàn ăn. Đây không phải là đạo đức giả mà là một loại trí tuệ cảm xúc.
4 - Bốn là, đừng bao giờ cố gắng thay đổi bất kỳ ai, kể cả khi người đó là những người như cha mẹ, bạn đời hay những người thân thiết nhất. Cuối cùng bạn sẽ nhận thấy rằng dù bạn có dành cả đời cũng không thể thay đổi được ai. Nhiều khi nguyên nhân khiến người ta đau khổ là vì họ đặt kỳ vọng quá cao vào những người xung quanh. Làm con thì mong cha mẹ giàu sang, sáng suốt, mạnh khỏe, làm chồng thì mong vợ thấu hiểu, bao dung. Vì vậy, chúng ta đã ra sức cố gắng biến nhau thành hình mẫu lý tưởng theo ý mình. Nhưng cuối cùng nó sẽ chỉ dẫn đến một trò hề. Bạn phải hiểu rằng mọi người đều là một cá thể độc lập với những thói quen và tính cách riêng, khó thay đổi. Thay vì chỉ tay vào cuộc sống của người khác, tốt hơn hết bạn nên tìm cách thay đổi chính mình, điều này có khi lại làm người khác tự thay đổi.
II/ Khía cạnh thứ hai là về công việc:
1 - Một là đừng nghĩ đến việc từ chức, thôi việc ngay khi công việc của bạn không suôn sẻ. Thế giới sẽ tiếp tục mà không có bạn, nhưng cuộc sống của bạn sẽ trở thành một vấn đề nếu không có công việc của bạn. Ai cũng có lúc chán nản với công việc, có thể đó là một khách hàng khó tính, có thể là một vị sếp hay lãnh đạo khắt khe, hoặc cũng có thể là một tổng nghiệp khó ưa. Luôn có một vài người khiến ta mệt mỏi. Luôn có một khoảnh khắc khiến ta phát cáu, nổi giận. Như có câu, 80 phần trăm nỗi đau trong đời đến từ việc đi làm nhưng không có việc làm, 100 phần trăm nỗi đau đến từ việc không có tiền. Những người bình thường như bạn và tôi có thể chúng ta không cần nhau, nhưng chắc chắn chúng ta đều cần một công việc để mưu sinh so với việc suốt ngày phàn nàn về người khác và luôn nói về sự từ chức, thôi việc. Hãy làm tốt công việc một cách thực tế, đó là sự trưởng thành và một người nên có.
2 - Hai là, ở chỗ làm chỉ có công đức, không có vất vả nơi làm việc. Không tin vào nước mắt mà chỉ tin vào giá trị. Ngay cả khi bạn làm việc chăm chỉ cho công ty, bạn làm thêm giờ đến 12 giờ mỗi ngày, vào mắt bạn đỏ hoe. Nhưng nếu không đạt được kết quả thì mọi thứ chẳng là gì cả, bởi vì những người khác chỉ quan tâm đến khả năng của bạn và kết quả mà bạn đã tạo ra. Nếu bạn không thể tạo ra giá trị gì, có lẽ bạn thật may mắn khi ông chủ không sa thải bạn.
3 - Ba là, đừng nuông chiều những cảm xúc hay thay đổi, hơi tí là dỗi hờn, tự ái nếu bạn không có khả năng dọn dẹp mớ hỗn độn. Kiểu người cấm kỵ nhất ở nơi làm việc đó chính là một người có ít năng lực nhưng lại rất hay nóng nảy. Một vài lời phê bình của lãnh đạo sẽ ngay lập tức phá vỡ sự phòng thủ. Đồng nghiệp tốt bụng nhắc nhở thì tâm trạng sẽ mất kiểm soát, nổi đóa ngay lập tức, nhưng cuối cùng vẫn không có cách nào dọn sạch lông gà vương vãi khắp nơi, chỉ có thể trơ trẽn mặc cho người xung quanh chê cười. Có người từng nói, mọi người đều có những cảm xúc tiêu cực và không nên mang lại những cảm xúc tiêu cực cho người khác. Đó Là sự tu luyện bản thân thực sự. Trở thành một người trưởng thành, ổn định về mặt cảm xúc là điểm cộng lớn nhất của bạn.
4 - Bốn là mỗi công ty đều có những điều khiến bạn không hài lòng, đừng mù quáng nghĩ rằng công ty khác tốt hơn và công ty của bạn là rác rưởi. Con người ta luôn thích đứng trong khung cảnh của mình mà ngước nhìn người khác, bạn có lương cao nhưng lại ghen tị với sự thoải mái của người khác, bạn làm việc tự do nhưng lại ghen tị với cách đối xử của người khác. Chúng ta luôn cảm thấy rằng công ty của mình có rất nhiều điều tồi tệ, không hài lòng và công việc của người khác đang diễn ra suôn sẻ. Nhưng cũng như người xưa có câu “chỉ thấy người khác ăn thịt mà không thấy họ khó nuôi heo”. Vinh quang của người khác có thể chỉ ở bề ngoài và bạn có thể không chịu nổi những nỗ lực, áp lực của họ đã trải qua. Vì vậy, thay vì ghen tị với sự xuất sắc của người khác, tốt hơn hết là bạn nên ổn định và làm công việc trong tầm tay. Khi bạn dồn tâm huyết vào công việc, nhiệm vụ của mình thì sự đối xử mà bạn muốn được hồi đáp tương ứng không phải là vấn đề.
III/ Về khía cạnh thứ ba là về sự phát triển.
1 - Một là sau hơn một thời gian dài trải đời, cho ta thấy thực tế chỉ nói đến thắng thua, trong thế giới của người lớn không có đúng sai trong nhiều chuyện mà chỉ có sức mạnh và thực lực. Chúng ta đã từng nghĩ rằng thế giới là tất cả về sự công bằng, nhưng thực tế sẽ vô tình phơi bày cho bạn biết. Mặc dù là phũ phàng nhưng có thể nói luật rừng, luật bất thành văn mới là chân lý của xã hội này, cũng như thành ngữ trong dân gian, thắng làm vua, thua làm giặc. Vì vậy tìm cách làm cho mình mạnh mẽ hơn là điều quan trọng hơn bất cứ điều gì khác.
2 - Hai là, nếu bạn xuất thân từ một gia đình không có nguồn lực.
Tức là không vật chất, không tầm nhìn. xuất thân kém thì tốt nhất bạn không nên nghe theo lời khuyên của người thân và bạn bè xung quanh. Bạn có những người thân như vậy ở bên cạnh mình không? Họ thường thích hướng dẫn người khác cách chọn bạn đời, cho bạn lời khuyên về cuộc sống một cách đúng đắn. Những gì họ thường nói là tôi ăn nhiều muối hơn bạn để giải thích kinh nghiệm phong phú của họ. Nhưng trên thực tế nhận thức của họ đã đi sau thời đại hàng chục năm. Khi bạn gặp những người thân là giáo viên giỏi như vậy, hãy cố gắng hành động theo ý kiến của họ càng ít càng tốt, vì theo kế hoạch của họ, khả năng cao là bạn sẽ dấn thân vào cuộc sống giống như họ.
3 - Ba là con đường đi lên chắc chắn khó khăn nhưng cửa đi xuống luôn rộng mở. Ở thời đại này, người bình thường thật sự không dễ dàng làm cái điều người ta gọi là nghịch thiên cải mệnh. Nhưng bạn phải hiểu rằng xã hội là một bể nước không đáy và mỗi người phải cố gắng hết sức để không bị nhấn chìm trong bể nước đó. Siêng năng và cầu tiến chưa chắc đã làm bạn giàu có, nhưng lười biếng nhất định chắc chắn sẽ đưa bạn trở lại nghèo khó trong một sớm một chiều. Nếu bạn không nỗ lực, cuộc đời sẽ cho bạn ăn những phát tát bất cứ lúc nào khiến bạn tuyệt vọng đến cùng cực. Bốn là tập thể dục, ăn uống đúng giờ và không ngừng đọc sách. Khi bạn cảm thấy lạc lõng ở bất kỳ giai đoạn nào của cuộc đời thì việc làm những điều này luôn là điều đúng đắn. Hồng trần cuồn cuộn sóng sau đè sóng trước và những người bình thường bị nhấn chìm trong đó như những con kiến. Trong quá trình này, ai cũng có lúc bỡ ngỡ, có lúc hoang mang, bất an khi bạn không thể nhìn thấy phương hướng ở đâu. Bạn cũng có thể ổn định và sống tốt cuộc sống trước mắt của mình. Đi ngủ sớm nếu bạn không có gì để làm, đọc nhiều hơn khi bạn có thời gian và tập thể dục nhiều hơn khi bạn rảnh. Kiên trì thực hiện những điều này cho dù đang chưa có mục tiêu hoặc đường đến thành công còn xa nhưng chí ít bạn cũng có thể sở hữu cho mình một thân hình khỏe, mạnh, cường, trắng bụng chứa đầy kinh sử và những điều tích lũy này. Những việc làm này đủ để khiến bạn vượt qua 80 phần trăm những người cũng chẳng hứa với mình.
IV/ Khía cạnh thứ tư là khía cạnh về cuộc sống.
1 - Một là đường đời tuy dài nhưng chỉ có vài bước quan trọng. Trong cuộc đời của mỗi chúng ta, có nhiều ngã ba đường, ví như chọn trường học cấp ba, quyết định công việc khi học xong đại học, chọn bạn đời, kết hôn. Đường đời không có câu trả lời chính xác cho bất cứ ai. Bạn chỉ có thể tự mình khám phá từng bước một. Điều thực sự có thể bảo vệ bạn chính là sự lựa chọn của bạn. Chọn đúng thì cuộc đời nở hoa, chọn sai có thể khiến bạn lâm vào bế tắc đường cùng.
2 - Hai là, điều gì khiến bạn hạnh phúc cuối cùng sẽ khiến bạn đau khổ? Điều gì khiến bạn đau khổ cuối cùng sẽ khiến bạn thành công? Những thú vui cấp thấp đó chẳng hạn như bù khú, cờ bạc, rượu chè hay trò chơi trực tuyến sẽ khiến bạn sảng khoái ngay lập tức. Nhưng một cảm giác sảng khoái như vậy sẽ chỉ kéo cuộc sống của bạn đi xuống. Ngược lại, học lâu thì khổ, chăm chỉ thì cực, nhưng chỉ cần bạn kiên trì, vận mệnh sẽ lặng lẽ, âm thầm mà thay đổi. Trên đời này không có thành công nào dễ dàng. Mọi sự biến đổi đều phải trả giá bằng sự đau đớn.
3- Ba là hiểu biết bao nhiêu sự thật rồi mà vẫn sống dở chết dở là vì ngưỡng hiểu chân lý ở đời rất thấp, nhưng đi theo chân lý thì rất khó. Vấn đề lớn nhất trong cuộc sống là không có khả năng thu hẹp khoảng cách giữa biết và làm, ví như biết mập mà vẫn ăn uống vô tội vạ, biết lười mà vẫn ăn chơi lêu lổng.
Người ta nói dối lòng để tự dỗ dành mình thì dễ, nhưng đối mặt với chính mình thì rất khó. Chỉ khi bạn thực sự nhìn ra khuyết điểm của bản thân và nỗ lực sửa đổi thì cuộc sống của bạn mới có thể thay đổi theo.
4 - Và bốn là, nhận ra lẽ sống mà vẫn yêu đời mới là chủ nghĩa anh hùng chân chính. Xã hội có thể nói là một đấu trường khắc nghiệt và thay đổi sẽ là sự đau đớn. Đã như vậy thì sao phải cố mà sống. Romen rolan đã từng nói, chỉ có một loại chủ nghĩa anh hùng trên đời này, đó là vẫn yêu cuộc sống sau khi đã nhìn rõ sự thật của cuộc đời. Ý nghĩa lớn nhất của cuộc sống là sống sót qua những khó khăn trước mắt, chịu đựng được đòn giáng chí mạng của cuộc đời, không ngừng vượt lên chính mình trong khó khăn. Khi bạn đi qua gió và mưa bạn chắc chắn sẽ mở ra một ngày mai tốt đẹp hơn. Thưa quý vị và các bạn, suy cho cùng, ai rồi cuối cùng cũng trở về với cát bụi tự nhiên, cho nên ở đời nên xem nhẹ được mất; Hãy tận tâm vì công việc của mình cũng coi như là có cống hiến, có thể yên lòng không hổ thẹn với lương tâm và hãy cố gắng tìm kiếm, đem lại cho mình niềm vui thanh cao là mãn nguyện lắm rồi. 16 điều chúng ta vừa xem qua không chỉ là ý nghĩa chân thực của xã hội mà còn là chân lý của hiện thực. Cầu mong tất cả chúng ta đều được lợi ích từ đó và trong quãng đời còn lại chúng ta sẽ tiếp tục hoàn thiện bản thân và sống một cuộc sống viên mãn hơn.
ST

Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2026

TỐNG DUY TÂN TIẾN SỸ QUÊ VĨNH LỘC THANH HOÁ

Tống Duy Tân sinh năm Mậu Tuất (1838) dưới triều vua Minh Mạng, tự là Cơ Mệnh, hiệu là Báo Tiền tại làng Đông Biện, tổng Bồng Thượng, nay là làng Bồng Trung, xã Minh Tân, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

Sinh trưởng trong một vùng quê nổi tiếng về khoa bảng nên ông đã theo nghề bút nghiên rất sớm. Thiếu thời ông theo học với ông Lê Khắc Úy người làng Bồng Thượng, sau đó ra Nam Định theo học với ông Phạm Văn Nghị ở làng Tam Đăng, phủ Nghĩa Hưng, nay là làng Tam Quan, xã Yên Thắng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Năm 1875 (Ất Hợi), Tống Duy Tân dự kỳ thi Hội, đã chiếm bảng vàng đậu "Tiến sĩ” được vua ban "áo mũ cân đai" về quê "vinh quy bái tổ". Dưới triều Nguyễn, Tống Duy Tân là người đậu đại khoa đầu tiên ở quê hương Vĩnh Tân (nay là xã Minh Tân). Sau khi đậu Tiến sĩ thường gọi là quan "Nghè”, ông được phong Hàn lâm Biện tu và giữ chức Thừa biện tại Bộ Hình dưới triều vua Tự Đức.
Năm 1876, ông được cử làm phúc khảo trường thi Nam Định, sau đó được bổ nhiệm làm tri phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Thời kỳ làm quan ở đây, ông đã thể hiện lòng thương người lao động, ghét cường hào nên được dân mến phục. Từ lòng yêu nước thương dân, ông được dân đồng tâm đề nghị triều đình Huế bổ nhiệm giữ án sát một tỉnh lớn. Triều đình Huế đồng ý phê chuẩn nhưng ông đã từ chối vì thấy rõ sự nhu nhược, bất lực của triều đình trước họa xâm lăng. Ông lấy cớ về quê chịu tang mẹ, xin nghỉ và mở trường dạy học vào năm 1878.
Thời kỳ này, cuộc đấu tranh giữa phe chủ chiến và phe chủ hòa diễn ra ác liệt. Trong một chuyến về Thanh Hóa, Tôn Thất Thuyết đã gặp và trao đổi với Tống Duy Tân. Biết ông là người nghĩa khí, có lòng yêu nước đã đặc cách cử ông làm đốc học Thanh Hóa, rồi Thượng biện Tỉnh Vụ, rồi Chánh xứ Sơn Phòng. Trong thời kỳ làm quan ở tỉnh nhà, ông đã dốc lòng dốc sức, trên tất cả các mặt, chuẩn bị cho việc ngăn hiểm họa xâm lược của Pháp.
Năm 1885, khi vua Hàm Nghi gửi chiếu Cần Vương chống Pháp, ông đã kịp thời hưởng ứng và nhanh chóng xây dựng lực lượng. Chính tại đình Bồng Trung, huyện Vĩnh Lộc, đã diễn ra hội nghị do Tôn Thất Thuyết chủ trì. Lực lượng chống Pháp có Tống Duy Tân tham gia vào giữa năm 1886. Ngoài ra còn có Trần Xuân Soạn, Phan Bá Vành, Đinh Công Tráng, Hoàng Bật Đạt, Cao Bá Điền, Hà Văn Mao...
Dưới sự lãnh đạo của Tống Duy Tân, cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh đã bùng nổ nhanh chóng và trở thành một trong những trung tâm của phong trào khỏi nghĩa cần Vương chống Pháp ở Thanh Hóa. Hai làng Bồng Trung và Đa Bút là căn cứ đầu tiên của cuộc khởi nghĩa, là nơi tập hợp nhân dân Thanh Hóa đứng dậy chống Pháp. Trong hai năm 1885 - 1886, dưới sự lãnh đạo của Tống Duy Tân, nghĩa quân Hùng Lĩnh đã xây dựng lực lượng, vừa vận động nhân dân ủng hộ căn cứ, vừa tổ chức chống trả những cuộc tấn công của kẻ địch. Ngoài ra còn mở rộng phạm vi hoạt động, phối hợp với các cuộc khởi nghĩa khác chi viện cho khởi nghĩa Ba Đình.
Ngày 8/11/1885, giặc Pháp từ Thanh Hóa ngược dòng sông Mã đổ bộ vào Bồng Trung. Binh lính từ sông lên, xông vào làng đã bị đánh chặn lại, bật khỏi căn cứ, rút về tỉnh lỵ Thanh Hóa. Ngay đêm đó, trong buổi mừng chiến thắng được tổ chức tại đình Bồng Trung, Tống Duy Tân đã nói với nghĩa quân và dân làng: "Tôi xin hiến dâng đứa con trai này cho Tổ quốc", đó là con trưởng Tống Nhữ Mai người đã đậu cử nhân, được giao nhiệm vụ lên miền Thượng du Thanh Hóa và ra Bắc liên kết với các toán nghĩa quân khác, mua sắm vũ khí. Tống Nhữ Mai đã hy sinh anh dũng trên đường đi làm nhiệm vụ vào ngày 15/9/1886. Như vậy, cả bốn người con trai của Tống Duy Tân đều hy sinh trong phong trào Cần Vương.
Ảnh hưởng của cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh đã làm cho bọn Pháp mất ăn mất ngủ, lồng lộn tìm mọi biện pháp, thủ đoạn trấn áp. Lợi dụng tâm lý nôn nóng của kẻ thù, ông đã bố trí sẵn trận địa rồi cử người làng Đa Bút đi báo tin cho Pháp nơi hoạt động của nghĩa quân. Ngày 22/12/1885, Pháp tập trung quân theo đường sông Mã. Chúng đổ bộ lên bãi ven đê, đánh vào làng Bồng Trung mở đường tiến vào Đa Bút. Nghĩa quân vừa đánh vừa rút, vừa nhử địch. Tới chùa Đa Bút thì bị nghĩa quân ba mặt đổ ra tấn công. Trận đánh diễn ra ác liệt. Tới khi ngớt tiếng súng, giặc mới dám xông vào làng thì nghĩa quân đã rút lui an toàn sang địa bàn khác tiếp tục hoạt động.
Đầu năm 1886, có sự phối hợp của Cao Bá Điền, nghĩa quân tập hợp lực lượng tấn công vào tỉnh lỵ và chặn đứng một toán lính Pháp càn quét ở làng An Bình (Yên Định). Đến giữa năm 1886, nghĩa quân Hùng Lĩnh xuống đóng quân tại làng Phi Lai (Hà Trung) để chiến đấu hỗ trợ cho khởi nghĩa Ba Đình.
Tháng 1 năm 1887, khởi nghĩa Ba Đình thất thủ, tức tốc Tống Duy Tân ra Bắc vận động phong trào Văn Thân phối hợp ủng hộ phong trào chống Pháp ở Thanh Hóa. Trong những năm sau, ông đã chỉ đạo cả hoạt động của nghĩa quân sông Đà (thời kỳ này nghĩa quân Hùng Lĩnh tạm phân tán), ông đã liên hệ với Đề Kiều, Đốc Ngữ, hoạt động ở vùng Hưng Hóa, Sơn Tây để ủng hộ phong trào Thanh Hóa và nghĩa quân Hùng Lĩnh. Đối với địa bàn miền Trung, ông đã liên hệ với nghĩa quân Phan Đình Phùng ở Hương Khê, Hà Tĩnh, vươn xa hơn ông còn liên hệ với phong trào nông dân khởi nghĩa ở Yên Thế, Bắc Giang do Đề Thám lãnh đạo.
Năm 1889 - 1890, dù Ba Đình, Ma Cao thất thủ, nghĩa quân Hùng Lĩnh vẫn tồn tại ở Bồng Trung, Đa Bút và ngày càng được củng cố trở thành lực lượng chiến đấu mạnh nhất ở Thanh Hóa, nối liền giữa phong trào miền xuôi với miền núi. Dưới sự lãnh đạo của Tống Duy Tân và Cao Bá Điền, nghĩa quân Hùng Lĩnh cơ động linh hoạt như đánh mai phục sâu hoặc chống trả khi bị bao vây. Từ năm 1889 - 1892, nghĩa quân Hùng Lĩnh đã chiến đấu trên địa bàn rộng lớn từ Thọ Xuân sang Nông Cống, Thiệu Hóa đến Yên Định, Bồng Trung, Đa Bút, Vĩnh Lộc và vùng núi Thường Xuân, Ngọc Lặc, Lang Chánh. Trên bước đường chiến đấu đầy gian khổ hy sinh, nhiều thủ lĩnh nghĩa quân bị bắt, có người hy sinh nhưng họ thà chết không chịu khuất phục trước kẻ thù.
Trong tình thế giặc đông, vũ khí đầy đủ luôn được tăng lực lượng, nghĩa quân ngày càng khó khăn vì lương thực, vũ khí đạn dược thiếu. Tống Duy Tân bàn với Cao Bá Điền cùng các tướng sĩ phân tán lực lượng về các địa phương, chỉ để một lực lượng nhỏ bền vững sang trấn Quan Hóa, Mường Kỷ, tức là Nhâm Kỷ ngày nay thuộc hai xã Kỳ Tân và Văn Nho, huyện Bá Thước. Tháng 5 năm 1892, nghĩa quân phối hợp với lực lượng nghĩa quân sông Đà do Đốc Ngữ lãnh đạo tiến sang tấn công quân Pháp làm nên chiến thắng vẻ vang Mường Kỷ.
Giặc Pháp tuy có bị tổn thất qua các cuộc giao chiến với nghĩa quân Hùng Lĩnh nhưng luôn được tăng quân, chúng quyết tâm cô lập tiêu diệt nghĩa quân. Sau khi nghĩa quân sông Đà rút đi, lực lượng nghĩa quân suy yếu. Để tránh sự lùng sục của quân thù, Tống Duy Tân đã về ẩn ở hang Dong thuộc tổng Thiết Ống (nay là huyện Bá Thước) và cuối cùng sáng ngày 5/10/1892 đã bị thực dân Pháp bắt giữ.
Kẻ thù tìm mọi cách mua chuộc, ông không màng danh lợi, cương quyết không khuất phục trước kẻ thù. Chúng đã nhốt ông vào trong cũi giải về tỉnh lỵ. Trên đường đi ông đã cắt ngón tay lấy máu viết trên song cũi vần thơ khí phách:
Nguyện kế tiên vương khu cảnh ngoại
Thủy tri kim ngã tại lung trung.
Dịch là:
Nguyện kế tiên vương trừ giặc nước
Ai hay nay lại ở trong lồng.
Thất bại trước ý chí bất khuất, lòng yêu nước của Tống Duy Tân, ngày 15/10/1892 giặc Pháp đã đem ông ra xử chém tại thị xã Thanh Hóa. Khi sắp hành hình, ông bình tĩnh hướng về nhân dân, lưu luyến vĩnh biệt rồi đọc câu đối cho con cháu ghi lại lời tâm huyết cuối cùng của mình:
Nhi kim thủy liễu tiền sinh thái
Tự cổ do truyền bất tử danh.
Dịch là:
Món nợ tiền sinh nay mới trả
Cái danh bất tử trước còn truyền.
Cuộc kháng chiến chống Pháp của Tống Duy Tân trải qua 7 năm đầy gian khổ hy sinh, nhưng với lòng yêu nước, căm thù giặc ngoại xâm, mặc dù vũ khí thô sơ trước kẻ thù hùng mạnh, nhưng nghĩa quân Hùng Lĩnh đã làm cho quân Pháp nhiều phen thất điên bát đảo. Nó thể hiện ý chí của một dân tộc nhỏ bé nhưng không bao giờ khuất phục trước thế lực ngoại bang xâm lăng. Nó thể hiện ý chí của Tống Duy Tân và quân dân ta "Thà chết chứ không chịu làm nô lệ, thà chết vinh còn hơn sống nhục...".
Nguồn ST