Quân giải phóng nhân dân tiến công như vũ bão, Tống Mỹ Linh phải cầu viện nước Mỹ. Tổng thống Harry T’ruman trả lời bà ta: Nước Mỹ không thể ủng hộ. Bị Mỹ từ chối, Bạch Sùng Hỷ, Trình Tiềm yêu cầu Tưởng Giới Thạch khôi phục lại cuộc đàm phán với đảng cộng sản Trung Quốc. Trong hoàn cảnh ấy, ngày Nguyên đán năm 1949, Tưởng Giới Thạch lên tiếng cầu hòa, muốn giữ lại Hiến pháp, vai trò Tổng thống và quân đội Quốc dân đảng làm tiền đề cho cuộc đàm phán với đảng cộng sản Trung Quốc.
Thứ Ba, 25 tháng 12, 2018
TỪ HÀN QUỐC NHÌN VỀ VIỆT NAM
Trước những năm 60 thế kỷ 20, trong các nước châu Á, chỉ có Nhật là nổi trội hơn cả. Sau những canh tân đất nước của Thiên hoàng Minh Trị, nước Nhật đã tiến bộ vượt bậc, trở thành người “anh cả da vàng” theo cách suy tôn của các chí sĩ cách mạng Việt Nam. Cho dù có chịu hai quả bom nguyên tử của Mỹ nhưng cũng chính nhờ sự giúp đỡ của người Mỹ, nước Nhật đã nhanh chóng khôi phục và chỉ 19 năm sau chiến tranh, họ đã vượt lên khỏi hoang tàn và chết chóc, tổ chức thành công Thế vận hội mùa Hè năm 1964. Sau Nhật Bản khi ấy có lẽ chỉ có Sài Gòn là có thể sánh vai. Singapor thì mãi năm 1965 mới ra đời, còn trước đó chỉ là một làng chài heo hút của Malaysia. Hàn Quốc, khi ấy chẳng mấy ai biết đến. Người Việt Nam ở phía bắc biết tới Nam Triều Tiên (tên gọi cũ của Hàn Quốc) chỉ vì luôn nghe báo chí kết tội kẻ độc tài Lý Thừa Vãn, Tổng thống đầu tiên (cùng với Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan và Magsaysay của Philipin). Đến năm 1960, thu nhập bình quân đầu người của Hàn Quốc mới chỉ xấp xỉ 100 đô-la/năm.
Nhưng dưới thời Tổng thống thứ 2, Park Chung Hee, Hàn Quốc đã có bước phát triển vượt bậc. Chỉ trong 4 nhiệm kỳ, Park Chung Hee đã đưa Hàn Quốc trở thành nước có nền công nghiệp phát triển, tạo đà cho những bước nhảy vọt trở thành con hổ ở châu Á sau này. Ông thành công nhờ hai nguyên nhân, một là thi hành chính sách thắt lưng buộc bụng rất hà khắc để huy động toàn bộ sức dân vào công cuộc phát triển đất nước. Ông đã tuyên bố trước hơn 20.000 sinh viên trường Đại học Seoul: ““Toàn dân Hàn Quốc phải thắt lưng buộc bụng trong vòng 5 năm, phải cắn răng làm việc nếu muốn được sống còn. Nếu làm được vậy, trong vòng 10 năm, chúng ta tạo được một nền kinh tế đứng đầu ở Đông Á, và sau 20 năm, chúng ta sẽ trở thành cường quốc kinh tế trên thế giới… Hôm nay, có thể một số người dân bất đồng ý kiến với tôi, nhưng xin hiểu cho rằng tổ quốc quan trọng hơn quyền lợi cá nhân. Tôi sẽ cương quyết ban hành một chính sách khắc khổ. Tôi sẽ bắn bất cứ kẻ nào ăn cắp của công dù chỉ một đồng. Tôi sẵn lòng chết cho lý tưởng đã đề ra”. Nói là làm, ông đã thi hành án tử hình với 24 quan chức và nhà tư sản vì tội tham nhũng. Đồng thời với “bàn tay thép”, Park Chung Hee còn liên minh với Mỹ, dựa hẳn vào Mỹ, đổi lấy viện trợ của Mỹ bằng việc đưa 320.000 quân tham chiến ở Việt Nam (khi ấy, ta gọi là lính đánh thuê Nam Triều Tiên, vào những năm 80, các nghệ sĩ của ta tham gia biểu diễn kiếm tiền được gọi là “đi pắc” – đánh thuê). Sau cuộc chiến khoảng 5.000 (có tài liệu ghi 6.000) lính Hàn đã tử trận và 110.000 người bị thương tật. Nhưng kết quả, những người lính này đã mang về cho đất nước 5 tỷ đô-la (tương đương 35 tỷ đô-la hiện nay), sau đó còn nhận được viện trợ từ Mỹ bằng con số đó để có tiền vốn xây dựng đất nước.
Đánh giá về Park Chung Hee, người Hàn Quốc đã tốn không ít giấy mực mà vẫn chưa ngã ngũ. Giới trẻ ngày nay rất biết ơn ông vì nhờ ông, họ được hưởng những thành tựu của một nước văn minh, tiên tiến, ngẩng cao đầu trước bè bạn năm châu. Nhưng cũng không ít người lên án chính sách độc tài của ông. Bằng chứng là ông đã ba lần bị ám sát bởi những người đối lập và lần thứ ba, ông đã tử thương bởi một quan chức thân cận. Nhưng rõ ràng, chính nhờ những quyết đoán táo bạo của ông, Hàn Quốc đã nhanh chóng thay đổi.
6.000 người lính chết trận (chỉ bằng hơn nửa số quân ta hy sinh trong 81 ngày đêm ở thành cổ Quảng Trị, cũng chưa bằng số người dân chết và mất tích trong Tết Mậu Thân 1968 ở Huế) để sau 20 năm, Hàn Quốc từ nghèo nàn lạc hậu trở thành một cường quốc, đứng thứ 4 châu Á và thứ 15 thế giới, có tên trong nhóm G.20 của các nước phát triển nhất. 50 triệu dân Hàn Quốc giờ đây được hưởng một cuộc sống sung sướng, hạnh phúc trong xã hội giàu có, văn minh.
Cũng trong cuộc chiến tranh này, chúng ta đã hy sinh bao nhêu chiến sĩ? Bao nhiêu người dân lành đã ngã xuống vì bom rơi đạn lạc?
Để sau đó, đất nước của chúng ta đang trong tình cảnh hiện nay?
Thứ Hai, 24 tháng 12, 2018
Con đường thoát Trung của Đài Loan
LS Nguyễn
Văn Thân
23-12-2018
Lịch sử Đài Loan bắt đầu từ hàng ngàn năm
trước. Dấu tích văn hóa nông nghiệp được tìm thấy vào khoảng 3000 năm TCN khi
tổ tiên của người thổ dân Đài Loan đặt chân đến hòn đảo này. Sau khi trở thành
thuộc địa của Hòa Lan vào thế kỷ 17, Đài Loan tiếp tục đón nhận nhiều người di
dân mới từ Quảng Đông và Phúc Kiến trong đó có một số đông là người Hẹ (Khách
Gia).
Vào năm 1662, Trịnh Thành Công (Koxinga) một
danh tướng nhà Minh tiếp tục kháng chiến chống Thanh phục Minh nhưng không
thành nên phải cùng quân sĩ chạy sang Đài Loan lánh nạn. Quân của Trịnh đánh
bại Hòa Lan và tiến hành xây dựng căn cứ kháng chiến tại đây. Nhưng tới năm
1683 thì bị quân Thanh đánh bại và Đài Loan trở thành một bộ phận của Thanh
triều. Quyết định sáp nhập và ghi tên Đài Loan vào bản đồ Trung Quốc của Khang
Hy gây ra nhiều tranh cãi trong triều vì các triều đại trước đó chưa bao giờ
nghĩ tới việc bành trướng lãnh thổ ngoài khỏi lục địa.
Sau cuộc chiến Trung Nhật thứ nhất vào năm
1895, nhà Thanh bại trận và buộc phải ký Hòa ước Shimonoseki chấp nhận nhượng
Đài Loan cùng với Bành Hồ cho Nhật. Từ đó, hệ thống giáo dục Minh Trị được áp
dụng tại đây. Chính sách thực dân trải qua 3 giai đoạn. Thứ nhất là đàn áp và
tiêu diệt mọi mầm mống phản kháng. Thứ hai là xây dựng một xã hội bình đẳng không
phân biêt sắc tộc và sau cùng là biến người Đài Loan trở thành thần dân trung
thành của Nhật Hoàng. Ngày từ buổi ban đầu, chính quyền thực dân đầu tư xây
dựng cơ sở hạ tầng. Ngân hàng Quốc gia (Bank of Taiwan) được thành lập vào năm
1889 tạo điều kiện cho các công ty lớn như Mitsubishi và Mitsui đầu tư vào
thuộc địa. Vào năm 1900, Toàn Quyền thông qua ngân sách xây dựng hệ thống đường
sắt từ Cơ Long (Keelung) đến Cao Hùng (Kaoshiung). Tới năm 1905 thì Đài Loan đã
có điện sản xuất từ các đập nước thủy điện và được coi là quốc gia phát triển
thứ hai trong khu vực chỉ đứng sau Nhật Bản.
Khi Nhật bước vào cuộc chiến thế giới thứ hai
toàn diện vào năm 1937 thì Đài Loan trở thành căn cứ hậu cần thiết yếu sản xuất
vật dụng hỗ trợ cho quân đội. Hải quân Nhật sử dụng Đài Loan làm bàn đạp đẩy
quân xuống Đông Nam Á. Hơn 200,000 người Đài Loan phục vụ trong quân đội Thiên
Hoàng trong Đệ Nhị Thế Chiến. Khoảng 30,000 tử trận trên chiến trường tại châu
Á.
Vào năm 1942 khi Mỹ bước vào vòng chiến đánh
Nhật và đứng về phía Trung Quốc thì chính quyền Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới
Thạch chối bỏ mọi Hiệp ước đã ký với Nhật trước đó và đặt mục tiêu giành lại
Đài Loan cũng như Mãn Châu. Vào năm 1945, Nhật tuyên bố đầu hàng và chấm dứt đô
hộ. Đài Loan được giao trả lại cho Trung Quốc dưới quyền kiểm soát của Quốc Dân
Đảng. Vào năm 1951, Nhật ký Hòa ước San Francisco chính thức từ bỏ chủ quyền
Đài Loan và Bành Hồ.
Từ thập niên 1930 thì Quốc Dân Đảng của Tưởng
Giới Thạch và Đảng Cộng sản của Mao Trạch Đông vừa đánh Nhật và vừa đánh nhau.
Khi chiến tranh kết thúc thì Tưởng tuyên bố thành lập chính quyền Đài Loan lâm
thời vào tháng 9 năm 1945. Kết cuộc quân Tưởng bị Cộng quân đánh bại phải chạy
ra Đài Loan vào năm 1949. Trước đó vài tháng Tưởng tuyên bố dời thủ đô từ Nam
Kinh về Đài Bắc.
Quốc Dân Đảng mang theo cả khối vàng dự trữ từ
Nam Kinh và ấn hành tiền mới. Tưởng tiến hành cải cách ruộng đất giúp đỡ nông
dân có ruộng để canh tác. Từ 1950 tới 1965, Đài Bắc nhận viện trợ lên tới hàng
tỷ Mỹ kim từ Hoa Thịnh Đốn. Về mặt chính trị, Tưởng ban hành thiết quân luật và
cai trị với một bàn tay sắt với mục tiêu là ngăn chận cộng sản lũng đoạn và chờ
ngày phục thù chiếm lại trung nguyên. Nhưng Tưởng gặp phải thất bại trên trường
quốc tế. Vào năm 1971, Bắc Kinh được công nhận là đại diện chính thức của Trung
Quốc. Đài Loan cũng được cho phép ở lại nhưng Tưởng đòi hỏi cái ghế trong Hội
Đồng Bảo An là một điều kiện bất khả thi. Tưởng thốt lên câu “bầu trời không đủ
chỗ cho hai mặt trăng” rồi rút Đài Loan ra khỏi Liên Hiệp Quốc. Tới năm 1979
thì đồng minh Hoa Kỳ trở mặt và công nhận Bắc Kinh.
Tưởng Giới Thạch qua đời vào ngày 5/4/1975 thọ
88 tuổi để lại người vợ thứ tư là Tống Mỹ Linh cùng với đứa con trai duy nhất
với người vợ thứ nhất (Mao Phúc Mai) là Tưởng Kinh Quốc. Ba chị em nhà họ Tống
đóng một vai trò nổi bật trong lịch sử Trung Quốc cận đại. Người chị lớn Tống
Ai Linh được coi là một người “yêu tiền” vì lấy Khổng Tường Hi Bộ Trưởng Tài
Chính và cũng là người giàu nhất Trung Quốc vào thời đó. Người thứ hai là Tống
Khánh Linh được cho là “yêu nước” vì đã kết hôn với Tôn Trung Sơn, Tổng Thống
đầu tiên của Trung Quốc. Còn Tống Mỹ Linh thì được cho là “yêu quyền” sau khi
lấy Tưởng Giới Thạch. Bà qua đời vào ngày 23/10/2003 tại Hoa Kỳ thọ 106 tuổi.
Tưởng Kinh Quốc nối ngôi cha và tiến hành đặt
nền móng cho một cuộc chuyển hóa dân chủ. Thời còn trẻ, Tưởng Kinh Quốc được
gửi đi học tại Moscow và có bạn đồng khóa là Đặng Tiểu Bình. Cũng như Đặng,
Kính Quốc say mê chủ nghĩa cộng sản và làm đơn gia nhập đảng viên nhưng bị từ
chối. Nhưng trong cuộc thanh trừng chủ nghĩa xét lại, ông bị Stalin giam lỏng
cho đến năm 1937 khi ông cùng với người vợ Belarus và hai đứa con được cho trở
về Trung Quốc sau 12 năm sinh sống tại Liên Xô. Tưởng Kinh Quốc hiểu được là
muốn thoát khỏi nanh vuốt cộng sản thì ông phải tranh thủ hậu thuẫn của cộng
đồng quốc tế bằng cách từ bỏ độc tài và “Đài Loan hóa” chế độ. Trí thức đối lập
không còn bị cấm họp hoặc phổ biến bài viết bày tỏ chính kiến. Cuộc chính biến
Cao Hùng là một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình dân chủ hóa của Đài Loan.
Vào ngày 10/12/1979, một số nhà bất đồng chính
kiến dẫn đầu hàng chục ngàn người biểu tình tại Cao Hùng là một thành phố phía
Nam của Đài Loan. Chế độ Quốc Dân Đảng sử dụng lựu đạn cay để giải tán đoàn
người biểu tình và bắt giữ hơn 50 lãnh tụ tổ chức. Một trong những lãnh tụ này
là Lâm Ấp Hùng (Lin Yishiung) bị bắt và tra tấn. Vợ ông liên lạc và kêu cứu với
Ân xá Quốc tế Osaka nhưng qua ngày hôm sau thì bà cùng với đứa con gái 7 tuổi
bị đâm chết trong lúc đang bị an ninh quản thúc.
Sau đó, chế độ tiến hành ban án tù cho hơn 50
lãnh tụ của đoàn người biểu tình từ 2 năm cho tới chung thân. Sự kiện này làm
cho giới trí thức trong và ngoài nước càng quyết tâm đấu tranh chống chế độ độc
tài. Một trong những luật sư biện hộ cho lãnh tụ biều tình là Trần Thủy Biển
người sau này đại diện Đảng Dân Tiến đắc cử tổng thống hai nhiệm kỳ.
Nhưng sự kiện quan trọng nhất dẫn đến cuộc
chuyển đổi toàn diện là vụ ám sát Henry Liu ngay trên đất Mỹ. Henry Liu là một
công dân Mỹ gốc Đài Loan. Ông bị cơ quan tình báo Đài Loan phối hợp với xã hội
đen ám sát trước cửa nhà vào tháng 10 năm 1984 tại thành phố Daly City tiểu
bang California. Trước đó không lâu, Henry Liu đã xuất bản một quyển hồi ký chỉ
trích Tưởng Kinh Quốc. Xấu hổ và lo sợ là Hoa Kỳ sẽ thay đổi chính sách ngưng viện
trợ quân sự, Tưởng Kinh Quốc quyết định tiến mạnh cải cách. Tới năm 1986, lực
lượng đối lập có thể công khai biểu tình phản đối thiết quân luật tại Đài Bắc.
Vào ngày 28/09/1986, Tưởng cho phép thành phần đối lập thành lập chính đảng và
tuyên bố chấm dứt thiết quân lực vào tháng 7 năm 1987. Tưởng Kinh Quốc qua đời
một năm sau đó. Phó Tổng thống Lý Đăng Huy là một người sinh trưởng tại Đài
Loan lên thay thế.
Vào năm 1991, Dân Tiến thay đổi chính sách và
đặt mục tiêu thành lập một nước Cộng Hòa Đài Loan qua một tiến trình trưng cầu
dân ý. Mặc dù trái ngược với mục tiêu lâu dài của Quốc Dân Đảng là khôi phục
Trung nguyên nhưng chính quyền không ra tay đàn áp. Vào tháng 12 năm 1992, Đài
Loan bầu cử Quốc Hội mới loại bỏ tất cả đảng viên Quốc Dân Đảng trong Quốc Hội
từ lục địa di cư sang trong thập niên 1940. Tới năm 1996, Đài Loan tổ chức bầu
cử dân chủ trực tiếp lần đầu tiên và Lý Đăng Huy đắc cử. Cuộc bầu cử dân chủ
diễn ra trước họng súng đe dọa của Trung Quốc nhưng Bắc Kinh bàng hoàng khi
Tổng Thống Clinton ra lệnh đưa hai hàng không mẫu hạm vào eo biển Đài Loan.
Tiến trình dân chủ hóa diễn ra ngoạn mục vào
thiên niên kỷ mới trong cuộc bầu cử tổng thống vào tháng 3 năm 2000. Trần Thủy
Biển là ứng viên đại diện cho Đảng Dân Tiến đắc cử tổng thống sau 55 năm dưới
quyền cai trị của Quốc Dân Đảng.
Hiện nay, Đài Loan được coi là một trong những
quốc gia dân chủ năng động và ít tham nhũng nhất tại châu Á. GDP mỗi đầu người
xấp xỉ 26,000 Mỹ kim. Nếu không bị áp lực và đe dọa thường xuyên từ Bắc Kinh
thì có lẽ còn tốt hơn thế nữa.
Qua các cuộc thăm dò thì có hơn 70% dân số cho
rằng họ là người Đài Loan chớ không phải người Trung Quốc. Dù cũng sử dụng
tiếng Quan thoại và theo phong tục người Hoa nhưng họ sẽ sẵn sàng cầm súng bảo
vệ tổ quốc nếu Đài Loan bị Bắc Kinh xâm chiếm.
Có nhiều nguyên nhân giúp người Đài Loan thành
công trong tiến trình dân chủ và độc lập nhưng tinh thần trách nhiệm với quốc
gia và kỷ luật đoàn kết xuất phát từ hệ thống giáo dục Minh Trị đóng một vai
trò quan trọng giúp cho giới trí thức quy tụ thành lập Đảng Dân Tiến cạnh tranh
quyền bính lành mạnh với Quốc Dân Đảng.
Thứ Năm, 20 tháng 12, 2018
NGUYỄN HỮU AN VỊ TƯỚNG TIÊN PHONG CỦA QĐND VN
Van Thi Van cùng với Trần Vinh và 4 người khác.
" Cởi áo cà sa khoác chiến bào
Tuốt gươm bồng súng dẹp binh đao
Ra đi quyết rửa thù cứu nước
Vì nghĩa quên thân hiến máu đào.
Cởi áo cà sa khoác chiến bào
Giã từ thiền viện lướt binh đao
Câu kinh tiếng kệ chờ khi khác.
Cứu nước thương dân dễ đợi nào?
Nghe theo tiếng gọi của núi sông
Cà sa gửi lại chốn thư phòng.
Xông ra trận tuyến trừ hung bạo
Thực hiện từ bi lực phải hùng".
THƯỢNG TƯỚNG NGUYỄN HỮU AN LÀ 1 VỊ TƯỚNG NHƯ THẾ - VỊ TƯỚNG TIÊN PHONG THẦN TỐC.
(Nhân kỷ niệm ngày sinh của ông; người chỉ huy Người đã giã nát Sư đoàn kị binh bay số 7 của Mỹ trong trận Ia Drăng. Sau này chính Đại tướng Westmorlend cũng phải thán phục và giật mình mỗi khi nghe thấy tên ông)
Sở dĩ tôi gọi ông là "Thần tướng tiên phong" bởi ông thật sự sinh ra để làm tướng tấn công, sinh ra để lập công đầu. Được xếp hàng thứ 4 trong bộ "tứ nguyên tử" mà tôi đã giới thiệu từ bài trước.
Tướng An trải qua hàng trăm trận đánh lớn nhỏ trong suốt 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Ở đâu, trên chiến trường nào, ông cũng để lại nỗi "ám ảnh" kinh hoàng cho đối thủ.
Là người được tôi xếp đứng hàng đầu trong bộ ba vị "Sư đoàn trưởng đánh trận giỏi nhất trong QĐNDVN". Khác với tướng Hoàng Đan - một chuyên gia phòng ngự. Tướng Nguyễn Hữu An có cùng sở trường tấn công như Thượng tướng Nguyễn Chơn, nhưng ở tướng An vẫn có một sự khác biệt đó là: Tướng Nguyễn Chơn nổi tiếng với lối đánh "bóc trọc" nghĩa là đánh đến đâu tiêu diện gọn ghẽ, sạch sẽ tới đó, còn tướng Nguyễn Hữu An lại mang một phong cách tấn công hoàn toàn khác, ông nổi tiếng với những cuộc tấn công thần tốc, chóng vánh, chiến thuật của ông thường sử dụng là dùng mũi nhọn tinh nhuệ hoặc đội xe tăng xung kích xông thẳng vào cơ quan đầu não của đối phương để tiêu diệt, sẵn sàng bỏ qua mục tiêu nhỏ lẻ, để hướng tới mục tiêu lớn. Tuy nó có phần mạo hiểm, nó có thể là con dao hai lưỡi, nhưng thực sự lại là đỉnh cao của nghệ thuật tác chiến. Dưới cái tài thao lược của ông, ông chưa bao giờ gặp thất bại trong bất kỳ một trận đánh lớn nào.
* Tướng An sinh tháng 10/1926, tại cố đô Hoa Lư - Ninh Bình của Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh. Tháng 8/1945, ông bắt đầu tham gia nhập ngũ. Ông đã trực tiếp chiến đấu và chỉ huy các trận đánh ở đèo Bông Lau, Lũng Phầy năm 1949.
* Trong chiến dịch Biên giới năm 1950, ông là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 251 chủ công của trung đoàn 174 (Trung đoàn trưởng Trung đoàn 174 lúc này là Hùm Xám Đường Số 4 - Tiểu Napoleon Trung tá Đặng Văn Việt) tấn công và tiêu diệt đồn Đông Khê, mở đầu thắng lợi cho chiến dịch.
* Tiếp đó, tới chiến dịch Điện Biên Phủ 1954, Ông vinh dự trở thành vị Trung đoàn trưởng trẻ tuổi nhất trong QĐNDVN tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ 1954, khi chỉ huy Trung đoàn 174 tấn công cứ điểm đồi A1.
Trận đánh đồi A1 được chia làm 2 đợt:
- Đợt 1 (30/3 - 3/4/1954) hai bên bất phân thắng bại.
- Đợt 2: 6/5/1954. Phía QĐNDVN dùng hơn 1 tấn thuốc nổ đánh sập đồi A1 mới dứt điểm được cứ điểm này.
+ Đây là một trong những trận đánh quan trọng bậc nhất trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Do vị trí đặc biệt quan trọng nên quân đội Pháp bố trí lực lượng phòng ngự dày đặc với nòng cốt là Bán lữ đoàn lê dương số 13 - Niềm tự hào của Quân đội Pháp trong Thế chiến thứ 2, khi chưa để thua bất kỳ một trận tham chiến nào, cùng với hệ thống hầm ngầm vô cùng kiêm cố và liên tục chi viện viện binh, hoả lực một cách tối đa.
+ Trong lần tiến công lần 1 vào cứ điểm A1, do hệ thống đường dây liên lạc bị đứt nên Trung đoàn 174 nổ súng chậm 35 phút so với các đơn vị bạn vì không được bất kỳ mệnh lệnh nào của cấp trên chỉ thị nổ súng. Việc nổ súng và tiến vào vị trí trậm trễ hơn nửa giờ đồng hồ so với kế hoạch nên lúc này pháo binh Pháp đã hồi sức, bắn dữ dội vào cửa mở. Các lô cốt, ụ súng ở tiền duyên dồn đạn về phía các chiến sĩ Trung đoàn 174, khiến Trung đoàn bị thiệt hại nặng. Sau bốn lần xung phong tấn công, cả hai bên đều chịu tổn thất nặng nề mà bất phân thắng bại.
Đã có những lúc phía bên Pháp tưởng chừng như A1 đã bị thất thủ khi chỉ còn vài tay súng cố thủ trong công sự. Tuy nhiên do mũi tấn công của tướng An phát triển quá nhanh nên ông không nắm rõ được tình hình địch và bất ngờ cho quân rút lui để bảo toàn lực lượng, trong sự ngỡ ngàng của Quân đội Pháp. Chính những người lính Pháp lúc đó cũng không thể tin ở mắt mình khi thấy bộ đội Việt Nam bất ngờ ngừng tiến công, từ từ rút quân ra bên ngoài đồn.
Lănggơle, chỉ huy khu trung tâm, đã viết trong hồi ký: " Rất may Điện Biên Phủ đã không bị mất đêm đó là do kẻ thù bị bất ngờ vì giành được những mục tiêu chỉ định quá nhanh chóng nên không đủ khả năng khai thác những thắng lợi ban đầu."
+ Trong đợt tấn công ₫ợt hai mặc dù gặp phải sức kháng cự vô cùng mãnh liệt của quân địch - những người lính dù Pháp đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng vẫn phải chịu thất thủ vào sáng sớm 7/5/1954.
+ Với việc chiếm được A1, trung tâm đề kháng Eliane phía đông tập đoàn cứ điểm đã hoàn toàn sụp đổ, QĐNDVN gần như đã nắm chắc phần thắng vì chỉ còn cách sở chỉ huy cứ điểm (hầm Đờ Cát) vài trăm mét. Chỉ 1 ngày sau QĐNDVN đã có thể dễ dàng thọc sâu tiêu diệt sở chỉ huy Pháp. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến sự đầu hàng của quân đội Pháp ở Điện Biên Phủ.
* Năm 1964, trên cương vị Sư đoàn trưởng, ông dẫn Sư đoàn 325 vào miền Nam chiến đấu. Và trở thành Tư lệnh phó mặt trận B3 Tây Nguyên. Trong lần đụng độ lớn đầu tiên giữa QGPMN và QLVNCH, tướng An đã chỉ huy Trung đoàn 101 đánh Trung đoàn 44 sư 23 Bộ Binh VNCH thiệt hại nặng, Trung đoàn trưởng tử trận.
* Tháng 11/1965, Ông trực tiếp chỉ huy quân đội tham gia trận Ia Đrăng huyền thoại (4/11 - 8/11/1965) - Trận đụng độ lớn đầu tiên giữa QGPMN và Quân đội Hoa Kỳ.
+ Trận đánh gồm 2 trận đụng độ: trận đụng độ thứ nhất xảy ra trong ba ngày từ 14/11 - 16/11/1965 tại bãi đáp X-Ray; trận đụng độ thứ nhì xảy ra vào ngày 17/11 tại bãi đáp Albany, nằm gần mạn phía Nam của sông Ia Drang.
Tại đây dưới sự chỉ huy trực tiếp của tướng An, QGPMN đã áp dụng triệt để chiến thuật "bám thắt lưng địch mà đánh" để hạn chế tối đa hoả lực yểm trợ mạnh mẽ của quân đối phương, và đánh quỵ hoàn toàn Lữ đoàn 3, Sư đoàn Không Kỵ số 1 Hoa Kỳ. Nặng nề nhất là Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 7 Kỵ binh Hoa Kỳ khi rơi vào trận địa phục kích trên đường tới bãi đáp Albany vào sáng ngày 17/11/1965. Trong gần 600 quân số ban đầu, khoảng 150 binh sĩ bị thiệt mạng, hơn 300 bị thương và chỉ 84 lính còn khả năng chiến đấu; trong đó Đại đội C chịu 93% tổn thất, một nửa trong số đó tử trận.
Kết thúc trận đánh, mỗi bên tổn thất hàng trăm binh sĩ, cả hai bên đều tuyên bố giành thắng lợi.
- Tuy nhiên theo giới chức trách, quân sự và sử gia thế giới đánh giá thì trận Ia Drăng đã làm thay đổi cục diện chiến tranh ở Việt Nam. Rõ ràng sau trận đánh này đã làm giới lãnh đạo Mỹ không còn cách nhìn lạc quan về triển vọng "chiến thắng dễ dàng" trước QGPMN nữa. Ngay tuần lễ sau đó Westmoreland đã đề nghị cho ông thêm 41.500 lính nâng tổ số lính Mỹ tham chiến tại Việt Nam lên tới 375.000 quân.
- Bộ trưởng Quốc phòng Israel khi đó sang thăm Việt Nam Cộng hòa đã đóng vai một nhà báo chiến trường đến quan sát chiến dịch Pleime về nói như sau: "Quân đội Mỹ ở Việt Nam đã có đủ những vũ khí và phương tiện mà những người chỉ huy quân sự các nước khác chỉ thấy trong mơ. Thế mà, mỗi khi đối phương đã tiếp nhận giao chiến là trên 90% các trận đánh, quyền chủ động thuộc về họ...".
- Cho tới năm 2002. Người Mỹ đã xây dựng lại bối cảnh trận đánh Ia Drăng qua bộ phim "We are soldiers" Chúng tôi từng là lính, được chuyển thể từ cuốn sách We Were Soldiers Once… And Young của tướng Hal Moore. Tuy nhiên bộ phim lại bị chính các tướng lĩnh, bĩnh sĩ trực tiếp tham gia trận đánh cùng tác giả cuốn hồi ký phản đối kịch liệt vì nội dung của nó bị chỉnh sửa đến hơn 80% sự thật. Thực tế thì QGPMN không hề sử dụng chiến thuật "biển người" như trong phim. Và theo như Tướng H. Moore nhận xét trong hồi ký: "Kẻ thù là những chiến binh khôn khéo, luôn tìm cách tập kích hoặc cơ động đánh vào sườn chúng tôi, "giỏi không chịu được".
* Năm 1967, Ông giữ chức Sư đoàn trưởng Sư đoàn 1 bộ binh QGPMN tham gia chiến dịch Đăk Tô - Tân Cảnh (3/11 - 22/11/1967). Đặc biệt là trận đụng độ lớn với Lữ dù độc lập 173 khét tiếng của quân đội Hoa Kỳ tại đồi 875 và các cao điểm xung quanh. Tại đây những người lính "Thiên binh bay" Lữ dù 173 Sky Soldiers bị tên tuổi của Trung đoàn 174 QGPMN khắc ghi vào lịch sử như những trang hồi ức đẫm máu, bi thương nhất khi bị đánh thiệt hại hơn một nửa quân số trong số hơn 3000 quân tham chiến.
Trận đánh được Phóng viên chiến trường Mỹ tường thuật lại một đoạn như sau:
"Một đơn vị Mỹ đang chiến đấu giành sự sống và trận dội bom nhầm của một máy bay không quân đã giết chết 20 lính bị thương trước đó. Tám chiếc trực thăng bị bắn hạ khi cố gắng di chuyển những người bị thương khác vào sáng hôm đó. Không có cách nào để đưa những lính bị thương hoặc bất kì ai ra khỏi chiến trường... Cách duy nhất để phân biệt người sống và người chết là khi chứng kiến pháo cối của kẻ thù dội vào. Người còn sống đổ xô không một chút xấu hổ vào những boongke bé nhỏ được đào trên đỉnh đồi, người bị thương thì quằn quại bò tới ẩn nấp sau những bụi cây đổ xuống đất..".
* Năm 1971, ông là tư lệnh sư đoàn 308 tham gia chiến đấu và góp phần cùng các đơn vị khác trong chiến thắng ở mặt trận đường 9-Nam Lào. Sau chiến thắng, ông lại được Quân ủy Trung ương điều sang giúp Mặt trận Pa thét Lào chiến đấu lấy lại Cánh đồng Chum.
Đến cuối tháng 6/1972, Ông chỉ huy sư đoàn 308 chiến đấu ở mặt trận Quảng Trị.
* Năm 1975, Thiếu tướng Nguyễn Hữu An là Tư lệnh quân đoàn 2, lần lượt giải phóng tỉnh Quảng Trị, thành phố Huế; và cùng với các lực lượng vũ trang quân khu 5, trong 3 ngày đêm đã đánh bại gần 10 vạn lính chủ lực cơ động của QLVNCH tại căn cứ liên hợp quân sự Đà Nẵng.
** Cuộc hành quân thần tốc:
Tháng 4/1975, Tướng An đề xuất xin cho quân đoàn 2 tiếp tục tham gia tác chiến hướng duyên hải, dọc theo Quốc lộ 1. Với khoảng cách từ Đà Nẵng vào tới Sài Gòn khoảng 1000km, để kịp tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, tướng An xin phép Bộ tư lệnh tác chiến sử dụng xe cơ giới của QLVNCH và thay thế một số pháo 122mm, D74 do Liên Xô Sản Xuất bằng pháo 105, 155mm Hoa Kỳ thu được từ tay QLVNCH vì với các lý do:
- Thứ nhất: Một bộ phận Pháo binh QGP chưa kịp chuyển từ Thượng Đức ra quốc lộ 1;
- Thứ 2: pháo Mỹ bắn bền, ổn định và hiệu quả hoả lực cũng cao;
- Thứ 3: không phải lo chở theo dự phòng cơ số lớn, vì “đi đâu cũng có đạn Mỹ!" và việc kéo pháo bằng xe bánh hơi, tốc độ hành quân cao hơn xe bánh xích chậm chạp.
+ Để giải quyết vấn đề thiếu hụt nhân sự lái xe và điều khiển Pháo, tướng An đã vận động hàng binh tham gia bằng chính sách đãi ngộ đặc biệt (Sau này cho thấy chủ trương này là rất đúng, lái xe hàng binh rất tận tụy, tích cực.)
+) Ngày 14 và 15/4/1975, Quân đoàn 2 do tướng An chỉ huy bắt đầu tấn công tuyến phòng thủ Phan Rang, phá vỡ phòng tuyến Du Long - Ba Tháp. Sáng 16/4, Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 lệnh cho Tiểu đoàn 4 xe tăng (lữ đoàn 203) kết hợp với F325 và F3 đột phá theo quốc lộ 1, thọc thẳng vào Thị xã Phan Rang, mặc dù gặp phải sự kháng cự mãnh liệt của phía QLVNCH do tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Phạm Văn Sang chỉ huy trấn giữ, tiểu đoàn 4 xe tăng bị tổn thất nặng, nhưng trước tốc độ tấn công như vũ bão, lần lượt các chốt chặn bên phía VNCH bị vỡ vụn. Chỉ trong vòng 24 giờ chiến đấu "lá chắn thép Phan Rang" bị sụp đổ, Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi - Tư lệnh, và Chuẩn tướng Phạm Văn Sang tư lệnh phó tiền phương QLVNCH bị bắt sống.
+ Sáng 22/4/1975, Ông nhận nhiệm vụ tổ chức binh đoàn Hương Giang thọc sâu theo hướng đông tiến đánh vào nội đô Sài Gòn. Ngay sau khi nhận mệnh lệnh tướng An lập tức tổ chức binh đoàn bắt tay vào chuẩn bị. Tới ngày 24/4/1975, Toàn bộ binh đoàn đã có mặt tại điểm tập kết Long Khánh theo đúng quy định, sẵn sàng bước vào chiến dịch cuối cùng.
Nhận thấy nhiệm vụ được giao trên hướng tấn công chính có địa bàn rất rộng (khoảng 86km) và lực lượng phòng ngự phía VNCH ở đây còn rất mạnh nên tướng An chủ động đề nghị với Bộ Tư lệnh chiến dịch cho phép nổ súng trước 1 ngày và được chấp thuận.
Đúng 17h, ngày 26/4/1975, xe pháo, bộ binh của Quân đoàn 2 từ các rừng cao su ào ào nổ súng xông ra đường số 1. Tuy nhiên đến tối ngày 29/4/1975, khi các hướng khác đã áp sát nội đô Sài Gòn thì Quân đoàn 2 vẫn bị cầm chân tại cầu Sông Buông cách Sài Gòn hơn 40 km. Vậy nên để có thể hoàn thành nhiệm vụ được giao, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 vạch ra kế hoạch gồm ba hướng tấn công chính:
- Hướng thứ nhất đột kích vào căn cứ Nước Trong, Long Bình và chi khu Long Thành do sư đoàn 304 và 325 đảm nhiệm chính.
- Hướng thứ 2 đột phá vào chi khu Đức Thanh, thị xã Bà Rịa, Vũng Tàu do sư đoàn 3 Sao Vàng đảm nhiệm.
- Hướng thứ 3 sử dụng lực lượng xung kích mũi nhọn Lữ đoàn tăng 203 và Trung đoàn 66 bộ binh thọc sâu vào nội đô Sài Gòn tiến tới Dinh Độc Lập.
9h30 sáng 30/4/1975, mũi tấn công của Lữ đoàn tăng 203 vượt qua cầu Rạch Chiếc. 10h45, xe tăng mang biển hiệu 390 thuộc Lữ đoàn 203 húc đổ cánh cổng chính Dinh Độc Lập, 11h30' lá cờ QGP của Binh đoàn Hương Giang bay phấp phới trên nóc Dinh Độc Lập, chấm dứt hơn 20 năm chiến tranh ở Việt Nam.
+) Qua đây ta có thể thấy được cuộc hành quân thần tốc của Binh đoàn Hương Giang tiến vào Sài Gòn cũng chẳng hề kém cạnh gì so với "bước chân Tây Sơn" của Hoàng đế Quang Trung năm xưa. Mặc dù phải hành quân gần 1000km, ở hướng xa nhất, chính diện tiến công rộng nhất, chiều sâu đột phá lớn nhất... nhưng Quân đoàn 2 lại là đơn vị đến đích sớm nhất.
* Từ 1977 - 1981, Ông chỉ huy quân đoàn 2 tham gia chiến dịch phản công biên giới Tây - Nam Việt Nam chống quân Khmer Đỏ Pol Pot.
* Ông mất ngày 9/04/1995 tại Trường Yên, Hoa Lư, Ninh Bình ở tuổi 70. Năm 2015 ông được Nhà nước CHXHCN Việt Nam truy phong danh hiệu Anh hùng LLVTND cùng với Thiếu tướng Hoàng Đan - Chuyên gia phòng ngự, và cũng là bạn chiến đấu thân thiết của ông.
--------------------------------------------------------------------------------
Tướng Hoàng Đan cùng với tướng Hữu An, Nguyễn Chơn, hợp thành bộ ba Sư trưởng đánh trận giỏi nhất trong QĐNDVN.
Tướng Hoàng Đan tham gia những trận phòng ngự nổi tiếng nhất trong thời chiến như: Thành cổ Quảng Trị 1972, Trận "thư hùng" Thượng Đức 1974, Bình độ 400 và Vị Xuyên - Hà Giang (1984 - 1984). Nghệ thuật tác chiến phòng ngự của ông xứng đáng được đưa vào giảng dạy trong học thuyết quân sự, lưu danh sử sách.
Theo tôi QĐNDVN rất may mắn khi có được trong tay cả những chuyên gia tấn công như Nguyễn Hữu An và chuyên gia phòng ngự như Hoàng Đan. Thật sự thì không thể tưởng nổi nếu hai ông ở hai bờ chiến tuyến sẽ ra sao? Liệu có như Lượng và Ý thời Tam Quốc ??!
Thứ Sáu, 14 tháng 12, 2018
ẤN TƯỢNG TRUNG HOA
Suốt trong nhiều năm, mỗi khi nhớ tới Trung Quốc, tôi không thể quên hình ảnh của những nguời Hoa trong “Nguời đàn bà Tàu”, một truyện ngắn của Nguyên Hồng viết từ khoảng những năm 40 thế kỷ trước về những nguời dân Trung Hoa chạy loạn từ Quảng Đông, Phúc Kiến, … sang Việt Nam trong cuộc xâm lược của Nhật Bản. Đó là những nguời dân lam lũ, tay xách nách mang, vợ bìu con ríu chưa tìm được chốn chốn dung thân ở một miền đất xa lạ. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, tôi vẫn thấy văng vẳng bên tai tiếng gọi của một chú bé trong đám loạn dân gọi nguời mẹ đang cố rảo bước với gánh nặng của toàn bộ gia sản trên vai: “A ma, chẩu khoai khoai a!” (Mẹ ơi, đi nhanh lên!).
Tiếp đó, chỉ hơn hai mươi năm sau, nói tới Trung Quốc, nguời ta nhớ ngay đến hình ảnh Hồng vệ binh, những chàng trai, cô gái khuôn mặt còn trẻ măng, miệng còn búng hơi sữa nhưng đã đằng đằng sát khí, tay cầm “Mao tuyển”, nắm tay giơ về phía trước, miệng hét lớn những câu khẩu hiệu thể hiện niềm tin vào “nguời cầm lái vĩ đại” (chỉ Mao Trạch Đông) và thề tận diệt bọn “trí thức nhơ bẩn” được đánh đồng với bọn “tư bản giãy chết”. Còn phía sau họ, những nguời Trung Quốc lương thiện và khốn khổ hàng ngày cơm không đủ no, trong bộ đồng phục Tôn Trung Sơn màu xám, lầm lũi trên những chiếc xe đạp khắp đường phố Bắc Kinh hoang tàn và ảm đạm, kết quả bao dũng khí, nhiệt tình cách mạng của đám “tiểu tướng” cuồng tín.
Vì thế, từ khi Trung Quốc tiến hành “cải cách mở cửa”, tôi vẫn mong được tới mảnh đất có hơn 5.000 năm lịch sử này để được tận mắt chứng kiến sự thay đổi nhất là sau khi nền kinh tế Trung Quốc được đánh giá đang tranh chấp ngang ngửa với Mỹ vị trí đứng đầu thế giới.
Trung Quốc là một đất nước có diện tích lớn hơn diện tích nước ta tới hơn 30 lần (9,6 triệu km2), để tạo nên sự thay đổi toàn diện, nguời Trung Quốc đã biết chú trọng, coi giao thông là mũi nhọn, làm tiền đề cho sự phát triển.
Không tìm được số liệu chi tiết về hệ thống đường bộ của Trung Quốc (chỉ biết con số tổng thể là 34.000 km đường cao tốc) nhưng tôi đã tận mắt chứng kiến những tuyến đường cao tốc chằng chịt như mạng nhện ở khắp nơi không chỉ ở hai thành phố Bắc Kinh và Thượng Hải. Các tuyến quốc lộ (với chữ G ở đầu) và tỉnh lộ (với chữ S ở đầu) đều có ít nhất 4 làn xe và hoàn toàn không có đường cắt ngang, không cần có hệ thống đèn xanh đỏ, lái xe có thể thoải mái chạy với tốc độ 100 – 120 km/giờ. Ngay ở Tô Châu (thành phố du lịch thuộc tỉnh Giang Tô) hay Hàng Châu (thủ phủ tỉnh Chiết Giang), những “nút” giao thông có 3, 4 tầng, những đường ngầm dưới lòng đất cũng không thể đếm xuể. Tôi cũng đã được chứng kiến cái mà một số báo chí gọi là tình trạng tắc đường ở các thành phố lớn, nhất là ở thủ đô Bắc Kinh. Đó chỉ là hiện tượng vào buổi sáng hay chiều, trong nội thành Bắc Kinh nhiều khi phải đợi 2 hay 3 chu kỳ đèn tín hiệu, ô tô mới có thể qua được một ngã tư, chứ hoàn toàn không phải tình trạng xe chỉ có thể “nhúc nhích” như ở Việt Nam. Từ trung tâm thủ đô tới Cư Dung quan của Vạn lý trường thành khoảng 100 km (nơi đây vẫn nằm trong địa giới Bắc Kinh), thời gian xe chạy dự kiến khoảng 2 giờ, nhưng vì buổi sáng “tắc” đường nên chúng tôi đã cần tới 2 giờ 25 phút. Không có chuyện tắc đường như thường thấy ở Hà Nội vì ở Trung Quốc xe máy bị hạn chế (mà ai cũng biết, sự rối loạn giao thông ở ta chủ yếu do loại phương tiện hai bánh này). Những nơi có thể sử dụng, loại xe này cũng phải đi vào làn đường riêng có dải phân cách cứng cùng với xe đạp, xe đạp điện.
Ngoài tuyến đường sắt cũ nay vẫn còn được sử dụng vì giá vé rẻ dành cho người ít tiền và chủ yếu để vận chuyển hàng hóa với tốc độ trung bình 100 km/giờ, từ năm 2008, Trung Quốc đã có tuyến đường sắt cao tốc đầu tiên từ Bắc Kinh tới Thiên Tân nhân Thế vận hội 2008. Mới qua 7 năm, hiện Trung Quốc đã xây dựng được 42 tuyến đường sắt cao tốc dài 11.000 km trở thành quốc gia có hệ thống đường sắt cao tốc dài nhất thế giới, nối thủ đô Bắc Kinh với tất cả các tỉnh và thành phố trong cả nước. Chỉ tính riêng trên tuyến Bắc Kinh – Thượng Hải hàng ngày có 20 đôi tàu, mỗi đoàn tàu tùy theo lượng hành khách có từ 8 đến 16 toa (mỗi toa có 75 ghế như trên máy bay).Tốc độ trung bình của đường sắt cao tốc khoảng 300 km/giờ, con số này thường xuyên hiển thị trên bảng điện tử ở mỗi toa tàu).
Từ khu Tây sang Phố Đông, một quận mới hình thành của thành phố, Thượng Hải có 11 đường ngầm vượt sông Hoàng Phố, trong đó có một đường cho xe điện ngầm và một đường dành riêng cho khách du lịch. Với 40 “tệ” khách tham quan sẽ vừa ngồi trên phương tiện qua sông vừa được chiêm ngưỡng những màn nhạc nước đẹp mắt và ánh điện lung linh đủ màu sắc trên suốt chặng đường khoảng 2 km.
Ngoài ra, trong mỗi thành phố còn có hệ thống xe buýt (thành phố Bắc Kinh với 30 triệu dân, kể cả nguời nhập cư có hơn 700 tuyến) và xe điện ngầm ở 4 thành phố lớn Bắc Kinh, Thiên Tân, Thượng Hải, Quảng Châu. Riêng Thượng Hải có 12 tuyến tàu điện ngầm dài hơn 400 km với 272 nhà ga. Giao thông công cộng ở Trung Quốc có giá rẻ nên thu hút được đông đảo nguời dân tham gia mỗi khi cần lưu thông ( ở Thượng Hải, xe buýt có giá 1 “tệ” (tương đương 3.500 đ Việt Nam), xe có máy lạnh giá 2 “tệ”; xe điện ngầm có giá 3 “tệ” cho chặng đường dưới 6 km, 4 “tệ” cho dưới 16 km và sau đó, thêm 1 “tệ” cho 10 km tiếp theo).
Xe đạp cho thuê cũng là một phương tiện phổ biến. Mỗi thành phố đều có nhiều nơi cho thuê xe. Nguời thuê đặt cọc 300 “tệ” mua một thẻ từ đồng thời là chìa khóa xe. Giờ thuê đầu được miễn phí, từ giờ thứ 2, mỗi giờ giá 1 “tệ”. Nguời thuê có thể trả xe ở nhiều nơi, khi đó sẽ nhận lại số tiền đặt cọc sau khi đã trừ số tiền phải trả. Không chỉ khách du lịch mà nguời dân địa phương cũng sử dụng loại phương tiện này khá phổ biến. Có thể hoàn toàn không mất tiền nếu cứ sau mỗi giờ lại trả xe để thuê xe khác.
Ở mọi nơi, nguời ta ít nhìn thấy cảnh sát nhưng trật tự an ninh luôn đảm bảo. Cảnh sát Trung Quốc ở các thành phố cam kết khi được tin qua tổng đài 110, họ sẽ có mặt ở hiện trường sau 3 phút. Còn giao thông trên các đường phố đều được giám sát bằng ca-mê-ra, nơi đặt các ca-mê-ra đều được công khai trên trang web “an toàn giao thông” (chắc để cảnh sát khỏi mang tiếng “anh hùng núp”, nguời vi phạm sẽ tới nộp phạt khi nhận được giấy báo của cảnh sát. Mức phạt không nhẹ nên ít nguời dám coi thường (vượt đèn đỏ phạt 200 “tệ” và trừ 4 điểm trong 12 điểm được sử dụng mỗi năm, uống rượu bia khi lái xe bị tước bằng lái xe vĩnh viễn, nếu gây tai nạn chết nguời sẽ kèm theo phạt tù, …). Đường phố đông đúc nhưng không hỗn loạn. Suốt 7 ngày ở những thành phố lớn hoặc lưu thông trên nhiều tuyến đường cao tốc, tôi không hề thấy một vụ va chạm giao thông nào. Chỉ nhìn vào bức tranh giao thông, nguời ta có thể thấy phần nào được toàn cảnh của đời sống xã hội.
Nguời Trung Quốc có những nét tính cách khá giống nguời Việt Nam và chẳng phải ngẫu nhiên, chính Bá Dương là một nguời Trung Quốc đã viết cuốn sách nổi tiếng “Nguời Trung Quốc xấu xí” để cảnh tỉnh đồng bào mình. Dù còn không ít những biểu hiện đáng phàn nàn nhưng nhờ những sự nhắc nhở đó, nguời Trung Quốc đã bớt đi phần xấu xí và có nhiều điều tôi thấy đáng học tập.
Dù có thu nhập tương đối cao so với Việt Nam, nguời dân Trung Quốc đâu đâu tôi cũng thấy họ làm việc một cách chăm chỉ, ở mọi nơi đều có thể thấy thái độ tận tụy với công việc của họ. Không thấy các quán nước tụ tập nguời nhàn cư, không thấy cờ bạc ở đầu đường hay góc chợ, …. Từ nguời quét dọn rác tới nhân viên phục vụ ở các nhà hàng, khách sạn, từ những nguời hướng dẫn, đảm bảo trật tự ở các khu du lịch tới các nhân viên hải quan, an ninh sân bay, ai cũng làm hết bổn phận của mình. Mặc dù thế, cách ăn mặc của họ khá giản dị. Trên đường phố, trong khu du lịch, … ít thấy các chàng trai cô gái ăn mặc “sành điệu” với các mốt thời trang hấp dẫn. Khi được hỏi, nguời hướng dẫn du lịch bảo tôi: Những nguời ấy đang ở nơi làm việc hay trường học, họ chỉ có thể xuất hiện ở mọi nơi vào buổi tối. Nhưng ngay vào lúc đó cũng ít thấy ngoài những nơi như khu phố ăn chơi nức tiếng như ở Thượng Hải. Mọi nơi, rất nhiều cửa hàng bán rượu và thuốc lá, nhưng không thấy cảnh bia rượu “tràn cung mây” như ở ta, không thấy các “bãi bia” đông nghịt nguời vào buổi tối. Trừ các khu phục vụ du lịch, phần lớn các cửa hàng đều đóng cửa sau 10 giờ tối. Sống giản dị và cần kiệm hình như đã trở thành một thói quen của nguời Trung Quốc mà tôi đã thấy qua những nguời Hoa ở Việt Nam trước đây. Nguời hướng dẫn du lịch ở Bắc Kinh có vẻ ngoài xuềnh xoàng, vai đeo ba lô, tay cầm cờ đưa chúng tôi đi khắp nơi thạo tiếng Việt không kém gì nguời Việt Nam, tận tình giới thiệu, sẵn sàng trả lời mọi câu hỏi của khách ai ngờ cũng là chủ nhân của chiếc xe hơi hiệu Hon-đa và một trang trại nuôi rắn có hơn ba chục nhân công. Anh giải thích mình làm hướng dẫn du lịch vì thích được đi đây đi đó, thích được chia sẻ những hiểu biết với mọi người nhất là du khách nước ngoài về sự giàu có và đẹp đẽ của truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc mình (không thấy anh dùng hai chữ “tự hào”). Trên chuyến tàu cao tốc Bắc Kinh đi Tô Châu, trong hơn 5 giờ đồng hồ, có hai nguời làm vệ sinh, một nguời đẩy xe đựng rác và một nguời cầm cái gậy lau. Suốt hành trình, hai nguời cứ ngược xuôi suốt 16 toa để nhận rác từ hành khách trên các toa và lau sàn tàu đảm bảo như không còn một hạt bụi. Tôi được nghe giải thích: Ở Trung Quốc còn không ít nguời thất nghiệp, chúng tôi phải chăm chỉ làm việc hôm nay để ngày mai không phải chầu chực đi xin việc. Họ vừa lòng với cuộc sống hôm nay chứ không “đứng núi này trông núi nọ”. Chứng kiến những con người ấy, tôi lại nhớ những nguời Hoa ở Việt Nam trước đây: những nguời đàn ông vạm vỡ, bắp tay cuồn cuộn, kiên nhẫn ngồi dùng búa dát mỏng mảnh thiếc bằng con bài “tu-lơ-khơ” tới khi có diện tích ngang tờ giấy khổ A3 để làm vàng mã; những nguời Hoa âm thầm ngồi bán lạc rang bên bờ hồ Hoàn Kiếm gần nơi tháp Hòa Phong như muốn “thi gan cùng tuế nguyệt”; nhớ lại chuyện một nguời Hoa ở Sài Gòn vào những năm 80 thế kỷ trước làm nghề bán hàng rong, hàng ngày, với một chiếc xe đẩy, ông đi khắp hang cùng ngõ hẻm của Sài Gòn bán dép nhựa và đổi dép mới lấy dép cũ. Nhìn thấy cảnh một ông già lầm lũi gội mưa tắm nắng suốt ngày trên đường, ai cũng mủi lòng thương hại. Nhưng nào ngờ, khi ông nằm xuống, nguời ta mới phát hiện ông có tới hơn 70 “cây” vàng, trong căn nhà không thể gọi là khang trang. Đó là một tài sản không phải ai cũng có thể có và nếu có, nguời Việt Nam chúng ta chắc chẳng ai chịu sống như thế. (Những năm ấy, lương của một giáo viên trung học như tôi mỗi tháng chưa mua nổi một “chỉ” vàng).
Nguời Trung Quốc đã làm nên nhiều kỳ tích nhưng luôn luôn khiêm nhường và giản dị. Cái sân vận động lớn nhất châu Á cũng chỉ được gọi bằng cái tên Tổ chim, sân bay vào loại lớn của thế giới cũng được gọi bằng cái tên Phố Đông. Đi khắp Bắc Kinh, Thượng Hải khách tham quan rất ít thấy những khẩu hiệu kiểu “tự sướng” như ở Việt Nam, cái màu đỏ tưởng như đặc trưng cho Trung Quốc trước đây nay cũng chỉ thấy ở các đèn lồng trong nhà hàng khách sạn hoặc các khu vui chơi giải trí.
Trái hẳn lòng khâm phục và ngưỡng mộ nền văn hóa của đất nước năm nghìn năm, thiện cảm trước những con người thuộc dân tộc đông dân nhất thế giới, khi nói tới nhà cầm quyền Trung Quốc nhất là ở thời hiện đại, tôi không thể kìm nén được những tình cảm ngược lại. Con dân nước Việt ai có thể coi họ là “bạn vàng”, có thể quên chính họ đã “xui trẻ ăn cứt gà” dùng máu nguời Việt chúng ta đánh Mỹ để cho họ “tọa sơn quan hổ đấu” hòng kiếm lợi; chính họ đã “đục nước béo cò” chiếm Hoàng Sa, Trường Sa mảnh đất máu thịt của Tổ quốc chúng ta; chính họ đã cướp đi sinh mạng của hơn sáu chục nghìn chiến sĩ và đồng bào ta trong cuộc chiến tranh Biên giới năm 1979 và hiện nay, họ đang tìm mọi cách lấn chiếm vùng biển đảo thiêng liêng mà tổ tiên để lại. Nhưng phải công bằng mà nói, từ sau “cải cách mở cửa”, họ đúng đã trở thành những kẻ đầy tớ trung thành cho đồng bào họ, làm thay đổi diện mạo của đất nước Trung Hoa, mang lại cuộc sống tốt đẹp cho nguời dân Trung Quốc. Không có điều kiện để tìm hiểu sâu rộng, tôi chỉ dám nói tới những điều tai nghe mắt thấy:
Đi nhiều nơi ở Trung Quốc trong 7 ngày, tôi hai lần được thấy câu khẩu hiệu “dĩ dân vi bản” (lấy dân làm gốc), nhưng khắp nơi, tôi thấy cuộc sống của nguời dân được quan tâm chăm sóc khá đầy đủ. Trước hết, thu nhập của mọi người, nhất là tầng lớp làm công ăn lương được đảm bảo có cuộc sống no ấm. Nguời lao đông chân tay (lao công, quét rác, …kể cả nguời nhập cư làm các công việc nặng nhọc) có mức thu nhập khoảng 3 – 4.000 “tệ”/tháng; sinh viên mới ra trường thu nhập 4 – 5.000 “tệ”/tháng; bác sĩ mới ra trường có mức lương 5.000 “tệ”/tháng, sau chừng 7, 8 năm có mức lương 10.000 “tệ”/tháng. Lái xe, hướng dẫn du lịch có thu nhập khoảng 6 – 7.000 “tệ” tháng, … (1 “tệ” tương đương 3.500 đ Việt Nam). Với mức thu nhập ấy, một gia đình hai vợ chồng dù chỉ lao động chân tay, không có bằng cấp, nuôi một đứa con ăn học chắc không phải thiếu thốn (thu nhập khoảng 25 – 28 triệu đồng Việt Nam). Nguời dân yên tâm với việc làm của mình, có cuộc sống ổn định chính vì thế xã hội cũng khó rối loạn. Về mặt chính trị, tự do tư tưởng, nhân quyền, cuộc sống của nguời Trung Quốc còn bị khá nhiều o ép, nhưng về mặt đời sống vật chất nói chung, họ được quan tâm khá chu đáo, từ những điều nhỏ bé. Ở nơi công cộng, khách sạn, nhà hàng, … các bậc lên xuống (cả cầu thang bộ), đường vào nơi vệ sinh đều có lời nhắc nhở trên sàn nhà để ai cũng có thể nhận ra: “cẩn thận, có bậc”, “coi chừng kẻo ngã”. Trên đường phố, trước ngã tư có đèn tín hiệu, phần đường dành cho xe hai bánh có mái che mưa nắng cho nguời chờ đèn đỏ. Chi phí làm những mái che này do các doanh nghiệp bỏ ra đổi lấy quyền được quảng cáo, thế là tiền thuế của dân không mất xu nào mà nguời dân được hưởng lợi….
Trước những vấn đề nan giải không ngừng nảy sinh, mỗi chính phủ địa phương có cách giải quyết khác nhau nhưng đều rất sáng tạo và “ích nước lợi dân”. Chuyện hạn chế phương tiện giao thông chẳng hạn. Trước đây, Bắc Kinh thi hành chính sách “xe số lẻ, xe số chẵn” (mà Pa-ri đang áp dụng) nhưng không thành công vì giá xe ô tô ở Trung Quốc không đắt, chỉ khoảng hai trăm triệu tiền Việt Nam là đã có thể mua được. Nguời dân bèn có đối sách, mỗi gia đình có 2 xe ô tô, một cái mang số lẻ, một cái mang số chẵn. Thế là chẳng những không hạn chế được mà số xe còn tăng thêm. Từ đó, Bắc Kinh thay đổi: chỉ những ai có biên lai đóng thuế thu nhập 5 năm liền mới được phép mua xe, còn Thượng Hải áp dụng chính sách, mỗi năm chỉ cho phép đăng ký mới một số lượng xe nhất định, các biển số xe mới được mang đấu giá, những nguời trả giá cao nhất sẽ giành quyền mua xe. Cả hai cách mà hai thành phố áp dụng đều khiến ngân sách được bổ sung, nguồn vốn cho giao thông không ngừng được tăng thêm, hạn chế việc thu phí tràn lan khiến nguời dân chịu gánh nặng. Chuyện phí trên các đường cao tốc cũng vậy. Sau khi xây dựng, đường cao tốc được giao cho các địa phương thu phí và duy tu bảo dưỡng. Phần đường thuộc tỉnh nào do tỉnh ấy chịu trách nhiệm. Đường xấu nguời ta sẽ chọn tuyến đường khác cho nên đường luôn luôn êm thuận. Xe lưu thông trên đường có thẻ từ ghi nhận quãng đường đã đi qua. Khi dời khỏi cao tốc, trạm thu phí căn cứ vào loại xe, quãng đường đã đi qua để trừ tiền trong thẻ. Xe khách 45 chỗ phải trả 1 “tệ” cho 1 km. Phí giao thông không thể thất thoát một xu!
Chuyện giải tỏa, giải phóng mặt bằng là điều không thể tránh khỏi khi muốn xây dựng những công trình mới. Tôi được biết, chính quyền có chính sách bồi thường thỏa đáng để những nguời phải thay đổi nơi ở không ai có thể từ chối. Nhà nước chủ trương đây là cơ hội để cải thiện đời sống cho nhân dân đồng thời, thúc đẩy tiến độ xây dựng các công trình. Ý thức được trình độ văn minh của nguời Trung Quốc chưa cao, nhà cầm quyền bên cạnh thực hành những hình phạt nghiêm khắc còn thường xuyên có những nhắc nhở, cảnh tỉnh nguời dân khắc phục những nhược điểm. Các khách sạn, nhà hàng dù có lãi không ít nhờ bán bia rượu, thuốc lá nhưng trên bàn ăn khách luôn nhìn thấy lời nhắc: “1. Không để thừa thức ăn. 2. Hạn chế bia rượu. 3. Cấm hút thuốc lá”. Trong nhà vệ sinh luôn có những hàng chữ nhắc nhở tiết kiệm giấy vệ sinh và nước rửa tay. Ngã tư có đèn tín hiệu luôn có lời nhắc “Cẩn thận khi qua đường” ngang tầm mắt nhìn của nguời đi bộ và hàng chữ “xe nhường nguời” ngay trước vạch dừng xe. Đường cao tốc (đường sắt, đường bộ) thường làm trên cao, không ai có thể gây cản trở nhưng khi qua các khu dân cư đều có tường bê tông cao khoảng 2 mét hai bên để hạn chế tiếng ồn cho cư dân, nếu qua những nơi có phong cảnh đẹp, bức tường ngăn sẽ được làm bằng kính để nguời ngồi trên phương tiện giao thông không bị hạn chế tầm nhìn. Những hình phạt được đưa ra nghiêm khắc và không thể có lý do để biện minh, không có ngoại lệ: viên chức nhà nước nhận phong bì bị tố giác hay phát hiện sẽ bị đuổi việc nên chẳng ai dại gì nhận cái phong bì mấy trăm tệ để mất việc; tàu cao tốc chỉ dừng ở ga 2 phút đón trả khách, hết thời gian đó, cửa toa tự động đóng lại, ai chậm chân thì đành chấp nhận vé bị hủy; hút thuốc trên tàu cao tốc bị phạt 2.000 “tệ” và phạt giam 15 ngày; ra khỏi nhà ga không có vé bị phạt gấp đôi giá vé, …
Cả hai mặt ấy được thực hiện song song khiến luật pháp, kỷ cương được nghiêm minh, nó góp phần khiến dân trí dần được nâng cao, người Trung Quốc dần tự vượt lên chính mình, tiến gần hơn với văn minh, văn hóa. Suốt 7 ngày, toàn ở những nơi tập trung đông người, tôi không thấy cảnh khạc nhổ, vứt rác bừa bãi, … duy chỉ có sự ồn ào thì chưa hết.
Một thành công đáng ghi nhận của nhà cầm quyền Trung Quốc là họ thận trọng khi vạch ra kế hoạch và một khi đã được xác định, họ sẽ bằng mọi cách thực hiện kế hoạch đó, những người thực hiện đúng hoặc vượt tiến độ đều được thưởng cao. Cho nên, tuyến đường sắt cao tốc từ Hàng Châu tới Thượng Hải dài gần 200 km, người Trung Quốc chỉ mất 18 tháng để hoàn thành. Trong 5 năm, từ cuối năm 2010 đến nay, thành phố Quảng Châu đã xây dựng được 8 tuyến xe điện ngầm dài 136 km với 144 nhà ga. Nghĩ tới con đường sắt trên cao đầu tiên của Thủ đô vẻn vẹn có hơn 10 cây số mà sau 6 năm vẫn còn dở dang thật đáng khóc chứ không thể chỉ đáng buồn.
Chúng tôi dời Trung Quốc qua sân bay quốc tế Phố Đông ở Thượng Hải. Sân bay này được đưa vào sử dụng nhân ngày kỷ niệm Quốc khánh Trung Quốc năm 1999, nay đã có 2 nhà ga và 2 đường băng hạ, cất cánh, tương lai có khả năng vận chuyển 80 triệu hành khách/năm (sân bay quốc tế Nội Bài của ta có lưu lượng 10 triệu hành khách/năm). 7 ngày là thời gian quá ngắn ngủi, chắc chắn chưa thể hiểu hết được mọi mặt ở Trung Quốc, nhưng dù sao, nó khiến tôi không thể vừa lòng với những hiểu biết còn hạn hẹp của mình về một đất nước và dân tộc vĩ đại.
Chủ Nhật, 9 tháng 12, 2018
HÀN VƯƠNG TÔN PHÚ
Đặng Trần Thường
Hàn vương tôn, Hàn vương tôn
Vũ phúc giáng thần, kim kê giáng thuỵ
Kinh sử năm xe chua chất, ngang trời dọc đất ấy kinh luân;
Tôn Ngô bảy quyền làu thông, đè sóng xông mây là chí khí;
Hội chiến tranh ếch đã vang tai,
Bề thao lược ngọc còn giấu vẻ;
Một cần trúc vắt ngang dòng Lệ thuỷ, Hồng xích Lưu trong phảng phất lẫn bên thành,
Ba thước gươm cầm lại chợ Hoài Minh, Hươu Hàm Cốc tưởng đinh ninh nằm chốc đáy.
Đồ phong vân trước mắt ngắm nhơn nhơn,
Túi thao lược bên mình đeo nhẹ nhẹ!
Mùi tư vị thiếu gỏi Tần nem Hạng, nặng vì đường tri kỷ
Bữa sâng siu (tâng tiu) nên lỡ mấy mụ già
Bước trần ai còn áo Lã cơm Hề, xem hẳn cũng kiêm (sic) nhân,
Lời nheo nhuốc sá chấp chi con trẻ.
Thông sao nơi huỷ hạ hẹp hòi,
Xá chi chít lang trung thỏ tí.
Hăm hở quyết lòng theo giúp Hán,
Hang sâu chưa kịp nức mùi lan;
Ngậm ngùi đấu trí nhớ về Đông,
Đất cũ lại thẳng dong vô ký
Ngòi Hàn Khê từ giở (sic) bạn phượng loan,
Đất Ba Thục lại dứt đường phú quí:
Đủng đỉnh lên đàn Đại tướng,
Ba quân trông mặt khiếp uy thanh,
Khoan thai lĩnh ấn Nguyên nhung
Thiên tử nghiêng mình trao tiết chế.
Chín lần bàn bạc thâm mưu,
Muôn dặm danh đường trọng ký.
Đắp thành mở đường cố đạo, tịch quyến Tam Tần,
Hậu quân dương mặt đông quan, sấm vang bốn bề.
Dưới màn hằng tư tưởng Di Ngô,
Trên ngựa những băn khoăn Bạch Khỉ
Thuyền san sát khắp bầy sông Lâm tấn,
Nguỵ quanh thành quân kéo đen sì.
Trống long tong qua ải Tỉnh hình,
Triệu bốn mặt cờ bay đỏ choé.
Áng giáp dùng bài nhu viễn,
Lấy gang tấc dấy nẹt cường bang,
Quyết nang bày trận công nhân,
Đem bảy mươi thành dâng Xích đế;
Đứa Long Thư cương rắn hết hung hăng,
Thằng Vũ Thiệp lưỡi mềm khôn thỏ thẻ.
Tước lộc trót nhờ cơm áo Hán,
Đuổi tỳ hưu mong bắt lại đền ơn;
Giàu sang bao quản nước non Tề,
Xua muông cẩu kẻo ra lòng bội nghĩa;
Gẫm kim cổ so ba tướng cỏn xa.
Sức chiến đấu đọ bách phu nào ví.
Người biết hưng vong là thiên số,
Hán tuy chưa mở mang nền bách nhị,
Song mạng trời về có đức,
Vốn ngõ then từ chém rắn hay rồng;
Ai hay thành bại cũng nhơn mưu,
Hán khi còn lững thững đất Ba Xuyên,
Mà deo mình về mái tả;
Đã vén cánh quyết đè hươu bắt khỉ,
Ỏi ác biết lòng du tử,
Vậy khi đồng Định Đào, khi quân Tu Vũ,
Ra vào then khoá chẳng ngờ,
Trung trinh giữ tiết nhơn thần,
Mà dù chơi Vân Mộng, dù được Trần Hi,
Bối rối tóc tơ dám ngại.
Há có lòng như Hi, Bố chút nào,
Tiếc thẹn mặt với Phàn, Đằng một mất.
Cơn tỉnh chấn nghĩ Tề điều biến trá,
Lời tự vương so đổ tiếng trượng phu;
Lúc trần binh e Sở mới thanh bình,
Thư mưu phản khéo oan lòng quốc sĩ;
Ơn nho nhỏ cũng lấy vàng mà báo đáp,
Đỉnh chung nầy đâu có lẽ thờ ơ,
Oán rành rành còn cho tước để sinh dùng,
Giang san ấy há lại lòng ngấp nghé;
Đường phú quí có sức nào chuyển được,
Nọ kẻ trướng màn khuya sớm,
Chốn Cốc thành còn phải lánh mình đi;
Áng công danh hầu ai để giúp đâu,
Kìa người then khoá bấy lâu,
Vườn Thượng lâm cũng còn lây tiếng luỵ;
Nhà thạch thất dẫu nhạt son mòn sắt,
Danh tướng quân đành muôn kiếp còn thơm;
Nền kim đao dù nguội lửa phai vàng,
Công tướng quân dẫu ngàn năm như vẽ.
Vũ phúc giáng thần, kim kê giáng thuỵ
Kinh sử năm xe chua chất, ngang trời dọc đất ấy kinh luân;
Tôn Ngô bảy quyền làu thông, đè sóng xông mây là chí khí;
Hội chiến tranh ếch đã vang tai,
Bề thao lược ngọc còn giấu vẻ;
Một cần trúc vắt ngang dòng Lệ thuỷ, Hồng xích Lưu trong phảng phất lẫn bên thành,
Ba thước gươm cầm lại chợ Hoài Minh, Hươu Hàm Cốc tưởng đinh ninh nằm chốc đáy.
Đồ phong vân trước mắt ngắm nhơn nhơn,
Túi thao lược bên mình đeo nhẹ nhẹ!
Mùi tư vị thiếu gỏi Tần nem Hạng, nặng vì đường tri kỷ
Bữa sâng siu (tâng tiu) nên lỡ mấy mụ già
Bước trần ai còn áo Lã cơm Hề, xem hẳn cũng kiêm (sic) nhân,
Lời nheo nhuốc sá chấp chi con trẻ.
Thông sao nơi huỷ hạ hẹp hòi,
Xá chi chít lang trung thỏ tí.
Hăm hở quyết lòng theo giúp Hán,
Hang sâu chưa kịp nức mùi lan;
Ngậm ngùi đấu trí nhớ về Đông,
Đất cũ lại thẳng dong vô ký
Ngòi Hàn Khê từ giở (sic) bạn phượng loan,
Đất Ba Thục lại dứt đường phú quí:
Đủng đỉnh lên đàn Đại tướng,
Ba quân trông mặt khiếp uy thanh,
Khoan thai lĩnh ấn Nguyên nhung
Thiên tử nghiêng mình trao tiết chế.
Chín lần bàn bạc thâm mưu,
Muôn dặm danh đường trọng ký.
Đắp thành mở đường cố đạo, tịch quyến Tam Tần,
Hậu quân dương mặt đông quan, sấm vang bốn bề.
Dưới màn hằng tư tưởng Di Ngô,
Trên ngựa những băn khoăn Bạch Khỉ
Thuyền san sát khắp bầy sông Lâm tấn,
Nguỵ quanh thành quân kéo đen sì.
Trống long tong qua ải Tỉnh hình,
Triệu bốn mặt cờ bay đỏ choé.
Áng giáp dùng bài nhu viễn,
Lấy gang tấc dấy nẹt cường bang,
Quyết nang bày trận công nhân,
Đem bảy mươi thành dâng Xích đế;
Đứa Long Thư cương rắn hết hung hăng,
Thằng Vũ Thiệp lưỡi mềm khôn thỏ thẻ.
Tước lộc trót nhờ cơm áo Hán,
Đuổi tỳ hưu mong bắt lại đền ơn;
Giàu sang bao quản nước non Tề,
Xua muông cẩu kẻo ra lòng bội nghĩa;
Gẫm kim cổ so ba tướng cỏn xa.
Sức chiến đấu đọ bách phu nào ví.
Người biết hưng vong là thiên số,
Hán tuy chưa mở mang nền bách nhị,
Song mạng trời về có đức,
Vốn ngõ then từ chém rắn hay rồng;
Ai hay thành bại cũng nhơn mưu,
Hán khi còn lững thững đất Ba Xuyên,
Mà deo mình về mái tả;
Đã vén cánh quyết đè hươu bắt khỉ,
Ỏi ác biết lòng du tử,
Vậy khi đồng Định Đào, khi quân Tu Vũ,
Ra vào then khoá chẳng ngờ,
Trung trinh giữ tiết nhơn thần,
Mà dù chơi Vân Mộng, dù được Trần Hi,
Bối rối tóc tơ dám ngại.
Há có lòng như Hi, Bố chút nào,
Tiếc thẹn mặt với Phàn, Đằng một mất.
Cơn tỉnh chấn nghĩ Tề điều biến trá,
Lời tự vương so đổ tiếng trượng phu;
Lúc trần binh e Sở mới thanh bình,
Thư mưu phản khéo oan lòng quốc sĩ;
Ơn nho nhỏ cũng lấy vàng mà báo đáp,
Đỉnh chung nầy đâu có lẽ thờ ơ,
Oán rành rành còn cho tước để sinh dùng,
Giang san ấy há lại lòng ngấp nghé;
Đường phú quí có sức nào chuyển được,
Nọ kẻ trướng màn khuya sớm,
Chốn Cốc thành còn phải lánh mình đi;
Áng công danh hầu ai để giúp đâu,
Kìa người then khoá bấy lâu,
Vườn Thượng lâm cũng còn lây tiếng luỵ;
Nhà thạch thất dẫu nhạt son mòn sắt,
Danh tướng quân đành muôn kiếp còn thơm;
Nền kim đao dù nguội lửa phai vàng,
Công tướng quân dẫu ngàn năm như vẽ.
Tôi nay:
Xem pho cựu sử, đọc truyện nhơn thần,
Thấy câu: "Hán đắc thiên hạ, đại để giai Tín chi công"
Chưa từng chăng:
Thâm tích Hàn vương tôn chi anh tài,
Mà thầm trách Hán Cao Hoàng chi sai ky.
Xem pho cựu sử, đọc truyện nhơn thần,
Thấy câu: "Hán đắc thiên hạ, đại để giai Tín chi công"
Chưa từng chăng:
Thâm tích Hàn vương tôn chi anh tài,
Mà thầm trách Hán Cao Hoàng chi sai ky.
sưu tầm
ALEXANDRE DE RHODES VÀ CHỮ QUỐC NGỮ
• Cuối tháng 6-2009, nhà điêu khắc Phạm Văn Hạng (tp Hồ Chí Minh) đã hoàn thành tượng Alexandre De Rhodes cao 3mét, rộng 2mét, nặng 43 tấn, bằng đá hoa cương lấy từ một ngọn núi tại Bà Rịa- Vũng Tàu và tặng nhân dân Hà Nội, đặt nơi thủ đô- trái tim Việt Nam để nhớ công sáng tạo chữ Quốc Ngữ của Alexandre De Rhodes,
Đi qua những khác biệt về chính trị và tôn giáo trong lịch sử, chúng tôi tìm Alecxandre De Rhodes cùng với sự sáng tạo chữ Quốc Ngữ của dân tộc, suốt hơn ba thế kỷ nay.
Hành trình sáng tạo chữ Quốc Ngữ là một bước tiến hóa vô cùng quan trọng của Người Việt Nam- Thăng Long- Hà Nội trong cuộc gặp gỡ với phương Tây.
• Alexandre De Rhodes và chú bé tóc trái đào ở Hội An
Alexandre De Rhodes sinh ngày 15-3- 1591 tại Avignon, miền Nam nước Pháp. Ông là linh mục thuộc giáo đoàn Dòng Tên, được cử sang Nhật truyền đạo. Nhật Bản cấm đạo. Năm 1624, sau một năm chờ đợi học tiếng Nhật ở Ma Cao, ông được phái vào Đàng Trong (Hội An) và nhanh chóng học được tiếng Việt để truyền đạo Thiên Chúa (lấy tên Việt là Đắc Lộ). Thầy dạy tiếng Việt của ông là một chú bé khoảng hơn mười tuổi. Ông vô cùng mến mộ viết về người thầy tí hon của mình: “Chỉ trong ba tuần lễ, chú bé đã dạy tôi học biết tất cả các cung bậc khác nhau của tiếng Việt, cách thức phát âm của từng chữ. Cậu không hề có kiến thức gì về ngôn ngữ châu Âu, thế mà cũng trong vòng ba tuần lễ này, cậu có thể hiểu tất cả những gì tôi muốn diễn tả và muốn nói với cậu. Đồng thời cậu học đọc, học viết tiếng La- tinh. Tôi hết sức ngạc nhiên trước trí khôn minh mẫn và trí nhớ dẻo dai của cậu.”
Chú bé tóc trái đào đã thắp lửa tình yêu tiếng Việt, yêu đất nước, con người Việt Nam trong tâm hồn Alexandre De Rhodes, dắt ông vào hành sáng tạo chữ Quốc Ngữ, khởi nguồn từ đất Hội An.
Theo giáo sư Nguyễn Văn Hoàn trong bản tham luận Hội An, một trung tâm giao tiếp văn hóa với thế giới của Việt Nam thế kỷ XVI giáo sĩ người Ý Critopphoro Borri đã viết Xứ Đàng Trong (năm 1621). Thời đó nước ta chịu cảnh Trịnh- Nguyễn phân tranh, chia thành hai nửa Đàng Ngoài- Đàng Trong, chia cắt ranh giới bởi con sông Gianh hiền lành vô tội. Borri ở Đàng Trong 5 năm (1618- 1622) chủ yếu truyền giáo tại Hội An. Xø §µng TrongBorri viết bằng tiếng Ý, xuất bản lần thứ nhất tại Rôma năm 1631, một năm trước khi ông qua đời. Sách dày 231 trang, hiện lưu trữ tại Tòa Thánh Vatican. Đây là cuốn sách đầu tiên viết về Đàng Trong nước ta, miêu tả tỉ mỉ và bao quát hầu như đầy đủ các mặt: địa giới, khí hậu, cây cỏ, súc vật… đến phong tục tập quán, cách ăn, mặc, ngôn ngữ, tôn giáo, tổ chức gia đình và xã hội…
Tại Hội An G.S Hoµn đọc bài nghiên cứu khoa học của mình:
– Người đọc chú ý đến cái nhìn vừa tò mò lại vừa thiện cảm của Borri đối với cảnh sắc và con người Việt Nam ở Đàng Trong, khi ông so sánh người Việt Nam với người Trung Quốc, hoặc khi ông nói đến con voi, đến một cuộc săn tê giác, đến tập tục cũ Việt Nam: khách phải rửa chân trước khi bước vào nhà, hoặc có món ăn gì, dù ít và đạm bạc, cũng chia ra và mời khách cùng ăn… Cuốn sách ngay lập tức gây ảnh hưởng với người đương thời. Năm đầu tiên, nó được in lại bằng tiếng Ý ở Milano và có ba bản dịch Pháp văn cùng xuất hiện ở Paris, Lille, Rennes. Hai năm sau, nó lần lượt được dịch ra Tiếng La-tinh, Tiếng Hà Lan, tiếng Đức, tiếng Anh. Tầm quan trọng của cuốn sách của Borri, lần đầu tiên mô tả Đàng Trong nước ta, chỉ có thể so sánh với các sách của Alexandre de Rhodes, lần đầu tiên đã cung cấp một bức tranh toàn cảnh về xã hội Đàng Ngoài, xuất hiện hai mươi năm sau cuốn sách của Borri. Trong một tập du ký xuất bản ở Bồ Đào Nha năm 1627, linh mục Le Jeunehomme đã ca ngợi Borri:“Ông đã vượt qua biết bao biển cả và đất liền của phương Đông và châu Phi, đến nỗi quên mất cả tiếng Ý mẹ đẻ và tiếng La-tinh.”
Borri là vị giáo sĩ phương Tây thứ hai nói thông thạo tiếng Việt, đã đưa ra nhiều nhận xét so sánh đầu tiên về tiếng Việt, cung cấp cho chúng ta những cứ liệu đầu tiên, quan trọng về hình dạng cụ thể của chữ Quốc Ngữ trong nửa đầu thế kỷ XVII…
G.S Nguyễn Văn Hoàn tập trung nghiên cứu về một người Pháp mà chúng ta không bao giờ quên được là Alexandre De Rhodes. Ông qua lại sống ở Hội An năm lần. Trong lĩnh vực học tiếng Việt và đặt chữ Quốc Ngữ này, A.de Rhodes có một vai trò đặc biệt, chẳng những ông nói được tiếng Việt, mà ông còn là người Châu Âu đầu tiên dám dấn thân nghiên cứu tiếng Việt, là một công việc học thuật cực kỳ khó khăn thời ông sống. Ông viết Từ điển Annam- Lusitan- Latin (còn gọi là Từ điển ba thứ tiếng Việt Nam- Bồ Đào Nha- La-tinh) và cuốn sách giảng La-tinh- Việt xuất bản ở Rôme năm 1651, đánh dấu sự xuất hiện hiển nhiên của một thứ văn tự mới, dùng mẫu tự La-tinh để ghi tiếng Việt, được đặt tên là chữ Quốc Ngữ.
Tiếng Việt lúc đầu đã làm cho A. de Rhodes phát sợ. Ông viết: “Tôi thú nhận rằng khi mới đến Đàng Trong và nghe những người bản xứ, nhất là phụ nữ nói, tôi tưởng như nghe tiếng chim líu lo và tôi mất hết hy vọng có thể học được thứ tiếng đó.” Ông đã thuật lại một vài kỷ niệm ngộ nghĩnh do việc ông phát âm sai tiếng Việt gây ra. Một lần ông sai đầu bếp đi chợ mua cá thì anh ta đã bê về một thúng cà, một lần khác ông sai người đi chém tre thì bọn trẻ trong nhà thờ chạy trốn (vì ông phát âm sai thành “chém trẻ”).
Sau vấn đề ngôn ngữ (tiếng nói) thì các giáo sĩ phương Tây đến Việt Nam hồi đầu thế kỷ XVII còn đụng phải vấn khó hơn. Đó là văn tự. Ở Trung Quốc giữa tiếng Hán và chữ Hán có quan hệ thống nhất. Ở Việt Nam, chữ Hán không phải là văn tự được xây dựng trên cơ sở tiếng Việt. Borri nhận xét: “Thứ tiếng mà họ nói thường ngày rất khác với thứ tiếng mà họ dạy học và đọc trong khi học tập và viết sách” Đây là trường hợp một dân tộc chưa có văn tự riêng, đã mượn văn tự của dân tộc láng giềng, dùng rộng rãi trong lĩnh vực văn thư, học thuật, trong lúc đó thì hoạt động giao tiếp hằng ngày vẫn nói bằng ngôn ngữ riêng của dân tộc mình. Nhận thức được tình trạng ngôn ngữ phức tạp đó, các giáo sĩ phương Tây đã vận dụng kinh nghiệm thu được trong việc sử dụng mẫu tự La-tinh để ghi âm tiếng Trung Quốc, tiếng Nhật Bản, chuyển âm thành tiếng Việt. Hội An thế kỷ XVII là cái nôi của những người buôn bán Nhật Bản, Trung Quốc, các giáo sĩ phương Tây (Anh, Ý, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha…) đã tạo ra quá trình sáng chế văn tự Quốc Ngữ. Từ cuốn kỹ thuật chữ Quốc Ngữ của Borri chưa phân biệt được các dấu (huyền, sắc, nặng, hỏi, ngã) đến các sách xuất bản năm 1651 của A.de Rhodes, chữ Quốc Ngữ đã có bước tiến nhảy vọt, có hệ thống dấu giọng như ngày nay. Giáo sư Dương Quảng Hàm viết: “Việc sáng tác chữ Quốc Ngữ chắc là một công cuộc chung của nhiều người, trong đó có cả giáo sĩ người Tây Ban Nha và Pháp Lan Tây. Nhưng người có công nhất trong việc ấy là cố Alexandere de Rhodes vì chính ông là người đầu tiên đem in những sách bằng Quốc Ngữ.”
Alexandere de Rhodes viết lời tựa ở đầu cuốn Từ điển: “Để khởi thảo cuốn tự điển này, không những tôi nhờ chính người bản xứ đã giúp tôi học tiếng trong vòng gần mười hai năm, suốt thời kỳ tôi ở Đàng trong và Đàng ngoài, mà tôi còn học hỏi với các nhà truyền giáo khác. Tôi đã từng học với Francesco de Pina, một người Bồ Đào Nha thuộc Dòng Tên hèn mọn của chúng tôi. Ông là người rất giỏi tiếng bản xứ và là người đầu tiên dám tự giảng bằng tiếng bản xứ. Ngoài ra tôi còn lợi dụng công việc của các giáo sĩ khác cũng thuộc Dòng Tên, nhất là Gaspar de Amaral và Antonio Barbosa. Cả hai ông này đều làm mỗi ông một cuốn từ vựng. Ông Gaspar de Amaral làm cuốn Việt- Bồ. Ông Antonio làm cuốn Bồ- Việt. Nhưng tiếc rằng cả hai ông đều chết sớm. Tôi lợi dụng công việc của cả hai ông viết ra cuốn từ vựng mới, có chua thêm tiếng La-tinh.”
Việc phiên âm chữ Quốc Ngữ bằng mẫu tự La-tinh còn có sự đóng góp không thể thiếu của người Việt Nam. A. de Rhodes nói đến công lao của “những người bản xứ” đã giúp ông học tiếng Việt trong gần mười hai năm, mà chính ông còn nhắc đến chú bé “bản xứ” đã dạy ông trong ba tuần những âm khác nhau của tiếng Việt, mặc dầu chú không biết tiếng Pháp, còn ông thì chưa biết tiếng Việt nào. Những người nghiên cứu lịch sử tiếng Việt còn nhắc đến tên tuổi của những thầy dòng Việt Nam có đóng góp quan trọng cùng các giáo sĩ phương Tây như: Igesco Văn Tín, Bento Thiện, Philiphê Bỉnh…
Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn đã đi nghiên cứu ở Thư viện Vatican, Thư viện Quốc gia Paris và đã thuyết trình đề tài lịch sử tiếng Việt tại Đại học phương Đông Napoli- nước Ý năm 1978, Đại học Nice- Pháp năm 1982. Trở về Hội An ông nói:
– Đề tài chữ Quốc Ngữ, một đề tài bao quát một khối tư liệu đồ sộ mà nhà nghiên cứu cần và mong được đi lục lọi ở các thư viện nước ngoài như: Thư viện Tòa Thánh Vatican, Thư viện Dòng Tên ở Roma, Thư viện Lisbon, Thư viện Quốc gia Pháp, Thư viện ở Goa, ở Ma Cao… thì chính sự kiện đó đã bắt đầu tại miền đất này của đất nước ta, dựa trên ngữ âm của địa phương vùng này, với những địa danh Việt Nam xuất hiện trước tiên và thường xuất hiện đi, xuất hiện lại trên các trang sách nghiên cứu của người nước ngoài. Đó là: Hội An, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Nước Mặn, Qui Nhơn…
Mai Thục
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)







