Người Thượng hoặc đồng bào sắc tộc là danh từ được dùng thời trước
75 để gọi chung những nhóm sắc tộc thiểu số sinh sống trên cao nguyên
miền Trung, như Ba Na, Gia Rai, Ê đê, Cơ Ho, Mạ, Xơ Đăng, Mơ
Nông..."Thượng" có nghĩa là ở trên, "người Thượng" là người ở miền cao
hay miền núi, một cách gọi đặc trưng để chỉ những sắc dân sinh sống tại
Tây Nguyên, còn gọi là miền Thượng (tức là miền thượng du). Chính sách
dân tộc dành cho miền này được gọi là Thượng Vụ. Ngày nay, thường dùng
chữ "người dân tộc" để gọi chung những sắc dân thiểu số.
Những đàn voi với số lượng không đếm xuể ở Tây nguyên ngày xưa
Trước thế kỷ 19 thì Tây Nguyên là vùng đất tự trị, địa bàn sinh
sống của các bộ tộc thiểu số, chưa phát triển thành một quốc gia hoàn
chỉnh. Do đất rộng, người thưa, các bộ tộc thiểu số ở đây thỉnh thoảng
trở thành nạn nhân trước các cuộc tấn công của vương quốc Champa hoặc
Chân Lạp nhằm cướp bóc nô lệ.
Vợ chồng người Thượng.
Ổ Tây Nguyên thuở xưa thì chiêng, ché, voi, trâu có thể đổi được nô
lệ. Có loại chiêng chỉ ngang giá vài con trâu nhưng cũng có loại chiêng
giá trị tới 40 con trâu hay một tá tù binh, nô lệ.
Đà lạt 1925
Người dân Tây Nguyên ngày ấy ăn mặc đơn giản, nam thường đóng khố,
nữ thường cuốn váy ở trần - về mùa lạnh thì choàng thêm tấm mền cũ.
Trang phục khi đi hội của người dân thường được trang trí hoa văn nhiều
màu sắc cả nam, nữ đều đeo vòng bạc.
Một gia đình người dân tộc ở GiaRay.
Tháng 2 năm Tân Mão niên hiệu Hồng Đức thứ 2 (1471), vua Lê Thánh
Tông thân chinh đi đánh Chiêm Thành, phá được thành Chà Bàn, bắt sống
vua Chăm Pa là Trà Toàn, sáp nhập phần lãnh thổ Chăm Pa thời đó vào Đại
Việt.
Thác Liên Khang ngày ấy.
Sau khi Nguyễn Hoàng xây dựng vùng cát cứ phía Nam, các chúa Nguyễn
ra sức loại trừ các ảnh hưởng còn lại của Champa và cũng phái một số sứ
đoàn để thiết lập quyền lực ở khu vực Tây Nguyên. Các bộ tộc thiểu số ở
đây dễ dàng chuyển sang chịu sự bảo hộ của người Việt, vốn không có
thói quen buôn bán nô lệ.
Thiếu nữ Tây nguyên xưa
Tuy có sự ràng buộc lỏng lẻo, nhưng về danh nghĩa, vùng đất Tây
Nguyên vẫn thuộc phạm vi bảo hộ của các chúa Nguyễn. Thời Tây Sơn, rất
nhiều chiến binh thuộc các bộ tộc thiểu số Tây Nguyên gia nhập quân Tây
Sơn, đặc biệt với đội tượng binh nổi tiếng trong cuộc hành quân của
Quang Trung tiến công ra Bắc xuân Kỷ Dậu (1789).
Làm đường xe lửa có răng cưa lên Dalat.
Dưới triều nhà Nguyễn, quy chế bảo hộ trên danh nghĩa dành cho Tây
Nguyên vẫn không thay đổi nhiều, mặc dù vua Minh Mạng có đưa phần lãnh
thổ Tây Nguyên vào bản đồ Việt Nam (Đại Nam nhất thống toàn đồ - 1834).
Những phụ nữa trẻ trong một dịp lễ hội.
Người Việt vẫn chú yếu khai thác miền đồng bằng nhiều hơn, đặc biệt
ở các vùng miền Đông Nam Bộ ngày nay, đã đẩy các bộ tộc thiểu số bán
sơn địa lên hẳn vùng Tây Nguyên (như trường hợp của bộ tộc Mạ).
Một chiến binh
Sau khi người Pháp nắm được quyền kiểm soát Việt Nam, họ đã thực
hiện hàng loạt các cuộc thám hiểm và chinh phục vùng đất Tây Nguyên.
Trước đó, các nhà truyền giáo đã đi tiên phong lên vùng đất còn hoang sơ
và chất phác này.
Năm 1888, một người Pháp gốc đảo Corse tên là Mayréna sang Đông
Dương, chọn ĐăkTo làm vùng đất cát cứ và lần lượt chinh phục được các bộ
lạc thiểu số. Ông ta thành lập Vương quốc Sedang có quốc kỳ, có giấy
bạc, có cấp chức riêng và tự mình lập làm vua tước hiệu Marie đệ nhất.
Cô gái đang sãy gạo.
Nhận thấy được vị trí quan trọng của vùng đất Tây Nguyên, nhân cơ
hội Mayréna về châu Âu, chính phủ Pháp đã đưa công sứ Quy Nhơn lên “đăng
quang” thay Mayréna. Vùng đất Tây Nguyên được đặt dưới quyền quản lý
của Công sứ Quy Nhơn. Sau đó vài năm, thì vương quốc này cũng bị giải
tán.
Phu trạm.
Năm 1891, bác sĩ Alexandre Yersin mở cuộc thám hiểm và phát hiện ra
cao nguyên Lang Biang. Ông đã đề nghị với chính phủ thuộc địa xây dựng
một thành phố nghỉ mát tại đây.
Voi xưa và nay bao giờ cũng là biểu trưng của Tây nguyên
Nhân dịp này, người Pháp bắt đầu chú ý khai thác kinh tế đối với
vùng đất này. Tuy nhiên, về danh nghĩa, vùng đất Tây Nguyên vẫn thuộc
quyền kiểm soát của triều đình Đại Nam.
Một gia đình người Thượng ở Đà Lạt.
Vì vậy, năm 1896, khâm sứ Trung kỳ Boulloche đề nghị Cơ mật viện
triều Nguyễn giao cho Pháp trực tiếp phụ trách an ninh tại các cao
nguyên Trung kỳ.
Phụ nữ ở bản làng
Năm 1898, vương quốc Sedang bị giải tán. Một tòa đại lý hành chính
được lập ở Kontum, trực thuộc Công sứ Quy Nhơn. Năm 1899, thực dân Pháp
buộc vua Đồng Khánh ban dụ trao cho họ Tây Nguyên để họ có quyền tổ chức
hành chính và trực tiếp cai trị các dân tộc thiểu số ở đây.
Thầy mo và trai bản.
Năm 1900, Toàn quyền Paul Doumer đích thân thị sát Đà Lạt và quyết
định chọn Đà Lạt làm thành phố nghỉ mát. Vùng đất cao nguyên Trung kỳ
(Tây Nguyên) hoàn toàn thuộc quyền cai trị của chính quyền thực dân
Pháp.
Năm 1907, tòa đại lý ở Kontum đổi thành tòa Công sứ Kontum, cùng với
việc thành lập các trung tâm hành chính Kontum và Cheo Reo. Những
ông chủ thực dân người Pháp bắt đầu lên đây xây dựng các đồn điền đồng
thời cũng ngăn cấm người Việt lên theo, trừ số phu họ mộ được. Năm 1917,
tại đó, thị xã Đà Lạt được thành lập.
Phụ nữ sau cuộc đi săn thú???
Tiếng cồng chiêng trong ngày hội.
Năm 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm của Việt Nam Cộng hòa cho
thành lập Văn phòng Cố vấn Thượng Vụ để góp ý về những vấn đề liên quan
đến cao nguyên miền Thượng. Năm 1957, Văn phòng Cố vấn Thượng Vụ được
nâng cấp lên thành Nha Công tác Xã hội Miền Thượng trực thuộc Phủ Tổng
Thống, trụ sở đặt tại Huế.
Những phụ nữ đang địu con.
Một phụ nữ trẻ.
Năm 1958, Phòng Xã Hội được thành lập tại Tây Nguyên với mục đích
chính giúp học sinh người sắc tộc được theo học như người Kinh. Năm
1964, Nha Công tác Xã hội miền Thượng đổi thành Nha Ðặc trách Thượng Vụ
trực thuộc Bộ Quốc Phòng và sau đó được nâng cấp lên thành Phủ Ðặc ủy
Thượng Vụ. Năm 1969, Bộ Sắc Tộc (Bộ Phát triển Sắc Tộc) được thành
lập ngay trong chính phủ VNCH do một người Thượng lãnh đạo, và có chức
năng tương đương các bộ khác trong chính phủ.
Hồ Lak ngày xưa.
Phụ nữ Tây nguyên xưa và những trang sức trên người
Tổng trưởng Bộ Sắc tộc là các ông Paul Nưr, Ya Ba, cuối cùng là ông
Nay Luett (Nay Louette), một lãnh tụ Gia Rai, cho đến khi Việt Nam
thống nhất năm 1975.
Thiếu nữ dân tộc Mạ ở Dalat.
Tây Nguyên có nhiều dân tộc thiểu số chung sống với dân tộc Kinh
như Ba Na, Gia Rai, Ê đê, Cơ Ho, Mạ, Xơ Đăng, Mơ Nông... Chính quyền cũ
gọi chung những dân tộc này là "đồng bào sắc tộc" hoặc "người Thượng";
"Thượng" có nghĩa là ở trên, "người Thượng" là người ở miền cao hay miền
núi, một cách gọi đặc trưng để chỉ những sắc dân sinh sống trên cao
nguyên miền Trung.
Phụ nữ Bana -1926
Ba Na là nhóm sắc tộc đầu tiên, sau người Kinh, có chữ viết phiên
âm dựa theo bộ ký tự Latin do các giáo sĩ Pháp soạn năm 1861. Đến năm
1923 hình thành chữ viết Ê Đê.
Vợ con của trưởng bản.
Người Mạ sống tập trung chủ yếu ở Lâm Đồng. Trang phục của họ có cá
tính riêng về tạo hình áo nữ, đặc biệt là phong cách thẩm mỹ. Mùa làm
nông, nhiều người ở trần, mùa rét choàng tấm mền. Dân tộc Mạ có tục cà
răng, căng tai, đeo nhiều vòng trang sức.
Người bán gà
Đàn ông Mạ thường để tóc dài búi sau gáy, ở trần, đóng khố. Khố
cũng có nhiều loại khác nhau về kích thước và hoa văn trang trí. Loại
khố trang trọng có đính hạt cườm, tua dài. Bên cạnh đó họ còn mặc áo
chui đầu, xẻ tà, vạt sau dài hơn vạt trước che kín mông. Áo có các loại :
dài tay, ngắn tay và cộc tay. Thủ lĩnh búi tóc cắm lông chim có bộ
khiên giáo kèm theo.
Phụ nữ Thượng trong nhà với bộ da hổ, thúng và chuối kề bên
Phụ nữ Mạ ngày xưa họ ở trần mặc váy, có bộ phận mặc áo chui đầu để
tóc dài búi sau gáy. Áo nữ mặc vừa sát thân, dài tới thắt lưng, không
xẻ tà, vạt trước và sau áo bằng nhau; cổ áo tròn thấp.
Thác Langbian gần Đà Lạt.
Tổng thể áo chỉ là hình chữ nhật màu trắng. Nửa thân dưới áo trước
và sau lưng được trang trí hoa văn các màu đỏ, xanh là chính trong bố
cục dải băng ngang thân với các mô típ hoa văn hình học là chủ yếu.
Chiều dọc hai bên mép áo được dệt viền các sọc trang trí. Váy là loại
váy hở được dệt trang trí hoa văn với những phong cách bố cục đa dạng.
Phụ nữ Thượng.
Về cơ bản là các sọc : màu xanh, đỏ, vàng, trắng trên nền chàm chủ
yếu là hoa văn hình học theo nguyên tắc bố cục dải băng ngang truyền
thống. Có trường hợp nửa trên váy dệt trang trí hoa văn kín trên nền
sáng (trắng) với hoa văn hình học màu đỏ xanh. Nam nữ thường thích mang
vòng đồng hồ ở cổ tay có những ngấn khắc chìm - ký hiệu các lễ hiến sinh
tế thần cầu mát cho chủ nhân nó. Nam nữ đều đeo hoa tai cỡ lớn bằng
đồng, gà voi, gỗ; cổ đeo hạt cườm. Phụ nữ còn mang vòng chân đồng nhiều
vòng xoắn
Phu phát thư kiện.
Từ 1976 đến đầu thập kỷ 1990, Tây Nguyên gồm 3 tỉnh là Gia Lai-Công
Tum, Đắc Lắc, Lâm Đồng. Sau đó tỉnh Gia Lai-Công Tum được chia thành
hai tỉnh: Gia Lai và Kon Tum (thay đổi cả cách viết chính thức tên
tỉnh). Tỉnh Đắc Lắc chia thành hai tỉnh: Đắk Lắk và Đắk Nông.
Hiện tại, địa bàn Tây Nguyên có 5 tỉnh là Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng.
Bức ảnh nổi tiếng về người Tây nguyên.
Tắm con bên suối.
Thiếu nữ Tây nguyên ngày nay.
Ngày nay, Tây nguyên phát triển mạnh về kinh tế với các đồn điền
bạt ngàn trồng cao su, cà phê, hồ tiêu, chè ... - trở thành vùng kinh tế
động lực, vùng chuyên canh các loại cây công nghiệp dài ngày. Một bộ
phận đông đảo người dân tộc thiểu số đã biết chuyển sang trồng các loại
cây công nghiệp thay cho tập quán: phát, đốt, chọc, tỉa... lạc hậu trước
đây.
Điện đã về tận các buôn làng biên giới của Chư Prông, Đức Cơ, Chư
Pah, Ia Grai, đường giao thông xẻ núi về với “ốc đảo” Kon Pne - những
cánh đồng bạt ngàn, quanh năm xanh ngắt nhờ hệ thống thủy nông Ayun
Hạ...không còn là chuyện lạ của Tây nguyên
Ảnh nghệ thuật về Tây nguyên.
Mặc dù vậy Tây Nguyên vẫn còn là một vùng đất ẩn chứa nhiều di sản
văn hoá vật thể và phi vật thể quý báu, trong đó nổi bật hơn cả là sử
thi, mà trước đây chúng ta thường gọi là Trường ca, Anh hùng ca, một thể
loại tự sự dân gian truyền miệng, cho tới nay vẫn được lưu giữ trong
trí nhớ của người dân và thường được diễn xướng trong các dịp sinh hoạt
cộng đồng.
Ảnh nghệ thuật về Tây nguyên.
Việc phát hiện, sưu tầm và công bố các tác phẩm sử thi là cố gắng
của nhiều thế hệ các nhà sưu tầm và nghiên cứu văn hoá dân gian gần một
thế kỷ qua.
Riêng văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là
Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào ngày 15 tháng 11 năm
2005.
Tây nguyên xưa và nay vẫn là một vùng đất huyền thoại giàu đẹp, một điểm nhấn giữa ngã ba Đông dương.
(nguồn internet- NPV sưu tầm)