XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG

Thứ Năm, 15 tháng 9, 2016

Núi lửa Chư Đăng Ya hùng vĩ giữa núi rừng Tây Nguyên




  • 4

Nui lua Chu Dang Ya hung vi giua nui rung Tay Nguyen hinh anh 1
Chư Đăng Ya thuộc địa phận làng Ploi lagri, xã Chư Đăng Ya, huyện Chư Păh. Chư Đăng Ya theo tiếng đồng bào J’rai có nghĩa là củ gừng dai.
Nui lua Chu Dang Ya hung vi giua nui rung Tay Nguyen hinh anh 2
Đây là ngọn núi lửa đã ngưng hoạt động hàng triệu năm, miệng núi lửa có hình phễu. Núi lửa Chư Đăng Ya nằm ẩn mình giữa rừng xanh, đại ngàn hùng vĩ.
Nui lua Chu Dang Ya hung vi giua nui rung Tay Nguyen hinh anh 3
Dấu tích nham thạch để lại nơi đây một vùng đất đỏ bazan màu mỡ. Người dân bản địa thường trồng trọt các loại cây như ngô, khoai, bí đỏ, dong riềng… làm nguồn lương thực.

Nui lua Chu Dang Ya hung vi giua nui rung Tay Nguyen hinh anh 4
Bao quanh Chư Đăng Ya là những rừng cây cổ thụ, hoang sơ
.
Nui lua Chu Dang Ya hung vi giua nui rung Tay Nguyen hinh anh 5
Cảnh sắc thiên nhiên quanh khu vực núi lửa rất tự nhiên, đa dạng.
Nui lua Chu Dang Ya hung vi giua nui rung Tay Nguyen hinh anh 6
Mỗi mùa, ngọn núi sẽ có những nét đẹp riêng.
Nui lua Chu Dang Ya hung vi giua nui rung Tay Nguyen hinh anh 7
Người dân băng qua ngọn núi lửa để về nhà.
Nui lua Chu Dang Ya hung vi giua nui rung Tay Nguyen hinh anh 8
Cây cổ thụ hàng trăm năm bị sâu đục mà gốc có thể chứa người ở bên trong. 
Nui lua Chu Dang Ya hung vi giua nui rung Tay Nguyen hinh anh 9
Cây trồng ở đây xanh tốt bốn mùa. Chư Đăng Ya mang vẻ đẹp của những vạt ngô, luống khoai hay từng đám dong riềng. Điểm nhấn cho ngọn núi là sự hòa quyện của những loài hoa, cỏ dại. 
Nui lua Chu Dang Ya hung vi giua nui rung Tay Nguyen hinh anh 10
Đến Chư Đăng Ya, bạn phải men theo những con nước
.
Nui lua Chu Dang Ya hung vi giua nui rung Tay Nguyen hinh anh 11
Người nông dân vui vẻ tụ tập nghỉ ngơi và ăn trưa dưới chân núi.
Nui lua Chu Dang Ya hung vi giua nui rung Tay Nguyen hinh anh 12
Một con đường cỏ cháy dẫn tới Chư Đăng Ya.
Nui lua Chu Dang Ya hung vi giua nui rung Tay Nguyen hinh anh 13
Khung cảnh bầu trời xanh thanh bình bao quanh ngọn núi lửa.
Nui lua Chu Dang Ya hung vi giua nui rung Tay Nguyen hinh anh 14
Toàn cảnh núi lửa Chư Đăng Ya qua góc nhìn flycam
.
Nui lua Chu Dang Ya hung vi giua nui rung Tay Nguyen hinh anh 15
Vẻ đẹp hùng vĩ giữa núi rừng Tây Nguyên.




































Một số hình ảnh "Gia Lai: Chư Đăng Ya rực rỡ mùa hoa dã quỳ nở"







Các loại cây trồng ngắn ngày tại đây không cần tưới nước vẫn xanh tốt



Những ruộng với hàng rào hoa dã quỳ nở vàng rực dưới chân núi lửa

















Con người trở nên nhỏ bé giữa thiên nhiên tươi đẹp, bạt ngàn











Từ núi Chư Đăng Ya nhìn xuống là một vùng bình nguyên xanh thắm















Du khách khó có thể cưỡng lại sự quyến rũ của Chư Đăng Ya

(Nguồn: tingialai)

Quốc Tuấn
Ảnh: Hòa Carol

Thứ Tư, 14 tháng 9, 2016

Phú Thiện: Chú trọng phát triển nuôi trồng thủy sản

 Huyện Phú Thiện Gia Lai có 370ha ao trong đó có 96,8ha ao được cấp nước từ công trình Ayun Hạ, còn lại 273,2 ha ao nước tự sinh thủy giống như hồ chứa nước Tơ Nưng (Biển hồ A) thành phố Pleiku....có lẽ vì vậy mà năng suất thủy sản rất cao giá thành sản xuất hạ kinh doanh hiệu quả hơn các huyện khác trong tỉnh...
(GLO)- Công trình thủy lợi Ayun Hạ không chỉ góp phần cung cấp nước tưới cho hơn 6.000 ha lúa nước 2 vụ mà còn là điều kiện hết sức thuận lợi để huyện Phú Thiện phát triển nuôi trồng thủy sản, góp phần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, từng bước nâng cao thu nhập cho người dân địa phương.

Xã Chrôh Pơnan là địa phương có diện tích mặt nước tương đối lớn của huyện Phú Thiện, là điều kiện thuận lợi cho phát triển ngành nuôi trồng thủy sản trên địa bàn. Do đó, những năm qua, qua công tác tuyên truyền, định hướng, người dân địa phương đã mạnh dạng chuyển đổi dần diện tích lúa cho năng suất kém sang nuôi trồng thủy sản, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Hiện tại, xã Chrôh Pơnan có tổng diện tích nuôi trồng thủy sản trên 32 ha, tập trung nhiều tại các thôn như: Yên Phú 1A, 1B, 2B, Bôn Sô Ma Biơng…
 
Huyện Phú Thiện có nguồn lợi thủy sản khá dồi dào từ Công trình thủy lợi Ayun Hạ. Ảnh: Q.T
Huyện Phú Thiện có nguồn lợi thủy sản khá dồi dào từ Công trình thủy lợi Ayun Hạ. Ảnh: Q.T
Gia đình ông Lê Văn Chương, thôn Yên Phú 1B, xã Chroh Pơnan là một trong những hộ dân có diện tích ao nuôi cá lớn trên địa bàn xã. Nhờ chú trọng việc áp dụng khoa học kỹ thuật, tận dụng nguồn thức ăn sẵn có tại vườn nên cá lớn nhanh, với diện tích ao nuôi cá khoảng 7 sào, hàng năm thu hoạch 2 đợt với hơn 5 tấn cá các loại như cá trê, rô phi, trắm, trôi… sau khi trừ các chi phí đầu tư và công chăm sóc, gia đình ông lãi được trên 150 triệu đồng. Ông Lê Văn Chương chia sẽ: “Trước đây, gia đình tôi trồng lúa nước hai vụ vừa tốn nhiều công sức nhưng lợi nhuận chẳn được bao nhiêu, từ khi chuyển sang nuôi cá thì thu nhập của gia đình tôi cải thiện đáng kể, cao hơn 60% đến 70% so với trồng lúa”.

Ông Nguyễn Văn Thắng-Chủ tịch UBND xã Chrôh Pơnan, cho biết: “Ngoài canh tác lúa và các cây trồng truyền thống thì hoạt động nuôi trồng thủy sản đã góp phần đáng kể trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên địa bàn. Để nâng cao giá trị hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn thì thời gian qua, chúng tôi cũng khuyến khích người dân tìm kiếm các giống vật nuôi phù hợp với khí hậu thổ nhưỡng của địa phương cũng như làm việc với các ngành chức năng thuộc huyện để khảo nghiệm, triển khai các mô hình nuôi các giống thủy sản có giá trị, phù hợp với tập quán nuôi trồng của nhân dân địa phương”.

Xã Ia Peng cũng là địa phương đi đầu trong việc phát huy mạnh mẽ lợi thế nuôi trồng thủy sản trên địa bàn huyện, nhất là trong việc áp dụng các thành tựu mới về giống và kỹ thuật canh tác đem lại hiệu quả kinh tế cao, tiêu biểu có mô hình nuôi cá rô phi đầu vuông, cá rô phi đơn tính, mô hình nuôi cá thát lát cườm sinh sản… Đặc biệt, xã đã thành lập được Tổ hợp tác xã nuôi trồng thủy sản xã Ia Peng với 10 hội viên tham gia, có tổng diện tích nuôi trồng 12 ha, hàng năm cung cấp cho thị trường hơn 10 tấn cá và khoảng 1 tấn cá giống.
 
Ông Trần Văn Xô, thôn Hồng Hà, xã Ia Peng, cho biết: “Qua tìm hiểu trên các phương tiên thông tin đại chúng thì gia đình tôi triển khai mô hình nuôi cá thát lát cườm sinh sản, trải qua nhiều khó khăn, thất bại, đến nay gia đình tôi đã làm chủ quy trình kỹ thuật, đảm bảo khâu chăm sóc để cung ứng cá giống có chất lượng cho thị trường. Hàng năm, gia đình tôi cung cấp cho thị trường từ 4 đến 5 ngàn con cá giống, đem lại thu nhập khá cao, nhờ đó kinh tế của gia đình ngày càng ổn định ổn định”.

Không chỉ biết đến là một trong những huyện có thế mạnh về canh tác cây lúa nước, huyện Phú Thiện còn được biết đến với trữ lượng thủy sản dồi dào nhờ hoạt động nuôi trồng và khai thác của nhân dân. Đến nay, toàn huyện có tổng diện tích nuôi trồng thủy sản là 370 ha, tập trung nhiều nhất tại xã Ayun Hạ, Ia Peng, Chrôh Pơnan, cùng với công trình thủy lợi Ayun Hạ có diện tích gần 40 km2 được coi như là vựa cá của khu vực Đông Nam. Hàng năm, huyện Phú Thiện cung cấp cho thị trường trong và ngoài huyện trên 810 tấn thủy sản các loại, hơn 5 tấn cá giống.

Ông Nguyễn Hữu Khóa-Phó Trưởng Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Phú Thiện cho biết: “Bên cạnh khuyến khích người dân đẩy mạnh sản xuất thì thời gian qua, huyện đã chú trọng triển khai chuyển giao việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong việc nuôi trồng thủy sản cho người dân. Tiêu biểu, huyện đã triển khai nhiều mô hình nuôi cá thí điểm như mô hình nuôi cá rô phí đầu vuông, cá rô phi đơn tính, cá diêu hồng… bước đầu các mô hình cho thấy hiệu quả kinh tế khá cao. Trong thời gian tới, huyện sẽ đẩy mạnh nhân rộng các mô hình cho hiệu hiệu quả cao, cũng như tìm kiếm các loại thủy sản phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng địa phương để đưa vào nuôi trồng đại trà”.
Quang Tấn

Chủ Nhật, 11 tháng 9, 2016

Hai nửa vòng đời

 
Ngẩng đầu lên bắt gặp ánh mắt của người đàn ông đang đứng trước mặt, Duyên sửng sốt: “Ôi! Sao trông quen quá!”. Không để ý thái độ của Duyên, người đàn ông vẫn hồn nhiên: “Chị à! Tôi thèm thuốc lá. Chị biết quanh đây có người VN nào bán Golden American không?”.
Thấy Duyên lúng túng, người đàn ông trấn an: “Chị đừng sợ! Tôi thèm thuốc lá thật mà. Mấy bữa trước, quanh khu vực cổng Brandenburger này tôi vẫn thường mua của một chị VN mập hơn chị, tóc bới cao, mặc áo khoác xanh olive”.
Ôi! Trời có lạnh lắm đâu, sao tay Duyên lập cập thế. Một chút luống cuống, Duyên kéo khóa túi xách, lấy ra bao thuốc đưa cho khách. Vẫn giọng nói nhẹ nhàng ấy: “Đúng loại này rồi! Nhưng tôi cần năm gói cơ”. Duyên lại thò tay vào túi lấy thêm bốn bao thuốc viền xanh, viền đỏ trên nền vỏ vàng đưa cho người đàn ông. Chợt thấy một vết sẹo dài cạnh thái dương trái của anh, Duyên run bắn. Bốn bao thuốc lá tuột khỏi tay Duyên rơi xuống tuyết. Người đàn ông vội cúi xuống nhặt lên cho vào túi áo ba đờ xuy màu xám nhạt.
Cầm mấy đồng mác (tiền tệ của Đức từ năm 1948 - 2002) khách vừa trả, Duyên nhét cả vào túi quần rồi đứng ngây như bị thôi miên. Khi người đàn ông rẽ vào ngõ nhỏ Duyên mới sực tỉnh.
Ngày… tháng 4 năm 1972.
Mấy hôm nay đánh nhau ác liệt quá. Trạm xá sư đoàn chật cứng thương binh, nhiều giường phải nằm ghép. Tiếng súng từ xa vẫn ì ùng vọng về. Liệu mai địch còn phản kích nữa không?
Chiều nay mình bê chậu quần áo thương binh loang lổ các vết bùn vết máu nặng ơi là nặng ra bờ suối giặt. Mùi khói đạn pháo vẫn theo gió bảng lảng át cả hương rừng. Bỗng dưng mình cao hứng hát “Đi giữa trời khuya sao đêm lấp lánh, tiếng hát ai vang động cây rừng…”. Một chú chim chào mào từ bụi cây ven lối mòn bay vụt ra. Mình giật mình. Eo ơi, sợ quá! Như có người xồ ra vồ ấy. Hí hí! Nhìn bóng chim bay trên nền trời xanh, bất giác mình bật cười. Trên ngọn cây gãy gập, xác xơ lá bên hố bom có đôi chim cu đang gù nhau. “Sao chúng mày sướng thế? Chả bù cho tao lủi thủi một mình”. Khoảnh khắc giữa hai trận đánh thật thanh bình. Chao ơi! Mình nhớ nhà thế chứ.
Ngửa mặt nhìn trời không một gợn mây, rồi cúi trông dòng nước trong vắt len lỏi qua các mỏm đá, bỗng dưng mình muốn tắm. Hí hí! Có ai rình xem mình trần truồng không nhỉ? Vừa ngâm người dưới làn nước mát, chợt thấy một vệt máu mỏng mảnh như khói thuốc chảy xuôi theo dòng, mình hốt hoảng nhảy ngay lên bờ mặc vội quần áo. Cách chỗ mình đứng không xa, sau một tảng đá đầy rêu có hai ống chân người thõng xuống suối. Không biết ta hay địch? Không biết sống hay chết? Nhặt hòn đá bằng nắm tay, mình rón rén lại gần. Thì ra là một người lính đang nằm ngửa, nửa trên bờ nửa dưới suối, đầu đội mũ sắt, mặc bộ rằn ri, đi giày da cao cổ, hai tay đặt hờ lên khẩu súng vắt ngang bụng. Quân phục này, vũ khí này đích thị là địch rồi.
Từ hôm nghe người đàn ông nói hay ra đây mua thuốc lá, Duyên không đi bán dạo gần chân tháp truyền hình nữa, chỉ quanh quẩn khu vực này. Dù mong manh nhưng Duyên vẫn hy vọng, sau khi hút hết năm bao thuốc anh sẽ quay lại đây. Dạo này cảnh sát “càn quét” gắt gao quá, Duyên không dám vượt sang bên kia bức tường ngăn đôi Berlin mà dạt vào góc đường phía đông cổng Brandenburger. Đứng ở chỗ này dễ quan sát, hễ thấy xe Polizei từ xa là Duyên kịp biến vào ngách nhỏ dẫn tới công viên. Khi cảnh sát bỏ đi, Duyên lại lảng vảng ra bán tiếp.
Linh cảm của người phụ nữ bao năm khắc khoải mong đợi khiến Duyên tin mình không thể nhầm được. Mười chín năm đâu phải quá lâu để Duyên không nhận ra gương mặt anh. Vẫn ánh mắt ấm áp ấy, vẫn nụ cười tươi tắn ấy, vẫn giọng Nam bộ nhỏ nhẹ ấy. Ký ức ăm ắp từ xa xôi dội về, hình ảnh rõ nét từ quá khứ hiện lên. Nhưng sao anh lại ở đây, như từ trong mơ bước ra vậy? Ngày hôm sau, rồi mấy ngày hôm sau nữa, mặc cho Duyên thấp thỏm ngóng trông nhưng vẫn không thấy bóng dáng anh đâu. Từng đấy năm đi tìm chim trời cá biển trong vô vọng, thế mà khi người ấy đứng trước mặt, Duyên lại cuống lên quên cả hỏi tên, thậm chí chỉ vu vơ gợi lại vài kỷ niệm trong ký ức.
Giữa thập niên 1980, những năm đói khổ nhất của thời kỳ bao cấp, mặc dù chiến tranh chưa hết nhưng quân đội phải giảm quân số để đỡ gánh nặng cho nền kinh tế. Lính và sĩ quan tranh nhau đi xuất khẩu lao động. Thời bấy giờ ai cũng nghĩ Đông Đức là nhất quả đất. Giá trị được quy đổi ra xe máy Mokich, xe đạp Mifa và áo khoác. Đang làm y sĩ tại quân y viện, Duyên phục viên với một “cục tiền chế độ” để tham gia khóa đào tạo thợ may.
Giờ hai nước Đức thống nhất, nếu Duyên hồi hương với khoản tiền bồi thường thì cái gì cũng dở dang. Mà thu nhập một tháng làm quần quật ở nhà không bằng một ngày “dạo phố” ở đây.
Ngày… tháng 4 năm 1972.
Hắn bị sức ép thuốc nổ, một mảnh đạn pháo cắm sâu vào chân và một vết thương gần thái dương trái. Mỗi khi thấy hắn nhăn mặt đau, mình thương ơi là thương. Các bác sĩ đã phẫu thuật, băng trắng đầu, trắng chân hắn. Sau gần ba tuần điều trị, hắn đã bình phục. Mấy hôm nay có mình dìu, hắn đã tập tễnh đi được vài chục bước. Ai đời, địch gì mà da trắng mịn màng, nét mặt thanh tao, mũi cao dọc dừa, môi đỏ như son lại còn nói năng nhỏ nhẹ nữa. Hí hí! Tí nữa mình ngất bởi gã địch quá hiền lành, đẹp trai. Đi một lúc mệt, mình và hắn ngồi bệt xuống cỏ thở dốc. Chỉ tay vào hai ngôi sao đính trên ve áo hắn, mình bảo hóa ra cùng là binh nhì cả. Hắn cãi “Trung úy đấy, đừng đùa!”. Thế rồi hắn cười rất tươi, khoe ra hai hàm răng trắng đều tăm tắp. Gần hắn mình mới biết, địch dễ thương chẳng thua gì ta. Chà! Hay là mình kết hắn rồi? Eo ơi! Xấu hổ quá!
Hôm qua mình nghe thủ trưởng nói, một tuần nữa hắn sẽ được giải về tuyến sau. Vậy là hắn bị bắt làm tù binh? Vậy là mình và hắn sắp phải xa nhau? Không biết cuộc sống trong tù thế nào nhỉ? Trông có vẻ rắn rỏi với bộ quần áo lính nhưng thực ra là cựu sinh viên đại học, hắn mong manh lắm. Nhìn hắn cao ráo, thư sinh thế cơ mà. Mình xuất thân nông dân quen đói khổ, chứ hắn trai thành phố làm sao chịu nổi. Chẳng hiểu sao mình cứ nao nao lòng mỗi khi nghĩ tới hắn? Sao thế nhỉ? Hắn chả là gì, à hắn là địch.
Hí hí!
Đang lúi húi dúi mấy bao thuốc lá vào tay ông Tây, Duyên bàng hoàng thấy một người nhang nhác anh đi ngang qua, cũng tóc đen, cũng khoác áo ba đờ xuy màu xám nhạt. Duyên vội tất tả chạy theo. Vượt lên trên người ấy vài bước chân, Duyên ngoái đầu lại nhìn. Không phải anh. Duyên thẫn thờ. Từ hôm gặp anh đến giờ thế mà đã hai tuần rồi đấy. Sực nhớ vẫn chưa nhận tiền, Duyên vội quay lại chỗ cũ. Ông Tây vẫn đứng chờ. Sau một chút ngẩn ngơ, Duyên đưa lại tiền thừa cho khách. Đứng dựa lưng vào tường, Duyên bần thần ngắm những bông tuyết chấp chới bay trắng trời. Trong lòng Duyên tuyết cũng đang rơi, tê tái.
Tối qua bà ngoại gọi điện thoại sang mách, con trai mải chơi thi trượt đại học. Duyên thao thức cả đêm không ngủ được. Sợ con chán nản theo bạn lêu lổng sinh hư, Duyên muốn đón con sang càng sớm càng tốt. Ngay sáng hôm sau Duyên tìm gặp “đường dây” chuyên đưa người sang Đức để đưa tiền đặt cọc.
Mang nhiều nét giống cả bố và mẹ, thằng bé trông đẹp trai, dễ thương, hiền lành lắm. Từ khi Duyên biền biệt phương trời xa, được ông bà chiều, thằng bé ham chơi nên thi trượt. Cũng may nó chỉ lười học chứ không hư hỏng.
Ngày… tháng 5 năm 1972.
Một tuần nữa trôi qua, chân hắn đã khỏi hẳn. Nhìn hắn đi lại bình thường, không ai nghĩ vết thương ở chân hắn vừa được phẫu thuật. Chiều hôm qua, hắn còn đùa “Bây giờ thì tôi đủ sức cõng cô ra suối, chỗ có tảng đá mà cô tìm thấy tôi nằm ngất tháng trước ấy”. Chà! Hắn nói thế là có ý gì? Hì hì! Ai con trai lại cõng con gái, trông buồn cười lắm. Hay là hắn dụ mình ra suối làm bình phong để hòng trốn thoát? Trạm trưởng vẫn thường nhắc mình không được cho hắn đi ra khỏi tầm kiểm soát của cảnh vệ. Mình không mất cảnh giác thế đâu. Còn lâu hắn mới lừa được mình.
Ngày… tháng 5 năm 1972.
Sáng nay máy bay trinh sát lượn vè vè trên đầu. Đến trưa trạm trưởng thông báo, địch sắp càn lên đây. Chiều tối trên lệnh xuống, trong ngày mai phải di chuyển gấp trạm xá đến địa điểm mới. Mình làm nhiệm vụ tải thương, còn hắn theo cảnh vệ về vùng giải phóng. Vậy là mình và hắn sắp xa nhau, mỗi đứa mỗi ngả chả biết khi nào gặp lại. Ơ! Dơ thế chứ! Tại sao mình nghĩ đến hắn nhiều thế? Chỉ là quan hệ y tá với bệnh nhân thôi mà. Hình như hắn cũng mến mình? Hôm qua hắn bảo, bàn tay mình chạm vào đâu là hết đau ngay chỗ đó, y như có phép thần ấy. Eo ơi, hắn tán giỏi thế chứ! Biết hắn nịnh nhưng mình vẫn thích là sao? Lạ nhỉ! Lâu nay mình vẫn bón ăn, thay băng, dìu hắn nhưng chẳng thấy gì. Vậy mà lúc hắn cầm bàn tay mình xoa nhẹ, mình bỗng run bắn, người như mê đi. Hắn nhìn vào mắt mình, khẽ mỉm cười tinh quái. Mặt và tai nóng bừng, mình vội rụt tay lại. Ôi, xấu hổ quá! Con gái ai lại vô duyên thế chứ.
Nửa năm sau khi thi trượt đại học, con trai Duyên được “đường dây” đưa sang Nga du lịch. Thêm sáu tháng theo “giao liên” băng qua Ukraine, luồn rừng đến Ba Lan rồi lội suối sang Đức, cuối cùng con trai Duyên gặp được mẹ. Trong niềm vui hân hoan đoàn tụ, Duyên vừa mừng vừa lo. Cảnh sát Đức kiểm soát việc buôn lậu thuốc lá ngày càng chặt. Tuần trước Duyên nghe có hai xe Tir chở đầy thuốc lá từ Ba Lan sang bị cảnh sát hốt gọn trong một khu rừng cách Berlin năm mươi cây số. Tuần này Duyên lại nghe xe Polizei lùng sục nhiều tuyến đường, vây bắt người bán thuốc lá dạo. Trong đó có mấy đứa bạn cùng nhà máy với Duyên bị trục xuất về VN.
Dạo này Duyên thường xuyên mất ngủ. Lỡ chẳng may bị trục xuất về nước thì cánh cửa đổi đời với hai mẹ con đóng sập lại. Duyên nghĩ kỹ rồi. Từ nay Duyên không được kiếm tiền bất chính nữa. Từ nay Duyên phải sống hợp pháp. Từ nay Duyên sẽ hội nhập dần vào xã hội Đức. Nhưng bằng cách nào đây?
Ngày… tháng 5 năm 1972.
Mấy ngày nay chạy địch, mình chẳng còn tâm trí đâu để viết nhật ký. Sáng sớm hôm ấy, khi trời mới chạng vạng thì có tiếng hàng đàn máy bay trực thăng từ xa vọng đến to dần, rồi tiếng đạn nổ xối xả. Cả trạm xá hỗn loạn, người trong các lán túa ra, mạnh ai nấy chạy. Đang cắm đầu lao vào rừng, mình chợt thấy một người từ gốc cây nhảy xổ ra chặn lối. Thôi rồi, mẹ ơi! Con bị địch bắt. Mình chỉ kịp nghĩ vậy thì nghe tiếng hét: “Duyên, anh đây! Chạy lối này!”. Thì ra là hắn. Chưa hoàn hồn, mình bị hắn kéo mạnh tay bắt chạy tiếp. Sau lưng mình khói lửa mù trời, tiếng cánh quạt trực thăng phành phạch, tiếng đạn nổ đinh tai nhức óc. Hắn dắt mình chạy về phía núi, ngược với hướng suối.
Mình vấp ngã, hắn quay lại đỡ dậy. Tập tễnh cố đuổi theo hắn nhưng mình cứ tụt xa dần. Thế là hắn quay lại, cõng thốc mình lên lưng chạy tiếp. Đến gần chân núi, chừng như quá mệt hắn ngồi bệt xuống gốc cây thở dốc. Mình hỏi hắn: “Quân bên anh, sao anh phải bỏ chạy?”. Hắn vừa thở vừa nói: “Đạn vô tri, làm sao phân biệt được quân bên nào”. Phía trạm xá không còn tiếng cánh quạt trực thăng nữa, không còn tiếng đạn nổ ầm ầm nữa, chỉ thỉnh thoảng rộ lên đì đẹt vài tiếng súng tiểu liên. Hắn bảo: “Họ đổ quân xuống rồi đấy. Bây giờ là lùng bắt. Thương binh chưa chết chắc sẽ được cứu”. Mình chẳng tin địch lại tử tế thế. Kiểu gì thì hắn vẫn bênh địch. Ơ! Hắn là địch mà. Nhưng trong hoàn cảnh này, biết làm sao được, ta và địch vẫn phải nương tựa vào nhau.
Đút ba tút thuốc Golden American vào túi xách tay, vừa bước ra khỏi thang máy Duyên thấy hai đứa bạn cùng đội hớt hải đi vào. Một đứa nói trong tiếng thở hổn hển: “Chị đừng đi. Ngoài phố nhiều cảnh sát lượn lờ lắm. Cái Lựu bị bắt rồi, tội nó quá!”. Cả ba tất tả quay lên nhà. Ngồi cùng nhau mà mỗi đứa nhìn một hướng, mặt đứa nào đứa nấy lo âu, rầu rĩ. Không khí im ắng, nặng nề tràn ngập căn phòng. Chợt một đứa cất giọng: “Hay là bọn mình về VN đi! Cứ ở đây mãi thế này thì…”. Điên à! Mất bao nhiêu tiền Duyên mới đón được con trai sang. Đứa nào muốn về thì về, mặc xác. Duyên quyết bám trụ ở đây. Đành rằng khó nhưng vẫn có cửa kiếm tiền. Bỗng một đứa reo lên: “À! Bà Thơm mới mở trung tâm thương mại Thái Bình Dương đấy. Hay là bọn mình đến đó thuê quầy, thử vận xem sao”.
Hôm sau cả ba đứa rủ nhau cùng đi. Hai đứa kia thuê quầy bán quần áo, còn Duyên thuê quầy mở quán bán phở. Thời gian này nhà hàng VN tại Berlin còn hiếm lắm, có thể đếm trên đầu ngón tay. Khách ta khách Tây tới ăn ngày càng đông. Duyên mong lắm một ngày nào đó nghe tiếng đồn về quán, anh sẽ tự tìm đến.
Ngày… tháng 5 năm 1972.
Mấy đêm nay trời se lạnh, vừa sợ ma vừa sợ thú dữ, mình phải nằm cạnh hắn mới dám ngủ. Hở lúc nào ra là hắn lại thủ thỉ rủ mình theo về phía bên kia. Dù quý hắn đến đâu, mình cũng không thể phản bội đội ngũ, bán rẻ đồng chí, từ bỏ lý tưởng. Cả đêm chẳng lúc nào hắn chịu để mình yên. Người đâu mà dai như đỉa ấy. Hí hí! Mệt rũ ra, nhưng là lá la… Ôi chao! Sao mà thích thế chứ. Thao thức mãi, tới lúc gà rừng gáy te te mình mới tranh thủ chợp mắt được một tí. Hí hí!
Từ hôm qua tới giờ không còn nghe tiếng máy bay trực thăng, tiếng đạn nổ nữa. Chắc quân địch đã rút xa. Ngày mai hai đứa hai ngả, mình trở về trạm xá tìm đơn vị, còn hắn đi đường hắn. Không hiểu sao trong lòng mình thấy chống chếnh. Mình muốn khóc. Vì ai đây? Vì đồng đội vừa ngã xuống hay vì phải chia xa hắn? Chắc là cả hai rồi! Hu hu!
Có con trai quản lý quán, Duyên nằm viện vẫn thấp thỏm không yên. Một tuần trôi qua, tuy bệnh đã thuyên giảm nhưng Duyên vẫn như có lửa đốt trong lòng. Không sợ thất thu tiền, Duyên chỉ lo những ngày này anh đến mà không có mình ở đó. Bỗng nhiên Duyên nhớ anh đến cào cấu ruột gan.
Ngày… tháng 9 năm 1972.
Dạo này mình thấy người nặng nề mệt mỏi, đôi lúc lơ đãng thiếu tập trung. Càng ngày mình càng thèm ăn, nhưng ở rừng thì đừng mơ vớ được cái gì cho vào mồm. Có hôm đói không chịu nổi, mình vào rừng hái mấy trái lạ đem về lán. Cái Liễu nhìn thấy can: “Mày không được liều thế! Nhỡ quả độc thì sao? Tao nói mày đừng giận. Từ giờ trở đi vì cái thai, mày phải giữ gìn cẩn thận”. Bước tới đầu phản, nó lục ba lô lấy ra một thanh lương khô đưa cho mình. Khi miếng cuối cùng vừa nuốt xong, mình bỗng thấy lợm giọng vội chạy ra hè nôn thốc nôn tháo.
Tuần trước chính trị viên đã báo cáo chuyện “tày đình” của mình lên sư đoàn bộ. Từ khi việc vỡ lở ai cũng nhìn mình với ánh mắt khác lạ, mà đa phần là ác cảm. Chỉ có mấy con bạn cùng tiểu đội thương mình thôi, nhưng chẳng đứa nào dám biểu lộ ra mặt. Ban đêm nằm bên nhau chúng nó mới xoa bụng mình vỗ về, an ủi. Tủi thân, nhớ mẹ, mình ứa nước mắt ướt cả vạt gối.
Hôm qua trong lúc bị đơn vị kiểm điểm, mình khóc suốt. Đành rằng mình gây ra lỗi nhưng con mình đâu có tội, tại sao người nào cũng chỉ trích phê phán mình gay gắt thế? Chẳng hiểu sao trạm phó lại gọi cái thai của mình là kết quả mối tình tội lỗi. Ông còn yêu cầu mình phải “giải quyết” ngay cái thai. Điên à! Mẹ thà chết, kiên quyết không giết con. Mẹ thề bảo vệ giọt máu rất mực yêu quý đến cùng. Thấy mình gạt nước mắt, mặt rắn rỏi, trạm phó không ép nữa. Khi chính trị viên bắt mình phải khai ai là bố đứa trẻ, mọi ánh mắt cùng đổ dồn về phía trạm trưởng. Nhưng mình dứt khoát không mở miệng. Mình hứa chôn chặt bí mật trong lòng.
Chiều nay có lệnh từ sư đoàn bộ truyền xuống, tuần sau theo đường giao liên mình được chuyển ra bắc để chịu kỷ luật và chờ đẻ. Vừa nghe chính trị viên phổ biến, mình sung sướng đến độ suýt nữa hét tướng lên “sống rồi, con ơi!”, may mà kịp kìm lại.
Đang thu tiền bà khách ta mồm ngậm que tăm đứng trước quầy, thấy một người đàn ông bước vào quán, Duyên sững người đánh rơi chiếc máy tính. Thật không thể tin nổi! Đúng ánh mắt ấm áp ấy, đúng nụ cười tươi tắn ấy, đúng giọng nói Nam bộ nhỏ nhẹ ấy, lại thêm cả vết sẹo bên thái dương trái kia nữa. Rõ ràng Duyên đang tỉnh, không phải mơ. Ngỡ như bước ra từ thế giới thần thoại, anh hiện lên trước mặt Duyên. Bốn ánh mắt chạm nhau bối rối. Ngây người vô thức, miệng Duyên tự nhiên bật ra một tiếng “Anh!”. Miệng anh cũng thốt lên một tiếng “Duyên!”. Nếu không có ông khách đang xì xụp húp nước phở ở cái bàn giữa quán thì hai người đã lao vào nhau.
- Sao em lại ở đây?
- Em đi xuất khẩu lao động. Sao anh lại ở đây?
- Anh vượt biên đầu năm 1981, tá túc tại trại tị nạn bên Mã Lai hai năm rồi sang Đức tới giờ.
- Hai năm trước, anh mua thuốc lá của em cạnh cổng Brandenburger. Lúc em đang ngờ ngợ thì anh đã bỏ đi mất.
- Sao anh không nhận ra em? Mới hơn hai mươi năm chứ lâu gì đâu.
- Hôm đó trời lạnh, em đội mũ sùm sụp, lại quàng khăn che kín nửa mặt nữa. Anh làm gì từ ngày sang đây?
- Anh là chuyên viên kỹ thuật công ty sản xuất xe tải MANA nằm bên Tây Berlin. Em ở đây cùng với gia đình à?
- Em và con trai chúng mình.
Duyên đọc được trên gương mặt anh sự ngạc nhiên pha lẫn rạng ngời hạnh phúc.
Đầu năm 1977, sau khi đường sắt Thống Nhất khôi phục xong, Duyên xin nghỉ phép dắt con trai vào Sài Gòn tìm bố. Một người đàn ông chống nạng dẫn Duyên đến tận cửa nhà anh trong cư xá Thanh Đa. Khi đứng trước căn phòng đóng chặt, Duyên quặn thắt tim. Gõ tay lên cánh cửa gỗ bong tróc sơn, Duyên hồi hộp đến ngộp thở. Sau lần gõ thứ tư, Duyên cúi người nhìn qua lỗ khóa. Bên trong chỉ thấy một màn đen thăm thẳm. Đúng lúc đó, từ cửa nhà bên có người đàn ông hắng giọng. Giật bắn mình, Duyên bối rối vội đứng dậy. “Cô tìm ai?”. Duyên nói tên anh. “Ảnh đi cải tạo ngay sau ngày giải phóng rồi cô ơi, không biết bao giờ trở về. Cả nhà ảnh thì đi kinh tế mới hết rồi”. Nước mắt rơi đẫm vạt áo, Duyên lảo đảo vịn tay vào tường. Cố nén lòng để không bật ra tiếng khóc, Duyên hỏi địa chỉ nơi anh cải tạo. Người đàn ông không biết. Ngay hôm sau, hai mẹ con Duyên ngồi tàu Thống Nhất ra Hà Nội.
Mùa thu năm 1981, Duyên lại dắt con trai vào Sài Gòn tìm bố. Gõ cửa nhà bên cạnh, Duyên thấy vẫn người đàn ông ấy bước ra. “Trời ơi, tội nghiệp mẹ con cô quá! Cả nhà ảnh đã vượt biên nửa năm trước. Họ đến nước nào tôi làm sao biết được”. Duyên bàng hoàng, chân như muốn khuỵu xuống. Ngay hôm sau, hai mẹ con Duyên ngồi tàu Thống Nhất ra Hà Nội.
Anh giục Duyên đóng cửa quán về nhà. Chắc anh mong được gặp con quá. Trên xe, đôi lúc anh nắm chặt bàn tay Duyên. Nhớ tới lần rụt vội
bàn tay năm ấy, Duyên khẽ mỉm cười. Bây giờ thì Duyên muốn để bàn tay mình mềm mại trong bàn tay anh ấm áp thật lâu. Nghe anh kể vợ con chết ngoài khơi trên đường vượt biên, sang đây mấy năm sau anh lấy vợ Tây nhưng đã ly hôn hơn một năm trước, Duyên lặng người. Từ hai khóe mắt Duyên những giọt nước mắt ứa ra chảy tràn trên má.
                                        Truyện ngắn của Trần Quốc Quân

Thứ Tư, 7 tháng 9, 2016

QUY ƯỚC TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NGHIỆP THỦY LỢI TỈNH GIA LAI



 CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

QUY ƯỚC TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA HỘI ĐỒNG NGHIỆP THỦY LỢI TỈNH GIA LAI

CHƯƠNG I
QUY ĐỊNH CHUNG
         Chiếu theo nguyện vọng của những người làm công tác thủy lợi trên địa bàn tỉnh tỉnh Gia lai.
        Hội đồng nghiệp thủy lợi tỉnh Gia lai được thành lập ngày 24/04/2016 đã họp phiên toàn thể hội viên tự nguyện gia nhập Hội vào buổi sáng cùng ngày (5 năm một lần từ năm 1995 đến 2005 những người làm công tác thủy lợi trên địa bàn hai tỉnh Gia Lai-Kon Tum đã tổ chức gặp mặt hội ngộ 4 lần mục tiêu chỉ yểu là thăm hỏi chia sẻ tình cảm ôn lại kỷ niệm đồng nghiệp một thời), cùng nhau thảo luận và đi đến thống nhất Bản Quy ước Tổ chức và hoạt động của Hội với các nội dung cơ bản sau:
CHƯƠNG II
MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA HỘI
Điều 1: Mục đích
      1. Hội đồng nghiệp thủy lợi tỉnh Gia Lai (Sau đây gọi tắt là Hội) là tổ chức tình cảm-nghề nghiệp tự nguyện hoạt động theo tính chất từ thiện, tập hợp rộng rãi những tổ chức, cá nhân làm công tác thủy lợi đã và đang làm việc và sinh sống tại tỉnh Gia lai (Mở rộng ra trên địa bàn cả nước với những người đã nghỉ hưu, chuyển công tác, không phân biệt già, trẻ, gái, trai, giàu, nghèo, dân tộc, tôn giáo, chính kiến, có quá khứ và hiện tại  không làm gì gây tổn hại cho ngành thủy lợi cho tỉnh Gia Lai và đất nước, nếu tự nguyện tham gia đều được Hội chấp nhận làm Hội viên) nhằm mục đích trao đổi kinh nghiệm, cập nhật thông tin, nâng cao trình độ chuyên môn, góp phần tư vấn miễn phí cho nhau để giải quyết những yêu cầu về xây dựng và quản lý khai thác công trình thủy lợi, thủy điện, phát huy tình cảm tốt đẹp và truyền thống ngành thủy lợi vẻ vang của tỉnh Gia Lai, thương yêu, đùm bọc, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau góp phần xây dựng tỉnh nhà ngày càng giàu đẹp, phồn vinh và hạnh phúc
      2. Khi đã là thành viên của Hội mọi người đều bình đẳng như nhau, có trách nhiệm thực hiện đúng, đủ mọi quy ước của Hội nhằm xây dựng Hội thành một tổ chức tình cảm-nghề nghiệp đoàn kết, hoạt động ngày càng có ý nghĩa và tác dụng thiết thực hơn.
Điều 2: Nhiệm vụ của Hội
      1. Động viên, tạo điều kiện thuận lợi để các hội viên hoàn thành nhiệm vụ công tác, làm tròn nghĩa vụ công dân, xây dựng gia đình hạnh phúc.
      2. Trao đổi, giúp đỡ nhau kinh nghiệm công tác thủy lợi, lao động sản xuất, xây dựng cuộc sống gia đình ổn định, giúp nhau thực hiện xoá đói, giảm nghèo và làm giàu chính đáng.
      4. Thăm hỏi, tương trợ, giúp đỡ nhau về tinh thần, vật chất khi gặp khó khăn, hoạn nạn, đau yếu, rủi ro, phúng viếng khi có tang lễ.
      5. Tổ chức hưởng ứng những hoạt động từ thiện khi ngành và tỉnh có những rủi ro đặc biệt xảy ra.
CHƯƠNG III : HỘI VIÊN
Điều 3: Tiêu chuẩn Hội viên
   Tất cả những tổ chức cá nhân đã nêu ở điều 1 nếu tự nguyện đăng ký gia nhập Hội, tán thành qui chế tổ chức và hoạt động của Hội đều được công nhận là hội viên của Hội, Hội viên được chia ra như sau:
- Hội viên chính thức: Cá nhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực thủy lợi - thủy điện trên địa bàn tỉnh Gia Lai, tán thành Điều lệ Hội, tự nguyện gia nhập Hội có thể trở thành hội viên chính thức của Hội.
- Hội viên tập thể là những doanh nghiệp; tổ chức kinh tế, khoa học kỹ thuật, đào tạo có tư cách pháp nhân, hoạt động trong ngành thủy lợi - thủy điện, quản lý khai thác tài nguyên nước, bảo vệ môi trường nước và ngành có liên quan trên địa bàn tỉnh, do giám đốc hoặc người được ủy quyền của tổ chức đó làm đại diện.
- Hội viên cá nhân là công dân Việt Nam, đã từng công tác trong ngành thủy lợi, có hiểu biết và hoạt động trong lĩnh vực thủy lợi - thủy điện, quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi, quản lý khai thác tài nguyên nước và bảo vệ môi trường nước trên địa bàn tỉnh, có điều kiện tham gia các hoạt động của Hội.
- Hội viên danh dự là những người có uy tín cao, có ảnh hưởng tích cực đến hoạt động của Hội, có khả năng đóng góp nhiều cho Hội nhưng không có điều kiện hoặc không có đủ tiêu chuẩn trở thành hội viên chính thức của Hội, tán thành điều lệ Hội, tự nguyện xin vào Hội, được Hội công nhận là hội viên danh dự.
- Hội viên liên kết là các tổ chức, cá nhân, cơ quan nghiên cứu khoa học có khả năng hợp tác, hỗ trợ Hội hoạt động nhưng không có điều kiện hoặc không có đủ tiêu chuẩn trở thành hội viên chính thức của Hội, tán thành điều lệ Hội, tự nguyện xin vào Hội, được Hội công nhận là hội viên liên kết.
- Hội viên danh dự và hội viên liên kết được hưởng quyền và nghĩa vụ như hội viên chính thức của Hội, trừ quyền biểu quyết các vấn đề của Hội và không được ứng cử, bầu cử vào Ban Liên lạc Hội.
Điều 4: Hội viên có nhiệm vụ:
      1. Chấp hành nghiêm chỉnh Quy ước của Hội, thường xuyên tham gia sinh hoạt hội theo lịch (kể cả định kỳ và đột xuất) chăm lo xây dựng Hội ngày càng vững mạnh về mọi mặt
      2. Bảo vệ và phát huy tình cảm tốt đẹp, truyền thống ngành thủy lợi. Giữ mối liên hệ chặt chẽ với các hội viên trong hội, thăm hỏi giúp đỡ nhau khi ốm đau, hoạn nạn, rủi ro...
      3. Đoàn kết động viên nhau về tinh thần, giúp đỡ nhau về vật chất, việc làm, kinh nghiệm công tác thủy lợi, kinh nghiệm lao động sản xuất, làm giàu chính đáng, xây dựng gia đình văn hóa, khu dân cư văn hóa.
      4. Không nói, không làm điều gì tổn hại đến ngành, đến tỉnh Gia Lai;
Điều 5: Quyền lợi của Hội viên
      1. Được tham gia biểu quyết vào các công việc của Hội.
      2. Được ứng cử, bầu cử vào Ban Liên lạc của Hội
      3. Được hưởng thăm hỏi phúng viếng về HIẾU của hội đối với cá nhân và gia đình.
      4. Được Hội động viên giúp đỡ khi gặp hoạn nạn, khó khăn theo khả năng của Hội.
      5. Hội viên nếu không may từ trần hội viên khác sống gần hoặc chi hội trưởng phải báo cho Ban Liên lạc để Ban tổ chức phúng viếng;
      6. Nếu hội viên chuyển đi sinh sống ở nơi khác sẽ được Hội mời dự Lễ Kỷ niệm hoặc ngày gặp mặt;
CHƯƠNG IV
TỔ CHỨC-NHIỆM VỤ-NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG -CHẾ ĐỘ LÀM VIỆC VÀ SINH HOẠT CỦA BAN LIÊN LẠC
Điều 6: Tổ chức 
      1. Hội đồng nghiệp thủy lợi Gia Lai có ban liên lạc ở cấp tỉnh, có thành viên Ban liên lạc làm liên lạc viên giữa các hội viên trong cùng nơi cư trú, cơ quan, doanh nghiệp, địa phương cấp huyện trên địa bàn toàn tỉnh Gia Lai;
      2. Ban liên lạc Hội đồng nghiệp thủy lợi Gia Lai do đại hội đại biểu Hội viên bầu ra, nhiệm kỳ 5 năm, số lượng thành viên trong ban liên lạc là 13 người, gồm: 01 trưởng ban (phụ trách chung), 01 phó ban, 11 Ban viên (10 Chi, tốp, nhóm hội), 1 thư ký kiêm thủ quĩ. Ban liên lạc hoạt động theo phương thức tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách và theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện chế độ thủ trưởng trong quản lý, điều hành. Trưởng Ban là người có quyền quyết định cao nhất;
      3. Mỗi thành viên trong Ban liên lạc phụ trách 1 tốp, nhóm Hội hoặc 1 công việc được trưởng Ban phân công;
      4. Ban liên lạc 1 năm họp 1 lần vào ngày chủ nhật tuần cuối của năm;  Thay đổi ban liên lạc hoặc họp bất thường sẽ có thông báo trước cho Ban viên 1 tháng;
Điều 7: Nhiệm vụ, nguyên tắc hoạt động, chế độ làm việc của Ban liên lạc
      1. Ban liên lạc Hội đồng nghiệp thủy lợi Gia Lai hoạt động theo nguyên tắc cộng đồng trách nhiệm, mọi công việc của hội đều đều được bàn bạc và quyết định tập thể. Các thành viên trong Ban liên lạc có trách nhiệm hoạt động theo sự phân công, đồng thời có trách nhiệm theo dõi hoạt động của các hội viên trong  Chi Hội được phân công phụ trách hoặc theo dõi.
      2. Ban liên lạc căn cứ quy ước tổ chức và hoạt động, chương trình hoạt động được Đại hội hội viên thông qua để đề ra chương trình kế hoạch, biện pháp công tác cụ thể cho từng năm, từng đợt 3 năm, từng kỳ 5 năm đồng thời điều hành thực hiện trong phạm vi quản lý của mình
      3. Thành viên Ban liên lạc nắm chắc tình hình Hội viên, tâm tư, tình cảm từng hội viên và hoạt động của Hội, kịp thời giải quyết các công việc xảy ra trong phạm vi quản lý của mình theo quy định của quy chế nhằm đưa hoạt động của Hội đạt kết quả và hình thức hoạt động của Hội ngày càng phong phú.
      4. Thành viên Ban liên lạc Thay mặt Trưởng ban quan hệ với các ban ngành, Đoàn thể, chính quyền địa phương, các nhà tài trợ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của Hội.
      5. Quản lý và sử dụng quỹ hội đúng nguyên tắc, đúng mục đích, chi tiêu tiết kiệm trong sử dụng quỹ.
      6. Triệu tập và chuẩn bị tốt nội dung, chương trình, kinh phí các Buổi gặp mặt hội viên, các lần sinh hoạt định kỳ và bất thường của Hội.
Điều 8: Chế độ sinh hoạt và nội dung hoạt động
      1. Ban liên lạc 1 năm họp 1 lần vào ngày chủ nhật tuần cuối của năm nhằm tổng kết hoạt động của Ban Liên lạc trong năm, đề ra kế hoạch hoạt động cho năm tiếp theo. Hội nghị thường niên 3 năm họp 1 lần  trong tháng 4 của năm, thu thêm quỹ Hội; Gặp mặt toàn thể Hội viên 6 năm 1 lần sửa đổi quy ước hoạt động, bầu lại Ban Liên Lạc. Gặp mặt toàn thể hoặc họp bất thường sẽ có thông báo trước cho hội viên 1 tháng;
      2. Các thành viên trong Ban liên lạc phân công nhau thường xuyên giữ liên lạc với các hội viên (tập thể, cá nhân, danh dự, liên kết), nắm tình hình công tác, sản xuất và hoàn cảnh của từng hội viên để đến kỳ sinh hoạt năm báo cáo lại cho Trưởng Ban liên lạc và các thành viên trong Ban liên lạc được biết về tình hình hội viên của Hội.
      3. Khi Hội viên hoặc gia đình hội viên có tin buồn, ít nhất 1 thành viên trong Ban liên lạc cùng 2, 3 thành viên khác được Ban liên lạc triệu tập đến chia buồn vào lúc Truy điệu đồng thời thông báo cho tất cả hội viên trong hội biết. Nếu hội viên ở xa Ban liên lạc sẽ gửi vòng hoa và cử người phúng điếu; Trường hợp gia đình hội viên quá neo đơn Ban liên lạc cử người trực tang lễ ban đêm với gia đình hội viên.
CHƯƠNG V
TÀI CHÍNH - QUỸ HỘI
Điều 9: Nguồn quỹ Hội bao gồm:
      1. Hội phí do các hội viên đóng góp, mức đóng góp được các hội viên thống nhất 3 năm, 6 năm 1 lần vào kỳ hội nghị đại biểu và đại hội toàn thể hội viên các hội viên đóng trực tiếp cho thủ quỹ của Ban liên lạc, hoặc theo thư ngỏ của Ban Liên lạc gửi đến các hội viên vào mỗi kỳ Hội nghị đại biểu hoặc đại hội toàn thể. Hội miễn đóng góp cho các Hội viên có tuổi đời trên 70 hoặc gặp rủi ro đột xuất;
      2. Nguồn tài trợ của cá nhân các hội viên trong Hội.
      3. Nguồn tài trợ từ các tổ chức, cá nhân ngoài Hội.
      4. Sinh lợi hợp pháp từ nguồn vốn khi đã có điều kiện.
      5. Những cá nhân, tổ chức hảo tâm tài trợ xây dựng quỹ hội sẽ được ghi vào “sổ vàng tình nghĩa” của Hội để lưu niệm và có tên trong danh sách Chạy chữ trên màn hình Ti vi vào mỗi kỳ Hội nghị, Đại hội
Điều 10: Nguyên tắc Tài chính và Quy định sử dụng qũy.
      I/Quản lý và sử dụng quỹ hội phải đảm bảo nguyên tắc tài chính của nhà nước và mục đích do hội đề ra, không được tự tiện sử dụng quỹ hội sai mục đích hoặc trái với các điều khoản Hội đã quỹ định trong quỹ chế này. Tiền quỹ Hội chưa sử dụng được gửi vào quỹ tiết kiệm của Ngân hàng. Sau 1 năm phải báo cáo tài chính công khai trước Hội nghị thường niên của Ban Liên Lạc, sau 3 năm báo cáo trước hội nghị đại biểu, sau 6 năm báo cáo trước đại hội toàn thể hội viên. Mọi sự thâm hụt, mất mát quỹ Hội đều phải quy trách nhiệm đền bù.
      II/Quy định sử dụng quỹ:
      1. Chi văn phòng phẩm, nước uống trong các cuộc sinh hoạt, hội họp. Chi ăn uống, Văn phòng phẩm, Phim ảnh, quà lưu niệm, Hội trường, băng rôn trong các kỳ Hội nghị, đại hội; Chi mua quà lưu niệm, chi phí đi lại ngủ nghỉ cho các đại biểu lão thành ở xa;
      2. Phúng viếng Hội viên qua đời hoặc gia đình hội viên khi có người thân (vợ, chồng, con cái và tứ thân phụ mẫu) qua đời: Hội viên 1.000.000đồng, người thân Hội viên 1 vòng hoa (tương đương 500.000đồng), nếu ở xa gửi phong bì tiền mặt chia buồn tương đương 1 vòng hoa. Đối với người qua đời thọ (80 tuổi trở lên) có thể thay vòng hoa bằng bức trướng.
      3. Chi khác do Ban liên lạc quyết định thuộc phạm vi quyền hạn và trách nhiệm của mình.
CHƯƠNG VI
TỔ CHỨC THỰC HIỆN,
SỬA ĐỔI QUY ƯỚC VÀ HIỆU LỰC THI HÀNH
Điều 11: Thực hiện quy ước
      1. Tất cả các tổ chức thuộc Hội và Hội viên có nghĩa vụ và trách nhiệm thực hiện nghiêm bản quy ước này. 
      2. Trong quá trình thực hiện Bản Quy ước tổ chức và hoạt động này những tổ chức (Chi, nhóm, tổ Hội), cá nhân (Hội viên) có thành tích xuất sắc sẽ được Ban liên lạc Hội biểu dương, khen thưởng. Hội viên nào gây ra những hành vi sai trái làm ảnh hưởng đến uy tín và tổn thương đến danh dự của Hội sẽ bị kiểm điểm, khiển trách. Nếu sai phạm đến mức không còn đủ tư cách hội viên hoặc hội viên bỏ 1 kỳ 3 năm không sinh hoạt, không đóng hội phí được 2/3 thành viên trong Ban liên lạc nhất trí sẽ bị xóa tên trong danh sách Hội viên và thông báo bằng văn bản cho tất cả hội viên trong Hội biết.
Điều 12: Sửa đổi Quy ước và hiệu lực thi hành
      1. Trong quá trình thực hiện Bản quy ước tổ chức và hoạt động của Hội, nếu các hội viên thấy có điều khoản, tiểu khoản, cụm từ, từ ngữ không phù hợp thì phản ảnh cho Ban liên lạc biết bằng văn bản để Ban liên lạc tập hợp báo cáo trước toàn thể hội viên.
      2. Quy ước này đã được toàn thể hội viên thông qua ngày 24/4/2016 và có hiệu lực kể từ ngày ký./.
      3. Quy ước này được làm thành các bản có giá trị ngang nhau gửi đến Thành viên Ban liên lạc, từng hội viên trong hội và các tổ chức cấp trên có liên quan.
                                                     Gia Lai, ngày 24/4/2016
                  TM/BAN LIÊN LẠC
HỘI ĐỒNG  NGHIỆP THỦY LỢI GIA LAI
                    TRƯỞNG BAN    
                         (đã ký)                     
                   PHẠM XUẤT

DANH SÁCH BAN LIÊN LẠC NHIM K 2016-2021
TT
HỌ VÀ TÊN
  Chức v

ĐỊA CH THƯỜNG TRÚ

1
Phm Xut
Trưởng Ban

2
Trương Vân
Phó Ban

3
Nguyn Sơn
Ban viên

4
Lê Viết Đại
 Ban viên

5
Nguyn Xuân Ngân
Ban viên

6
Nguyn Văn Tm
Ban viên

7
Nguyn Văn Lương
Ban viên

8
Trn Hoàng Sâm
Ban viên

9
Bùi Xuân Bng
Ban viên

10
Phan Phước Thiện
Ban viên

11
Phạm Toan
Ban viên

12
Nguyễn Thanh Bình
Ban viên

13
Phạm Công Ngọc
Ban viên


Trưởng Ban
   (đã ký)
Phạm Xut