XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG

Thứ Sáu, 31 tháng 5, 2024

Hiểu đúng về hạnh đầu đà và khổ hạnh của ngoại đạo

Tích Trí

Trong Đạo Phật có 84 nghìn pháp uẩn, hoặc 84 nghìn pháp môn. Theo văn điển Pali, Pháp uẩn là những lời giảng của Đức Phật và chư thánh tăng thời giáo đoàn nguyên thuỷ, được kết tập lại trong Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng. Sau này chúng ta quen gọi là 84 nghìn pháp môn là do ảnh hưởng từ cách dịch của Phật giáo Trung Hoa (dịch pháp uẩn thành pháp môn). Kỳ thực, Đức Phật chỉ giảng về một con đường pháp duy nhất là Tứ Thánh Đế, tức là khổ - tập – diệt – đạo, để đưa chúng sinh ra khỏi bể khổ. Những chủ đề pháp thoại mà ngài giảng suốt 45 năm đều không nằm ngoài việc đưa ra các phương pháp tu tập để từng bước nhận thức được chân lý và thấu triệt Tứ Thánh Đế. Nói như vậy, nghĩa là mục tiêu cuối cùng của mọi phương pháp Phật dạy là nhằm giải thoát khỏi khổ đau luân hồi.

Đức Phật dạy dỗ đệ tử, không dùng đến biện pháp la mắng đánh đập, cũng chẳng dùng đến thần thông như ngoại đạo, Ngài đều dùng phương thức cử thí (nêu ra ví dụ) hoặc khích lệ, để đệ tử biết được đời người tốt lành, từ đó mà không làm tổn thương đến danh dự của họ. Khả năng đặc biệt nhất của Đức Phật là biết quan sát căn cơ của từng đối tượng mà dạy bảo. Với người già cả thì nói pháp người già, với trẻ em thì nói pháp cho trẻ em, với thương nhân thì nói pháp thương nhân, với quân nhân thì nói Pháp quân nhân. Đức Phật “ứng cơ thí giáo, đối chứng hạ dược”, lối thuyết giảng ấy không chỉ khế hợp chân lý “Pháp nhĩ như thị” (Pháp vốn như vậy), đồng thời còn khơi gợi “tự ngã giáo dục” (tự giáo dục), như thiên kinh vạn luận đều hướng dẫn đại chúng cách phát hiện tự tính, tự yêu cầu, tự giải thoát.

Quả thật, từ kim khẩu của Như Lai, không có phương pháp nào là kém hơn phương pháp nào, chỉ có phương pháp tu tập phù hợp với căn tánh từng người mới là hay nhất. “Phật nói tất cả pháp, để trị tất cả tâm”.

Thời Đức Phật còn trụ thế, ngài không cấm thực hành hạnh đầu đà. Đầu-đà (Dhuta), là hạnh tu khắc khổ để dứt bỏ các tham dục. Có 13 hạnh đầu-đà:

Hạnh y phấn tảo

Hạnh tam y

Hạnh khất thực

Hạnh khất thực từng nhà

Hạnh nhất tọa thực

Hạnh ăn bằng bát

Hạnh không nhận tàn thực, tức là không dùng thực phẩm dư thừa

Hạnh ở rừng

Hạnh ở gốc cây

Hạnh ở ngoài trời

Hạnh ở nghĩa trang

Hạnh ở chỗ nào cũng được

Hạnh ngồi (không nằm).

Hạnh Đầu đà và lối tu Khổ hạnh của ngoại đạo có duy nhất một sự tương đồng: cả hai đều áp dụng kỷ luật nghiêm khắc, nhưng lại khác nhau như giữa nguồn nước tinh khiết và vũng nước dơ bẩn vậy. Hạnh Đầu đà do Đức Phật chế định để cho các tu sĩ theo đó mà giữ giới được thanh tịnh; còn đằng kia là Khổ hạnh do các phái ngoại đạo đề xướng với mục đích ép xác, lầm tưởng rằng càng hành hạ thân thể càng nhiều bao nhiêu thì phần tâm linh càng được sớm giải thoát bấy nhiêu. Đầu đà là phương tiện quý báu trợ duyên cho sự thoát ly khỏi tham dục. Tu hạnh đầu đà để thành tựu Giới, tăng trưởng Định, và viên thành Tuệ. Thế Tôn đã xác quyết, “hạnh đầu-đà này được ở đời thì pháp của Ta cũng sẽ được lâu dài ở đời, thiên đạo tăng thêm, ba đường ác liền giảm, Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm đều còn ở đời”.

Tuy vậy, việc thọ trì hạnh đầu đà chỉ áp dụng cho bậc xuất gia, tức là những vị đã thọ cụ túc giới, có giới thể trong sạch, phát tâm thọ trì hạnh đầu đà để viên thành công đức. Theo Giải Thoát Đạo Luận của ngài A-la-hán Upatissa, hàng cư sĩ tại gia chỉ có thể thọ trì tinh thần của hạnh đầu đà, ví dụ:

- Về hạnh phấn tảo y và tam y: học tập việt diệt trừ sự tích trữ y phục, dẹp bỏ sự ham chuộng trang sức cho đẹp bề ngoài;

- Về các hạnh khất thực, chỉ ngồi ăn một lần, quá giờ chẳng ăn: học tập việc diệt trừ mối tham ái về ăn uống, bỏ lối chạy đôn đáo đi tìm thức ăn ngon, ăn uống có tiết độ, đúng giờ, chẳng ăn quà vặt;

- Về các hạnh liên quan đến nơi cư trú: học tập việc dẹp bỏ sự quyến luyến vào nhà cửa, trừ bỏ sự đòi hỏi cho đầy đủ mọi tiện nghi, tập tánh ít muốn và biết đủ;

- Về hạnh luôn ngồi chẳng nằm: học tập việc dứt bỏ sự lười biếng.

Việc tự tập lấy các hạnh đầu đà mà không kinh qua giới đàn, không thọ cụ túc giới, không nhận giới thể trang nghiêm thanh tịnh của Phật chế, không tụng giới luật, không xin tu tập hạnh đầu đà từ các bậc tôn túc, sẽ không tác thành nên hạnh đầu đà của Phật giáo mà chỉ trở thành sự khổ hạnh của ngoại đạo.

Hiện nay, lại có luồng ý kiến cho rằng người tu sĩ phải tập theo hạnh đầu đà mới là đúng tinh thần của Đức Phật. Nhưng ý kiến đó không xác đáng. Vì sao? Trong các vị đại đệ tử của Phật, chỉ có ngài Ca Diếp là hành hạnh đầu đà. Các vị còn lại, ví dụ như ngài Ananda, ngài Upali, ngài Sariputra đều không hành hạnh đầu đà. Vậy các ngài có phải là chư Thánh tăng hay không? Chư vị Tổ sư của chúng ta đâu phải ai cũng hành hạnh đầu đà? Các Tổ thuộc dòng thiền Tỳ ni đa lưu chi, Thảo Đường, Vô Ngôn Thông, Trúc Lâm Yên Tử, Lâm Tế, Tào Động, Liễu Quán… ít nhiều đều có trú xứ, trụ trì một hoặc một số ngôi tự viện. Vậy mà các ngài vẫn là những bậc giác ngộ đáng kính, pháp các ngài giảng vẫn là chân Phật pháp.

Thật ra, lịch sử Phật giáo cho hậu thế chúng ta biết Đạo Phật cần phải khế lý khế cơ. Khi đến Đông Á, Phật giáo ít nhiều thay đổi để phát triển phù hợp căn tính của người dân nơi đây. Hình thức nhập thất mà trong đó hành giả dựng một cốc/phòng/lều, trong đó chỉ có vật dụng tối thiểu nhất (như mùng tránh muỗi, chăn, bát, nước uống), cắt đứt mọi liên hệ với xã hội, chuyên tâm thiền định, trì niệm danh hiệu Phật, đó là ví dụ điển hình về một trong những phương pháp tu tập của chư Tổ tại quốc độ phương Đông.

Ngày nay, Phật giáo đã có mặt ở khắp nơi trên thế giới, trong đó có các quốc gia vùng ôn đới như các nước Tây Âu và Bắc Mỹ. Liệu chư tăng có thể thực tập hạnh tam y, hạnh ở rừng trong điều kiện mùa đông lạnh giá ở đó không? Chúng ta phải thích nghi với thời tiết. Đức Phật sống ở Ấn Độ và mùa đông ở Ấn Độ không giá băng như Alaska hay Anh quốc.

Cũng vậy, việc phê phán chư tăng ngày nay trụ tại trú xứ là không có cơ sở. Ngay từ thời Đức Phật, ngài đã thọ nhận và cho phép Tăng đoàn sử dụng các ngôi tinh xá, kỳ viên. Các tinh xá là nơi chư thánh tăng giảng pháp, tiếp nhận đồ chúng và tu tập. Theo dòng thời gian, đoàn du tăng phát triển cùng với những ngôi tự viện. Nếu không có tự viện, tăng chúng ngày càng đông đảo không thể tu học, đặc biệt là ở những nơi ít rừng rậm như tại các đô thị phương Đông cổ trung đại. Không có tăng chúng, không có giảng đường, không có cơ sở vật chất, Phật tử sẽ không nhận được pháp nhũ từ Tăng bảo. Như vậy có thể thấy ngoài mối quan hệ song hiệp giữa bốn chúng như cỗ xe tứ mã, các điều kiện vật chất của thế gian cần được sử dụng để hỗ trợ Tam Bảo.

Vì vậy chúng ta hiểu rằng hạnh đầu đà là một trong nhiều phương pháp tu tập, ai thích hợp với phương pháp tu tập nào thì tu theo phương pháp ấy mà tu tập phải phù hợp hoàn cảnh thời đại. Cái gốc của đạo là tâm bồ đề, đích đến của đạo là thoát khổ, đường đi đến đạo nhanh hay chậm do công phu trì giới, tu định, chứng tuệ. Còn chấp lấy một phương pháp cho rằng đó là phương pháp duy nhất đạt đến quả vô sanh. Như vậy là lìa khỏi trung đạo và sa vào cực đoan.

Đức Phật, khi còn là vị Bồ tát, đã từng tu khổ hạnh suốt 6 năm đến mức sức khỏe lụi tàn như ngọn đèn cạn dầu mong manh trước gió và suýt chết. Sau đó ngài nhận ra sự khổ hạnh chẳng phải con đường đưa  giải thoát khỏi khổ đau. Và ngài tìm thấy một lối đi tránh cả hai cực đoan của thế gian: không chạy theo ngũ dục và cũng không hành hạ bản thân. Con đường Trung đạo mà Phật dạy dựa trên sự cân bằng của thân và tâm, không triệt tiêu khoái lạc và khổ hạnh mà kiềm hãm, hạn chế tối đa sự thèm khát hoặc ép xác. Đó là con đường của kinh nghiệm. Ngài lại dạy rằng cần dùng tinh thần Trung đạo ấy để nhận thức về thế giới: lìa bỏ sự chấp thủ cho rằng thế giới là tất cả đều có (thường), hay thế giới này tất cả đều không (đoạn).

“Này Kaccāyana, ‘tất cả có’ (sabbaṃ atthi) là một cực đoan. ‘Tất cả không có’ (sabbaṃ n’tatthi) là cực đoan thứ hai. Xa lìa hai cực đoan ấy, này Kaccāyana, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo.”

(Kinh Chánh kiến)

Và để đi theo lối Trung đạo mà Ngài dạy, chúng ta là những người con Phật, cần đi theo Thánh đạo Tám ngành tức là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định và chánh tuệ. Sự tu tập viên mãn theo con đường này sẽ giúp hành giả khám phá ra cái khổ, nguồn gốc cái khổ và khi khổ diệt, Niết bàn hiện tiền.

Còn những hý luận của thế gian nhằm phủ nhận, hạ bệ giá trị của Đạo Phật, của Tăng đoàn, thực sự không đưa lại lợi lạc trên con đường tu tập của chúng ta. Đối với các hý luận ấy, chúng ta nhận rõ đó là do vọng tưởng của con người: chấp pháp còn khổ, huống hồ là chấp vào điều phi pháp. Người Phật tử kiên định trên con đường tu tập của mình, bỏ qua những hý luận ấy.

Chánh Kiến

44 CÂU TRẢ LỜI VỀ VIỆC HỌC TU CỦA MÌNH, KỈ NIỆM 44 NIÊN THỌ CỦA THẦY THÍCH MINH TUỆ

(Để có cơ sở xác thực từng câu nói, NTT chịu khó nghe lại các lời thầy Thích Minh Tuệ trả lời các YouTuber, TikToker được đăng tải trên mạng, rồi ghi chép lại sao cho rõ, gọn, sát với ngôn phong, nhất là bảo đảm trung thực ngôn ý của thầy.

Tập hợp này khá đầy đủ, NTT không ghi theo thứ tự thời gian, mà ưu tiên các câu nói có tác dụng trả lời luôn thắc mắc của một số người đến nay vẫn còn chỉ trích thầy, do không theo dõi để cập nhật nhiều thông tin từ các YouTuber.

Nỗ lực của NTT chỉ nhằm giúp mọi người không hiểu oan sai một công dân hiền thiện, có phẩm chất khiêm cung, tốt đẹp, chí nguyện tự học tu theo Phật: Thích Minh Tuệ).

1. Giữa tháng 7/2015, con đi làm vô tình nghe được Phật pháp. Con phát nguyện ăn chay ngày một bữa , tìm đọc kinh sách Phật và giữ giới trong 6 tháng.

2. Con thấy mục đích Phật dạy rất cao cả, nên con muốn đi tu và quyết định xuất gia.

3. Cha mẹ con lúc đầu không cho. Sau đó, thì cũng chấp thuận. Con được cha mẹ chia phần tài sản như các anh em trong nhà, nhưng con từ chối, con chỉ xin cha mẹ ký giấy cho con xuất gia thôi.

4. Lúc đầu tu học thì con không hiểu được gì nhiều. Con như người học lớp 1 , rồi học lớp 2, từ từ học lên nữa, người ta cũng chỉ cho con, con mới hiểu nhiều hơn.

5. Con học tu ở chùa một thời gian, có pháp danh là Thích Minh Tuệ. Sau đó, con thấy không hợp, nên con rời bỏ chùa, lên núi ẩn cư một mình trong hốc đá, hàng ngày đi khất thực.

Dù Phật không có nói, nhưng con chọn ngủ ngồi 3 năm rồi, không có nằm. Con ngủ ngồi là con muốn bỏ cái ngủ đi. Khi nào mệt quá thì ngồi dựa vào gốc cây hay bờ tường cũng được.

6. Sau thời gian ở một chỗ con thấy mình không có cơ hội xúc chạm để thử thách tham-sân-si, nên con quyết định bộ hành từ Nam ra Bắc, rồi ngược lại. Con không dám nói trước cho đến lúc nào thì con dừng.

7. Con muốn giữ lại pháp danh cũ, nên con nói tên con là Thích Minh Tuệ, thay vì nói tục danh con (là Lê Anh Tú).

Bình thường như con khi chưa phát tâm tu hành chánh đẳng , chánh giác thì không sao, nhưng khi phát tâm tu hành rồi thì đầy đủ các thứ đánh đập, chửi bới bệnh đau nó đến để thử thách lòng mình có vượt qua được không, có chiến thắng với 4 nổi khổ: sinh, già, bệnh, chết không. Ví dụ bệnh đau là cái đầu tiên vẫn đến để xem mình có sợ nó không.

8. Trước khi đi tu, con cũng có việc làm như bao người, nhưng con không hạnh phúc, bởi con tư duy thấy rằng cho dù ai có việc làm, có công chức, cuộc sống ổn định nhưng rồi cũng bệnh, cũng già và chết như nhau. Con sẽ giống họ.

9. Con muốn học những điều Phật dạy cao siêu, vi diệu, tối ưu, thiền định, trí tuệ, thoát được khổ đau, và an lạc hạnh phúc.

10. Phật bày như thế nào, con làm theo thế ấy, để có an lạc hạnh phúc, chứ không phải tự mình mà biết. Con chưa vào định được. Con còn đang học.

11. Con đi tu là để cầu giải thoát. Khi đắc đạo chánh đẳng, chánh giác, con mới đền đáp được công ơn cha mẹ.

12. Ngày nào con cũng xin ăn không quá một bữa cơm mỗi ngày để nuôi thân tu hành. Con không tích chứa để dành, hoặc xin thêm.

13. Con tuyệt đối không nhận tiền, vàng và vật phẩm của ai, dưới bất cứ hình thức nào.

14. Y áo con mặc được may từ vải con nhặt ở nghĩa địa, hay thùng rác ven đường.

15. Con không sử dụng y áo có màu giống với các tu sĩ, và nói mình ở chùa nào, vì con không muốn mượn hình ảnh để xúc phạm đến sư thầy và các nhà chùa. Người ta có thể nói con lợi dụng để lừa đảo, hay làm điều sai trái, làm ảnh hưởng đến họ.

16. “Bình bát” để nhận thức ăn là do con sửa chế từ nồi cơm điện người ta cho con. Đó không phải là “y bát” của quý sư thầy.

17. Đời là vô thường, sống nay chết mai đâu ai biết, nên con phải sớm đi tu, lỡ mai chết mất thân này thì con đâu còn cơ hội.

18. Có người hỏi con ngủ ở nghĩa địa có thấy gì không? (ma). Con nói không thấy cũng không đúng. Có khi con thấy bóng đen nào đó đi qua, nhưng không ảnh hưởng gì đến con thì con nói thấy hay không thấy cũng vậy.

19. Giờ đây con coi mọi người đều là anh em, cha mẹ con.

20. Trong lòng con không còn ích kỷ, thù hận. Con coi tất cả mọi người trong thế gian đều bình đẳng.

21. Giờ nếu anh có chửi con, con vẫn coi anh là bạn.

22. Người ta có đánh con, con vẫn chúc mọi điều tốt đẹp đến với họ.

23. Con nguyện ước chúc cho mọi người được hạnh phúc.

24. Mọi người không nên học bói toán, vì có cái đúng, cái không đúng. Đức Phật không có dạy xem bói. Hơn nữa, nếu họ tài giỏi thì họ đã bói cho họ rồi.

25. Thay vì học bói toán, mọi người nên học đạo đức, giới luật. Cố gắng giữ 5 giới: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống bia rượu sẽ được hạnh phúc.

26. Việc giữ giới là quan trọng đầu tiên trong Giới-Định-Tuệ. Không giữ giới thì không tu được thành Phật.

27. Ăn chay mà giữ giới thì cũng thành đạt trong việc tu Phật được.

28. Người ta cho con chay, mặn có đủ. Khi ăn, con chọn thức ăn chay.

29. Mọi người đừng lạy con mà hãy lạy Phật - Pháp - Tăng.

30. Con không kêu gọi hay lập ê kíp đi theo quay phim con. Nhưng con cũng không xua đuổi họ.

31. Nếu họ vì quay phim con mà được lợi ích, thì con cũng chúc họ hạnh phúc.

32. Đối với con, ở đâu cũng là chùa. Nên con không quan trọng lý do vì sao chùa này mở cửa, chùa kia đóng cửa.

33. Con đi bộ, không đi xe, là để rèn luyện sức khoẻ.

34. Con đi chân trần là để cảm nhận được những gì ở phía dưới chân, mình có dẫm đạp lên các côn trùng, sinh vật không? Hơn nữa giày, dép mau hư hơn chân con.

35. Ai không có thứ gì đáng giá trên người, mới là hạnh phúc, vì họ không phải lo giữ gì cả.

36. Con không có gì hết nên con không sợ bị ai đánh đập hay giết mình để lấy của. Con không sợ chết, bởi con đâu có thứ gì tiếc uống, cần phải sống để giữ nó.

37. Có người hỏi con ngủ trong chòi lá, rừng cây lạnh lẽo, rét buốt làm sao ngủ ngon bằng ở phòng kín, chăn ấm, nệm êm? Con nói vẫn ngon, vì theo lời Đức Phật dạy ngủ ở đâu cũng ngon, nếu không có khởi tâm dâm dục.

38. Đọc chú đại bi phải có mục đích nào đó. Nếu vì muốn mình an ổn, cần phải đọc chú đại bi, ví dụ xua đuổi con quỷ chẳng hạn, thì mình cư xử ác với nó rồi. Con không muốn giành lấy chỗ ở hay sự an ổn của ai, (ví dụ của con quỷ) nên con không học chú đại bi.

39. Ai nói xấu con hay chửi mắng con thì con không giận họ và chúc họ may mắn. Ai nói tốt con hay khen tặng con thì con bình tâm, không để mình bị dính mắc vào ngã mạn, và con cũng chúc họ được hạnh phúc.

40, Nói tốt, nói xấu hoặc khen, chê con thì rồi cũng vậy. Nhưng con phát hiện ra 2 tâm trạng: người cho con thức ăn thì con thấy họ rất vui và hạnh phúc, còn người chửi con thì con thấy họ đỏ mặt không tự nhiên.

41.Con không phải là sư, là thầy gì cả. Con là công dân VN giống như mọi người thôi . Con chỉ muốn học tu. Con không có mục đích tuyên truyền hay rao giảng gì cả. Tất cả lời Phật dạy đều có trên mạng.

42. Khi nào con thành tựu được chánh đẳng chánh giác con mới giảng pháp cho mọi người được. Bây giờ người nào muốn học thì cứ lên mạng nghe giảng của các sư thầy. Kinh sách nào của Phật cũng đều có cả.

43. Những người tu hành, già cả hay nghèo khổ mình nên bố thí cho họ cơm ăn , y áo vật thực hay cái gì đó.

Những người sa ngã, ăn chơi, hư hỏng, mình bày cho họ đừng sát sanh, trộm cắp, sống lương thiện, giữ trọn 5 giới , đó là bố thí pháp.

44.Sáu năm qua con không là nhân sự ở chùa nào. Con không là Nam tông hay Bắc tông, cũng không phải là tu sĩ của GHPGVN, bởi con tự thấy đạo đức của con chưa đạt đến cảnh giới đó.

(Ngộ Trí Tâm, 19/5/2024-12/4 âl).

@

 

Hạnh Đầu đà (Sanskrit: Dhuta; Pali: Dhudanga)


Năm 1293, vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con và nhận tước vị thái thượng hoàng, nhưng mãi đến năm 1299, ông mới khoác áo nhà sư đi thuyết pháp khắp đất nước, vào đến tận kinh đô nước Chiêm Thành như lời nhà nghiên cứu George Maspero: “Nhân Tông đã thoái vị để con trai ông lên ngôi vua, vào chùa tu và từ ấy được gọi là thái thượng hoàng. Khi đã có nhiều danh hiệu tôn quý sau khi thoái vị, ông chợt có ý muốn thăm thú xứ sở và những thánh địa của những quốc gia lân cận…” (Le royaume de Champa, tr. 222)

Trong bài giảng “Tam tổ Trúc Lâm giảng giải”, Hòa thượng Thích Thanh Từ đã nói về hạnh Đầu đà của thái thượng hoàng Trần Nhân Tông: “Đến tháng 10 năm Kỷ Hợi (1299), ngài xuất gia vào tu ở núi Yên Tử. Ở đây, ngài chuyên cần tu tập theo hạnh Đầu-đà (khổ hạnh) lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu-đà. Chữ Đầu-đà nguyên là chữ Phạn, đọc âm là “đẩu-tẩu”, dịch nghĩa là “phủi giũ”, nghĩa là buông sạch hết, không để danh lợi làm lem lấm. Cho nên tu hạnh Đầu-đà tức là tu khổ hạnh. Buổi đầu ngài lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu-đà. Hương Vân là mây thơm, khi thắp hương, khói thơm bay lên giống như làn mây. Đại Đầu-đà tức là tinh thần tu khổ hạnh rất cao…”  

Đầu đà là phép tu khổ hạnh không phải để ép xác, mà để giải thoát thân tâm nhằm mục đích diệt trừ mọi phiền não.

Sách “Trần triều dật tôn Phật điển lục” chép: “Niên hiệu Hưng Long thứ 7 (1300) tháng 10, vua Trần Nhân Tông vào núi Yên Tử, chuyên cầu tu đạo theo hạnh thập nhị đầu đà, tự lấy danh hiệu là “Hương Vân Đại Đầu đà”. Thập nhị Đầu đà là 12 phép tu khổ hạnh như: khất thực, chỉ dùng ba bộ áo, ăn mỗi ngày một lần, ở nơi rừng vắng, ngủ gốc cây…

13 hạnh Đầu đà:

1. Hạnh y phấn tảo

2. Hạnh tam y

3. Hạnh khất thực

4. Hạnh khất thực từnɡ nhà

5. Hạnh nhất tọa thực

6. Hạnh ăn bằnɡ bát

7. Hạnh khônɡ nhận tàn thực, tức là khônɡ dùnɡ thực phẩm dư thừa

8. Hạnh ở rừnɡ

9. Hạnh ở ɡốc cây

10. Hạnh ở nɡoài trời

11. Hạnh ở nɡhĩa tranɡ

12. Hạnh ở chỗ nào cũnɡ được

13. Hạnh nɡồi (khônɡ nằm).

Đoàn Trung Còn đã giải thích 13 hạnh Đầu đà:

1. Tỳ kheo phải mặc tam-y bằng vải dơ lượm được (Nạp y)

2. Tỳ kheo chỉ mặc nội tam-y mà thôi (Tam-y)

3. Tỳ kheo phải ăn vật thực mà mình đi xin (khất thực)

4. Tỳ kheo phải đi khất thực từng nhà

5. Tỳ kheo phải ngồi một chỗ mà ăn, đứng dậy thì hết ăn (Nhứt toạ thực)

6. Tỳ kheo chỉ ăn vật thực trong bát của mình đã xin được (Nhứt suỷ thực)

7. Tỳ kheo hễ thôi ăn giờ Ngọ rồi thì không ăn trở lại trong ngày (Bất tác dư thực)

8. Tỳ kheo phải ở nơi rừng vắng (Viễn ly xứ)

9. Tỳ kheo phải ở nơi cội cây (Thọ hạ toạ)

10. Tỳ kheo phải đứng và ngồi nơi chỗ trống, không ở dưới bóng cây, không có che lợp (Lộ địa toạ)

11. Tỳ kheo ở nơi mồ mả (Trủng gian toạ)

12. Tỳ kheo ở nơi có Giáo-hội định (Tuỳ toạ)

13. Tỳ kheo đứng và ngồi từ khi mặt trời lặn cho tới khi mặt trời mọc, chứ không được nằm (Thường toạ bất ngoạ)

(Phật học Từ điển, quyển I, tr. 543, 544)

Ảnh:  Tượng Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông sau khi xuất gia

Thứ Ba, 28 tháng 5, 2024

MÙI CỦA MẸ

Thơ: Nguyễn Văn Anh

Thời son trẻ

Mẹ thơm mùi con gái

Mùi tằm dâu rơm rạ quê nhà

Mùi bồ kết hương cau thơm lắm

Mùi thanh xuân đồng nội

Mẹ trao cho cha

Ngày vỡ ối con ra

Mẹ còn thơm mùi chăn gối

Mùi tro than hột muối củ gừng

Con bú mớm

Mẹ thơm mùi vú mọng

Con đi lẫm chẫm

Mẹ thơm mùi cơm nhão, cháo hoa

Con đến trường làng

Mẹ thơm mùi lúa rơm gạo mới

Con lên trường huyện

Mẹ thơm mùi cơm bới mo cau

Khi con ốm đau

Mẹ thơm mùi của Phật

À ơi…

Ôm con mùi Mẹ tỏa ra

Bệnh hoạn tiêu tán, tà ma phải lùi

Ngày nắng hạn

Mẹ thơm mùi me đất

Tháng mưa dầm

Mẹ thơm mùi con cá chột nưa

Con xa nhà mang theo mùi của Mẹ

Đi đông đoài nam bắc

Là con đi đất bằng biển lặng

Là con đi chân cứng đá mềm

Ơi những kẻ đi xa

Có nghe thơm mùi của Mẹ

Mẹ thơm mùi bếp lửa quê nhà

Mùi của Mẹ là mùi rất thật

Ngày con thành gia thất

Mẹ thơm mùi treo cưới

Mùi áo khăn đèn rượu trầu cau

Ngày tháng qua mau

Thoảng chút hương đời con hể hả

Mẹ còn giữ một mùi dân dã như rơm

Đời con lận đận áo cơm

Mẹ là áo gấm, tám thơm, nồi đồng

Đời con mỏi gối chồn chân

Lạ thay Mẹ vẫn thơm mầm lộc non

Con mấy mặt con

Vẫn ngỡ mình bé dại

Vì nhà ta còn mùi Mẹ, mùi Bà

Mùi Bà – mùi cái vú da

Mùi cau trầu với mùi hoa mẹ trồng

Mẹ ơi

Mẹ mới đó

Bốn mùa mặc áo the thâm

Sao nỡ vội già không trẻ mãi

Để vãn buổi chợ chiều tất bật đi mau

Vì biết cháu chờ gói kẹo cau đùm trong lá chuối

Ôi cục kẹo cau có hương bưởi hương ngâu

Có con cu kêu đầu hồi để thời gian qua chi vội

Bây giờ tội nghiệp Mẹ tôi

Tám mươi ba tuổi xếp đôi cánh cò

Mùi của Mẹ quanh co giường chiếu

Mùi trần ai khô kiệt xác thân

Mùi da xương bên ướt Mẹ nằm

Để cả đời bên ráo con lăn

Khuya nay quỳ xuống ôm chân

Mẹ ơi đã lạnh toàn thân...Mất rồi!

Cây cau già ngoài sân chết đứng

Ngọn trầu không héo úng rụng rời

Gió khóc ngoài giậu mồng tơi

Tre trúc quờ quạng tìm hơi Mẹ già

Mẹ hiền đi chuyến chợ xa

Mùi Mẹ cánh Hạc bay ra cõi Trời

Con thành đứa trẻ mồ côi

Lặng chiều nhang khói tìm hơi Mẹ hiền!

Mẹ ơi

Thứ Sáu, 24 tháng 5, 2024

Dãy núi Tiên Sơn Linh Mẫu (Núi Trung Vinh hoặc Kim Sơn)

Núi Tiên Sơn Linh Mẫu là một thắng cảnh đẹp huyện Vĩnh Lộc. Nhìn từ xa, thắng cảnh này có hình thù giống như một nữ thần hay một quận chúa đang nằm nghỉ.

Núi Tiên Sơn Linh Mẫu còn có tên gọi khác là núi Chung Vinh, đã có từ lâu đời, nằm trên địa bàn các xã Vĩnh An, Vĩnh Thịnh, Vĩnh Minh, núi chạy dài khoảng 2km, cao khoảng 500m. Phía sau ngọn núi còn có 2 hang động lớn là Kim Sơn và Tiên Sơn đã được xét duyệt và cấp bằng di tích danh thắng, bên trong có nhiều nhủ đá, hình thù khác nhau trông rất đẹp mắt.

Động được phát hiện năm 1919, động có chiều dài hơn hai km và nhiều thạch nhũ đủ hình dạng kỳ thú. Động được chia thành ba khu: chính cung, hồ nước tiên, và thoải cung. Cảnh đẹp nơi đây mang hơi hướng Phật giáo với khối thạch nhũ hình tòa sen; tượng Phật tổ với ánh mắt từ bi; một con cóc há miệng chầu, mắt mở tròn; con hổ vằn trong tư thế phủ phục, hướng về phía đức Phật.

Bên trong động còn có hình cây cổ thụ, tán lá trải dài xuống thân và gốc cây. Bên phải là thoải cung thờ Phật bà quan âm và nhũ đá hình cá chép hóa rồng được người dân địa phương gọi là ngư long, nằm chầu trước thoải cung. Phía dưới là hình mãng xà tinh đang chui từ trong hang ra, thân hình uốn lượn trong núi. Cách đó không xa là thạch nhũ giống Hoa Quả Sơn với hình Tôn Ngộ Không khoác áo da hổ, cổ quấn khăn, trong tư thế chuẩn bị bay lên thiên đình.

Khu vực giữa động có hình đá khiến du khách liên tưởng tới một tiên nữ đẹp nghiêng nước nghiêng thành, da trắng, tóc đen, chân co, chân duỗi, một tay che ngực, một tay vắt qua eo. Cạnh đó là hình cậu Hoàng Bơ mặc áo nâu, cầm bó tơ hồng hướng về phía tiên nữ. Tương truyền, ai đến đây cầu tình duyên, hạnh phúc, chỉ cần dâng hương khấn nhờ cậu Hoàng Bơ thì sẽ được như ý muốn. Trên vòm động có thạch nhũ giống đôi bầu sữa mẹ, nước chảy quanh năm không bao giờ cạn.

Sau bàn thờ Bà chúa kho là hình ruộng bậc thang. Có khối thạch nhũ trông giống kho thóc màu nâu, kho gạo màu trắng, kho bạc lấp lánh ánh đăng châu. Nơi thì giống bàn chân mẫu Âu Cơ in hình trên đá, du khách đến đây có thể ướm thử bàn chân mình vào, nhắm mắt cầu nguyện để thấy mệt nhọc tiêu tan, tâm hồn thư thái.

Trong động còn có hồ nước tiên. Từ hồ nước tiên nhìn lên sẽ thấy hình ảnh phủ Nam tào Bắc đẩu và hình tượng Ngọc hoàng đang ngự trị trên thiên đình. Cuối động Tiên Sơn là khối thạch nhũ giống khu mộ cổ của người xưa để lại.

Chuyện về dãy núi “người mẹ mang thai”

Trong lần hiếu kỳ tìm đến động Tiên Sơn (Hàm Rồng) để mục sở thị về phiến đá có hình bàn chân cầu tự, tôi được nghe câu chuyện về dãy núi đá vôi Tiên Sơn, Linh Mẫu mang dáng dấp người mẹ mang thai ở huyện Vĩnh Lộc (Thanh Hóa). Lạ kỳ thay, dãy núi đã tồn tại qua bao đời nay song phải đến gần đây mới được người dân địa phương phát hiện ra nó có dáng vẻ đặc biệt có một không hai này…

Một hiện tượng tự nhiên lạ!

Lần theo chỉ dẫn của người quen, tôi tìm đến nhà người đầu tiên phát hiện ra dáng vẻ kỳ lạ của dãy núi ấy - anh Phạm Văn Viêm ở thôn Xanh, xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Lộc. Dãy núi Tiên Sơn Linh Mẫu trước kia còn được gọi là núi Trung Vinh, có chiều dài gần 2km, cao khoảng 500m nằm trải dài trên địa bàn 3 xã Vĩnh Minh, Vĩnh Thịnh và Vĩnh An của huyện Vĩnh Lộc.

Song, nghe nói đứng từ phía nhà anh Viêm là quan sát rõ nhất hình dáng đặc biệt của dãy núi này. Có lẽ cũng bởi đây là ngôi nhà 2 tầng hiếm hoi ở đây nên không bị cây cối, nhà cửa che khuất tầm nhìn về phía dãy núi như các gia đình khác xung quanh.

Vả lại nhìn từ hướng nhà anh có thể quan sát chính diện toàn bộ hình dáng dãy núi, chứ còn chếch sang độ vài chục mét hai bên xung quanh, nhất là sang các thôn xã khác là trông dáng núi không còn rõ hình người mẹ mang thai nữa. Theo lời kể của anh, mặc dù sinh ra và lớn lên ở đây song anh chưa bao giờ nghe câu chuyện nào của cha ông truyền lại về dãy núi này, càng chưa bao giờ hình dung ra được nó lại có hình dáng lạ lùng như thế.

“Có lẽ vì ngày ấy có mấy bụi tre án ngữ phía trước nhà, khuất tầm nhìn nên mọi người không thấy được. Kể cả đến năm 2007, khi ngôi nhà đã được sửa sang và xây lên 2 tầng, tôi cũng chưa nhìn ra hình dáng kỳ thú của dãy núi. Chỉ đến mùa hè năm ngoái, vào một buổi tối thời tiết nóng nực, tôi ra ban công tầng 2 nằm hóng mát mới giật mình thấy dãy núi có hình thù giống hệt một người phụ nữ đang nằm” - anh Viêm cho biết.

Quả thực nhìn nghiêng, dãy núi có hình thù đẹp như một người phụ nữ mang thai đang nằm nghỉ với đầy đủ mũ mão, trán, mắt, mũi, miệng, cằm, cổ, bầu ngực và bụng. Xoay ống kính máy ảnh nghiêng một góc 90 độ nằm ngang và “zoom” cận cảnh từng bộ phận trên hình hài “người phụ nữ” thiên nhiên này mới thấy hết vẻ đẹp đến từng đường nét, từ chiếc mũ tua dua điệu đà trên đỉnh đầu đến vầng trán cao rộng, đôi mắt tròn to sắc nét, chiếc mũi dọc dừa thẳng tắp, đôi môi hình trái tim căng mọng nhỏ nhắn, chiếc cổ thon dài, đôi bầu ngực căng tròn và cả chiếc bụng bầu cân đối…

Lý giải về hình dáng độc đáo kỳ lạ ấy của dãy núi Tiên Sơn Linh Mẫu, nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa Trần Lâm Biền cho biết: “Chúng ta nhìn thấy ở dáng của đỉnh núi có bộ mặt của một bà mẹ với một bầu sữa vũ trụ nuôi dưỡng thiêng liêng tất cả muôn loài vạn vật. Nó như tượng trưng cho ước vọng cầu hạnh phúc của mọi người và chúng tôi ngờ rằng đây giống như một hình tượng mà người xưa truyền lại là hình tượng “bà mẹ đất”, “bà mẹ núi” được nhắc đến trong Phật giáo xưa”.

Một thắng cảnh tiềm năng…

Cũng trong thôn Xanh, xã Vĩnh Thịnh, nhìn thẳng về hướng dãy núi Tiên Sơn Linh Mẫu nhưng cách xa hơn nhà anh Viêm là ngôi chùa Hoa Long mang đậm dấu ấn kiến trúc, điêu khắc và văn hóa Phật giáo truyền thống.

Theo phân tích của ông Trần Lâm Biền, thì dãy núi này không chỉ có giá trị về mặt du lịch với những hang động hình thù kỳ bí khác nhau mà còn có mối liên hệ mật thiết với ngôi chùa Hoa Long - nơi từ xưa đến nay vẫn luôn là chốn sinh hoạt tâm linh tín ngưỡng cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, cuộc sống yên bình hạnh phúc của nhân dân trên địa bàn huyện.

Về mặt phong thủy, chùa Hoa Long quay mặt về hướng Nam, hướng được cha ông ta cho là có sinh khí, nơi có dãy núi Tiên Sơn Linh Mẫu tọa lạc. Trong quần thể 29 ngọn núi chạy từ phía Tây tới tạo thành dãy Tiên Sơn Linh Mẫu ấy, có ngọn núi Kim Sơn đứng về mặt phong thủy có giá trị rất cao.

Núi Kim Sơn cùng với chùa Hoa Long được xem như một thể thống nhất về mặt phong thủy, là ngọn núi linh chứa đựng sự thiêng liêng của cả một vùng và rộng hơn là của cả một dân tộc. Đây cũng là ngọn núi vừa được Bộ VH-TT&DL công nhận danh thắng cấp quốc gia vào ngày 22-1-2009 vừa qua. Đặc biệt nằm trong ngọn núi này là hai danh động quan trọng gồm động Kim Sơn và động Tiên Sơn. Đây là các di tích có tiềm năng du lịch lớn của huyện Vĩnh Lộc.

Truyền thuyết kể rằng hai động ấy được xem như “tử cung” của “bà mẹ” vũ trụ thiêng liêng (dãy núi Tiên Sơn Linh Mẫu), con người đi vào trong đấy là để tìm chất vô nhiễm với mong muốn tránh được những rủi ro, tai họa ngoài cuộc sống. “Với đặc tính như thế, tôi nghĩ rằng vẻ đẹp của dãy núi Tiên Sơn Linh Mẫu, đặc biệt là quả núi đơn Kim Sơn kết hợp với chùa Hoa Long và các di tích quanh đây sẽ thực sự là thắng cảnh có giá trị lớn lao về tâm linh và du lịch cần được bảo vệ” - ông Trần Lâm Biền khẳng định.

Danh thắng đang bị “ăn mòn”

Tuy vậy có đến đây mới thấy được thắng cảnh lạ được liệt vào loại “có một không hai” ở Việt Nam này đang bị “ăn mòn” và mất dần vẻ hoang sơ thế nào khi các xưởng đá với công suất khai thác hàng nghìn m3/ngày vẫn đang ngày đêm hoạt động dưới chân núi Tiên Sơn Linh Mẫu.

Việc này theo ông Trần Lâm Biền là khó mà có thể chấp nhận được, bởi lẽ nếu phá ngọn núi này thì khác nào thế phong thủy của cả cụm di tích cũng bị mất đi, vả lại nếu cứ đi phá những quả núi như thế thì đó chỉ là ý thức “ăn xổi”, mà ý thức này gắn nhiều với phá hoại hơn là xây dựng. “Quả núi Kim Sơn nói riêng đã được ghi lại trong nhiều bia ký ở đấy, cũng được sử sách nói tới nhiều, bây giờ phá đi thì khác nào phá hoại lịch sử và phá hoại văn hóa mà ông cha và Tổ tiên để lại” - ông Trần Lâm Biền nói thêm.

Cũng đồng tình với quan điểm này, song ông Lê Văn Sự - Trưởng phòng Văn hóa huyện Vĩnh Lộc bày tỏ băn khoăn việc này nằm ngoài phạm vi của huyện: “Hiện ở khu vực này có 2 công ty khai thác đá được tỉnh Thanh Hóa cấp phép từ nhiều năm nay, đó là còn chưa kể một số công ty khai thác tư nhân khác cũng nhảy vào hoạt động. Chỗ đấy giờ là gánh mưu sinh của hàng trăm con người, không cho họ làm nữa cũng khó tìm ra cách nào tháo gỡ”.

Tuy vậy dù khó đến mấy nhưng theo ông thì việc khai thác đá tại khu vực núi Tiên Sơn Linh Mẫu cũng cần phải được dừng lại, tránh sau này cảnh quan danh thắng bị xâm phạm thì hối cũng chẳng kịp. Về điều này, đại diện Sở VH-TT&DL Thanh Hóa cho biết sẽ thành lập đoàn kiểm tra việc khai tahác đá tại núi Kim Sơn nói riêng và quần thể dãy núi Tiên Sơn Linh Mẫu nói chung, nếu nhận thấy nguy cơ ảnh hưởng đến các di sản văn hóa ở đây thì sẽ kiến nghị lên UBND tỉnh Thanh Hóa điều chỉnh lại quy hoạch.

Việc này đã đến lúc cần được đưa ra bàn luận rõ ràng bởi nếu chỉ thấy lợi ích trước mắt và tận thu từ thiên nhiên thì trong tương lai không xa, rất có thể chúng ta sẽ chỉ còn được ngắm dãy Tiên Sơn Linh Mẫu qua những bức ảnh, còn quần thể động - núi - chùa linh thiêng độc đáo nơi đây với những mối liên hệ đẹp đẽ cũng sẽ bị thiếu khuyết đến muôn đời sau...

Nguồn: Theo ANTĐ Việt Báo, Báo thanh hóa, Vuontoi-tamcao 360plus, Đất Việt. Địa danh, ĐộngNúi

Người đăng: Điền Gia Dũng Thứ Năm, tháng 6 ngày 23 năm 2011

NGUỒN BÀI ĐĂNG  

Thứ Năm, 23 tháng 5, 2024

THÀNH NHÀ HỒ, ĐỌC BÀI THƠ TRÊN VÁCH THÀNH CỔNG TÂY

Thành Nhà Hồ do Hồ Quý Ly chủ trương xây dựng và đích thân chỉ huy công trình vào năm 1397. Ba năm sau đó, Hồ Quý Ly đoạt ngôi nhà Trần lúc ấy đã suy tàn đáng phải thay thế, lập ra triều đại nhà Hồ, đặt tên nước là Đại Ngu. Chữ "Ngu" () trong quốc hiệu "Đại Ngu" (大虞) của nhà Hồ có nghĩa là "sự yên vui, hòa bình", không phải chữ "Ngu" () mang nghĩa là "ngu ngốc". "Đại Ngu" có thể hiểu là ước vọng về một sự bình yên rộng lớn trên khắp cõi giang sơn.

Đây là tòa thành kiên cố với kiến trúc độc đáo bằng đá có quy mô lớn hiếm hoi ở Việt Nam, có giá trị và độc đáo nhất, duy nhất còn lại ở tại Đông Nam Á và là một trong rất ít những thành lũy bằng đá còn lại trên thế giới. Có tài liệu chép thành được xây dựng trong thời gian chỉ khoảng 3 tháng (từ tháng Giêng đến tháng 3 năm 1397). Trải hơn 6 thế kỷ, một số đoạn của tòa thành này còn lại tương đối nguyên vẹn.

Thành Nhà Hồ được xây trong thời gian ngắn, nhân công được huy động rất đông, lao động không kể ngày đêm, nhiều người đã bị ốm đau, thương tật hoặc chết ở chân thành. Chuyện kể rằng vào cuối mỗi ngày, người ta thu gom được vài rổ (giành, sọt) những đầu ngón tay bị đứt rời của những người thợ ở đây trong quá trình lao động xây thành.

Có một điều, tuy thành Nhà Hồ kỳ vĩ và kiên cố như vậy, mà không một mũi tên nào được bắn ra từ mặt thành và không một tên giặc Minh nào bỏ mạng dưới chân thành.

Trải 600 năm qua, nhiều nho sỹ, thi nhân đã đến thăm thành, cảm tác thơ văn, phần lớn đều lên án Hồ Quý Ly tàn bạo, xây thành vắt kiệt sức dân. Có hai bài thơ được khắc trực tiếp vào thành ở cổng Tây, đến nay vẫn còn.

Có một điều băn khoăn: Đoàn đến cổng Tây của Thành Nhà Hồ, thấy bài thơ khắc trên đá của cổng. Khi hỏi sao không giới thiệu, thì hướng dẫn viên xin phép không giới thiệu, vì trên nói nội dung này không hay nên không được giới thiệu.

Dưới đây, xin giới thiệu bài 1:

Bài thơ thứ nhất


胡城古跡

興亡陳跡古今來

石砌胡城此舊堆

愁築樓臺多少力

弓山石路誌蒼苔

HỒ THÀNH CỔ TÍCH

Hưng vong Trần tích cổ kim lai

Thạch thiết Hồ thành thử cựu đôi

Sầu trúc lâu đài đa thiểu lực

Cung sơn thạch lộ chí thương đài.

(Bảo Đại ngũ niên Hạ.

Hồng lô tự khanh lĩnh Thủ Quảng Hóa phủ Trần Đình Khuyến đề).

Dịch nghĩa:

DẤU CŨ THÀNH NHÀ HỒ

Dấu tích thịnh suy của nhà Trần xưa kia còn để lại đến nay.

Bây giờ còn lại là những đống đá ghép của Thành Nhà Hồ

Buồn thấy bỏ ra bao công sức của nhân dân để xây cất lâu đài

Nay chỉ còn lại dấu rêu xanh trên núi hình cung (*) và con đường đá (**).

(Mùa hạ niên hiệu Bảo Đại thứ 5 (1930)

Hồng lô tự khanh, chịu trách nhiệm giữ phủ Quảng Hóa Trần Đình Khuyến đề).

(*) Núi Đốn hay Cung Sơn (núi hình cung), cách cổng Tiền Thành Nhà Hồ khoảng 2 km. (**) Con đường lát đá hoa từ cổng Tiền đến núi Đốn có tên Hoa Nhai.

Dịch thơ:

Dấu Trần hưng thịnh vẫn còn đây

Mấy bức thành hoang đá ghép xây

Buồn dựng lâu đài hao kiệt sức

Hoa Nhai, núi Đốn phủ rêu dày.

Bản phiên âm, dịch nghĩa và chú thích bài thơ được trích từ sách “Những Bút tích Hán Nôm hiện còn ở các hang động vách núi Xứ Thanh”, Võ Hồng Phi – Hương Nao, Nxb. Thanh Hóa, 2018, trang 278-280.

Nguồn Tễu Blog

Bài thơ thứ 2

Tại cửa tây thành nhà Hồ, có khắc bài thơ của tác giả Nguyễn Dao người xã Dũng Quyết huyện Ý Yên tỉnh Nam Định, đỗ cử nhân khoa Quý Mão đời Thành Thái( 1903).Nội dung bài thơ như sau:

 

 西

 

 

 

 

 

 

 

 

Phiên âm

Bảo Đại Quí Dậu xuân

 Tây Đô doanh trúc kiệt dân chi

Hà sự Bồ Hoàng tiếm thiết vi

Thất lý đồi thành phong sắt sắt

Sổ đôi cố chỉ thử li li

Trung thần tuy tử lưu hoa lộ

Liệt nữ như sinh lẫm thạch bi

Nhất thế gian hùng kim án tại

Hữu linh ứng tự nhận tiền phi.

Nguyễn Dao cung chí.

Dịch nghĩa:

Xây đắp doanh trại thành Tây Đô kiệt hết sức lực dân

Cớ gì áo vàng lại làm việc chiếm ngôi

Bảy dặm ngoài thành chỉ còn thấy gió hiu hắt

Trong nội nay hai bên lúa vàng lô nhô

Người trung thần tuy mất vẫn còn thờ ở đền Cái Hoa

Người liệt nữ vẫn còn in dấu sống động nơi tảng đá

Một kiếp gian hùng nay ở đâu?

Có khôn thiêng thì về mà nhận lỗi lầm khi trước.

Bảo Đại xuân Quí Dậu (1933)

Nguyễn Dao kính ghi lại

  (chưa có bản dịch thơ .Tôi mạo dịch, mời huynh hữu tham gia nhuận sắc cho vui)

Dịch thơ: THÀNH TÂY ĐÔ

Tây Đô kiến tạo của người thưa

Hà cớ Bồ Hoàng nỡ truất vua

Bảy dặm  thành hư nồm buốt buốt

Hai gò nội nát lúa lua tua

Trung thần tuy mất đường Hoa nhớ

Liệt nữ vẫn còn tảng đá đưa

Một kiếp gian hùng nay khuất nẻo

Hồn thiêng hãy nhận lỗi lầm xưa.

     Vĩnh Lộc

Huy Mien Nguyen

Chủ Nhật, 19 tháng 5, 2024

Lịch sử Làng Phi Bình xã Vĩnh Ninh huyện Vĩnh Lộc

Xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa là vùng đất cổ, nơi phát hiện ra trống đồng Đông Sơn, đỉnh cao nền văn minh Đông Sơn của người Việt cổ, có niên đại cách ngày nay hơn 2.000 đến 2.500 năm.
Theo các tài liệu nghiên cứu, từ trong lịch sử vùng đất Vĩnh Ninh luôn thuộc huyện Vĩnh Lộc. Theo tiến trình lịch sử, huyện Vĩnh Lộc đã nhiều lần thay đổi tên địa danh: Thời Hùng Vương, Vĩnh Lộc thuộc bộ Cửu Chân; thời Tần thuộc Tượng Quận; thời Triệu thuộc quận Cửu Chân; thời Hán – Đường thuộc huyện Tư Phố, quận Cửu Chân; đời nhà Tùy thuộc huyện Nhật Nam, châu Ái; thời Lý – Trần vùng đất này mang tên Vĩnh Ninh thuộc phủ (trại, lộ, trấn) Thanh Hóa, Thanh Đô (từ 1397 – 1407); thời thuộc Minh vẫn theo như thế và thuộc phủ Thanh Hóa; đời Lê Quang Thuận (1460-1470) thuộc phủ Thiệu Thiên; đời Lê Trung Hưng vì tránh tên húy vua Lê Trang Tông (1533 – 1548) nên đổi tên Vĩnh Ninh thành Vĩnh Phúc; thời Tây Sơn đổi thành Vĩnh Lộc [2; tr 224 – 232].
Thời Gia Long năm 1802, huyện Vĩnh Lộc thuộc phủ Thiệu Hóa. Năm Minh Mệnh thứ 16 (1835) lấy 4 huyện Vĩnh Lộc, Cẩm Thủy, Thạch Thành, Quảng Địa lập ra phủ Quảng Hóa (đến đời vua Tự Đức phủ Quảng Hóa mở rộng thêm châu Quan Hóa, nhưng về sau còn lại 3 huyện cũ là Vĩnh Lộc, Thạch Thành, Cẩm Thủy và thêm Yên Định).
Vào thời nhà Nguyễn (đầu thế kỷ XIX) tổ chức bộ máy hành chính rất chặt chẽ, dưới huyện có các tổng, dưới tổng có các thôn, trang, vạn (sau đổi là xã, có lúc là thôn). Đến đời vua Minh Mệnh (1820 – 1840), đơn vị hành chính huyện Vĩnh Lộc có 7 tổng: Nam Cai, Cao Mật, Ngọ Xá, Hoàng xá, Biện Thượng, Sóc Sơn, Bỉnh Bút. Trong đó tổng Nam Cai có 5 xã: Nam Cai, Hữu Cơ, Thiên Vực, Kỳ Thù, Bất Một. Đến đời vua Đồng Khánh (1886 – 1888) tổng Hoàng Xá được đổi tên thành tổng Thanh Xá. Xã Thiên Vực đổi thành Thọ Vực, xã Hữu Cơ đổi thành xã Hữu Chấp.
Đầu thế kỷ XX, xã Nam Cai đổi tên thành xã Hồ Nam, xã Bất Một đổi tên thành Phi Bình, xã Kỳ Thù đổi thành xã Kỳ Ngãi, tổng Nam Cai đổi thành tổng Hồ Nam. Do đó các làng Thọ Vực, Kỳ Ngãi, Phi Bình, Hồ Nam, Hữu Chấp đều thuộc tổng Hồ Nam. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, chính quyền cách mạng đã giải thể các tổng và lập ra 15 đơn vị hành chính xã. Trong đó các làng ở tổng Hồ Nam được lập ra 2 xã: xã Quốc Tuấn (gồm các làng Thọ Vực, Kỳ Ngãi, Phi Bình, Yên Lạc), xã Hạnh Phúc (gồm toàn bộ làng Hồ Nam).

Năm 1947, xã Hạnh Phúc và xã Quốc Tuấn nhập lại thành xã mới có tên là Vĩnh Ninh (xã Vĩnh Ninh có tên từ đó). Năm 1954, xã Vĩnh Ninh lại chia ra hai xã là Vĩnh Ninh và Vĩnh Khang. Xã Vĩnh Ninh mới gồm các làng Thọ Vực, làng Yên Lạc, làng Phi Bình, làng Kỳ Ngãi. Xã Vĩnh Khang gồm làng Hồ Nam.

Làng Phi Bình khi mới hình thành có tên là Bất Một; Theo truyền lại lúc đầu làng đã có khoảng bốn năm chục nọc nhà nằm ở Ngõ Đá dưới chân núi đất hiện nay; Do sông Mã đổi dòng chảy đã cắt đôi làng Bất Một (tức là làng mất một nửa); Theo sách Đồng Khánh Địa Dư chí viết thời vua Đồng Khánh (1886 – 1888) tên làng Bất Một vẫn còn;

Theo Hưong Ước xã Phi Bình viết năm 1901 (niên hiệu Thành Thái thứ 13) đã đề là Phi Bình; Như vậy tên của làng Phi Bình ra đời vào những năm cuối thế kỷ thứ XIX (tức từ 1889 – 1900). Dân làng Phi Bình còn lưu truyền câu ca:

Bất Một làng cũ quê tôi

Ở Vùng Ngõ đá, sườn đồi tựa lưng

Làng Phi Bình xưa có đủ: Đình, chùa, Nghè, Đền, Văn Chỉ, Võ chỉ…Nhưng hiện nay chỉ còn ngôi đình 5 gian 2 dãy thuộc loại đình cổ đang bị xuống cấp nghiêm trọng rất càn phải bảo vệ.

Hiện tại trong làng có 10 dòng họ. Dòng họ đến trước, dòng họ đến sau đang cùng nhau xây dựng làng xóm ấm no, đó là các dòng họ: Vũ, Lê, Mai, Trịnh, Nguyễn, Bùi, Dương….Trong đó họ Lê có tới 7 dòng, họ Trịnh 2 dòng, họ Nguyễn 2 dòng. Hầu hết các dòng họ lớn đều có gia phả để lại nhưng cũng có một số gia phả chép sau này;

        Theo truyền lại làng Phi Bình được hình thành cách đây gần 400 năm. Dòng Họ Lê, họ Vũ, họ Trịnh là những dòng họ đến đây sinh cơ, lập nghiệp sớm hơn. Căn cứ vào gia phả các đời truyền lại thì họ Lê của ông Lê Văn Quang là trưởng tộc đã có mặt ở làng Phi Bình cách ngày nay ít nhất là 375 năm. Họ Lê ông Lê Văn Vĩnh trưởng tộc là họ lớn trong làng hiện có trên 200 hộ. Họ có nhà thờ riêng được xây dựng từ lâu đời.

          Ngoài ra các dòng họ Lê như họ Lê ông Lê Văn Hiên là trưởng tộc. Họ Lê ông Lê Văn Tưởng là trưởng tộc; Họ Lê ông Lê Văn Nhiệm là trưởng tộc, họ Lê ông Lê Văn Dũng là trưởng tộc, họ Lê ông Lê Văn Nhai trưởng tộc có khoảng vài chục hộ.

       Dòng họ Vũ của ông Vũ Văn Tong là trưởng tộc gốc từ làng Mộ Trạch, huyện Đường An tỉnh Hải Dương; Từ cuối thế kỷ thứ XVII rồi sang thế kỷ thứ XVIII tỉnh Hải Dương là trung tâm của phong trào nông dân khởi nghĩa chống lại những quan lại, cường hào gian ác và chính quyền phong kiến ở địa phương. Nhiều người phải chạy loạn và tìm nơi an toàn để cư trú và sinh sống. Cụ tổ dòng họ Vũ ở làng Phi Bình này tên tự là Phúc Thiên đã từ Hải Dương bước đầu vào Thanh Hoá ở làng Bàn Thạch (huyện Thọ Xuân) làm nghề buôn bán và làm ăn cũng rất phát đạt, nhưng lại vất vả về đường con cái. Vào năm 1760 cụ tổ đã chuyển từ Bàn Thạch đến làng Bất Một và lấy ở đây rồi sinh được hai người con trai có tên là Phúc Thiện và Phúc Đức, từ đó họ Vũ này đã truyền đến nay được 10 đời.

          Họ Trịnh của ông Trịnh Văn Chương là trưởng tộc (vốn họ Trịnh không có chữ lót) gốc từ làng Biện Thượng nay thuộc xã Vĩnh Hùng (quê hương của chúa Trịnh Kiểm), cụ tổ họ này là Trịnh Tôn vào năm 1784 cụ đã chuyển vợ, con từ Biện thượng có đem theo nếp nhà bếp 2 gian đến sinh cơ, lập nghiệp ở đất Phi Bình này, hiện nay dòng họ này có ba chi và sáu, bảy chục đinh.

          Dòng họ Trịnh của ông Trịnh Hùng Chính làm tộc trưởng (ông Chính đi công tác xa), ông Trịnh Xuân Thục đại tá về hưu nay đã 69 tuổi cho biết cụ tổ của dòng họ này từ Lưu Khê (nay thuộc Yên Trường – Yên Định) là con út của gia đình có 4 anh em trai, cụ sang đất Phi Bình lấy vợ và sinh con đẻ cái lập nên dòng họ Trịnh này cách ngày nay khoảng 150 năm.

         Rồi Họ Mai của ông Mai Văn Dỹ là trưởng tộc có cụ tổ là ông Mai Hữu Dực cùng vợ từ Thọ Xuân sang Phi Bình sinh cơ, lập nghiệp và truyền cho đến nay khoảng 175 năm. Từ đất Phi Bình cụ tổ Mai Hữu Dực đã chăm chỉ học tập và thi đậu cử nhân, cụ được bổ đi làm đốc học ở tỉnh Phú Yên;

          Ở làng Phi Bình có trường hợp dòng họ Lê của ông Lê Văn Vĩnh là trưởng tộc gốc lại là Họ Nguyễn từ Hải Dương vào. Theo ông Lê Văn Thơ năm nay 75 tuổi, người trong họ cho biết, bấy giờ có hai mẹ con từ Hải Dương dắt nhau vào đất Phi Bình và đi ở cho một gia đình họ Lê (Dòng họ Lê của ông Lê Văn Quang làm trưởng tộc); Người con trai tên là Khoa được gia đình Họ Lê nhận làm con nuôi nên đã đổi từ họ Nguyễn sang họ Lê. Khi Lê Văn Khoa trưởng thành đã xây dựng gia đình riêng và lập nên dòng họ Lê của ông Lê Văn Vĩnh là trưởng tộc đến nay đã truyền được trên 8 đời (khoảng 200 năm).

          Làng Phi Binh sống bằng nghề nông, cây trồng chính là lúa, bông, lạc, đậu, vừng; Chăn nuôi thì có con lợn, con bò, con gà; Ngoài ra ở đây còn có nghề trồng dâu nuôi tằm, một số gia đình có nghề làm áo tơi bằng lá cây móc (có nơi gọi là cây núc nác, cây đùng đình) loại áo khoác mặc để che mưa;

      Làng Phi bình có diện tích tự nhiên 164,08ha, trong đó đất canh tác là 62,74ha, đất thổ cư 13,5 ha

Địa giới Hành chính:

+ Phía Bắc giáp làng Kỳ Ngãi

+ Phía Đông giáp làng Hồ Nam (Vĩnh Khang)

+ Phía Nam giáp sông Mã (bên kia sông là Yên Trường – Yên Định)

+ Phía Tây cũng giáp sông Mã (bên kia sông là xã Yên Thọ - Yên Định)

Theo điều tra dân số và nhà ở ngày 1/4/2009 làng Phi Bình có 1.645 khẩu. Trong đó có tới 10 xóm. Thực hiện Quyết định của chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá, tháng 4 năm 2009 làng Phi Bình chia ra làng Phi Bình 1 và Làng Phi Bình 2

+Phi Bình 1 ông Lê Văn Trung làm trưởng thôn (làng)

+Phi Bình 2 ông Nguyễn Văn Bình làm trưởng thôn (làng)

Cả hai thôn cùng chung một chi bộ lãnh đạo, hiện đồng chí Vũ Thanh Bình là bí thư Chi bộ kiêm trưởng Thôn (làng) Phi Bình Lớn

Nguồn: Lịch sử xã Vĩnh Ninh năm 2010 và sử liệu tổng hợp từ nhiều nguồn

Thông tin bài viết đã cách nay 15 năm, độc giả nếu thấy cần bổ sung sai lệch thì cho ý kiến để chỉnh sửa phù hợp

 .....................................

TỔ CHỨC CAI TRỊ XƯA

          Về tổ chức cai trị ở cấp làng “cấp chính quyền cơ sở” dưới chế độ thực dân phong kiến trước tháng 8/1945 có các chức danh: Lý trưởng, phó Lý, Hương bạ, Hương kiểm, Hương bản, Hương mục và Hương dịch làm nhiệm vụ thay mặt chính quyền các cấp Phủ, huyện, tỉnh cai trị địa phương (gọi là hội đồng Lý Dịch)

         Lý trưởng: Chịu trách nhiệm mọi mặt “nội gia cư” “ngoại đồng điền” và giữ đồng triện; (Làng lớn có Phó lý giúp việc lưới trưởng)

+Hương mục: giữ các công việc công cộng

+Hương bản: giữ quỹ tiền nong, lúa gạo

+Hương bạ: giữ sổ sách, giấy tờ                                                    +Hương kiểm: giữ đồng điền, trật tự, trị an.

+Hương dịch: phụ trách lễ nghi cúng bái.

          Ngoài hội đồng Lý Dịch (từ Lý đến Dịch) trong làng còn có Hội đồng Kỳ mục Hội đồng kỳ mục không trực tiếp điều hành công việc trong làng nó tồn tại như một Hội đồng tư vấn nhưng trong thực tế Hội đồng kỳ mục quyết định thì Lý trưởng, Phó lý và các chức dịch phải thực hiện;

          Hội đồng Kỳ mục có nhiệm vụ góp ý kiến với chính quyền về các công việc có tính chất kinh tế, xã hội ở trong làng.

         Về kết cấu làng xã lúc bấy giờ còn có “phe”, “giáp”, như làng Thọ Vực có phe Phú, phe Thọ; làng Kỳ Ngãi có giáp Đông giáp Đoài… Phe, Giáp chủ yếu là trong quan hệ thờ cúng Thành Hoàng và công việc tế lễ trong làng. Có làng Văn, làng Võ làng Nhiêu….

         Các làng đều có Hương ước là luật trong làng do mọi người trong làng đề ra có quan viên, trùm lão, Lý trưởng ký và áp triện (Đóng dâu).

          Hương ước của các làng xưa giống như 1 tín ngưỡng nằm trong hệ thống tín ngưỡng Thành Hoàng được cả làng kính sợ và chấp hành. Hầu hết các bản Hương ước của các làng đã bị thất lạc, hiện nay chúng tôi chỉ sưu tầm được bản hướng ước của xã (làng) Phi Bình lập năm Thành Thái thứ 13 (tức là vào năm 1901), mà người thừa sao là Cửu phẩm Lý trưởng Lê Huy. Bản Hương ước bằng chữ Hán đã được dịch ra chữ Quốc ngữ. Bản Hương ước xã Phi Bình có lời nói đầu, có 6 điều; Lời nói đầu ghi rõ: “các bậc chức sắc, kỳ lão, Lý dịch cùng toàn thể trên dưới xã (làng) Phi Bình, tổng Hồ Nam, huyện Vĩnh Lộc lại họp bàn định ra các điều lệ, khoán ước; Bản xã ước trước đây cũng có định ra các điều lệ từ đó đến năm nay đã lâu đời, kim cổ khác biệt, nghi lễ có những điều không thể hòa hợp .. Nay tham cứu trong các điển tích cũ, phối hợp với nhau các tục mà đời ưa chuộng, định ra làm 6 điều để ngày nay và mai sau có cái thống nhất, hợp thành quy phạm cho nhân tâm mà lại làm đẹp cho phong tục”;

          Cụ thể các điều trong Hương ước như sau:

- Điều thứ nhất: Phép các thờ cúng. Điều này có 21 khoản;

- Điều thứ 2:  Về các biện chức. Điều này cũng 19 khoản;

- Điều thứ 3: Định về dân trí. Điều này có 1 khoản;

- Điều thứ tư: Trọng danh khí. Điều này có 10 khoản;

- Điều thứ 5: Thánh lễ tục. Điều này có 21 khoản;

- Điều thứ 6: Phòng nhân dân. Điều này có 31 khoản;

         Hương ước của xã Phi Bình ra đời cách đây trên 100 năm mà nhiều điều khoản hiện nay vẫn còn áp dụng được.

          Thí dụ điều 6 nói về phòng nhân dân (phòng ngừa những việc xấu xảy ra trong làng xã) như các khoản:

- Phàm người nào họp uống rượu đến thất lễ phạt 1 quan 1 mạch;

- Ban ngày mà ăn trộm sản vật, hoa lợi trên đồng ruộng, đồ vật trong gia đình, súc vật nuôi bị bắt được quả tang, kẻ đó bị phạt 3 quan; Ban đêm đi ăn trộm các thứ trên đồng ruộng và sản vật ở trong nhà người khác mà bắt được quả tang kẻ đó bị phạt 3 quan truất xuống 1 bản. Ban đêm khoét tường, đục vách, lấy cắp trâu, bò các vật trong vườn mà bắt được quả tang, kẻ đó bị phạt 6 quan, truất xuống 3 bản; - Người nào cho bọn trộm cắp gửi các đồ vật phạt 6 quan;

- Đánh cờ bạc chỉ trong những người lễ tiết (từ nay về sau đều cấm) có kẻ nào làm trái lại lời đoan ước, người có đất chứa chấp cờ bạc phạt 6 quan, con bạc phạt đều 3 quan, số tiền tháng bạc đem sung công, văn khế bị thua đem đốt cháy.

           Các làng ở Vĩnh Ninh xưa đều có đình là nơi làm việc của chức sắc trong làng, nơi hội họp, mở hội tế, lễ của dân làng…. Ở đình thường có hậu cung làm nơi thờ Thành Hoàng làng, Ngoài ra còn có chùa thờ phật, có các đền thờ thần các Văn chỉ thờ đức Khổng Tử….

Nguồn Lịch sử xã Vĩnh Ninh và tư liêu sử liên quan