XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG

Thứ Tư, 2 tháng 1, 2019

TRUNG QUỐC THÔNG SỬ - 03. VƯƠNG TRIỀU THƯƠNG

(Khoảng thế kỷ 16 trước CN – thế kỷ 11 trước CN)
     Thương là giai đoạn phát triển quan trọng của xã hội nô lệ ở Trung Quốc, văn hóa đồng thau huy hoàng xán lạn của nó giữ một vị trí quan trọng trong lịch sử văn minh thế giới. Nhờ sự giúp đỡ của Y Doãn, Thương Thang dấy binh diệt Hạ. Hạ Kiệt thất bại, chạy về chết ở Nam Sào, xây dựng triều Thương.
Triều Thương tổng cộng có 30 vua, 17 đời, từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 11 trước CN. Khi ở ngôi, Thái Giáp, cháu của Thương Thang vô đạo, Y Doãn đuổi đi, tự mình nhiếp chính. Ba năm sau, Thái Giáp hối hận, lại được đón về lên ngôi. Sau đó, cho đến đời thứ 9 là Thái Mậu đều là thời kỳ củng cố phát triển của triều Thương.
Bắt đầu từ đời thứ 10 là Thái Đinh, triều Thương xuất hiện sự hỗn loạn. Sau đó 5 đời 9 vua thường xảy ra tranh chấp quyền lực, phải nhiều lần dời đô, Loạn 9 đời tạo nên một vấn đề xã hội nghiêm trọng, sức mạnh giảm sút, chư hầu không triều kiến, các mâu thuẫn đan xen, nguy cơ ở khắp nơi. Bàn Canh vì thay đổi để cứu vãn nguy cơ của vương triều, dời đô từ Ấp về Ân để tiến hành cải cách khiến cho tình hình dần ổn định, chính trị, kinh tế, văn hóa bắt đầu phát triển nhanh. Sử gọi là “Bàn Canh thiên Ân”.
Từ sau đời vua thứ 24 là Tổ Giáp, mâu thuẫn xã hội gia tăng, vương triều Ân bắt đầu xuất hiện sự suy loạn. Đến đời thứ 30 là Trụ, cuộc đấu tranh giữa vương quyền  và quý tộc phát triển đến đỉnh cao. Người Chu từ phương tây thừa cơ phát triển mạnh lên, cuối cùng diệt được  Ân Thương.
Nông nghiệp triều Thương đã rất phát triển, sản phẩm nông nghiệp chủ yếu có tiểu mạch, cao lương, đại mễ. Nghề nấu rượu đã dạt tới trình độ cao. Về chế tạo, người Thương đã sớm đạt thành tựu trong chế tạo đồng thau. “Tư mẫu mậu đại phương đỉnh” là biểu hiện của trình độ phát triển của đồng thau triều Thương.
Triều Thương còn mở đầu lịch sử được ghi chép bằng văn tự của Trung Quốc. Giáp cốt văn và kim văn khai quật được là những tư liệu quý báu để chúng ta nghiên cứu văn minh triều Thương.

NIÊN BIỂU SỰ KIỆN LỚN
 Khoảng thế kỷ 16 trước CN: Thương Thang diệt Hạ, triều Thương kiến lập.

Khoảng thế kỷ 15 trước CN: Y Doãn, đại thần của triều Thương giam cầm Thái Giáp. Thái Giáp hối cải.. Y Doãn đón Thái Giáp trở lại ngôi vua.
 Thái Giáp năm thứ 10: Thái Giáp khôi phục quyền lực. Triều Thương hưng thịnh lần thứ nhất.
 Thời Ung Kỷ ở ngôi: chư hầu không về chầu, triều Thương suy lần thứ nhất.
 Thời Thái Mậu ở ngôi: Triều Thương phục hưng lần thứ hai.
 Thời Trọng Đinh ở ngôi: kinh đô từ đất Bạc dời về  
 Thời Tổ Ất ở ngôi: kinh đô từ đất Tương dời về    , triều Thương phục hưng lần thứ ba. Bốc từ ghi chép nhật thực.  Đây là ghi chép về nhật thực lần đầu tiên của loài người.
 Thời Nam Canh ở  ngôi: kinh đô từ Tý dời đến Yểm.
Khoảng thế kỷ 14 trước CN: Bàn Canh dời đô đến Ân.
Khoảng 1312 – 1285 trước CN: triều Thương lần thứ 4 hưng thịnh, là thời kỳ toàn thịnh của triều Thương.
1250 trước CN – 1192 trước CN: nghề đúc đồng thời Vũ Đinh phát triển.
1147 trước CN: Vũ Ất ở ngôi. Chu Vương Quý vào chầu, Chu mạnh lên
1113 trước CN: Vũ Ất vô đạo, đi săn ở sông Vị, bị sét đánh chết. Văn Đinh nối ngôi.
1075 trước CN: Tử Tân lên ngôi, tức vua Trụ.
Người dịch: Dương Đình Giao

TRUNG QUỐC THÔNG SỬ - 02.02. HẠ KIỆT BẠO NGƯỢC MẤT LÒNG DÂN

Hạ Kiệt là cháu đời thứ 14 của Hạ Vũ. Tổ tiên từ Hạ Vũ đã tốn bao công sức để giang sơn được ra đời, đến đây, công lao của ông bị mai một theo gió mưa.
Hạ Kiệt là một kẻ hủ bại, hắn tham lam hưởng thụ, cuộc sống xa hoa, không quan tâm đến việc triều chính, không thấu hiểu những nỗi khổ của dân chúng. Hắn chê chỗ ở cung thất sơ sài, hạ lệnh xây dựng tòa Khuynh Cung ở Lạc Dương. Khuynh Cung đất mười dặm, cao mười trượng. Trung tâm của cung thất xây dựng Dao đài bằng ngọc thạch màu trắng. Tòa Khuynh Cung xây cất bảy năm mới xong, sử dụng sức lao động của hàng nghìn vạn nô lệ, tốn phí sức người sức của vô cùng lớn, thật là hại người tốn của, làm thống khổ muôn dân.
Hạ Kiệt thích những kẻ a dua nịnh hót, không nghe được những lời khuyên nhủ. Có một đại thần là Quang Long Phùng, thấy Hạ Kiệt làm những việc xằng bậy thường khuyên can hắn. Hạ Kiệt không những không nghe còn đem giết. Từ đó, các trung thần đều hoảng sợ, không dám đến gần, còn những kẻ xấu thì vây lấy Hạ Kiệt. Chính trị dưới triều Hạ ngày càng mục nát.
Trong khi thế lực của triều Hạ ngày càng sa sút, nước Thương ở hạ du sông Hoàng  Hà mạnh dần lên. Thương vốn là một thuộc quốc của triều Hạ, theo truyền thuyết nói tổ tiên của họ là con của Đế Khốc, tên là Khiết. Khiết đã từng giúp Hạ Vũ trị thủy, lập được công. Hạ Vũ thưởng cho mang họ, phong cho đất Thương, Ở đất phong, Khiết xây dựng một quốc gia nhỏ, gọi là Thương. Trong khi Hạ Kiệt làm những điều xằng bậy là lúc cháu đời thứ 14 của Khiết là Thang nắm chính quyền ở nước Thương. Thương Thang thấy Hạ Kiệt đã chia rẽ, quyết làm theo ý dân, tích lũy lực lượng, chuản bị lật đổ triều Hạ.
Thương Thang là người nhân nghĩa, đây là nguyên nhân quan trọng để ông được lòng người. Truyền thuyết kể, có lần Thương Thang đi chơi ra ngoại thành, thấy một người bẫy chim đang giăng lưới bốn bề. Miệng người bắt chim luôn cầu nguyện: “Từ trên trời vướng vào đây, từ dưới đất bay vào đây, từ bốn phía bay tới, đều mắc vào lưới của ta”. Thương Thang nghe được, nói với người bắt chim: “Ông có thấy là mình quá tàn nhẫn không, bỏ ba mặt lưới đi, chỉ nên để một mặt thôi”. Người bắt chim nói: “Một mặt lưới thì làm sao bắt được chim?”. Thương Thang nói: “Ông giăng một mặt lưới rồi kêu lên: Chim ơi, chim muốn bay về bên trái thì bay về bên trái, muốn ở bên phải thì bay về bên phải, nếu quả là không muốn sống nữa thì hãy bay vào lưới của ta. Thế mới chứng tỏ ông là người lương thiện”.
Lời Thương Thang nói với người bắt chim nhanh chóng được truyền đi khắp nơi, mọi người cùng nói: “Thương Thang thật là người tốt, đối với con vật mà ông ấy cũng nhân từ, chúng ta phải thật tâm ủng hộ ông ấy.
Sau khi đã làm tốt việc chuẩn bị. Thương Thang phát biểu tuyên ngôn, phát động cuộc tiến công vào triều Hạ. Trong tuyên ngôn, ông nói: “Mọi người hãy cùng ta đánh bại Hạ Kiệt! Đây đâu phải là ta thích làm loạn, gọi mọi người bỏ việc nhà nông đi đánh nhau. Thực ra là do Hạ Kiệt là kẻ ngu xuẩn, thiên hạ bị hắn giày xéo không thể nói hết, trăm họ đã sớm chỉ vào xương sống lưng của hắn mà nguyền rủa, mong cho hắn chết sớm. Những việc xấu xa hắn làm thật là trời đất không thể dung tha. Nay ta phụng ý của trời cao phải tiêu diệt hắn, các người nên giúp đỡ ta. Nếu các người lập công trong chiến đấu, ta nhất định sẽ trọng thưởng, nếu không cố gắng trong chiến đấu, nhất định sẽ trừng phạt”.
Hạ Kiệt nghe nói Thương Thang đem quân đánh tới, vội vàng hạ lệnh quân đội của ba nước nhỏ là Côn Ngô, Vi và Cố đến bảo vệ triều Hạ. Thương Thang từ sớm dã dự liệu việc này. Đầu tiên, ông cho quân diệt nước Vi và nước Cố, đánh bại nước Côn Ngô, đại quân đánh thẳng tới Minh Điều, một nơi tập trung đông dân quan trọng của triều Hạ. Hạ Kiệt thân chinh mang quân tới Minh Điều nghênh chiến, nhưng lòng quân rời rã, quân sĩ không nghe theo lệnh chỉ huy của hắn, kẻ tháo chạy, kẻ đầu hàng.
Hạ Kiệt thấy tình thế đã nguy, không dám trở về kinh đô Lạc Dương, mang theo một số tàn binh bại tướng nương nhờ nước Côn Ngô. Thương Thang thừa thắng truy kích, diệt được nước Côn Ngô. Hạ Kiệt mang theo vợ con là Muội Hỷ phá vòng vây lên một chiếc thuyền nhỏ qua sông đến Nam Sào (nay là huyện Sào, tỉnh An Huy). Hai vợ chồng trong thâm cung quen ăn sung mặc sướng, bản thân không biết lao động, cuối cùng cả hai chết đói trong núi ở Nam Sào.
Thương Thang đánh đuổi được Hạ Kiệt, phá hủy thái miếu thờ cúng tổ tiên của triều Hạ, phóng hỏa đốt cháy đồ tế lễ của nhà Hạ,  tiếp tục quét sạch thế lực tàn dư.
Như vậy, triều Hạ kiến lập từ thế kỷ 21 trước CN, qua hơn bốn trăm năm đã tuyên cáo diệt vong. Khoảng đầu thế kỷ 16 trước CN, tức là khoảng 3.700 năm trước, Thương Thang chính thứ kiến lập nhà nước theo chế độ nô lệ thứ hai trong lịch sử Trung Quốc – triều Thương.

Người dịch: Dương Đình Giao

TRUNG QUỐC THÔNG SỬ - 02. VƯƠNG TRIỀU HẠ

VƯƠNG TRIỀU HẠ
(Thế kỷ 21 trước CN – thế kỷ 16 trước CN)
     Từ thế kỷ 21 trước CN đến thế kỷ 16 trước CN là thời kỳ thống trị của triều đại đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc – triều Hạ. Mở đầu vương triều Hạ biểu thị sự kết thúc cơ bản của xã hội nguyên thủy Trung Quốc, từ đây bước vào xã hội có giái cấp kéo dài nhiều nghìn năm. Sự tiếp nối của nó ghi lại một chặng đường quan trọng trong lịch sử văn minh Trung Hoa.
Thế kỷ 21 trước CN, vùng đất Hoa Hạ xảy ra một trận đại hồng thủy, Vũ đã thành công trong việc lãnh đạo mọi người trị thủy. Vì thế, Vũ được phong đất Hạ, bộ lạc của Vũ xưng là Hạ. Sauk hi trị thủy thành công, Vũ lại chinh phạt Tam Miêu, đánh đông dẹp bắc, hooijj chư hầu, phân định Cửu Châu, công lao không thể quên. Sauk hi Đại Vũ chết, con của ông xóa bỏ truyền thống thiền nhượng, tự lập làm vua, từ đó ngôi vua truyền cho con, không truyền cho người tài giỏi, thực hành chế độ thế tập, mở đầu thời kỳ người xưa gọi là “gia thiên hạ”.
Trung tâm chính trị của triều Hạ ở nay là khu vực Yên Sư, Vũ Châu, Đăng Phong, tỉnh Hà Nam, là vùng văn hóa Ngưỡng Thiều từ Cam Túc, Thiểm Tây, Hà Nam chuyển về phía đông. Con người dưới triều Hạ đã có thể luyện được đồng, dùng nó chế tọa công cụ sản xuất và dụng cụ sinh hoạt, hàng hóa trao đổi cũng phát triển, đã có phương pháp ghi ngày bằng can chi và lịch kết hợp âm dương tương đối tiến bộ, Nông nghiệp dưới triều Hạ rất phát triển, lúc dó đã có thể trồng được kê, lúa mạch, lúa nước, …
Vương triều Hạ kéo dài tổng cộng 14 đời, 17 vua, trải qua gần năm trăm năm. Đến vua thứ 17 là Kiệt, do bạo ngược vô đạo bị vương triều Thương giành ngôi.
NIÊN BIỂU SỰ KIỆN LỚN
 Khoảng thế kỷ 21 trước CN: Khải xóa bỏ chế độ thiền nhượng, thực hiện chế độ thế tập ngôi vua. Vương triều đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc ra đời – vương triều Hạ. Xã hội nguyên thủy kết thúc.
Thái Khang ở ngôi: Thái Khang kế thừa Khải làm thiên tử, triều chính hỗn loạn. Di Dực, thủ lĩnh Cùng Thị lật đổ Thái Khang, giành ngôi vua, xưng là Đế Dực.
Tương ở ngôi: sau khi Dực nắm quyền, suốt ngày mải săn bắn, bị Hàn Trạc giết. Tương chết, vợ Tướng phải chạy trốn, sinh ra Thiếu Khang.
 Thiếu Khang ở ngôi: Thiếu Khang được sự giúp đỡ của Bá diệt được Hàn Trạc, triều Hạ trung hưng.
 Trữ ở ngôi: con của Thiếu Khang là Trữ chinh phạt Đông Di, đánh đến tận biển Đông.
 Hòe ở ngôi: sau khi Trữ chết, Hòe nối ngôi. Hoàn Thổ Chính là giám ngục.
 Đế Phát 7 năm: vùng Thái Sơn ở phía đông triều Hạ có động đất lớn. Đây là ghi chép về động đất sớm nhất thế giới.
 Đế Kiệt năm đầu: sau khi Lý Quý lên ngôi, tham lam bạo ngược, vương triều Hạ dần suy sụp.
 Khoảng thế kỷ 16 trước CN, Thương Thang diệt Hạ.
Người dịch: Dương Đình Giao

Làm dâu hụt vì là người... Thanh Hóa

....Bài viết trên mạng YuMe.vn từ 2011 tình cờ nhặt lại được...lưu lại đây làm kỷ niệm cho gái xứ Thanh
Dạo này dù anh không nói gì nhưng sự im lặng của anh lại càng khiến em đau khổ. Em biết, anh đang đắn đo nhiều. Liệu anh có đủ dũng cảm để vượt qua dư luận, vượt qua bạn bè và nhất là bố mẹ anh để đón nhận em? Em nào có tội tình gì, chả lẽ, em không thể có quyền được yêu anh hay sao?
Hôm nay lướt nét đọc được bài viết thế này, thấy mình đã từng trải qua những tâm trạng này, và cũng gặp không ít những trường hợp tương tự, thấy sao cuộc đời nhiều cái trái ngược, nhiều người thiển cận... Phải chăng ta nên nhìn nhận thẳng vào vấn đề này và đưa ra những kết luận phù hợp và chính đáng, để cho nhiều nhiều người trong đó có cả mình kô bị tổn thương...
"Trước tiên, khi viết bài viết này, cho em gửi lời xin lỗi tới tất cả những ai là người Thanh Hóa. Em không có ý miệt thị, không có ý coi thường gì họ cả, bởi chính em cũng là người Thanh Hóa chính gốc, bố mẹ em đều là người ở đây. Em không buồn vì mình sinh ra ở Thanh Hóa thậm chí còn cảm thấy tự hào vì đã được sinh ra và lớn lên ở nơi đây, được bố mẹ yêu thương. Nhưng có một điều khiến em thấy tủi thân, đau khổ bởi người ta luôn miệt thị em, thậm chí có cái nhìn khác về em.


Có lẽ, trong số ít anh chị có thể đã là người từng nghĩ khác về người Thanh Hóa hoặc chí ít cũng có những người sinh ra ở nơi đây, bị người khác quay mặt đi sau câu hỏi: “quê em ở đâu?”. Bởi câu trả lời họ nhận được là “em người Thanh Hóa”.


Nhưng sau một thời gian yêu nhau, anh dẫn em về nhà ra mắt bố mẹ thì bị bố mẹ anh phản đối. (ảnh minh họa)
Thật lòng, khi đọc được chuyên mục Eva Tám, em có ý muốn chia sẻ những tâm sự của mình lên đây để anh chị hiểu và thông cảm cho em. Sinh ra ở một vùng đất nào đó đâu có tội gì? Nơi nào cũng có người này người nọ. Các anh chị có đảm bảo rằng, nơi mọi người sinh ra không có những người cực kì xấu xung quanh những người tốt và rất tốt hay không?
Em không quan tâm nhiều đến điều đó chỉ khi, người yêu em đã rời xa em, em mới thật sự thấy đây là một nỗi đau không thể hàn gắn. Anh biết em là người Thanh Hóa nhưng anh không hề quan tâm bởi với anh có lẽ ngày đó, điều này không quan trọng. Nhưng sau một thời gian yêu nhau, anh dẫn em về nhà ra mắt bố mẹ thì bị bố mẹ anh phản đối. Mẹ chê em là người Thanh Hóa nên không cho anh yêu em nữa. Trước giờ anh không quan tâm đến điều đó nhưng lần này, anh vì nghe bố mẹ nói nên cũng lọt tai. Nguyên nhân cũng vì, trước anh có ông anh họ lấy vợ người cùng quê em, người đó ghê gớm đánh cả mẹ chồng nên bây giờ gia đình anh ác cảm. Và từ đó, định kiến càng ngày càng lớn.
Liệu anh có đủ dũng cảm để vượt qua dư luận, vượt qua bạn bè và nhất là bố mẹ anh để đón nhận em? (ảnh minh họa)
Sau này, khi anh đưa em đi chơi cùng bạn bè, bạn anh cũng không thích em cho lắm chỉ vì em gắn cái mác dân vùng quê đó. Em thấy tủi thân vô cùng. Ngay người em yêu thương cũng nghĩ như vậy, cũng coi thường em thì liệu em có thể sống hạnh phúc bên anh được không?


Dạo này dù anh không nói gì nhưng sự im lặng của anh lại càng khiến em đau khổ. Em biết, anh đang đắn đo nhiều. Liệu anh có đủ dũng cảm để vượt qua dư luận, vượt qua bạn bè và nhất là bố mẹ anh để đón nhận em? Em nào có tội tình gì, chả lẽ, em không thể có quyền được yêu anh hay sao? Hay là em phải tự ra đi để anh yên lòng? Mong mọi người đừng bao giờ kì thị người khác, đừng bao giờ có ý nghĩ vùng miền như vậy. Thật sự, điều đó làm ảnh hưởng rất nhiều tới cuộc sống của những người như chúng em?
Thanhthanh...@...
Bình luận: Luu Van Chuong  Nguyễn Trãi đã viết về đất Thanh Hóa trong Dư địa chí: "Thanh Hoa là đất cuối sông đầu núi, thời loạn ở thì hợp, thời trị ở không hợp". Đã bao lần thời phong kiến, các nhà vua khi lâm nguy đất Kinh kỳ đều phải thiên đô, lấy Thanh Hoá làm điểm tựa phản công lại kẻ thù để giành lại đất nước. Còn thời bình thì như thế nào Nguyễn Trãi nói không cụ thể mà chỉ nói ở không hợp mà thôi. Không hợp ở đây theo tôi nghĩ chắc là do nhân tố con người. Khi nghiên cứu cho thấy mỗi miền đất, với cấu tạo long mạch, khí hậu, địa hình mà làm cho con người ta có bản tính riêng biệt. Thông thường nơi miền sơn cước tính khí con người hung hăng, táo tợn. Nơi đây, thường sinh ra các võ tướng thời loạn (ví dụ như đất Yên Thế, Lam Sơn...). Vùng đồng bằng yên ả tính tình con người hiền dịu, thường sinh ra các bậc đại học sỹ, nhà nghệ nhân, quan văn trong triều... Vùng đất dữ dằn, khắc nghiệt của khí hậu thường làm cho con người táo tợn, lỗ mãng, liều lĩnh, sống theo kiểu được làm vua, thua làm giặc...có lẽ vì vậy nên Thanh hoá mới có ba triều vua và hai triều Chúa chưa kể triều Hồ. Rồi có người nói Thanh Hoá là đất 5 Trung tôi không nhớ rõ nhưng hình như là (Đất đồi trung du, thành phần Trung nông, tư tưởng Trung bình, lý luận chung chung), rồi "Xứ Thanh Cậy Thế-Xứ Nghệ Cậy thần" Rồi Thanh hoá là mảnh đất đặc biệt suốt chiều dài lịch sử của dân tộc không thể chia tách hoặc sát nhập với tỉnh khác. Rồi trong phim ảnh, truyện Kiếm hiệp, diễn đàn khác về lối sống người ta thường có câu "Bất hạnh nhất của một con người là sinh ra trong gia đình vua chúa" Trong gia đình vua chúa không có tình người bình thường mà chỉ có tình Quân-Thần (Trang giành, chà đạp, chém giết, đố kỵ, ghen ghét,..."Mặt khác có thể suy luận trong thời kỳ làm vua, làm chúa kéo dài gần 1000 năm trong lịch sử VN người thanh Hoá chắc cũng gây không ít thù oán với trăm họ ở các tỉnh khác (Cứ một lần thay đổi triều đại thì sẽ có hàng chục dòng họ bị tu di tam tộc, cửu tộc, hàng cục dòng họ bị đổi họ để tránh nạn) Có lẽ vì những phân tích lịch sử nêu trên mà người các tỉnh khác nghĩ về Thanh Hoá không được "đẹp" và pha chút hằn học chăng? Tại sao hằn học kéo dài như vậy, chỉ có thể là do lịch sử để lại mà thôi. Còn người Thanh Hoá ngày nay kể từ kháng chiến chống Pháp cho đến nay tôi thấy cũng bình thường, thậm chí trong chiến tranh còn được Bác và Đảng ca ngợi là "Thanh Hoá Anh hùng". Tại sao các tỉnh khác cũng có bề dày lịch sử cũng có văn hoá riêng nhưng lại được các tỉnh bạn bỏ qua cho nhau và tha thứ hết còn đối với Thanh Hoá thì không? Phải chăng Thanh Hoá là đất địa linh nhân kiệt, nhân tài phát tích nhiều, long mạch chưa bị Cao biền Người Trung Hoa "trấn yểm" nên người tỉnh ngoài đố kỵ chăng? thói thường ở đời thua nhau hiện tại người ta hay bới móc quá khứ mà. Dân thanh hoá thật là khổ, đã chịu đố kỵ trọng gia đình dòng tộc rồi còn phải chịu thêm sự ghen ghét đố kỵ từ bên ngoài. Hơn nữa Trong văn đàn VN hạng như Chí Phèo, Thị Nở nhà văn không thể chọn được địa điểm nào ở đất Thanh để Viết mà chỉ có thể viết được ở những địa phương như Nam định, Thái Bình, Hải Dương mà thôi. Trong lịch sử Gái thanh hoá đều làm hoàng hậu trong 2 triều Chúa (Trịnh, Nguyễn) và 1 triều Vua Nguyễn (trừ triều đại cuối cùng của vua Bảo Đại) nên có tính khí bề trên khi tiết xúc với người ngoài nên hay bị họ ghen ghét chăng? Mong các bạn hãy tin tưởng và tự hào mình là Gái xứ Thanh.

Messeƞger Ƭhôngßáo Bài viết cách đây đã 6 năm rồi, có lẽ cô bé - nhân vật của câu chuyện này cũng đã tìm thấy hạnh phúc riêng cho mình. Tuy vậy tôi vẫn rất bức xúc: tại sao người các tỉnh khác (nhất là các tỉnh phía Bắc) luôn kì thị người Thanh Hoá quê mình... Tôi thấy bài phân tích của anh Luu Van Chuong rất sâu sắc và cũng đã nêu ra được những nguyên nhân sâu xa về cội nguồn của sự " bị ghét"...có thê nó vẫn còn lưu truyền mãi đến tận mai sau, 
để cho một số cô gái quê mình phải gánh chịu sự kì thị đó....
Các bạn gái xứ Thanh ơi, đừng buồn vì điều đó... Ngày xưa tôi cũng gặp cảnh tương tự như vậy, nên tôi rất hiểu và thương cảm cô bé trong bài báo trên. Nếu không phải là gái Thanh Hoá thì tôi cũng đã làm dâu Hà Tây từ những năm đầu của thập niên 80... Gia đình bạn trai tôi cũng đã cực lực phản đối khi nghe anh ấy thông báo (chỉ khác là tôi chưa về ra mắt nhà họ). Biết tin tôi cũng buồn lắm, nhưng thời con gái tôi rất mạnh mẽ và luôn tự tin vào bản thân mình. Tôi đã chủ động chia tay trong buồn tủi, rồi lập gia đình với người cùng quê sau đó 2 năm. Mặc dù vẫn còn chút vương vấn nhưng đó là một quyết định đúng đắn cho tương lai của mình.... Giờ tôi đã lên chức bà nội rồi và chỉ muốn khuyên các bạn gái đừng buồn khi lâm vào cảnh như vậy. Hãy rèn luyện, học hành, tạo cho mình một việc làm ổn định để không ai có thể coi thường bạn, nhất là phải luôn tự hào mình là gái xứ Thanh nghe các bạn.
Chúc các bạn hãy tự tin để vượt qua moj khó khăn, để vươn lên trong cuộc sống.

Thứ Ba, 1 tháng 1, 2019

TRUNG QUỐC THÔNG SỬ - 02.01. CHA CHẾT, CON NỐI “GIA THIÊN HẠ”

 Sau khi Ngu Thuấn chết, Hạ Vũ chính thức trở thành lãnh tụ của liên minh bộ lạc, đây chính là sự mở đầu của triều Hạ. Triều Hạ là triều đại đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, Hạ Vũ là ông vua đầu tiên của triều Hạ. Cương vực của triều Hạ đã vượt qua lưu vực sông Hoàng Hà, về phía nam đến lưu vực sông Trường Giang, phía đông đến vùng Giang Triết.
Về cuối đời, Hạ Vũ đã theo lệ cũ, chỉ định người kế thừa. Lúc đầu, người được chỉ định là Cao Đào, nhưng dự đoán Cao Đào sẽ chết sớm, mọi người lại cứ con của Cao Đào là Bá Ích. Mười năm sau, Hạ Vũ đi tuần đến Hội Kê rồi chết ở đó. Lẽ ra Bá Ích sẽ kế thừa ngôi vua, nhưng con của Hạ Vũ là Hạ Khải không đồng ý. Hạ Khải nói rằng thiên hạ là do Hạ Vũ đã trải qua bao gian khổ mới có được, đã trở thành di sản của nhà họ, cha chết, di sản đó đương nhiên truyền cho con, cho nên ngôi vua tất phải do Khải kế thừa. Hạ Khải dùng vũ lực bắt Bá Ích đưa đến Cơ Sơn ở phương nam, công khai tuyên bố mình là ông vua thứ hai của triều Hạ.
Khi Hạ Khải mới lên ngôi, nhiều bộ lạc không tán thành. Có một bộ lạc thủ lĩnh là Hữu Hộ Thị chỉ trích Hạ Khải: “Tiên vương đã chỉ định Bá Ích kế thừa ngôi vị, nhà ngươi phải nhường ngôi ngay cho ông ta!”. Hạ Khải nổi giận: “Ta nhất định phải cho Hữu Hộ Thị biết mặt, không thế, sau này tất còn nhiều người chống lại!”. Không lâu sau, một cuộc đấu sức giữa hai bên nổ ra ở Can Trạch. Trận này máu chảy đầy đất, trời đất u tối. Lúc bấy giờ, Hữu Hộ Thị là một bậc thầy có tiếng, quân của ông ta càng đánh càng hăng, quân của Hạ Khải bị đánh cho tơi tả, dường như suy sụp đến nơi.
Thần tử của Hạ Khải kiến nghị bổ sung quân số, chỉnh đốn lực lượng, chuẩn bị chiến đấu lần thứ hai. Nhưng Hạ Khải nghe rồi lắc đầu. Ông ta hiểu rằng không ít người không tán thành biện pháp con nối ngôi cha nên không ủng hộ ông ta, đánh trận nữa chưa chắc đã thắng lợi, đầu tiên cần phải thu phục nhân tâm.
Vì thế Hạ Khải yêu cầu nghiêm khắc với bản thân, phải trở thành một ông vua hiền minh. Ông ta sống tiết kiệm, chống lại việc phô trương lãng phí, chỉ ăn uống những thứ rau cỏ thông thường, ngủ chỉ dùng đệm cũ thô ráp; trừ việc tế thần và cúng giỗ tổ tiên, ông ta không diễn tấu âm nhạc. Ông còn yêu mến trẻ con, kính trọng người già, tin dùng người hiền. Ai có bản lĩnh đều  được mời đến để trọng dụng, ai hiểu rõ võ nghệ được mời đến để chỉ huy binh lính. Hạ Khải thu phục được  lòng người, lòng chân thành mang lại hiệu quả. Mới qua một năm, tiếng tăm của ông ta càng được đề cao. Mọi người thường nói: Hạ Khải thật không hổ thẹn là đứa con ngoan của Hạ Vũ, thiên hạ sao không giao cho người như thế cai trị?” Cứ thế, một truyền mười, mười truyền trăm, mọi người gần xa đều biết Hạ Khải là ông vua hiền.
Hạ Khải thấy lòng người đã hướng về mình, một lần nữa, phát động chiến tranh chống lại Hữu Hộ Thị. Hạ Khải vừa hạ lệnh, quân Hạ như từng đợt sóng tiến vào nơi có quân của Hữu Hạ Thị. Quân của Hữu Hạ Thị từ sau chiến thắng nảy sinh coi thường Hạ Khải, khi đột nhiên có động mới vội vàng mang quân ứng chiến. Quân hai bên gặp nhau ở chiến trường, lập tức bày trận thế, giao chiến. Hạ Khải triệu tập lục quân, ban bố lệnh động viên trước trận tiền. Căn giận sục sôi, Hạ Khải nói: “Hỡi tướng sĩ lục quân, ta ban bố mệnh lệnh với các ngươi. Hữu Hộ Thị bạo ngược vô đạo, trời cao đã cắt đứt vận của hắn, nay ta phụng mệnh trời, đến đây trừng phạt. Các tướng sĩ nghe theo mệnh lệnh này, anh dũng tiến công. Hễ ai dũng cảm chiến đấu, có thưởng, ai bỏ chạy khi lâm trận, xử chết! Các tướng sĩ, tiến lên!”
Hạ Khải vừa dứt lời, tướng sĩ đã gào thét vang lừng, chấn động cả trời đất. Quân của Hữu Hộ Thị mới nghe đã hoảng loạn. Quân Hạ như nước triều xông tới, quân Hữu Hộ Thị tan vỡ, bản thân hắn cũng bị bắt làm tù binh. Trừ được Hữu Hộ Thị, Hạ Khải cũng không khỏi lo lắng. Hạ Khải tuyên bố: “Quân của Hữu Hộ Thị đưa đến thảo nguyên làm nô lệ chăn thả trâu dê; tù binh bắt được chia cho quân quan của triều Hạ làm nô lệ”. Đây thật là giết một dọa trăm.
Từ đó không ít các thủ lĩnh bộ lạc tin phục, không ai còn dám nói tới chữ “chống”.
Hạ Khải cuối cùng đã ổn định được giang sơn, cha truyền cho con, anh truyền cho em, chế độ gia thiên hạ đã hình thành. Điều này thể hiện chế độ công xã thị tộc thời kỳ cuối của xã hội nguyên thủy ở Trung Quốc đã bị phá hoại triệt để, chế độ tư hữu tài sản chính thức được xác lập, giai cấp bắt đầu xuất hiện, xã hội nô lệ hình thành, hình hài của quốc gia đã manh nha.
Người dịch: Dương Đình Giao

TRUNG QUỐC THÔNG SỬ - 01.03. NGHIÊU THUẤN THIỀN NHƯỢNG

Nghiêu họ Y Kỳ, tên là Phóng Huân, hiệu Đào Đường Thị, gọi tắt là Đường Nghiêu. Sách cổ nói Đường Nghiêu rất giỏi việc cai trị thiên hạ, ông hạ lệnh cho Hy và Hòa giữ việc cai quản trời đất, cử Hy Trọng, Hy Thúc, Hòa Trọng, Hòa Thúc cai quản bốn phương đông tây nam bắc. Ông còn chế định lịch pháp, quy định một năm có 366 ngày, chia làm bốn mùa xuân, hạ, thu, đông; khiến các nghề nông nghiệp, chăn nuôi, đánh cá, săn bắn đều căn cứ vào mùa mà sản xuất.
Truyền thuyết nói Nghiêu từ năm 16 tuổi đã cai trị thiên hạ, ở ngôi 70 năm. Đến năm 86 tuổi, ông thấy mình đã tuổi già sức yếu, muốn tìm một người để thay mình. Ông thông báo việc này đi các nơi, kêu gọi mọi người tiến cử người hiền tài.
Không lâu sau, mọi người tiến cử Ngu Thuấn, nói đây là người có phẩm chất tốt, lại có tài năng, có thể kế thừa được Nghiêu.
Ngu Thuấn họ Diêu, tên Trùng Hoa, là người Ích Châu. Cha của ông là người cực kỳ hồ đồ, mọi người gọi là “ông già mù”. Mẹ của ông mất sớm, mẹ kế rất tồi. Em do mẹ kế sinh ra gọi là Tượng, ngạo mạn không thể nói hết, người cha lại rất nuông chiều. Sống trong gia đình như thế, Thuấn đối xử với cha mẹ và em rất tốt. Cho nên mọi người cho rằng Thuấn là người vừa có đức, vừa có tài. Nghiêu nghe nói rất vui mừng, quyết định trước hết cần kiểm tra lại. Ông đem hai người con gái mình là Nga Hoàng và Nữ Anh gả cho Thuấn, làm cho Thuấn vựa thóc, cho Thuấn rất nhiều trâu, dê. Mẹ kế và em thấy thế vừa thích thú vừa ghen ghét, cùng với người cha mấy lần bầy kế hãm hại Thuấn.
Có lần, người cha bảo Thuấn lên sửa chữa nóc của kho thóc. Khi Thuấn dùng thang trèo lên nóc, người cha đã đốt lửa ở dưới, muốn thiêu chết Thuấn. Thuấn ở trên mái, thấy lửa cháy, tìm thang để xuống, nhưng không thấy thang đâu. Rất may Thuấn có mang theo hai cái nón để che nắng, ông hai tay cầm hai cái nón, giống như chim hạ cánh xuống. Cái nón được gió đỡ nhẹ nhàng, Thuấn từ từ rơi xuống đất, không bị xây xát gì.
Người cha và Tượng vẫn không cam chịu. Họ lại bảo Thuấn đi đào giếng. Khi Thuấn đang đào giếng, người cha và Tượng ở trên ném đất đá xuống, định lấp giếng chôn luôn Thuấn. Không ngờ Thuấn ở dưới giếng đã đào một cái hầm chui vào, lại an toàn trở về nhà.
Tượng không biết là Thuấn đã thoát khỏi nguy hiểm, về đến nhà, nói với cha: “Lần này thì hắn chết rồi. Kế hay này là do con nghĩ ra. Bây giờ chúng ta có thể chia tài sản của hắn”. Nói xong, hắn tới nơi ở của Thuấn, đâu ngờ, khi bước vào nhà, hắn thấy Thuấn đang chơi đàn. Tượng hoảng sợ, vội nói: “Trời ơi, anh, em đang nghĩ đến anh, làm sao anh ở dưới giếng suốt nửa ngày mà không lên, em cứ nghĩ là anh đã chết rồi!”
Thuấn cũng coi như không có chuyện gì, nói: “Em thật là người tốt, chuyện của anh thì dài lắm, đang mong em giúp anh giải quyết”.
Sau đó Thuấn quên đi việc của Tượng trong quá khứ, giữ hòa khí với cha, mẹ kế và em. Người cha và em từ đấy cũng không dám hãm hại Thuấn nữa.
Nghiêu nghe mọi người kể lại mọi chuyện của Thuấn, lại qua kiểm tra, cho rằng Thuấn đúng là người có tài có đức vẹn toàn, nhường địa vị thủ lĩnh cho Thuấn. Việc nhường ngôi này lịch sử gọ là “thiền nhượng”. Thực ra, trong thời kỳ công xã thị tộc, thủ lĩnh bộ lạc khi đã già dùng cách tuyển cử để lựa chọn thủ lĩnh, việc này không phải là hiếm thấy.
Sau khi nối ngôi, Thuấn cũng là người chuyên cần, cùng trăm họ lao động, được sự tín nhiệm của mọi người. Được mấy năm, Nghiêu chết, Thuấn còn muốn đem địa vị thủ lĩnh của liên minh bộ lạc nhường cho con của Nghiêu là Đan Chu nhưng không được mọi người tán thành. Khi đó, Thuấn mới chính thức lên ngôi thủ lĩnh. 
Người dịch: Dương Đình Giao

TRUNG QUỐC THÔNG SỬ - 01.02. HOÀNG ĐẾ ĐÁNH XUY VƯU Ở BẢN TUYỀN

Khoảng 5.000 năm trước, ở vùng lưu vực sông Hoàng Hà Trung Quốc có rất nhiều dân tộc sinh sống. Bộ lạc do Hiên Viên Thị Hoàng Đế đứng đầu ở vùng bắc tỉnh Thiểm Tây ngày nay, sau chuyển đến phía nam Lạc Thủy, phía đông của Hoàng Hà, định cư ở gần Trác Lộc, Hà Bắc, từ cuộc sống du mục chuyển sang trồng trọt.
Theo truyền thuyết, Hiên Viên Thị xuất thân từ thần Sấm sét. Mẹ ông trước khi sinh ra ông thấy ngôi sao Bắc Đẩu có ánh hào quang liền rung động rồi mang thai. Mang thai suốt hai năm mới sinh một đứa trẻ. Vì sinh ở đất Hiên Viên nên gọi là Hiên Viên Thị (Hiên Viên vốn có nghĩa là cái càng của xe ngựa).
Tương truyền, Hiên Viên Thị có bốn mặt, từ nhỏ đã biết đủ điều, rất thông minh. Sau khi làm thủ lĩnh bộ lạc, ông cho xây dựng cung điện ở gần Trác Lộc, sáng lập đế nghiệp, xưng là Hoàng Đế, ý muốn nói “Thần đế của vùng đất hoàng thổ”. Một bộ lạc khác cùng  với bộ lạc của Hoàng Đế có thủ lĩnh là Viêm Đế, ban đầu cũng ở vùng tây bắc Trung Quốc, theo truyền thuyết có quan hệ thân thuộc với bộ lạc của Hoàng Đế. Sau khi Viêm Đế chỉ huy bộ lạc của mình phát triển về phía đông, gặp một kẻ thù hung ác gọi là Xuy Vưu, thủ lĩnh của bộ tộc Cửu Lê ở phương nam vô cùng hung hãn. Truyền thuyết nói Xuy Vưu có 81 anh em, toàn là đầu đồng trán sắt, hung ác không ai bằng. Hắn rèn dao đúc kiếm trang bị cho người trong bộ lạc, quấy nhiễu khắp nơi, các bộ lạc xung quanh không ngừng kêu khổ. Bộ lạc của Viêm Đế thường bị bộ lạc của Xuy Vưu quấy nhiễu, Viêm Đế mang quân chống lại, nhưng không phải là đối thủ của Xuy Vưu, bị Xuy Vưu đánh bại, phải bỏ chạy. Sau khi bị đánh bại, Viêm Đế đưa bộ lạc của mình chạy đến Trác Lộc nhờ Hoàng Đế giúp đỡ. Hoàng Đế từ lâu đã muốn diệt trừ Xuy Vưu, đây là kẻ địch rất hùng mạnh nên đã liên kết cùng bộ lạc của Viêm Đế rồi mở trận đánh nhau với Xuy Vưu ở Bản Tuyền, một nơi gần Trác Lộc. Hoàng Đế chỉ huy lũ hổ báo gấu hùm do mình nuôi dưỡng (bốn loại dã thú hung dữ) và được quỷ thần bốn phương giúp đỡ. Xuy Vưu cùng 81 anh em đầu đòng trán sắt và “miên dân” chống cự.
Khi cuộc chiến bắt đầu, Hoàng Đế chưa phải là đối thủ của Xuy Vưu bị đánh cho đại bại. Xuy Vưu không biết dùng phép thuật gì khiến sương giăng mờ mịt làm cho quân của Hoàng Đế tối tăm mặt mũi. Sự chỉ huy của Hoàng Đế trở nên hỗn loạn, bộ hạ của Hoàng Đế quay đầu chuyển hướng. Chỉ toàn thấy những kẻ đầu đồng trán sắt, những quái vật với đôi sừng dài trên đầu xung trận. Đội quân của Xuy Vưu ra sức hoành hành khiến Hoàng Đế bị vỡ trận.
Thấy Hoàng Đế thảm bại, một mưu thần của ông tên là Phong Hậu từ vùng biển đến. Phong Hậu là người có khả năng nổi gió tuôn mây. Tới nơi, Phong Hậu múa hai tay, gió nổi cờ bay, lập tức đất bằng bỗng nổi trận cuồng phong khiến cát bay đá chạy. Giữa lúc ấy, sương mù bao phủ trời đất. Hoàng Đế ngẩng lên nhìn trời, thấy bầu trời sao rối loạn, thấy sao Bắc Đẩu chỉ hướng phương bắc nhưng không thể thấy các hướng nam, đông tây ở đâu. Hoàng Đế dùng Khải Thị, phát minh ra xe chỉ nam chỉ huy quân của mình từ hướng nam phá vỡ vòng vây. Xuy Vưu thấy kế không thành liền lập mưu khác. Hắn cho quân lính gào khóc. Bốn bề đen kịt bỗng vang tiếng ma kêu quỷ khóc, đất trời hỗn loạn, thần bí khôn lường. Quân của Hoàng Đế không kìm được dao động, bỗng hoảng loạn, chỉ nghe thấy tiếng chỉ huy, nếu không đã vỡ trận. Hoàng Đế lập tức hạ lệnh dùng sừng trâu, dê thổi hiệu. Âm thanh trầm bổng vang xa khắp nơi. Thật kỳ lạ, nghe hiệu sừng trâu, dê, quân Xuy Vưu hoảng sợ. Hoàng Đế bắt đầu tiến công. Ông hạ lệnh cho quân sĩ thúc trống sấm, quân  do Ứng Long chỉ huy xông vào giết bọn mình đồng trán sắt. Hoàng Đế xuất thân từ Thần sấm, đây là món võ đặc biệt của ông. Trống sấm nổi lên, thanh âm vang động cả sông núi, trời đất như biến sắc.
Xuy Vưu đến từ phương nam, không sợ mưa gió. Hắn đã mời được Phong Bá vũ sư, chuẩn bị lửa để chống lại Hoàng Đế. Phong Bá Vũ Sư cùng Ứng Long giao đấu trên không trung. Chỉ thấy chớp nổi sấm vang. Phong Bá Vũ Sư càng nổi cho mưa gió thêm cuồng bạo, tấn công quân của Hoàng Đế. Quân của Hoàng Đế như cánh hoa rơi trên dòng nước xiết. Những cơn mưa như trút mãi không ngớt. Hoàng Đế nổi giận, mời Sửu Nữ Bá giúp sức. Đầu của Sửu Nữ Bá trọc lốc, không có một sợi tóc, thật chẳng giống ai. Bà có bản lĩnh như thần. Bà tới đâu, nơi đó nóng vô cùng, nước đổ vào bao nhiêu cũng khô đi bấy nhiêu. Quả nhên, bà mới vào trận, mưa to gió lớn lập tức tạnh hẳn. Bà xông vào giữa đám quân lính của Xuy Vưu như đi vào chốn không người. Đại quân của Xuy Vưu bị nắng gắt làm cho kiệt sức, quên hết tất cả. Rất nhanh chóng, Xuy Vưu đại bại ở Bản Tuyền, chạy về hướng tây nam. Chạy đến Ký Châu, phía nam tỉnh Sơn Tây ngày nay, Xuy Vưu bị Hoàng Đế bắt được. Hoàng Đế hạ lệnh đem Xuy Vưu giết. Xuy Vưu bị chặt đầu, phân thây, về sau, nơi ấy gọi là Giải Châu. Đến nay vùng Giải Châu ở Tế Nam còn có hồ Hàm Thủy, chu vi 120 dặm, gọi là Diêm Trì. Diêm Trì sản xuất nước muối cặn, tương truyền do máu của Xuy Vưu biến thành. Ngoài ra, vào đời Hán, ở Ký Châu, người ta đã đào được tượng bằng đồng giống như cái đầu rắn chắc, còn có hai cái nanh dài, cứng đập không vỡ, tương truyền đó là xương và răng của Xuy Vưu.
Loại  bỏ những yếu tố thần thoại và truyền thuyết, ít nhất câu chuyện này cũng chứng minh trong lịch sử, liên minh bộ lạc ở lưu vực sông Trường Giang và liên minh bộ lạc ở lưu vực sông Hoàng Hà đã phát sinh những xung đột nam bắc, chứng minh sức sản xuất phát triển đã dần phá vỡ xã hội thị tộc và giới hạn đất đai, lịch sử bắt đầu bước vào thời kỳ đại hòa hợp dân tộc.
Thắng lợi trong cuộc đại chiến ở Bản Tuyền đã xác lập vai trò thống trị của Hiên Viên Hoàng Đế ở Trung Nguyên. Hoàng Đế đã trở thành ông vua và tổ tiên của dân tộc Trung Hoa theo quan niệm tín ngưỡng chung.
 Xuy Vưu
Hoàng đế
Người dịch: Dương Đình Giao