XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG

Thứ Ba, 22 tháng 5, 2018

BẢN ĐỒ VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ

Hồng Bàng:

Khoảng thế kỷ thứ III trước công nguyên một số sử liệu và huyền thoại cho rằng vào đầu thời Hồng Bàng, bộ tộc người Việt có lãnh thổ rộng lớn từ phía nam sông Dương Tử (Trung Quốc) đến tận vùng Thanh Hóa. Thực chất các bộ tộc Việt phía Nam sông Trường Giang không có cùng sắc tộc, chủng tộc và ngôn ngữ. Cái tên Bách Việt là chỉ chung cho các bộ tộc các nhà nước phía Nam của Trung Nguyên

Nước Văn Lang


ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky1
Nước Văn Lang thuộc bộ tộc Lạc Việt đã hình thành trên vùng bình nguyên bao gồm đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Mã và đồng bằng Sông Lam.

Nước Âu Lạc


ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky2
Sau khi chiếm được Văn Lang, Thục Phán đã sát nhập Văn Lang vào đất của mình, nước Âu Lạc có lãnh thổ từ phía nam sông Tả Giang (Quảng Tây,Trung Quốc) kéo xuống tận dãy Hoành Sơn thuộc Hà Tĩnh ngày nay

Thời Bắc Thuộc

Nếu coi nhà Triệu (từ 207  đến năm 111 trước công nguyên) là một phần của hệ thống phân chia lịch sử thời kỳ Bắc thuộc lần 1 thì lãnh thổ nước Việt Nam thuộc nước Nam Việt của 5 đời vua nhà Triệu.

ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky3
Nam Việt xâm lược và đô hộ 179 – 111 TCN

Năm 111 trước công nguyên, nhà Triệu để mất nước về tay nhà Hán. Sau đó lãnh thổ nước Nam Việt cũ bị chia thành 6 quận, đồng thời xác lập thêm phần đất ở 3 quận mới là Nhật Nam, Chu Nhai, Đạm Nhĩ
Lãnh thổ của dân tộc Việt Nam thời kỳ này, trong sự cai quản của chính quyền trung ương các triều đại Trung Hoa, tiến về phía nam đến vùng Hà Tĩnh hiện nay, thỉnh thoảng các quan cai trị Giao Chỉ (hoặc Giao Châu) tiến xuống phía nam đánh Chiêm Thành và đưa thêm vùng đất từ đèo Ngang đến đèo Hải Vân vào cai trị nhưng không giữ được lâu vì sau đó Chiêm Thành thường lấy lại được.

ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky4
Nhà Hán xâm lược và đô hộ 111 TCN – 34 SCN
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky5
Lãnh thổ Giao Chỉ 40 TCN – 33 SCN

Nước Vạn Xuân

Vạn Xuân là quốc hiệu của Việt Nam trong một thời kỳ độc lập ngắn ngủi thoát khỏi chính quyền trung ương Trung Hoa, dưới thời nhà Tiền Lý và Triệu Việt Vương. Tháng 2 năm 544, sau khi đánh bại quân nhà Lương (Trung Quốc), Lý Bí xưng là Hoàng đế và đặt tên nước là Vạn Xuân. Quốc hiệu này tồn tại từ năm 544 đến năm 602, khi nhà Tùy đánh bại Lý Phật Tử và đô hộ Việt Nam một lần nữa.

ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky6
Nước Vạn Xuân 554 – 602

Lãnh thổ Việt Nam Thời phong kiến tự chủ

Sau khi Khúc Thừa Dụ tự xưng là Tiết độ sứ của Tĩnh Hải quân năm 905, Việt Nam bắt đầu thời kỳ độc lập tự chủ. lãnh thổ Tĩnh Hải quân gồm 12 châu

Tĩnh Hải Quân


ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky7
Tĩnh Hải Quân 905
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky8
Tĩnh Hải Quân 930
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky9
Tĩnh Hải Quân 931
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky10
Tĩnh Hải Quân 937

Việt Nam chính thức vào kỷ nguyên độc lập từ khi Ngô Quyền đánh bại nhà Nam Hán vào năm 938. Tuy nhiên lãnh thổ bị co lại chỉ còn 8 châu: Giao, Lục, Phúc Lộc, Phong, Trường, Ái, Hoan, Diễn. 4 châu bị nhà Nam Hán chiếm là Thang, Chi, Vũ Nga và Vũ An.

ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky11
Tĩnh Hải Quân 938
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky12
Tĩnh Hải Quân 944
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky13
Tĩnh Hải Quân 966 – 967
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky14
Tĩnh Hải Quân 967

Đại Cồ Việt

Năm 968, Đinh Tiên Hoàng đặt quốc hiệu trở lại sau hơn 400 năm, là Đại Cồ Việt

ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky15
Đại Cồ Việt 968
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky16
Đại Cồ Việt 980
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky17
Đại Cồ Việt 1010

Năm 1014, tướng nước Đại Lý là Đoàn Kính Chí đem quân vào chiếm đóng châu Vị Long và châu Đô Kim (nay thuộc Tuyên Quang), vua Lý Thái Tổ sai con là Dực Thánh Vương đi đánh dẹp, quân Đại Lý đại bại, nhân cơ hội đó nhà Lý sáp nhập luôn khu vực ngày nay là Hà Giang vào Đại Việt.

ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky18
Lanh thổ Việt Nam thời Đại Cồ Việt 1014
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky19
Lãnh Thổ Đại Cồ Việt 1048

Đại Việt

Sau đó Lý Thái Tổ đổi tên nước là Đại Việt năm 1054
Vào Năm 1069, vua Lý Thánh Tông nam tiến đánh nước Chiêm Thành và bắt được vua Chiêm lúc bấy giờ là Chế Củ (Jaya Rudravarman), đem về kinh đô Thăng Long. Để được tha mạng vua Chiêm đã phải cắt các vùng đất phía bắc của Chiêm Thành gồm ba châu là: Bố Chính, Ma Linh, Địa Lý cho nước Đại Việt. Những châu ấy ngày nay ở địa phận các huyện Quảng Ninh, Quảng Trạch, Bố Trạch, Tuyên Hoá, Lệ Thuỷ tỉnh Quảng Bình và huyện Bến Hải tỉnh Quảng Trị.

ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky20
Lãnh thổ nước Đại Việt 1069

Năm 1159, nhân khi nước Đại Lý suy yếu, vua Lý Anh Tông và Tô Hiến Thành đã tiến hành thu phục vùng đất của các tù trưởng dân tộc thiểu số người Thái ở bắc Yên Bái, nam Lào Cai vào lãnh thổ Đại Việt.

ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky21
Nước Đại Việt 1159
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky22
Nước Đại Việt 1225

Việt Nam thời nhà Trần năm 1306 vua nước Chiêm Thành là Chế Mân (Jaya Simhavarman) đã cắt đất hai châu Ô và Rí cho vua Trần Anh Tông của Đại Việt để làm sính lễ cưới Huyền Trân công chúa, vùng đất mà ngày nay là phía nam Quảng Trị và Huế. Biên giới phía nam của Đại Việt lúc này tiến đến đèo Hải Vân.

ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky23
Lãnh thổ Việt Nam thời nhà Trần 1306

Đại Ngu

Đại Ngu là quốc hiệu Việt Nam thời nhà Hồ (1400 – 1407). Quốc hiệu Đại Việt được đổi thành Đại Ngu tháng 3 năm 1400 khi Hồ Quý Ly lên nắm quyền

ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky24
Lãnh thổ nước Đại Ngu 1400
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky25

Lãnh thổ nước Đại Ngu 1402

Bắc thuộc lần 4

Vào cuối thế kỉ 14 nhà Trần bấy giờ đã sa sút, Hồ Quý Ly dần dần nắm quyền kiểm soát cả triều đình, dùng những biện pháp thanh trừng những đại thần trung thành với triều Trần. Hồ Quý Ly lên ngôi vua vào năm 1400, đặt quốc hiệu Việt Nam là Đại Ngu, ông thực hiện rất nhiều cải tổ trong hệ thống chính trị và xã hội lúc bấy giờ. Nhưng do thực hiện quá nhiều sự thay đổi trong thời gian ngắn, lại không được các cựu thần nhà Trần và dân chúng ủng hộ, thêm tình hình kinh tế xã hội hoàn toàn suy yếu vì nhiều nguyên nhân, nên đất nước rơi vào khủng hoảng trầm trọng.
Nhân cơ hội đó, năm 1406 nhà Minh ở Trung Quốc dùng chiêu bài phù Trần diệt Hồ, nhà Minh mang quân sang xâm lược Đại Ngu. Nhà Hồ nhanh chóng tsụp đổ hoàn toàn vào khoảng giữa năm 1407. Nước Đại Ngu lúc này bị tiêu diệt hoàn toàn và bị sát nhập lãnh thổ vào Trung Quốc. Việt Nam bị Trung Quốc đô hộ trở lại sau 500 năm độc lập tự chủ.
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky26
1407 nước Đại Ngu bị tiêu diệt và sát nhập vào lãnh thổ Đại Minh (Trung Quốc)

Khởi Nghĩa Lam Sơn

Vào năm 1418 Lê Lợi và các hào kiệt phất cờ cuộc khởi nghĩa Lam Sơn tại vùng miền núi Thanh Hóa, ông tự xưng là Bình Định Vương, kêu gọi người dân Việt Nam đồng lòng đứng lên đánh đuổi quân xâm lược nhà Minh cứu nước. Lúc này lãnh thổ đất Việt chỉ còn Lam Sơn nay thuộc huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa.
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky27
năm 1418 cuộc khởi nghĩa Lam Sơn dành lại được vùng lãnh thổ nay thuộc Huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa
Vào năm 1424 cuộc khởi nghĩa Lam Sơn bắt đầu tiến vào phía Nam và dành được những thắng lợi quan trọng. Đến cuối năm 1425, Lê Lợi đã làm chủ toàn bộ đất đai từ Thanh Hóa trở vào
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky28
Năm 1425 Lê Lợi đã làm chủ toàn bộ đất đai từ Thanh Hóa trở vào

Nhà Hậu Lê

Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn dành thắng lợi đã thống nhất được toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Lê Lợi lên ngôi vào năm 1428, tức là vua Lê Thái Tổ, chính thức dựng lên nhà Hậu Lê. Do chiến công hiển hách đánh bại quân Minh dành lại quyền tử chủ cho người Việt, ông trở thành một vị anh hùng dân tộc trong lịch sử Việt Nam, tên tuổi được lưu truyền đến ngàn đời sau
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky29
Nước Đại Việt dành lại quyền tử chủ năm 1428
Năm 1471 vua Lê Thánh Tông mang 20 vạn quân nam tiến đánh vào kinh đô Vijaya ( đất Bình Định ngày nay) nước Chiêm Thành, kinh đô Vijaya của Chiêm Thành thất thủ. Vua Lê Thánh Tông đã sáp nhập vùng đất bắc Chiêm Thành vào Đại Việt (ngày nay bao gồm ba tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định).
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky30
Năm 1471 vua Lê Thánh Tông sát nhập thêm vùng đất phía bắc của Chiêm Thành
Năm 1478, sau khi thu phục tiểu vương quốc Bồn Man, vua Lê Thánh Tông đã sát nhập vùng Sơn La, các huyện phía tây của Thanh Hóa, phía tây Nghệ An và tỉnh Hủa Phăn của Lào ngày nay vào đất Đại Đại Việt
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky31
Lãnh thổ Việt Nam vào năm 1479

Giai đoạn Nam – Bắc triều

Khoảng đầu kỷ 16, nhà Hậu Lê lúc này đã bắt đầu suy yếu. Một võ tướng nhà Lê là Mạc Đăng Dung đứng ra trấn áp các cuộc nổi dậy, dần dần nắm lấy quyền hành triều Lê. Mạc Đăng Dung đánh dẹp các lực lượng chống đối nhà hậu Lê và đến 1527 thì phế truất Lê Cung Hoàng, lập ra nhà Mạc.
Lúc này có một võ tướng cũ của nhà Lê, là Nguyễn Kim  lập một người dòng dõi nhà Lê là Lê Duy Ninh đưa lên ngôi trên đất Sầm Châu (Lào ngày nay), tức vua Lê Trang Tông. Sau nhiều lần tổ chức tấn công ngược về Đại Việt không thành công, mãi tới năm 1539, Nguyễn Kim mới chiếm được huyện Lôi Dương ở Thanh Hóa; sang năm sau tiến vào đất Nghệ An. Nhà Hậu Lê bắt đầu xác lập chỗ đứng trở lại trên lãnh thổ Đại Việt.
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky32
Nguyễn Kim chiếm lại được huyện Lôi Dương ở Thanh Hóa
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky33
Năm 1540 Nhà Hậu Lê xác lập chỗ đứng trở lại trên lãnh thổ Đại Việt
Năm 1545, Nguyễn Kim bị hàng tướng Dương Chấp Nhất đầu độc giết chết. Con rể Nguyễn Kim là Trịnh Kiểm lên thay cầm quyền chỉ huy quân đội.
Năm 1554, Trịnh Kiểm lập hành dinh tại quê hương Biện Thượng, sau đó điều quân đánh Thuận Hóa. Khi quân Lê – Trịnh tiến vào phía nam, các quan lại nhà Mạc và các hào trưởng địa phương phần lớn đi theo. Tướng Mạc ở Thuận Hóa là Hoàng Bôi mang quân ra đánh bị tử trận. Quân Mạc bị đánh tan, nhà Lê – Trịnh lấy lại được Thuận Hóa và Quảng Nam.
Toàn bộ lãnh thổ Đại Việt chính thức chia làm 2 nửa: từ Ninh Bình trở ra trong tay nhà Mạc, từ Thanh Hóa trở vào trong tay nhà Lê – Trịnh
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky34
Năm 1554 lãnh thổ Đại Việt bị chia làm 2 nửa nhà Mạc phía Bắc, nhà Lê – Trịnh phía Nam

Nguyễn Hoàng xây dựng cơ đồ mở mang bờ cõi Đại Việt

Năm 1569, Nguyễn Hoàng là con trai của Nguyễn Kim và là em vợ của Trịnh Kiểm ra Thanh Hóa yết kiến vua Lê Anh Tông, nộp quân lương giúp Nam triều đánh nhà Mạc, rồi đến phủ Thái sư lạy mừng Trịnh Kiểm. Trịnh Kiểm rất hài lòng, phong cho ông trấn thủ luôn đất Quảng Nam. Nguyễn Hoàng làm Tổng Trấn Tướng Quân kiêm quản cả Xứ Quảng Nam và Xứ Thuận Hóa. Lệ mỗi năm phải nộp thuế là 400 cân bạc, 500 tấm lụa.
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky35
Năm 1569 Nguyễn Hoàng làm Tổng Trấn Tướng Quân cai quản cả Xứ Quảng Nam và Xứ Thuận Hóa
Năm 1611, do quân Chăm Pa tiếp tục quấy nhiễu vùng biên giới Hoa Anh, Nguyễn Hoàng đã sai Văn Phong đi dẹp, quân Chăm Pa nhanh chóng bị đánh bại trước lực lượng của chúa Nguyễn. Vua Po Nit của Chăm Pa phải rút quân xuống phía Nam đèo Cả. Sau đó vùng đất Hoa Anh này được lập thành phủ Phú Yên gồm hai huyện Tuy Hòa vàĐồng Xuân, giao cho Lương Văn Chánh làm tham tướng, Văn Phong làm lưu thủ.
Cho tới khi ông mất, giang sơn họ Nguyễn trải dài từ đèo Ngang, Hoành Sơn (nam Hà Tĩnh) qua đèo Hải Vân tới núi Đá Bia (Thạch Bi Sơn), gần đèo Cả, bây giờ là vùng cực nam Phú Yên, giáp tỉnh Khánh Hòa. Diện tích 2 xứ Thuận Quảng rộng khoảng 45000 km²
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky36
Năm 1611 đất họ Nguyễn đã trải dài đến vùng cực nam Phú Yên

Trịnh – Nguyễn phân tranh

Năm 1653, chúa Nguyễn Phúc Tần tiến chiếm vùng Khánh Hòa của Chiêm Thành. Lấy sông Phan Rang làm ranh giới. Vùng phía Đông sông đến địa đầu Phú Yên (vùngKauthara) đặt dinh Thái Khang. Phần phía Tây sông (vùng Panduranga) vẫn thuộc về Chăm Pa.
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky37
Năm 1653  chúa Nguyễn Phúc Tần chiếm được vùng Khánh Hòa của Chiêm Thành
Năm Mậu Tuất (1658) vua nước Chân Lạp mất rồi, chú cháu tranh nhau ngôi vị, sang cầu cứu bên chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn bấy giờ là chúa Hiền sai quan đem 3.000 quân sang đánh ở Mỗi-xuy (nay thuộc tỉnh Đồng Nai) bắt được vua nước ấy là Nặc-Ông-Chân đem về giam ở Quảng Bình một độ, rồi tha cho về nước, bắt phải triều-cống và phải bênh vực người Việt sang làm ăn ở bên ấy.
bản đồ lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ 38
Năm 1658 người Việt đã xuất hiện ở vùng đất Đồng Nai ngày nay
Năm KỷTỵ (1679) có quan nhà Minh là tổng binh trấn thủ đất Long Môn (Quảng Tây) Dương Ngạn Địch, phó tướng Hoàng Tiến, tổng binh châu Cao, châu Lôi, và châu Liêm (thuộc Quảng Đông) là Trần Thượng Xuyên, phó-tướng Trần An Bình, không chịu làm tôi nhà Thanh, đem 3.000 quân cùng 50 chiếc thuyền sang xin ở làm dân Việt Nam. Chúa Hiền nhân muốn khai khẩn đất Chân Lạp, bèn cho vào ở đất Đông Phố (tức là đất Gia Định). Bọn Ngạn Địch chia nhau ở đất Lộc Đã (tức là đất Đồng Nai), ở Mỹ Tho (thuộc Tiền Giang), ở Ban Lân (thuộc Đồng Nai) rồi cày ruộng làm nhà lập ra phường phố
Lúc này nhà Mạc ở phía bắc đã bị tiêu diệt hoàn toàn
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky39
Lãnh thổ Đại Việt Năm 1679
Năm 1693, thời chúa Nguyễn Phúc Chu, tướng Nguyễn Hữu Cảnh tiến chiếm và chính thức sáp nhập phần còn lại của vương quốc Chiêm Thành lập trấn Thuận Thành nay  là vùng đất Bình Thuận, Ninh Thuận ngày nay, tuy nhiên chính quyền Đàng Trong vẫn dành cho người Chăm chế độ tự trị ở đây cho đến năm 1832.
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky40
Năm 1693, chúa Nguyễn Phúc Chu chính thức sáp nhập phần còn lại của vương quốc Chiêm Thành
Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh lấy đất Nông Nại đặt làm phủ Gia Định, lập đất Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng nên dinh Trấn Biên (lỵ sở nay là thôn Phước Lư), lập xứ Sài Côn làm huyện Tân Bình, lập dinh Phiên Trấn (quận sở nay gần Tân Đồn). Chính thức đưa khu vực các tỉnh miền Đông Nam Bộ của Chân Lạp vào lãnh thổ Đàng Trong.
Năm 1699, Vũ Công Tuấn bị triều đình nhà Lê bắt và giết. Triều đình đặt chức Lưu thủ ở Tuyên Quang, từ đó dòng dõi “Chúa Bầu” chấm dứt. Lãnh thổ chúa Bầu chính thức sáp nhập vào đất nhà Lê-Trịnh
Năm 1708, Mạc Cửu (thương nhân người Hoa) người khai phá vùng đất Hà Tiên, Kiên Giang (của Chân Lạp) xin nội thuộc chúa Nguyễn, chúa Nguyễn phong chức Tổng binh cai quản
Cùng với việc mở rộng lãnh thổ trên đất liền, chính quyền Đàng Trong lần lượt đưa người ra khai thác và kiểm soát các hòn đảo lớn và quần đảo trên biển Đông và vịnh Thái Lan. Quần đảo Hoàng Sa được khai thác và kiểm soát từ đầu thế kỷ 17, Côn Đảo từ năm 1704,Phú Quốc từ năm 1708 và quần đảo Trường Sa từ năm 1711
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky41
Lãnh thổ Đại Việt năm 1708 khai phá đến vùng đất Hà Tiên – Kiên Giang ngày nay
Vào  năm 1732, chúa Nguyễn Phúc Chú (Chúa Ninh) nhận đất dâng từ vua nước Chân Lạp là Satha (Nặc Tha), lãnh thổ Đại Việt được mở rộng thêm hai vùng đất mới là Peam Mesar (Mỹ Tho) và Longhôr (Vĩnh Long).
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky42
bản đồ lãnh thổ Việt Nam năm 1732
Từ năm 1736-1739, Mạc Thiên Tứ (con trai của Mạc Cửu) khai phá thêm vùng đất Cà Mau, Bạc Liêu, Cần Thơ (của Chân Lạp) sát nhập những khu vực này vào lãnh thổ phía Đàng Trong.
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky43
Từ 1736 – 1739 Lãnh thổ Việt Nam mở rộng đến tận mũi Cà Mau như ngày nay
Năm 1755, vua Chân Lạp là Nặc Nguyên (Ang Tong) sau khi bị chúa Nguyễn Phúc Khoát tức Vũ Vương đánh bại đã dâng vùng đất Tân An, Gò Công (Long An, Tiền Giang ngày nay) để cầu hòa
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky44
Năm 1755 sát nhập thêm Long An và Tiền Giang vào Lãnh thổ Đại Việt
Năm 1757, vua Nặc Nguyên chết, chú là Nặc Nhuận dâng 2 xứ Preah Trapeang và Basac (vùng đất Trà Vinh và Sóc Trăng) để được chúa Nguyễn Phúc Khoát phong làm vua Chân Lạp. Sau khi Nặc Nhuận chết, chúa Nguyễn Phúc Khoát đã hỗ trợ Nặc Tôn (Outey II) lên ngôi và bảo vệ trước sự tấn công của Xiêm La (Thái Lan), vua Nặc Tôn đã dâng vùng đất ngày nay là Châu Đốc, Sa Đéc cho chúa Nguyễn.
Riêng Mạc Thiên Tứ, Nặc Tôn dâng năm phủ Hương Úc, Cần Bột, Trực Sâm, Sài Mạt và Lình Quỳnh để đền ơn giúp đỡ. Mạc Thiên Tứ đem hết đất ấy dâng cho Chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn cho sảt nhập vào Hà Tiên trấn, giao cho họ Mạc cai quản.
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky45
bản đồ lãnh thổ Việt Nam vào năm 1757

Khởi Nghĩa Tây Sơn

Sau giai đoạn Trịnh Nguyễn phân tranh đât nước bị chia làm 2 thì vào năm 1771 cuộc khởi nghĩa Tây Sơn bùng phát bắt đầu từ vùng đất Tây Sơn thuộc tỉnh Bình Định ngày nay
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky46
Lãnh thổ Việt Nam vào năm 1771
Đến năm 1773 khởi nghĩa Tây Sơn dành được nhiều thắng lợi quan trọng kiểm soát vùng đất từ Quảng Ngãi đến Bình Thuận. Lúc này đất nước bị chia làm 3 những vẫn thuộc quyền quản lý của người Việt
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky47
Lãnh thổ Việt Nam bị chia làm 3 vào năm 1773
Cuối năm 1774 đầu năm 1775 quân Trịnh tiến vào Phú Xuân. Chúa Nguyễn lúc này không chống nổi quân Trịnh phải bỏ chạy vào Quảng Nam. Quân Trịnh chiếm toàn bộ Thuận Hóa.
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky48
Lãnh thổ Việt Nam vào năm 1774
Quân Trịnh ở phía bắc đánh vào. Chúa Nguyễn không địch nổi hai kẻ địch phải bỏ chạy vào Gia Định. Tây Sơn bèn đầu hàng Trịnh để đánh Nguyễn. Năm 1777, Nguyễn Huệ đem quân vào đánh chiếm Gia Định, quân Tây Sơn truy lùng gắt gao, cả Nguyễn Phúc Thuần và Nguyễn Phúc Dương cùng một số quan lại đã bị bắt và bị giết. Vào năm này Chúa Nguyễn đã mất hoàn toàn quyền kiểm soát ở Đại Việt
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky49
bản đồ lãnh thổ Việt Nam 1777
Vào năm 1786 Do sự thuyết phục của Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Huệ quyết định đem quân ra Bắc đánhThăng Long để diệt họ Trịnh dù chưa được lệnh của vua anh Nguyễn Nhạc.
Với danh nghĩa “Phù Lê diệt Trịnh”, Nguyễn Huệ sai Chỉnh làm tiên phong Bắc tiến. Quân Trịnh rệu rã nhanh chóng thua trận, các danh tướng phần nhiều nghe tin Phú Xuân thất thủ đã khiếp sợ, đến khi nghe quân Tây Sơn kéo ra, đa số đã bỏ trốn. Chúa Trịnh không được lòng dân, bỏ thành Thăng Long chạy, bị dân bắt đem nộp Tây Sơn. Trên đường áp giải,Trịnh Tông tự sát. Lúc này Tây Sơn đã kiếm soát được gần như toàn bộ lãnh thổ Việt Nam
Trong lúc Nguyễn Huệ bận đối phó với quân Thanh tại Bắc Hà (1788-1789), vùng Gia Định dưới quyền Tây Sơn cũng không ổn định, quân Tây Sơn bị cô lập trước dân chúng địa phương vốn có nhiều cảm tình với Chúa Nguyễn nói chung và Nguyễn Ánh nói riêng, dần dần Nguyễn Ánh lấy lại được vùng đất Nam Hà dẹp yên được vùng đất Gia Định
bản đồ lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ 50
Lãnh thổ Việt Nam 1788

Nhà Nguyễn

Vào năm 1802 sau khi tiêu diệt được nhà Tây Sơn Nguyễn Ánh lên ngôi vua, để tượng trưng sự thống nhất Bắc Nam, lần đầu tiên sau nhiều năm, Nguyễn Ánh chọn niên hiệu là Gia LongGia lấy từ Gia Định và Long lấy từ Thăng Long
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky51
1802 Lãnh thổ Đại Việt được thống nhất sau nhiều năm bị chia cắt
Năm 1816, vua Gia Long chính thức cho cắm cờ, xác lập chủ quyền, giao đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải thay mặt quản lý hai quần đảoHoàng Sa và Trường Sa. Trước đó khoảng 200 năm các chúa Nguyễn cũng đã lập đội Hoàng Sa hằng năm đi ra các đảo tìm kiếm sản vật
Năm 1830, vua Minh Mạng sáp nhập vùng Tây Nguyên vào lãnh thổ Việt Nam, tuy nhiên các bộ tộc người Thượng vẫn được quyền tự trị của mình cho tới năm 1898 khi người Pháp trực tiếp tổ chức cai trị ở đây
Năm 1832 nhà Nguyễn bỏ chế độ tự trị của người Chăm ở trấn Thuận Thành (Bình Thuận, Ninh Thuận ngày nay) chính thức sát nhập vùng đất này vào lãnh thổ Việt Nam
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky52
bản đồ lãnh thổ Việt Nam 1832
Vào năm 1835 Vua Minh Mạng cho thành lập Trấn Tây Thành (Campuchia ngày nay) thời kỳ này lãnh Thổ Việt Nam vươn tới cực đại tới tận Ai Lao, Chân Lạp
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky53
Vào năm 1835 Lãnh thổ Việt Nam vươn tới cực đại
Việc đặt Trấn Tây Thành cùng với chính sách cai trị mất lòng dân Chân Lạp của Vua Minh Mạng và quan lại đã gây hao binh tổn lương, tướng sĩ mệt nhọc.
Năm 1841, vua Minh Mạng mất, Vua Thiệu Trị vừa lên thay. Thấy tình hình Chân Lạp bất ổn mãi, nên nhân có lời tâu của Tạ Quang Cự xin bỏ đất Chân Lạp, vua Thiệu Trị thuận ý, truyền cho quan quân Đại Nam rút quân về giữ An Giang.
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky54
Năm 1841 bỏ trấn Tây Thành

Thời kỳ bị Pháp xâm lăng và đô hộ

Năm 1859 thực dân Pháp đánh thành Gia Định
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky55
Lãnh thổ Việt Nam năm  1859
Hòa ước Nhâm Tuất (1862) buộc triều đình nhà Nguyễn nhượng 3 tỉnh Nam Kỳ là Biên Hòa, Gia Định, Mỹ Tho cho Pháp. Tiếp sau đó tỉnh Hà Tiên, Châu Đốc, Vĩnh Long cũng bị sát nhập nốt vào lãnh thổ bảo hộ của Pháp.
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky56
Lãnh thổ Việt Nam sau hòa ước Nhâm Tuất 1862
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky57
Lãnh thổ Việt Nam sau hòa ước Nhâm Tuất 1862
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky58
Lãnh thổ Việt Nam sau hòa ước Nhâm Tuất 1862
Năm 1870, Pháp ký với Campuchia hiệp định phân định biên giới.
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky59
Đại Nam 1870
Năm 1874, Pháp ký với Việt Nam Hòa ước Giáp Tuất (1874) công nhận sự thống trị của Pháp với toàn Nam Kỳ.
Hòa ước Quý Mùi, 1883 được ký, Việt Nam mất một phần Trung Kỳ và toàn bộ Bắc Kỳ vào tay Pháp. Việt Nam cũng mất quyền tự quyết về đối ngoại vào tay Pháp
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky60
Lãnh thổ Việt Nam sau hòa ước Quý Mùi, 1883
1884 Hòa ước Giáp Thân  được ký, Việt Nam chính thức trở thành thuộc địa của Pháp
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky61
bản đồ lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ 61
Năm 1887 người Pháp nhân danh nước Bảo hộ triều đình Huế ký Hiệp ước Pháp-Thanh nhường một dải đất cho nhà Thanh. Sông Dương Hà (sông An Nam Giang) trước kia là đường biên giới nay lùi biên giới xuống phía nam, lấy cửa sông Bắc Luân ở Hải Ninh (Móng Cái) làm địa giới.
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky62
Việt Nam 1887

Liên Bang Đông Dương

Năm 1893, lúc này Pháp đã thành lập liên bang Đông Dương, dựa theo địa hình đã cắt tỉnh Huaphanh (Hủa Phăn), Xiêng Khoảng giao về lãnh thổ Lào (Ai Lao).
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky63
Lãnh thổ Việt Nam 1893
1895, từ công ước Pháp-Thanh 1895đã đưa về phần lớn vùng đất Lai Châu, Điện Biên và một phần Lào Cai ngày nay thuộc về xứ Bắc Kỳ còn một phần đất ở bắc sông Bắc Luân thuộc về nhà Thanh. Sâm Châu và Xiêng Khoảng bị cắt cho Lào.
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky64
Lãnh thổ Việt Nam 1895
Năm 1893, hiệp ước Pháp-Xiêm (1893) theo đó nhượng toàn bộ vùng lãnh thổ phía Đông sông Mê Kông cho Pháp, gạt bỏ lực lượng quân sự và những ảnh hưởng của Xiêm tại vùng cao nguyên thượng sông Sêrêpôk. Vùng đất nhượng lại này bao gồm cả tỉnh Stung Treng, năm 1899 địa khu Đắc Lắc được thành lập từ Stung Treng. Năm 1904, Đắc Lắc được sáp nhập vào Việt Nam.
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky65
Năm 1904 Pháp sát nhập Đak Lac vào lãnh thổ Việt Nam
Đến 1905 thì sát nhập các tỉnh Tây Nguyên còn lại
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky66
Việt Nam 1905

Lãnh thổ Việt Nam sau năm 1945

Đế quốc Việt Nam là tên chính thức của một chính phủ tồn tại 5 tháng trong lịch sử Việt Nam
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky68
bản đồ lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ 68
Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được thành lập vào ngày 2/9/1945
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky69
bản đồ lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ 69
Từ 1954 đến 1975, Việt Nam bị chia đôi tại vĩ tuyến 17 sau hiệp định Giơ-ne-vơ
ban-do-lanh-tho-viet-nam-qua-cac-thoi-ky70
bản đồ lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ 70
30/4/1975 Lãnh Thổ Việt Nam hoàn toàn thống nhất như ngày nay
bản đồ lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ 72
Lãnh thổ Việt Nam ngày nay

Quần đảo Hoàng Sa

Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với Quần đảo Hoàng Sa, nhưng Hoàng Sa nay đang bị Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chiếm đóng từ sau Hải chiến Hoàng Sa, 1974.

Quần Đảo Trường Sa

Hiện Quần đảo Trường Sa đang bị nhiều quốc gia trong khu vực tranh chấp do có tiềm năng lớn về dầu khí và nguồn cá dồi dào. Việt Nam là quốc gia nắm giữ nhiều đảo nhất. Các quốc gia đang tranh chấp chủ quyền gồm: Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan,Philippines, Malaysia, Brunei.

Thứ Tư, 16 tháng 5, 2018

CÁC KIỂU HƯU

TA CHỌN LỐI NÀO?

Về hưu ngẫm lắm sự đời
Lên voi xuống chó mỗi người khác nhau

Lên chùa vản cảnh, đi câu
Tham quan, du lịch Tây, Tàu liên miên
Chẳng lo cơm áo, gạo tiền
Vô tư, thanh thản không phiền lụy ai
Đấy là HƯU TRÍ không sai
Nhưng mà thiên hạ mấy ai có nào ?

Về hưu thậm thụt ra vào
Buôn dưa, hóng chuyện tào lao vỉa hè
Rượu bia, cá độ, lô đề
Tối ngày bám trụ quán chè làm vui
Loạn ngôn bất mãn với đời
Sẵn sàng đấu khẩu buông lời khó nghe
Thích trò thọc gậy bánh xe
Bà con hàng xóm cười chê: HƯU KHÙNG.

Về hưu nổi máu anh hùng
Xin làm cán bộ "Ba cùng" với dân
Nửa đời chỉ biết làm quân
Nay về làm tướng muôn phần oai phong
Dẹp chợ, cấm, phạt hàng rong
Bắt dân đóng góp từng đồng...vệ sinh
Làm việc để mất chữ tình
Vợ con mới bảo rằng mình: HƯU HÂM.

Về hưu lại nổi máu dâm
Cưa sừng làm nghé sưu tầm gái tơ
Về già mới học làm thơ
Đem tiền nuôi gái, ngẩn ngơ tối ngày
Lưới tình càng mắc càng say
Thế nên mới gọi hưu này: HƯU DÊ.

Về hưu lại bỏ về quê
Trồng rau, cuốc đất, chăn dê, nuôi gà
Kiêng đường, thịt, mỡ, trứng, da,
Bia, rượu, thuốc lá...đàn bà cũng kiêng
Kiêng ăn, kiêng cả tiêu tiền
Họ hàng, bè bạn than phiền: HƯU TU.

Về hưu làm việc lu bù
Kiếm tiền tiết kiệm từng xu, từng đồng
Hoặc làm thêm đỡ buồn lòng
Chuốc thêm vất vả long đong tối ngày
Mọi người bảo là đi cày
Cho nên mới gọi hưu này: HƯU TRÂU.

Về hưu chẳng dám đi đâu
Nấu cơm, đi chợ, nhặt rau, quét nhà
Chăm con, nuôi cháu, trông già
Kiêm luôn bảo vệ coi nhà, giữ xe
Thế nên bị gọi khó nghe
Ấy là: HƯU CHÓ, làm thuê trong nhà

Về hưu nhưng vẫn chưa già
Phải về trước tuổi gọi là: HƯU NON.

Về hưu quyền chức không còn
Bổng lộc hết chẳng rút bòn được ai
Khi còn đương chức tác oai
Tham ô, hối lộ, tiêu xài của dân
Về già mất hết người thân
Đệ tử, thân tín cũng dần bỏ đi
Quyền cao chức trọng mà chi
"Hai năm mươi" cũng xanh rì cỏ thôi
Gặp dân không dám mở lời
Hội hè, đình đám mọi người tránh xa
Bán xe, bán đất, bán nhà
Bỏ quê trốn lủi gọi là: HƯU MA.

Về hưu chưa kịp dưỡng già
Đã coi bệnh viện như nhà của riêng
Bao nhiêu sở thích phải kiêng
Đái đường, huyết áp, bệnh tim, đại tràng
Loãng xương, tiền liệt, bàng quang...
Lương vừa mới lĩnh đã mang thuốc rồi
Cháu con mỗi đứa một nơi
Gọi là: HƯU HẮT cuối đời cô đơn

Trời sinh chữ Kém, chữ Hơn
Chữ Nhân, chữ Qủa, chữ Buồn, chữ Vui...
Đắng cay với cả ngọt bùi
Hết mưa nắng lại rợp trời mây bay...
Đủ năm, đủ tuổi, đến ngày
Hãy chọn một lối mai rày ta đi...

Tiến Phan


Thứ Tư, 9 tháng 5, 2018

Nhận diện nữ sát phu

24 đặc điểm nhận diện tướng phụ nữ sát chồng, tướng phụ nữ sát chồng, phụ nữ có đặc điểm trên gương mặt và giọng nói, làn da như thế nào là tướng sát chồng

Khi chọn vợ, ngoài xem tuổi người vợ, người ta còn chú ý đến các đặc điểm tướng mạo của người phụ nữ. Dưới đây là 24 đặc điểm nhận dạng tướng phụ nữ sát chồng cần chú ý theo nhân tướng học cổ truyền:
  1. - Trán vuông, mày lớn cao và đậm
  2. - Xương lưỡng quyền vừa thô vừa lộ
  3. - Trán lồi, cổ ngắn, hoặc trán cao mặt hãm
  4. - Mũi hếch thấp, mắt thuộc loại tam tứ bạch, hoạc hình tam giác mà lộ hung quang. Có đủ tất cả là tướng đại hình khắc và yểu.
  5. - Sắc da mặy thô xạm như màu đất chết
  6. - Mặt chè bè về chiều ngang (phần Trung đình) mà lại sát thanh nghĩa là tiếng nói lanh lảnh như tiếng kim khí va chạm nhau khiến người nghe cảm thấy ớn lạnh xương sống .
  7. - Trán hẹp, nhọn, tai thấp hoặc trán nhỏ nhọn hẹp và lông mày giao nhau
  8. - Trán có tật bẩm sinh (vết sẹo, vằn trán thuộc loại loạn văn rất rõ lúc còn niên thiếu) .
  9. - Lông mày thưa và mường tượng như co rút lại (nghĩa là đầu và lông chân mày lớn ngang nhau trái với lẽ thường là đầu lông mày thon dần còn chân lông mày lớn)
  10. - Cốt cách thô lỗ, tóc cứng như rễ tre
  11. - Xương che lỗ tai (mạng môn cốt ) nổi cao.
  12. - Phía dưới hai mắt không bệnh tật mà có sắc khí xanh xám .
  13. - Mắt lớn lồi (nhỏ và dài mà lồi thì đỡ tai hại hơn). Lông mày thưa vàng và ngắn .
  14. - Mày thô, mắt có sát khí
  15. - Hai mép miệng và hai phát lệnh đều có nốt ruồi
  16. - Phần sống mũi nổi gân máu
  17. - Mũi hếch, tai khuyết hãm, mày thô và mắt có tia máu ăn lan từ tròng trắng xuyên qua lòng đen đén đồng tư, thuật ngữ tướng học gọi là Xích mạch xâm đồng
  18. - Sơn căn có nốt ruồi và dưới mắt có nhiều vết nhăn (đây nói phụ nữ ở trung niên trở lại)
  19. - Xương lưỡng quyền nổi cao và nhọn như chỏm núi
  20. - Tác có phù quang (trơ trẽn không có sinh khí), da trắng và khô mốc
  21. - Mặt dài quá, cộng với miệng lớn (thành ngữ nói là miệng ngoác tới tận mang tai như miệng cá sấu)
  22. - Ấn đường có một lằn sâu chạy thẳng lên trán, thuật ngữ tướng học gọi là Luyến trâm văn .
  23. - Trán cao, hai phần Nhật Nguyệt giác nổi cao và hướng lên
  24. - Tiếng nói như nam giới hoặc oang oang như sấm động hoặc âm thanh sắc cao như sói vào tai người nghe
Phỏng theo cuốn " Xem tướng biết người" của CTY CP Văn Hóa Huy Hoàng  

THẦN DƯỢC QUANH TA!

Nếu như sỏi thận hoành hành: 
Râu ngô đun uống sẽ lành bạn ơi!
Hẹ xanh trị suyễn tuyệt vời
Lại còn giải độc, máu thời cầm ngay!
Nếu như đau bụng lâu ngày:
Bạn đun ngải cứu uống bay bệnh liền!
Độc gan, bí tiểu làm phiền:
Rễ tranh sắc uống sẽ nghiền bệnh tan!
Đau đầu, bị sốt, viêm xoang:
Mướp khô đun uống sẽ phang bệnh chừa!
Đậu đen ninh với nước dừa:
Đau xương, nhức khớp sẽ lùa đi tong!
Giã gừng hòa với mật ong:
Nhức đầu, cảm lạnh đừng hòng hại ta!
Nhiễm trùng sưng tấy làn da
Dầu tràm bạn lấy để xoa sẽ lành!
Ho đờm, hen suyễn nó hành
Thần kinh co giật: khế xanh khử trừ!
Đừng buồn nếu bị khối u
Tỏi đen nhai sống: trơn tru như thường!
Nếu như bị trĩ, tiểu đường:
Có cây rau muống nó tương bệnh tàn!
Hành tây trị bệnh ho đàm (đờm)
Hạ nhanh huyết áp, viêm xoang đấy kìa!
Nếu như thấp khớp, phù tê:
Bạn tìm lá lốt đem về đun sôi (uống nước)!
Còn cây cỏ mực tuyệt vời:
Chữa bay thiếu máu đồng thời giảm suy (suy nhược)!
Cảm xoàng, nôn mửa khó chi:
Tía tô nấu nóng xông thì khỏi ngay!
Bạn mà nứt nẻ chân tay:
Chè xanh giã đắp ít ngày sẽ thôi!
Họng viêm, răng nhức kêu trời:
Vải xanh bạn xát - bệnh rời đi luôn!
Nếu như sỏi thận - chớ buồn:
Kiên trì sắc uống rau ôm (rau ngổ) sẽ lành!
Viêm gan cũng hết hoành hành
Bởi cây rau ngổ cũng dành chữa gan!
Rượu ngâm hạt mận một can:
Tráng dương, bổ thận...vợ van ời ời!
Lá mơ công dụng tuyệt vời:
Chữa bay đau bụng, đầy hơi bạn à!
Chấn thương sưng tấy - thường nha:
Có cây ích mẫu thì là khỏi lo!
Mấy ngày táo bón buồn xo?
Có cây diếp cá chữa cho thông liền!
Nếu ho ra máu - chớ phiền:
Hoa hồng đun uống sẽ nghiền bệnh bay!
Nếu như bạn cảm thấy hay
Hãy cho tác giả pháo tay chúc mừng
Bấm vô chia sẻ dưới cùng
Để cho bè bạn biết dùng thuốc hay!
Hai Danh 06-10-2017.
( ảnh minh họa thôi)
÷÷ THẤY HAY THÌ CHIA SẺ LIỀN BẠN NHÉ!

Thứ Sáu, 4 tháng 5, 2018

Thư bố gửi con gái

“Chào con, con gái yêu của bố.


Thế giới được tạo nên một cách thú vị bất ngờ. Vì vậy bố viết cho con thư này và thả nó lên Internet như thả một vật xuống biển để đến một lúc nào đó, khoảng mười năm sau, khi bức thư này đã chết từ lâu cùng với notebook và đĩa cứng thì biết đâu nó lại từ sâu trong mạng trồi lên trên màn hình Smartphone của con. Hoặc trên một thiết bị nào đó khi ấy có ở các con, những chàng trai cô gái mười tám tuổi chinh phục thế giới.

Mà cũng có thể bức thư sẽ tìm thấy con chính khi bố muốn con đọc được nó.

Hôm nay bố đã bốn mươi tuổi. Bố sẽ đi sang tuổi thập niên thứ năm. Và bố muốn, con gái ơi, nói với con điều quan trọng nhất – đừng bao giờ trong đời làm cái gì mà con không thích thú.

Đừng bao giờ. Con nghe chứ?

Đừng bao giờ làm cái gì mà con không thích thú.

Mọi người thường hay nói dối, con gái ạ. Chính bố cũng nói dối khi tự bảo mình rằng mình được dẫn dắt bởi những ý định tốt đẹp. Nhưng những ai sáng nào cũng bị lôi đến công việc không ưa thích, đếm từng ngày đến kỳ nhận lương – đó là những kẻ lừa dối tồi tệ nhất bởi vì họ đã tự dối mình.

Họ đã tự bẻ gãy mình, ép buộc mình và rốt cuộc là phản bội mình. Mà người đã phản bội mình thì sẽ lừa dối người khác và dễ dàng phản bội. Hãy tránh xa những người đó, con nhé. Họ là nô lệ, dù tay chân không bị cùm trói.

Bố không thích cái từ “công việc” – bên trong hầu như mỗi từ như thế nhất định đều có một kẻ nô lệ.

Bố biết. Bố đã có hai chục năm đến công sở làm một viên chức để kiếm tiền.

Bố lần đầu tiên tắm biển năm hai mươi tư tuổi.

Một khu nhà nghỉ khủng khiếp trên bờ biển với những căn phòng giống như những buồng tắm lát gạch xỉn màu, đục lỗ ở sàn nhà thay cho chỗ vệ sinh, còn nhà ăn bốc mùi đến nỗi đi trên bờ cách xa khoảng mười cây số bố vẫn còn như ngửi thấy mùi khu nhà nghỉ.

Thế nhưng bố lại hạnh phúc vô cùng.

Đêm đầu tiên bố cùng người bạn đứng trên ban công một tòa nhà năm tầng hít thở không khí biển đến tưởng chừng như ngộp thở.

-Cậu thấy thế nào? – người bạn hỏi.

Bố không tìm ra lời để nói.

-Ngây ngất – đó là tất cả những gì bố có thể tìm thấy trong mình. Sau đó bố đứng thêm một lúc và nói thêm. – Ngây ngất. Giá mà không nghe tiếng xe chạy trên đường quanh đây.
-Tiếng xe chạy. Phải rồi. Cái đó cản trở. – người bạn gật đầu, nhưng rồi ngạc nhiên nhìn bố. – Gượm đã. Tiếng xe nào ở đây? Cậu mê ngủ à? Đó là tiếng biển đấy, ngốc ạ.

Chỉ khi đó bố mới hiểu rằng lúc ngồi ở khu nhà nghỉ để làm các thủ tục giấy tờ đáng chán thì cái tiếng động mà tai bố tưởng là tiếng xe chạy trên đường lại chính là tiếng động của biển.

Trong cái cuộc sống xa lạ mà bố đã sống cho đến khi đó không có chỗ cho tiếng thủy triều của biển.

Công việc không yêu thích giống như bộ quần áo của người khác không vừa số đo với mình, nó luôn làm sao nhãng, gây khó chịu, làm mất tập trung và sớm muộn cũng biến con thành kẻ ngốc.

Bố xin con, con gái ạ, đừng tốn thời gian cho những kẻ ngốc.

Con biết kẻ ngốc khác người khôn thế nào không? Bố mách con biết nhé.

Kẻ ngốc không biết tự hoài nghi và cãi lộn với tất cả mọi người, trừ chính mình. Kẻ ngốc biết tất cả và về tất cả. Người khôn ngay cả khi tranh cãi thì cũng tranh cãi trước hết với chính mình. Hãy tự nhìn mình và con sẽ hiểu điều đó quan trọng thế nào.

Người ta nói ở tuổi bốn mươi cuộc sống chỉ mới bắt đầu.

Điều đó không đúng, con gái ạ.

Cuộc sống bắt đầu vào thời khắc ta làm cái việc ta thấy thích thú.

Chỉ có điều ở tuổi bốn mươi điều này được nhận biết một cách đặc biệt rõ rệt. Biết được là còn có thể. Nhưng không ai quay lại được bốn mươi năm trước nữa. Không ai quay lại được.

Con gái yêu của bố.

Con tất nhiên sẽ sống cuộc đời như con muốn.

Đơn giản là trong đời hãy làm việc gì mà con thực sự thấy thích thú.

Điều này tưởng là phức tạp. Nhưng nó còn đơn giản hơn là sống số phận của người khác.

Và thêm một điều nữa.

Khi có cậu bé nào đó mời con nhảy thì con đừng xấu hổ và đừng từ chối cậu ta.

Mặc âm nhạc, địa điểm, thời gian và tiếng xì xào của mọi người xung quanh.

Cứ ra nhảy, con gái của bố.”

Pavel Belyansky, viết vào ngày sinh thứ 40 của mình.

(Ngân Xuyên dịch từ nguyên bản tiếng Nga)

Thứ Tư, 2 tháng 5, 2018

Chút Suy Nghĩ Về Chuyện “Cõng Rắn Cắn Gà Nhà” Của Nguyễn Ánh – Gia Long

Trong cuộc nội chiến tại miền Nam những năm 1954-1975, lịch sử đã được các nhà nghiên cứu miền Bắc vận dụng như một lợi khí về mặt tâm lý để hỗ trợ cho các nỗ lực quân sự, phong trào Tây Sơn được mệnh danh là “phong trào nông dân” và được viện dẫn như một mô hình lý tưởng, trùng hợp với các phong trào Cộng sản quốc tế trong việc lật đổ chính quyền thực dân cũng như các chính quyền “phản động” khác. Và cũng chính điều này vô hình trung đẩy thế lực đối kháng với phong trào Tây Sơn lúc bấy giờ, tiêu biểu là chúa Nguyễn Ánh-vua Gia Long, vào thành phần phản động nhất. Người ta đã viện dẫn nhiều sự kiện lịch sử để chứng minh cho sự “thối nát” của triều Nguyễn, nổi bật nhất là việc Nguyễn Ánh-Gia Long “cõng rắn cắn gà nhà” và “trả thù tàn bạo” nhà Tây Sơn… Có người còn đi xa hơn, cho rằng việc Nguyễn Ánh được sự giúp sức của một nhúm sĩ quan Pháp hoạt động độc lập vào cuối thế kỷ XVIII là nguyên nhân dẫn đến việc thực dân Pháp chiếm lấy Việt Nam vào nửa sau thế kỷ XIX, mà không hề lý gì tới cuộc tranh giành thuộc địa đang hồi gay cấn của hai đế quốc Anh và Pháp tại vùng châu Á và Viễn Đông trong một thời gian dài.
VỀ CHUYỆN “CÕNG RẮN” CỦA CHÚA NGUYỄN ÁNH
Những năm đầu thập niên 1780, cuộc nội chiến giữa nhà Nguyễn mà người cuối cùng còn sống sót là Nguyễn Ánh và nhà Tây Sơn đã đến hồi khốc liệt. Đến năm 1783 thì thế trận nghiêng hẳn về phía Tây Sơn, chúa Nguyễn phải chạy ra những đảo xa để tránh cuộc truy sát của đối phương. Năm 1784, thế cùng lực tận, theo lời đề nghị của một tướng Xiêm (Thái Lan) trong cuộc gặp gỡ tại Long Xuyên, Nguyễn Ánh quyết định tạm thời sang Xiêm tá túc, chờ cơ hội lật ngược thế cờ. Tháng 3 Âm lịch năm này, vua Xiêm “bèn ước hẹn giúp quân để mưu đồ khôi phục. Vua thứ hai nước Xiêm nhân đó nhắc đến việc năm trước giảng hòa với Nguyễn Hữu Thụy (Nguyễn Văn Thoại) đã có thề ước với nhau là gặp hoạn nạn thì cứu nhau, thì ngày nay xin phải ra sức. Bèn đưa những vật Nguyễn Hữu Thụy tặng là cờ đào và gươm ra để làm tin, rồi định ngày cử binh”. (Đại Nam Thực Lục – Tập Một – NXB Giáo dục – Hà Nội 2002, trang 221)
Tháng 6 Âm lịch năm ấy, Nguyễn Ánh mang quân về Gia Định, vua Xiêm sai cháu là Chiêu Tăng và Chiêu Sương đem hai vạn thủy quân và 300 chiến thuyền theo giúp. Lực lượng quân Xiêm được đặt dưới sự chỉ huy chung của tướng Việt là Bình Tây Đại Đô đốc Châu Văn Tiếp, bắt đầu tiến đánh đạo Kiên Giang, rồi thẳng đến Trà Ôn, Mân Thít, Sa Đéc … Tháng 10 Âm lịch năm 1784, Châu Văn Tiếp tử trận trong trận đánh tại sông Mân Thít. Tháng sau, “vua thấy quân Xiêm tàn bạo, đến đâu là cướp bóc đấy, nhân dân ta oán rất nhiều, bảo các tướng rằng:’Muốn được nước phải được lòng dân. Nay Chu (Châu) Văn Tiếp đã mất, quân Xiêm không ai chế ngự được. Nếu được Gia Định mà mất lòng dân thì ta cũng không nỡ làm. Thà hãy lui quân để đừng làm khổ nhân dân’” (Đại Nam Thực Lục – sđd, trang 222).
Cuối năm (âm lịch) đó, quân Xiêm bị phục binh của nhà Tây Sơn dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Huệ đánh một trận tan tác. Tháng 4 Âm lịch năm sau (1785), được tin về sự lộng hành của quân Xiêm tại Gia Định, vua Xiêm nổi giận định chém hai cháu là Chiêu Tăng và Chiêu Sương là những người chỉ huy trực tiếp đạo quân này, may nhờ Nguyễn Ánh can gián nên họ thoát chết. Qua những sự kiện lịch sử trên, ta có thể thấy rõ những lập luận cho rằng quân Xiêm xâm lược nước ta và Nguyễn Ánh “cõng rắn cắn gà nhà” là không đứng vững, vì các lý do sau:
– Hành động xâm lược chỉ có thực khi quân đội nước này sang tấn công một nước khác, đánh bại quân nước đó và chiếm đóng lâu dài. Trong trường hợp kể trên, quân Xiêm được triều đình nước này cử đi tăng cường cho lực lượng có sẵn của chúa Nguyễn Ánh và đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của tướng Việt là Châu Văn Tiếp thì chỉ có thể nói đó là đạo quân đánh thuê hơn là đạo quân xâm lược.

Không thể coi Nguyễn Ánh là “cõng rắn” khi ông sử dụng quân Xiêm như một công cụ để tăng cường sức mạnh của quân đội do ông và các tướng Việt chỉ huy. Việc quân Xiêm lợi dụng cơ hội để tàn hại dân lành là một tình huống bất ngờ trong chiến tranh, nằm ngoài dự kiến của cả phía Việt lẫn phía Xiêm. Tất nhiên, Nguyễn Ánh và các tướng của ông phải chịu trách nhiệm về biến động này, và như những phát biểu của ông với các tướng, điều này chỉ có tính nhất thời và vượt ra ngoài khả năng kiểm soát của phía Việt. Nếu quân Xiêm được đưa sang Đại Việt nhằm mục đích xâm lược, vua Xiêm đã không nổi trận lôi đình đòi mang hai người cháu ra chém đầu về những việc làm tệ hại mà binh lính của họ đã gây ra.

– Qua việc vua Xiêm công bố về thỏa thuận của cả hai bên “đã có thề ước với nhau là gặp hoạn nạn thì cứu nhau”, có thể thấy rằng vào những thế kỷ XVIII – XIX, các nước Đông Nam Á đã có một thỏa thuận mặc nhiên là nước này gặp nguy biến có thể nhờ một nước khác mang quân sang giúp. Tất nhiên khi đã nhờ nước khác sang giúp mình thì không thể coi họ là đạo quân xâm lược. Điều này đã được nhiều lần chứng minh trong lịch sử: năm 1785, trong  thời gian nương náu tại Vọng Các (Bangkok), các tướng Việt đã có dịp giúp quân Xiêm đánh tan cuộc xâm lăng của quân Miến Điện (Diến Điện, nay là Myanmar); thế kỷ XIX và các thế kỷ trước, mỗi lần nước láng giềng Chân Lạp bị lân bang Xiêm La xâm lấn, họ yêu cầu quân ta kéo sang Nam Vang để giúp đẩy lùi cuộc ngoại xâm, không có lịch sử nước nào gọi quân ta là quân xâm lược. Ngay giữa cuộc nội chiến giữa nhà Nguyễn và nhà Tây Sơn, nhiều lần nước Lào tình nguyện đưa quân sang tấn công vào mặt tây bắc của Đại Việt để phân tán lực lượng của quân Tây Sơn (còn kiểm soát miền trung và miền bắc Đại Việt), giúp chúa Nguyễn Ánh rảnh tay giải quyết các chiến trường phía Nam.

Quang Trung – Nguyễn Huệ (1753-1792)

NHÀ TÂY SƠN CÓ “CÕNG RẮN” HAY KHÔNG?
Chúng ta cứ giả thiết như sự hiện diện của hai vạn quân Xiêm trong đạo quân của nhà Nguyễn năm 1784 là một hình thức “cõng rắn” của Nguyễn Ánh, vậy hãy xét xem nhà Tây Sơn có “cõng rắn” theo cách thức này không?
Trước hết cần nhắc lại một số sự kiện quan trọng trong sử Việt liên quan đến mối quan hệ giữa nhà Tây Sơn và các nhóm quân sự người Hoa. Chỉ hai năm sau khi nổi dậy, năm 1773, Nguyễn Nhạc tự xưng là Trại chủ, thu nạp quân của hai lái buôn người Hoa là Tập Đình và Lý Tài vào quân đội của mình. Quân của Tập Đình gọi là Trung Nghĩa quân, quân của Lý Tài gọi là Hòa Nghĩa quân. Nhờ hai đạo quân này mà quân Tây Sơn đánh thắng nhiều trận lớn, đẩy quân nhà Nguyễn vào thế chống đỡ, cuối cùng chúa Định vương Nguyễn Phúc Thuần phải cùng gia quyến và quần thần bỏ kinh đô Phú Xuân (Huế) chạy vào Gia Định.
Tuy nhiên, đến năm 1775, mối quan hệ giữa nhà Tây Sơn và hai nhân vật người Hoa trên bắt đầu rạn nứt, Nguyễn Nhạc lập mưu giết Tập Đình, Đình biết trước, bỏ chạy về Quảng Đông, bị quan nhà Thanh bắt giết. Ít lâu sau, không chịu đựng nổi cách hành xử khắc nghiệt của Nguyễn Nhạc, Lý Tài dẫn Hòa Nghĩa quân đến đầu hàng tướng Tống Phước Hiệp của nhà Nguyễn. Năm 1782, Hòa Nghĩa quân chém được tướng Phạm Ngạn của nhà Tây Sơn tại cầu Tham Lương, Nguyễn Nhạc giận cá chém thớt, bắt giết hàng mấy ngàn người Hoa ở Gia Định, bất kể thuộc thành phần nào, thây nằm chật sông, dân chúng không dám ăn cá mấy tháng liền.
Trong những năm gần đây, các hoạt động của phong trào Tây Sơn được nhiều giáo sư, nhà nghiên cứu phương Tây khảo rất kỹ, trong số này phải kể đến bà Dian H. Murray, tác giả quyển Pirates of the South China Coast, 1790-1810 (Hải tặc ở miền duyên hải Nam Trung Hoa, những năm 1790-1810), xuất bản năm 1987, và giáo sư người Mỹ George Dutton, tác giả quyển The Uprising of Tây Sơn (Cuộc nổi dậy của nhà Tây Sơn) – 2006 . Hai tác giả trên đã dành những chương quan trọng nêu chi tiết cụ thể sự hợp tác mật thiết giữa nhiều nhóm hải tặc người Hoa ở biển Đông với nhà Tây Sơn, từ khi hoàng đế Quang Trung còn nắm quyền cho đến ngày cuối cùng của chính thể này. Bọn cầm đầu các nhóm hải tặc Trung Hoa được nhà Tây Sơn giao cho nhiệm vụ tuyển người bổ sung vào lực lượng của họ, đưa quân làm chốt chặn các ngả tiến quân của quân nhà Nguyễn và bước đầu đã đóng góp nhiều công sức quan trọng trong các chiến dịch đánh chiếm Phú Xuân và Thăng Long năm 1786. Một trong những nhân vật cốt lõi thuộc nhóm hải tặc Trung Hoa là Trần Thiên Bảo được nhà Tây Sơn phong chức Tổng binh, tước hầu; một người bạn của y là Lương Khuê Hiệp được phong tước Hiệp Đức hầu. Trong tác phẩm kể tên, giáo sư Dutton đã viết về sự liên kết giữa hải tặc Trung Hoa và nhà Tây Sơn như sau:
“Những người từng là cướp biển đơn thuần, không có phẩm cấp hay địa vị nay được công nhận là tướng lĩnh, quan trấn thủ, hầu tước, trong lúc có người thậm chí còn được phong vương. Một tay cầm đầu hải tặc tên Mạc Quan Phù được phong tước Đông Hải Vương, trong khi một người khác là Ô Thạch Nhị được phong Bình Ba Vương năm 1797. Giữa thập niên 1770, các nhà lãnh đạo Tây Sơn đã triển khai sức mạnh và địa vị từ những chức vụ và cương vị chính thức do chúa Trịnh ban cho, thì các hải tặc Trung Hoa cũng có được tầm cỡ từ những chức vụ mà nhà Tây Sơn ban cho chúng. Sự hợp pháp hóa này quan trọng trong mối quan hệ giữa bọn hải tặc với nhau và với chính quyền Trung Hoa, nhưng nó cũng có ích cho những nhà lãnh đạo Tây Sơn, vì nó đưa ra một sự giải thích về cách hành xử trong mối quan hệ giữa họ với những kẻ ngoài vòng pháp luật này.
Đội thủy quân của hải tặc phục vụ trong quân đội Tây Sơn khá quan trọng, một mặt với Mạc Quan Phù chỉ huy hơn một ngàn người, mặt khác với một người cầm đầu hải tặc là Trịnh Thất, chỉ huy một lực lượng hơn 200 tàu thuyền. Thủy quân với tầm cỡ đó rất hữu dụng cho nhà Tây Sơn, đảm đương nhiều chức năng cốt yếu cho triều đại Quang Trung. Trước hết, hải tặc giúp ông mở rộng sức mạnh thủy quân, bổ sung khả năng tuần tra vùng duyên hải từ biên giới với Trung Quốc đến vùng cực nam Qui Nhơn…” (sách đã dẫn, trang 222)
Sau khi vua Quang Trung qua đời, hải tặc Trung Hoa tiếp tục tham gia vào những chiến dịch quân sự quan trọng của nhà Tây Sơn, phục vụ cho chính quyền này cho đến những ngày cuối cùng (1802). Xét như thế để thấy rằng sự hiện diện của những lực lượng hải tặc Trung Hoa do nhà Tây Sơn kết nạp vào quân đội của họ về bản chất không khác gì lực lượng quân Xiêm được tăng cường cho quân đội của Nguyễn Ánh. Chúng ta sẽ có dịp trở lại một cách chi tiết hơn về sự “cộng sinh” giữa nhà Tây Sơn và các nhóm hải tặc Trung Hoa trong suốt mười mấy năm liền.
Tất nhiên, chúng ta không hẹp hòi  kết luận rằng sự hiện diện của một lực lượng hùng hậu hải tặc Trung Hoa trong quân đội nhà Tây Sơn là một hình thức “cõng rắn” của ba anh em Nhạc, Huệ, Lữ. Việc làm có ý thức của họ cũng như việc Nguyễn Ánh chấp nhận cho 2 vạn quân Xiêm chiến đấu chung hàng ngũ với quân đội của mình chỉ nhằm tăng cường tiềm lực quân sự trong cuộc nội chiến giữa hai bên.  Vì vậy, trên tinh thần công bằng của lịch sử, nay đã đến lúc cần xem lại cái luận điệu một chiều cũ rích “Nguyễn Ánh cõng rắn cắn gà nhà” của hàng ngàn cái loa vẫn ra rả từ nhiều năm qua.
Kỳ sau: Chuyện Nguyễn Ánh ”cõng rắn” trong mối quan hệ với người Pháp
Tác giả gửi Trí Việt News