XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG

Thứ Ba, 24 tháng 4, 2018

PHƯƠNG ÁN NUÔI TRỒNG VÀ KHAI THÁC CÁ HỒ IA MƠR

MỞ ĐẦU
Giới thiệu tổng quan về hồ chứa thủy lợi Ia Mơr:
Hồ chứa thủy lợi Ia Mơ thuộc huyện Chư Prông tỉnh Gia Lai cách QL 14 khoảng 60km về phía Tây, cách huyện lỵ Chư Prông 40km và cách trung tâm TP Pleiku 80km.
Toạ độ địa lý :
13độ17’40’’ - 1336’40’’ Vĩ độ Bắc
10735’53’’ - 10759’53’’ Kinh độ Đông .
            Hồ Ia Mơr là hồ chứa thủy lợi được xây dựng xong đưa vào sử dụng vào cuối năm 2017 thuộc Dự án đầu tư – Thiết kế cơ sở (DAĐT – TKCS) công trình thủy lợi hồ chứa nước Ia Mơr thuộc tỉnh Gia Lai – Đăk Lăk đã được Bộ trưởng Bộ NN&PTNT phê duyệt tại quyết định số 2954QĐ/BNN-XD ngày 27 tháng 10 năm 2005 với những nội dung cơ bản sau:
            Công trình thủy lợi hồ chứa nước Ia Mơr (thuộc dự án Đa mục tiêu Ia Mơr), tỉnh Gia Lai, tỉnh Đăk Lăk.
        - Phần công trình đầu mối và hệ thống kênh chính: Ban Quản lý Dự án Thủy lợi 413 trực thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT làm chủ đầu tư.
        - Phần kênh và công trình trên kênh cấp I trở xuống tới mặt ruộng thuộc địa bàn tỉnh Gia Lai: Ban Quản lý dự án đầu tư và chuyên ngành thủy lợi, thuộc sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Gia Lai làm chủ đầu tư.
        - Phần kênh và công trình trên kênh cấp I trở xuống tới mặt ruộng thuộc địa bàn tỉnh Đăk Lăk: Ban Quản lý dự án thủy lợi, thuộc sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Gia Lai làm chủ đầu tư.
        - Hợp phần đền bù, di dân, tái định cư, giải phóng mặt bằng và hệ thống kênh cấp I trở xuống đến kênh nội đồng: Ban Quản lý dự án của địa phương do UBND tỉnh Gia Lai, Đăk Lăk quyết định.
1. Mục tiêu của dự án
        Khai thác có hiệu quả tiềm năng đất đai của vùng dự án, biến nới đây thành vùng trọng điểm nông nghiệp, góp phần giải quyết vấn đề lương thực cho Gia Lai, Đăk Lăk nói riêng và Tây Nguyên nói chung, ổn định an ninh quốc phòng vùng biên giới Tây Nam.
2. Nhiệm vụ của dự án
        Công trình có nhiệm vụ chính là tưới, cấp nước sinh hoạt cho nhân dân tròn vùng dự án cụ thể như bảng sau:
TT
Nhiệm vụ
Dự án đầu tư
Ghi chú


Ia Mơr
PleiPai
Ia Lốp
Tổng

I
Tổng diện tích canh tác (ha)
12.500
877
970
14347
- Tưới bổ sung 4000ha (so với NCTKT) cho khu vực huyện Ia Soup tỉnh Đăk Lăk.
- Bổ sung làm mới hồ chứa nước PleiPai và đập dâng Ia Lốp (so với NCTKT)
1
Đất lúa 2 vụ (ha)
7.341
450
720
8511

2
Đất màu+Cây CN (ha)
5.159
427
250
2836

II
Cấp nước sinh hoạt
50.000 người

III
Kết hợp giảm lũ cho hạ lưu, phát điện, giao thông nông thôn, nuôi trồng thủy sản và du lịch
            3. Nội dung và quy mô đầu tư xây dựng:
            Xây dựng hồ chứa, đập dâng và hệ thống kênh cấp nước theo yêu cầu dùng nước vùng dự án.
            Cấp công trình và tần suất thiết kế (theoTCXD VN 285:2002) như sau:
TT
Chỉ tiêu
Hồ Ia Mơr
Hồ Plei Pai
Đập dâng Ia Lốp
I
Cấp công trình
Cấp II
Cấp IV
Cấp IV
II
Chỉ tiêu thiết kế



1
Tần suất lũ thiết bị
0,5%
1,5%
1,5%
2
Tần suất lũ kiểm tra
0,5% ?
0,5%
0,5%
3
Tần suất dẫn dòng thi công
5%
10%
10%
4
Mức đảm bảo cấp nước tưới
75%
75%
75%
5
Mức cấp nước sinh hoạt
120l/người
(ngày/đêm)


4. Địa điểm xây dựng
+Công trình Ia Mơr: Đầu mối nằm trên sông Ia Mơr, thuộc xã Ia Mơr, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai, Hệ thống kênh thuộc xã Ia Mơr, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai và huyện EaSoup, tỉnh Đăklăk..
+Công trình Plei Pai và Ia Lôp: xây dụng tại xã Ia Lâu, huyện Chư Prông tỉnh Gia Lai.
5. Đất sử dụng thực hiện dự án:
No
Hạng mục
Đơn vị
Khối lượng



Hồ Ia Mơr
PleiPai + Ia Lốp
Tổng cộng
1
Vĩnh viễn
Ha
2936
580
3516
2
Tạm thời
Ha
72
30
111

Tổng cộng
Ha
3008
619
3627
6. Phương án xây dựng
a. Quy mô và các thông số kỹ thuật cơ bản:Hồ chứa nước Ia Mơ

No
Thông số
Đơn vị
Hồ chứa nước Ia Mơr


I
Các thông số thủy văn




Diện tích lưu vực đến tuyến đập
Km2
380


Lưu lượng lũ thiết kế
m3/s
1431


Tổng lượng lũ thiết kế
106m3
159.50


Lưu lượng lũ kiểm tra
m3/s
1887


Tổng lượng lũ kiểm tra
106m3
212.60

II
Các thông số hồ chứa




Mực nước gia cường kiểm tra
m
197.70


Mực nước gia cường thiết kế
m
196.50


Mực nước dâng bình thường
m
194.00


Mực nước chết
m
183.80


Dung tích toàn bộ
106m3
177.80


Dung tích hữu ích
106m3
162.50


Dung tích chết
106m3
15.3


Diện tích mặt hồ ứng với MNDBT
Km2
16


Chế độ điều tiết
106m3
Nhiều năm


Hệ số sử dụng dòng chảy  

0.79


Hệ số dung tích  

0.45

III
Các hạng mục chính



1
Đập đất




Cao trình đỉnh đập
m
199.00


Chiều dài đỉnh đập
m
3.035


Chiều rộng đỉnh đập
m
6


Chiều cao đập lớn nhất
m
32.00


Kết cấu thép

Đập đất mặt cắt hỗn hợp 3 khối


Hình thức tiêu nước

Ống khói, đóng đá hạ lưu

2
Tràn xả lũ




Cao trình ngưỡng tràn
m
189.00


Chiều rộng ngưỡng tràn
m
18


Cột nước tràn thiết kế Htk
m
7.5


Lưu lượng xả thiết kế
m3/s
654


Chiều dài dốc nước
m
70


Chiều rộng dốc nước
m
21.20


Độ dốc nước
%
10


Hình thức tràn

Tràn có cửa tiêu năng đáy. Kết cấu BTCT M200, hình thức tràn có cửa (3x5x6m)

3
Cống lấy nước




Cao trình ngưỡng cống
m
179.00


Khẩu diện cống
m
 fi=2,7


Chiều dài thân cống
m
113


Độ dốc đáy cống
%
0.10


Lưu lượng thiết kế
m3/s
15.45


Hình thức cống

Cống thép tròn có hành lang kiểm tra, có áp, van côn hạ lưu

4
Hệ thồng kênh tưới



a
Kênh chính




Diện tích tưới
ha
12.500


Lưu lượng TK đầu kênh chính
m3/s
15.45


Chiều dài kênh chính
Km
0.605


Số lượng công trình trên kênh
Cái
7

b
Kênh Tây Ia Mơr




Diện tích tưới
ha
4150


Lưu lượng TK đầu kênh Tây
m3/s
5.40


Chiều dài kênh Tây
Km
15.2


Số lượng công trình trên kênh
Cái
66


Tổng chiều dài kênh cấp I
Km
29

c
Kênh Đông Ia Mơr




Diện tích tưới
ha
7730


Mực nước TK đầu kênh Đông
m3/s
182.10


Lưu lượng TK đầu kênh Đông
m3/s
8.60


Chiều dài kênh Đông
Km
35.20


Số lượng công trình trên kênh
Cái
155


Tổng chiều dài kênh cấp I
Km
56

d
Kênh bơm




Diện tích tưới
ha
620


Lưu lượng TK đầu kênh bơm
m3/s
0.4


Chiều dài kênh bơm
Km
6.0




PHẦN I
KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN – KINH TẾ - XÃ HỘI

I/ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
Vị trí địa lý tự nhiên khu vực :
1. Vị trí địa lý :
Khu vực Dự án thuỷ điện IaMơ thuộc huyện Chư Prông tỉnh Gia Lai cách QL 14 khoảng 60km về phía Tây, cách huyện lỵ Chư Prông 40km và cách trung tâm TP Pleiku 80km .
Toạ độ địa lý :
1317’40’’ - 1336’40’’ Vĩ độ Bắc
10735’53’’ - 10759’53’’ Kinh độ Đông .
2. Điều kiện địa hình , địa chất :
            Địa hình :
            Địa hình Gia Lai chủ yếu là đồi núi, chiếm 2/5 diện tích toàn tỉnh. Ngoài ra địa hình Gia Lai còn là địa hình thung lũng, địa hình cao nguyên và một số sông, suối khá bằng phẳng, ít bị chia cắt. Nhìn chung địa hình Gia Lai thấp dần từ Bắc xuống Nam và nghiêng từ Đông sang Tây. Do có địa hình chủ yếu là đồi núi và cao nguyên nên Gia Lai thuộc vùng khí hậu cao nguyên nhiệt đới gió mùa, dồi dào về độ ẩm, có lượng mưa lớn, không có bão và sương muối.
            Vùng lòng hồ được hình thành dọc theo 2 con suối Ia Mơ và Ia Tae . Bụng hồ chứa rất rộng , khá bằng phẳng , mặt hồ rộng khoảng 5km , dài gần 4km .
            Vùng công trình đầu mối đập Ia Mơ được chọn gần điểm hợp lưu suối Ia Mơ và Ia Tae , địa hình đồi dốc thoải , độ dốc bề mặt địa hình trung bình từ 20 - 40C , vai phải đập dốc hơn từ 50 -80C . Hạ lưu đập địa hình mở rộng tương đối bằng phẳng .
            Địa chất công trình :
            Dự án thủy lợi Hồ chứa nước Ia Mơ đã được tiến hành khoan đào thăm dò địa chất cho toàn vùng công trình trong đó khu vực đầu mối đã tiến hành khoan 20 hố với tổng độ sâu 332m và thí nghiệm các chỉ tiêu cơ lý đất đá khá kỹ và đầy đủ .
            Điều kiện địa chất khu đầu mối như sau :
            - Trầm tích đệ tứ Q :
            Lớp 1 : cát lẫn sỏi , độ dày từ 3-3,5m chủ yếu ở lòng sông , nguồn gốc bồi tích aQ
            Lớp 1a : sét màu xám nâu , xám vàng lãn ít vón kết và sạn thạch anh , đất hơi ẩm trạng thái cứng , chặt vừa , lớp nầy phân bổ ở thềm bờ trái , độ dày từ 2-7m
            Lớp 2a : đất dưm sạn và á sét nhẹ lẫn ít đá tảng lăn , màu xám nâu . Lớp nầy phân bổ ở vai phải tuyến đập , chiều dày từ 2-3m , nguồn gốc deQ của đá trầm tích cát kết , dăm sạn kết .
            Lớp 2b : á sét nhẹ lẫn dăm sạn phân bổ trên sườn đồi bờ trái , chiều dày từ 1 -3m , nguồn gốc deQ của đá Mac ma .
            Lớp 3a : á sét trung nhẹ màu xám vàng , đất hơi ẩm , trạng thái cứng đến ½ cứng, kết cấu chặt. Nguồn gốc pha tàn tích deQ  của dăm kết .
            Lớp 3b : đất dăm sạn và á sét nhẹ màu xám vàng , đất ẩm , trạng thái cứng , kết cấu chặt. Nguồn gốc pha tàn tích deQ 
            Tầng đá dưới các lớp đất :
            Bao gồm đá phong hóa hoàn toàn , đá phong hóa mạnh , phong hóa nhẹ đến cứng chắc .
3. Đăc điểm sông ngòi :
Nguồn nước mặt: chủ yếu là sông, suối thường có lòng dốc, thung lũng hẹp, nước chảy xiết, bao gồm: Hệ thống sông ngòi của Gia Lai chảy theo hai hướng ra biển Ðông. Sông Ba nằm dài trên sườn Tây dẫy Trường Sơn, lưu vực 13.000km 2, là con sông dài thứ 2 ở Tây Nguyên (dài 304 km), bắt nguồn từ núi Ngọc Rô chảy qua các vùng địa hình phức tạp của tỉnh chảy về biển Ðông (khu vực Phú Yên). Sông Sê San bắt nguồn từ đỉnh Ngọc Linh, lưu vực 11.450 km 2, chiều dài của sông là 230 km chảy qua biên giới đổ vào sông Mê Kông
Nhìn chung những sông suối ở Tây nguyên nói chung và địa bàn tỉnh Gia Lai nói riêng đều mang đặc điểm có độ dốc lớn , nhiều thác ghềnh . Đây là điều kiện rất thuận lợi cho việc phát triển xây dựng các công trình thuỷ điện vừa và nhỏ .
2. Điều kiện khí tượng :
2.1.Khái quát :
            Khí hậu tỉnh Gia Lai nói riêng và Tây nguyên nói chung mang đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên.
Gia Lai thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên. Nhiệt độ trung bình trong năm dao động trong  khoảng 22 - 23°C, biên độ nhiệt độ dao động trong ngày 8 - 9°C.
Gia Lai có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa chủ yếu bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau. Hàng năm, lượng mưa trung bình khoảng 2.121mm, lượng mưa năm cao nhất 2.260 mm, năm thấp nhất 1.234 mm, tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 8. Mùa khô, gió chủ yếu theo hướng đông bắc; mùa mưa, gió chủ yếu theo hướng tây nam.
Độ ẩm trung bình hàng năm dao động trong khoảng 78 - 87%. Độ ẩm không khí tháng cao nhất là tháng 8 - 9 (khoảng 90%), tháng thấp nhất là tháng 3 (khoảng 66%).
2.2.Nghiên cứu khí tượng :
            Trên các lưu vực sông thuộc Tây nguyên có nhiều trạm khí tượng đo đạc đầy đủ các yếu tố , ngoài ra nằm rãi rác trên các lưu vực có các trạm đo mưa .
            Danh sách các trạm khí tượng và các yếu tố quan trắc
TT
Tên trạm
Thời gian quan trắc
Yếu tố quan trắc
1
Pleiku
34-44;59-74;76-2001
1976 - 2001
X, T, Z , gió , U
2
Kon Tum
31-41;61-68;76-2001; 1976-2001
X, T, Z , gió , U
3
An Khê
1977-2001
1980-2001
X
X, T, Z , gió , U
4
Cheo Reo
31-42;64-74;77-2001 ;  1977-2001
X, T, Z , gió , U
5
Sơn Hoà
1977-2001
X, T, Z , gió , U
6
ĐăkTô
1981-2001
X, T, Z , gió , U
7
Buôn Hồ
1982-2001
X, T, Z , gió , U
8
MaĐrắc
1977-2001
X, T, Z , gió , U
9
Buôn Mê Thuộc
1977-2001
X, T, Z , gió , U
10
Sa Thầy
1980-1984
X, T, Z , gió , U
Nhận xét :
Trên lưu vực Tây nguyên việc nghiên cứu khí tượng chậm hơn so với các vùng khác . Trước năm 1975 vùng nầy chỉ có một ít trạm khí tượng như Kon tum , Pleiku , An khê , Cheo Reo. Số liệu thống kê ở các trạm nầy cũng không liên tục và thường bị gián đoạn vào các năm 1945-1960 , 1975-1976 . Từ sau năm 1976 ngành khí tượng thuỷ văn được thành lập và mạng lưới quan trắc các yếu tố khí tượng cũng như đo mưa được tiến hành khá đồng đều trên các lưu vực Tây nguyên.
            Một số trạm khí tượng như: Plei ku, An khê, Kon Tum có số liệu tương đối dài và đầy đủ được chọn làm đại biểu để tính toán cho các công trình nghiên cứu.
2.3. Các đặc điểm khí hậu lưu vực :
a. Chế độ mưa :
Lưu vực công trình thuỷ lợi IaMơ thuộc vùng mưa nhiều, sự phân bố mưa theo vùng lãnh thổ là không không đều. Lượng mưa trung bình năm giao động từ 2600 ¸ 2800m . Qua phân tích số liệu mưa ta thấy rằng một năm chia làm hai mùa, mùa mưa từ tháng V-X, mùa khô từ tháng XI-IV, trong đó lượng mưa mùa mưa chiếm (80-90)% lượng mưa năm. Số ngày mưa trong năm đạt khoảng 160 ngày ở các vùng có lượng mưa lớn và đạt khoảng 110 ngày trong các
vùng mưa nhỏ, khoảng 90% số ngày mưa rơi vào các tháng có ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam và Tây.
Lượng mưa lớn nhất một ngày đêm không lớn: Tại Kon Tum đạt 252mm (1970), tại trạm Plêiku là 204,2mm (1984) tại trạm Kon Plong là 282mm (1983) và tại Đăk Tô là 165,5mm (1996). Lượng mưa các thời đoạn 1 ngày, 3 ngày v.v.. là lượng mưa lớn nhất ứng với tần suất thiết kế đã được xác định tại các trạm khí tượng .
Lượng mưa trung bình lưu vực tính đến tuyến đập được xác định theo bản đồ đẳng trị mưa năm (bản đồ lập cho một số công trình trong khu vực) là: X0 = 2400mm.
Lượng mưa trung bình nhiều năm                 Đơn vị: mm
TT
Vị trí trạm
Cao độ tuyệt đối  (m)
Lượng mưa trung bình nhiều năm (mm)
Thời kỳ quan trắc
1
Pleiku
800
2263,0
1977-2001
2
Kon Tum
536
1775,5
1961-2001
3
Đak Tô
570
1928,4
1977-2001
4
Kon Plong (TV)

1852,0
1995-2002
b. Chế độ nhiệt :
Qua số liệu quan trắc tại các trạm khí tượng trên lưu vực sông Sê San chế độ nhiệt  của lưu vực mang tính chất của vùng nhiệt đới gió mùa Cao nguyên. Nằm trên độ cao 1000m, lưu vực có mùa đông tương đối lạnh và mùa hè tương đối nóng. Phạm vi dao động của nhiệt độ giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất là không lớn, khoảng 50C, trong khi đó dao động ngày đêm của nhiệt độ không khí là đáng kể đặc biệt vào mùa khô nó đạt trên 270C . Các tháng nóng nhất thường là vào tháng III và tháng IV, các tháng lạnh nhất là tháng XII, I.
Nhiệt độ không khí                                                                           Đơn vị 0C
đặc trưng
Các tháng, năm
I
II
III
IV
V
VI
VII
VIII
IX
X
XI
XII
Năm
Ttb0C
20,5
22,2
24,4
25,7
25,4
25,0
24,3
24,1
23,8
20,5
22,0
20,5
23,4
Tmax0C
34,2
36,2
37,1
37,9
36,4
35,6
33,7
34,1
32,6
32,5
33,0
32,5
37,9
Tmin0C
5,9
7,9
8,7
9,6
18,0
18,9
18,9
18,0
8,9
5,9
11,9
5,9
5,9
c. Độ ẩm không khí , gió :
Độ ẩm tuyệt đối của không khí trong lưu vực đạt dưới 21mb. Tháng có độ ẩm tuyệt đối lớn nhất trong năm là tháng VII và tháng VIII là  26,6mb.
Độ ẩm tương đối trung bình năm thay đổi từ  78,2% đến 81,2%,  cao nhất là 100% và thấp nhất là 13%  ở Kon Tum, 8% ở Đăk Tô.
Hướng gió trên lưu vực Đăk Pône thay đổi theo mùa và có đặc điểm gió mùa Đông Nam Á. Tốc độ gió trung bình  ít thay đổi theo tháng và theo mùa, nhưng do ảnh hưởng của địa hình, tốc độ  gió có giảm đi và hướng gió thay đổi khác nhau. Nhìn chung tốc độ gió mùa khô lớn hơn mùa mưa.
Trong các tháng từ XI – II, tốc độ gió trung bình đạt 3m/s lớn hơn so với các tháng khác trong năm. Tốc độ gió lớn nhất trên lưu vực sông Sê San đã quan trắc được vào ngày 14/4/1984 là 20m/s tại Kon Tum và 28m/s xuất hiện vào tháng XI tại Plêiku.
d.Bốc hơi:
Do độ ẩm không khí cao nên bốc hơi không lớn. Lượng bốc hơi tháng lớn nhất đo bằng ống Piche xảy ra vào mùa khô từ các tháng II đến tháng IV, đạt tới 258,5mm . Từ tháng VIII đến tháng X, do mưa nhiều, lượng bốc hơi tháng giảm xuống khoảng 52mm. Lượng bốc hơi trung bình năm mặt nước được xác định theo số liệu quan trắc các trạm khí tượng.
Theo số liệu quan trắc bốc hơi năm trung bình nhiều năm lưu vực là 1137mm.
Lượng bốc hơi trung bình tháng , năm của một số trạm đại biểu ( mm )

Trạm
I
II
III
IV
V
VI
VII
VIII
I X
X
XI
XII
Năm
Kon Tum
176
181,8
211,6
169,2
114
74,7
62
62
60,8
88,3
123,3
154,9
1485
Pleiku
117,4
129,5
157,1
131
85,7
49,4
37,1
37,1
40,2
57,6
83,2
104,8
1035
An Khê
84,6
93,1
135,1
147,1
147,2
148,1
131,5
131,5
90,5
67,9
63,5
66,7
1318
Buôn Hồ
88
146,1
154,5
146,9
121,2
86,3
97,9
97,9
59,2
51,4
56,6
63,8
1150
3.Điều kiện thuỷ văn :
3.1. Mức độ quan trắc thuỷ văn trong và ngoài tỉnh :
Mạng lưới trạm thuỷ văn phân bố không đồng đều trên các lưu vực sông thuộc tỉnh và các vùng lân cận . Trên khu vực Tây nguyên có 14 trạm thuỷ văn do Tổng cục khí tượng thuỷ văn quản lý . Ngoài ra còn một số trạm khác do các ngành khác lập và quản lý nhằm nghiên cứu và xây dựng các công trình trên sông .
Các trạm thuỷ văn , thời gian quan trắc và các yếu tố quan trắc
TT
Tên Trạm
Sông
Diện tích lưu vực ( km)
Yếu tố quan trắc
Thời gian quan trắc
1
An Khê
Ba
1345
H,Q,R,X
67-74;77-2001
2
Củng Sơn
Ba
12800
H,Q,R,X
64-72;76-01;80-01
3
Sông Hinh
Hinh - Ba
747
H,Q
79-97
4
Ayun  Hạ
Ayun  , Ba
1670
H,Q
77; 88-92
5
Cheo Reo
Ba
6940
H
77-97
6
Pơ mơ Rê
Ayun  , Ba

H
79-89
7
Krông Hnăng
Ba
237
H,Q
79-83
8
Ka nac
Ba

H,Q
98-2000
9
Kon tum
Đăk Bla
3030
H,Q,R,X
66-70;74;77-05
10
Trung Nghĩa
Krông Pôcô
3139
H,Q,R,X
77-98
11
Sa Bình
SêSan
6732
H,Q,R,X
82;90
12
Ia Ly
SêSan
7659
H,Q
88-99;92-95
13
Đăk Cấm
ĐăkCấm
154
H,Q
77-83
14
Kon Plông
ĐăkBla

H,Q,R,X
94-2005
15
ĐăkTô
ĐăkTơKan

H,Q,R,X
77-2001
16
Bản Đôn
Sê Rêpôk
10700
H,Q

17
Cầu 14
Sê Rêpôk
8670
H,Q

18
Krông Buk
Krông Buk
478
H,Q
77-02
19
Giang Sơn
Krông Ana
3180
H,Q,R,X
77-02
3.2. Các số liệu thuỷ văn :
            DÒNG CHẢY NĂM:
Phương trình tương quan mưa – dòng chảy tại lưu vực Ia Mơ :
Y  =  0,647 X – 338
Flưu vực
Qo
Wo
Mo
Cv
Cs
Q25%
Q50%
Q75%
Km2
m3/s
10m3
l/s-km2


m3/s
m3/s
m3/s
380
11,50
363,3
30,3
0,32
0,64
13,71
11,17
8,87

Phân phối Dòng chảy năm thiết kế của hồ Ia Mơ:
Tháng
I
II
III
IV
V
VI
VII
VIII
I X
X
XI
XII
Năm
Q50%
5,72
3,77
2,63
1,99
3,67
7,41
20,56
26,02
22,11
17,75
13,75
8,66
11,17
Q75%
3,56
2,29
1,52
1,2
1,89
6,31
20,66
24,61
16,48
12,98
8,92
6,02
8,87

DÒNG CHẢY LŨ :
P (%)
0,1
0,5
1
2
5
10
Qp (m3/s)
1887
1431
1242
1056
822
657

II/KINH TẾ XÃ HỘI

1. Dân số và lao động :
Dân số tỉnh Gia Lai 1.272.792 người (điều tra dân số 01/04/2009) bao gồm nhiều cộng đồng dân tộc cùng sinh sống. Trong đó, người Kinh chiếm 52% dân số. Còn lại là các dân tộc Gia-rai (33,5%), Ba Na (13,7%), Giẻ-triêng, Xơ-đăng, Cơ-ho, Thái, Mường...
2.Tình hình chung về kinh tế:
Huyện điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, tuy nhiên có thuận lợi do có sẵn một số cơ sở hạ tầng được xây dựng từ trước.
Nông nghiệp: Huyện có tiềm năng về nông nghiệp, có khả năng mở rộng khi có công trình thuỷ lợi lớn. Huyện đã chủ trương mở rộng diện tích khai hoang, mở rộng đất ruộng, áp dụng các biện pháp canh tác mới. Đưa công tác thủy lợi vào trong nông nghiệp, đảm bảo diện tích tưới nước thường xuyên cho cây trồng.
Lâm nghiệp: Huyện có khoảng 102.713 ha đất rừng đa số trên 80% là rừng khộp
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp: Nói chung, ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện có quy mô nhỏ, không phát triển mạnh.
Thương mại, dịch vụ:Loại hình này phát triển tự phát, chi phối bởi các hoạt động tư thương nhỏ. Hoạt động thương mại dịch vụ tập trung chủ yếu ở thị trấn, ở các cụm xã chưa có điều kiện hình thành, chỉ hoạt động dưới dạng buôn bán lẽ.
- Giao thông: Đường tỉnh lộ 675 là trục đường duy nhất nối xã Ia Mơ với các vùng khác và thị trấn Chư Prông . Chiều dài đường 60km .
- Hệ thống điện: Hiện nay điện lưới Quốc gia đã được kéo về để phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong xã .
- Về văn hóa xã hội:
Văn hóa có tính đa dạng, mang đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Tây Nguyên. Văn hóa cổ truyền của các dân tộc bản địa huyện khá phong phú.
Về giáo dục: Trên địa bàn Xã đã có 01 trường THCS với 05 phòng học .
Về y tế: Đã có mạng lưới y tế từ tuyến Huyện đến Xã, Thôn. Ở xã có các trạm y tế. Tuyến thôn đã có nhân viên y tế thôn.
Về Nuôi trồng thủy sản: Huyện có nuôi trồng thủy sản hồ chứa Plei Pai từ 2012 sản lượng bình quân đạt 36 tấn/năm, do tổ hợp tác thủy sản Plei Pai xã Ia Lâu thực hiện;

PHẦN II
NỘI DUNG PHƯƠNG ÁN NUÔI TRỒNG VÀ KHAI THÁC CÁ HỒ IA MƠR

1/ Thuyết minh khái quát:
- Tên Phương án: Nuôi trồng và khai thác cá hồ Ia Mơr
- Đơn vị thực hiện: Công ty Cổ phần tập đoàn Đức Long Gia Lai
- Địa chỉ:  90 Lê Duẩn-Thành phố Pleiku-Tỉnh Gia Lia
- Điện thoại:  
- Đơn vị phối hợp thực hiện: Công ty TNHH MTV khai thác công trình thủy lợi Gia Lai.
- Địa điểm thực hiện: Lòng hồ thủy lợi Ia Mơr (xã Ia Mơr, huyện Chư Prông tỉnh Gia Lai).
- Thời gian thực hiện: Từ năm 2017-2027
- Tổng vốn đầu tư:     7.342.000.000 đồng
   + Vốn cố định:          5.000.000.000 đồng
   + Vốn lưu động:       2.342.000.000 đồng
2/ Căn cứ lập Phương án sản xuất kinh doanh:
        - Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi 2001;
        - Nghị định số 67/2012/NĐ-CP ngày 10/9/2012của Chính Phủ về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 143/2003/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi;
        - Quyết định số 602/QĐ-UBND ngày 21/9/2009 của UBND tỉnh Gia Lai về việc Phê duyệt quy hoạch phát triển thủy sản tỉnh Gia Lai đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020; Quyết định số 11/2013/QĐ-UBND ngày 06/7/2013của UBND tỉnh Gia Lai về thực hiện nghị định 67/2012/NĐ-CP.
        - Nhu cầu thực phẩm cá tươi và sản phẩm chế biến từ cá phục vụ đời sống nhân dân trên địa bàn huyện và toàn tỉnh hiện nay và tương lai.
3/ Lý do thực hiện: Công trình Hồ chứa nước Ia Mơr dự kiến đưa vào sử dụng từ cuối năm 2017; Chất lượng nguồn nước trong hồ đảm bảo các tiêu chuẩn về lý, hóa tính, nguồn cung cấp nước từ lưu vực 380 km2 rất ổn định kể cả trong mùa khô. Hàm lượng dinh dưỡng và nguồn phù du tự nhiên làm nguồn thức ăn cho cá rất phong phú nên hạ được giá thành (do không phải cho ăn). Tốc độ sinh trưởng của các loài cá nước ngọt như trắm, chép, mè, trôi truyền thống kinh nghiệm từ xí nghiệp nuôi trồng thủy sản Miền Trung đã nuôi sinh thái và phát triển trong nhiều năm ở Hồ Ayun Hạ, kinh nghiệm nuôi cá của tổ hợp tác thủy sản Plei Pai xã Ia Lâu nhiều năm gần đây tương đối tốt.
4/ Quy mô:
+ Quy mô diện tích nuôi lớn nhất (MNDBT):         1.600 ha
+ Dung tích nước nuôi lớn nhất:                               162,5 triệu m3 nước
* Mặt nước bình quân đưa vào tính toán nuôi:       1.200 ha lấy tròn
* Dung tích bình quân đưa vào tính toán nuôi:      120 triệu m3 nước
+ Số lượng giống cá các loại:                                                2.400.000 con
+ Sản lượng thu dự kiến:                                            396 tấn/12 tháng
5/ Nội dung triển khai:
Để phương án triển khai đạt kết quả, trình tự cần tiến hành thực hiện các nội dung chính sau:
+ Trước hết phải xúc tiến việc điều tra, khảo sát, thu thập tài liệu, phân tích đánh giá tình hình kinh tế - xã hội trong vùng, tình hình thị trường, điều tra dòng chảy trong diện tích hồ chứa, phân tích mẫu nước và vệ sinh lòng hồ phục vụ cho việc lập phương án.
+ Tiếp đến là công việc lập phương án, hoàn chỉnh hồ sơ trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, làm căn cứ để tổ chức thực hiện theo hình thức hoạt động sản xuất kinh doanh (liên doanh, liên kết hoặc cho thuê mặt nước để muôi trồng và khai thác cá).
+ Dự kiến sẽ bố trí thả 6 loài cá chủ yếu gồm: Trắm cỏ, chép, mè trắng, mè hoa, trôi trắng, trôi đỏ.
* Số lượng nhu cầu cá giống là: 2.400.000 con/năm
+ Cơ cấu tỷ lệ nuôi ghép gồm:
               Cá trắm cỏ:    10% là 240.000 con
               Cá chép:         10% là 240.000 con
               Cá mè:            50% là 1.200.000 con
               Cá Trôi:          30% là 720.000 con
Tính toán cơ cấu loài nuôi như vậy là căn cứ vào tính thích nghi của các loài cá khác nhau sống ở trong lòng hồ. Loài cá Mè thường ăn nổi, cá Trắm và cá Trôi ăn tầng trung và cá Chép ăn chìm ở tầng đáy. Bố trí hợp lý sẽ tận dụng được nguồn thức ăn và đảm bảo đủ ôxy trong quá trình cá hô hấp.
* Về tiêu chuẩn con giống: Do nuôi trong lòng hồ chứa nước 1.200 ha và có dung tích 120 triệu m3 nước nên các loài cá giống dược tuyển chọn kỹ hơn so với nuôi thả trong ao, hồ nhỏ. Cá giống phải đảm bảo chất lượng, không mang mầm mống dịch bệnh, cá khỏe mạnh và đủ tiêu chuẩn, quy cách theo tiêu chuẩn Việt Nam.
+ Quy cách, kích cỡ:
               Cá Trắm cỏ:   5- 6 cm/con
               Chép:              3- 4,5 cm/con
               Mè:                 5- 6 cm/con
               Trôi:               3- 4,5 cm/con
+ Mật độ thả trung bình: 50m3/con (8.3m2/con) hay (10con/83m2)
* Phương pháp nuôi: Nuôi sinh thái (đánh tỉa, thả bù không cho ăn) thực hiện tiến bộ khoa học công nghệ trong bảo vệ và khai thác đánh bắt.
Trước khi thả cá giống phải kiểm tra tiêu chuẩn kỹ thuật của lòng hồ (sạch, đủ ô xy cung cấp cho cá, không có cá dữ và vô trùng). Sau khi thả cá phải thực hiện đầy đủ quy trình chăm sóc, bảo vệ (chắn lưới hoặc sử dung giai tại các eo ngách của lòng hồ, nuôi thả cá giống, thường xuyên theo dõi phòng trừ dịch bệnh và chăm cho cá đủ lớn, sau đó mới thả ra hồ)
* Bảo vệ: Xây dựng nhà ở ven hồ, thuyền máy tuần tra loại vừa và nhỏ để thường trực bảo vệ cá, dùng lưới chắn, ngăn cá qua tràn từ thượng lưu hồ hoặc xây dựng đăng trượt bắt cá sau tràn xả lũ (nhưng phải đảm bảo lưu tốc của dòng chảy xả lũ tuân thủ theo quy trình và quy phạm điều tiết hồ chứa). Phối hợp với bảo vệ chuyện trách hồ chứa của Xí nghiệp thủy nông đầu mối hồ Ia Mơr thuộc Công ty TNHH MTV khai thác công trình thủy lợi Gia Lai (nếu ccông ty được giao quản lý và khai thác hồ chứa) và chính quyền địa phương cấp xã ven hồ thuộc huyện Chư Prông để cùng nhau phối hợp bảo vệ hồ chứa thủy lợi, bảo vệ rừng đầu nguồn và cá thả trong hồ.
* Thu hoạch, tiêu thụ:
Theo kinh nghiệp của Xí nghiệp nuôi trồng thủy sản Miền Trung có thể thu hoạch theo kiểu đánh tỉa cá tự nhiên, cá thả, thả bù cá giống hoặc đánh bắt trong năm từ tháng 3 đến tháng 9 và thu hoạch bắt cá qua tràn xả lũ vào mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 trong năm.
Để thuận tiện cho việc tiêu thu và giá bán cao cần thiết phải có kho bảo ôn, nhà máy đông lạnh, xe vận chuyển bảo ôn để vận chuyển sản phẩm ra ngoài  huyện, tỉnh.
6/ Những hạng mục đầu tư:
* Vốn cố định:                                                                                   5.000.000.000 đồng
6.1/ Nhà ở và bảo vệ và nhà kho bảo ôn:                                        600.000.000 đồng
+ Nhà ở và bảo vệ xây tại bờ hồ: 500 m2 x 1.000.000 đ/m2 =       500.000.000 đông
+ Nhà kho bảo ôn: 100 m2 x 2.000.000 đ.m2 =                                100.000.000 đồng
6.2/ Thuyền đánh bắt thủy sản:                                                     1.000.000.000 đồng
+ 02 tàu sắt khai thác cá =                                                                    400.000.000 đồng
+ 02 tàu săt khai thác và vận chuyển cá =                                         400.000.000 đồng
+ 01 tàu tuần tra bảo vệ =                                                                     200.000.000 đồng
6.3/ Máy móc, thiết bị:                                                                    1.200.000.000 đồng
+ Đường dây và bình hạ thế 210 vôn =                                               500.000.000 đồng
+ 01 máy nước đá + máy móc và thiết bị phụ vụ ướp cá =              500.000.000 đồng
+ Cảng cá và đường dây tời vận chuyển cá =                                     200.000.000 đồng
6.4/ Ngư lưới cụ::                                                                             2.200.000.000 đông
+ Lưới dồn, chắn, rê, chuồng (05 bộ) x 200 trđ/bộ =                    1.000.000.000 đồng
+ Đăng chắn bảo vệ cá hạ lưu tràn xả lũ =                                      1.200.000.000 đồng
* Vốn lưu động =                                                                              2.342.000.000 đông
6.5/ Cá giống: (2.400.000 con) =                                                      972.000.000 đồng
+ Trắm cỏ (200 con/kg) 1200 kg x 80.000 đ/kg =                             96.000.000 đồng
+ Mè hoa (200 con/kg) 3000 kg x 80.000 đ/kg =                              240.000.000 đồng
+ Mè trắng (200 con/kg) 3000 kg x 80.000 đ/kh =                           240.000.000 đồng
+ Chép (200 con/kg) 1200 kg x 90.000 đ/kh =                                 108.000.000 đồng
+ Trôi đỏ (200 con/kg) 1800 kg x 80.000 đ/kg =                              144.000.000 đông
+ Trôi trắng (200 con/kg) 1800 kg x 80.000 đ/kg =                         144.000.000 đồng
6.6/ Nhân công:
+ Lao động chăm sóc, bảo vệ và đánh bắt cá bằng lưới chuồng/năm = 15 người
+ Lao động thu hoạch (thời vụ) quí 4 tăng thêm = 10 người
6.7/ Tiền lương:                                                                                   910.000.000 đồng
+ Trả lương cho LĐ thường xuyên:15người x 5 triệuđ/tháng x 12 tháng = 750.000.000 đồng
+ Trả lương cho lao động thời vụ: 10 người x 4 triệuđ/tháng x 4 tháng = 160.000.000 đồng
6.8/ Nhiên liệu, năng lượng:                                                  410.000.000 đồng
+ Dầu Điêzen 15.000 lít/ năm =                                                           360.000.000 đồng
+ Điện tiêu thụ 1 năm =                                                                          50.000.000 đồng
6.9/ Chi phí khác:                                                                                  50.000.000 đồng
7/ Nguồn vốn đầu tư:
* Tổng vốn đầu tư:                                                                            7.342.000.000 đồng
- Vốn cố định =                                                                                   5.000.000.000 đồng
- Vốn lưu động =                                                                                 2.342.000.000 đồng
* Nguồn vốn:
- Vốn vay tín dụng (5 năm):                                                              5.000.000.000 đồng
- Vốn tự có (hoặc huy động từ nguồn khác):                                  2.342.000.000 đồng
8/ Dự kiến hiệu quả kinh tế - xã hội:
a/ Hiệu quả kinh tế
- Sản lượng cá thương phẩm (dự kiến thu hồi 7,5%, năng suất 2kg/con/năm) 2.400.000con  x  7,5% x  2kg/con/năm = 360.000 kg/năm
        - Sản lượng cá đánh bắt tự nhiên: 30 kg/ha x 1.200 ha = 36.000 kg/năm x 17.000 đ/kg  = 612.000.000 đồng (Do hồ mới khai thác năm đầu nên lượng cá tự nhiên cả về sản lượng và chủng loài còn nhiều so với các hồ khác)
- Doanh thu dự kiến: (360.000 kg + 36.000kg) x 17.000đ/kg = 396.000kg x 17.000đ = 6.732.000.000 đồng
Trong đó:
+ Công ty Cổ phần Tập đoàn Đức Long tự đánh bắt lưới chuồng và khai thác bằng sa (đăng trượt) sau tràn: 220 tấn x 17 triệu/tấn = 3.740.000.000 đồng
+ Công ty hợp đồng lao động với người dân địa phương thuộc (xã Ia Mơr hoặc khoán cho công nhân của công ty) hợp đồng đánh bắt với người dân sinh sống quanh hồ hoặc với ngư dân đánh bắt chuyên nghiệp Bình Định, tham gia khai thác cá bằng các công cụ đánh bắt truyền thống ăn chia sản phẩm với Công ty (khai thác từ tháng 3 đến tháng 9 hàng năm, mỗi ngày từ 70 người đến 90 người). Người dân hưởng 60% sản lượng đánh bắt, tự tiêu thụ cá hoặc bán lại cho Công ty với giá thỏa thuận.
Dân đánh bắt: 396-220 = 176 tấn Công ty được hưởng x 40% = 78,4 tấn x 17 triệu/tấn = 1.332.800.000 đồng
- Doanh thu dự kiến của Công ty Đức Long: 3.740.000.000đồng + 1.332.800.000đồng = 5.671.200.000 đồng
- Nộp TLP cho công ty TNHH KTCTTL Gia Lai (5% DT) : 283.560.000 đồng
- KHCB (7% VCĐ) = 350.000.000 đông/năm
- Trả lãi vay (gốc + lãi 13%/năm) = (500triệu +650 triệu) = 1.150.000.000 đồng
- Lợi nhuận trước thuế (DT-VLĐ-TLP-KHCB-Gốc – lãi vay):
(5.671.200.000 – 2.342.000.000 – 283.560.000 – 350.000.000 – 1.150.000.000)= 1.545.640.000đồng
- Thuế TNDN (20% LNTT) được miễn Theo Thông tư số 78/2014/TT-BTC hướng dẫn Nghị định số 218/2013/NĐ-CP quy định và hướng dẫn thi hành luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN).
- Các khoản nộp ngân sách khác (thuế tài nguyên 2%DT cá tự nhiên):
                     612.000.000đ/năm x 2% = 12.240.000đồng/năm
- Còn lại thực lãi (LN sau thuế) = 1.545.640.000đ -12.240.000đ = 1.533.400.000đồng/năm
Lợi nhuận sau thuế năm thứ nhất: 1.533.400.000đ/năm
Lợi nhuận sau thuế năm thứ hai và các năm tiếp theo sẽ tăng từ 20% đến 40%, lý do tăng vì giảm tiền vay +lãi suất và lượng cá khai thác nhiều hơn do cá năm trước chưa khai thác được, cá nuôi bình quân 1 năm có thể đạt 6kg/con gấp đôi hoặc ba lần so với dự tính 2kg/con.
- Và lợi nhuận sau thuế các năm sau cao hơn năm trước rất nhiều
- Thời gian thu hồi vốn cố định: 8 năm
VCĐ/(LNST+KHCB) = 5.000.000.000đ/(1.533.400.000 + 350.000.000đ) = 2,65 năm làm tròn 3 năm;
b/ Hiệu quả xã hội:
+ Thực hiện phương án nuôi cá sinh thái (thả cá, đánh tỉa thả bù không cho ăn) hồ chứa Ia Mơr sẽ đem lại hiệu quả xã hội to lớn, lợi ích trước hết là nơi để tổ chức hướng dẫn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ nuôi trồng thủy sản sinh thái cho nông dân các xã còn lại trên địa bàn huyện Chư Prông để các hộ dân có cơ hội tiếp xúc, học hỏi tiếp thu kiến thức kỹ thuật nuôi cá nước ngọt đảm bảo sinh thái hồ chứa theo phương pháp áp dụng tiến bộ kỹ thuật khai thác, đánh bắt và bảo vệ công nghệ cao.
+ Thực hiện phương án sẽ tạo tiền đề phát động nghề nuôi cá hồ chứa thành phong trào rộng khắp trên địa bàn các địa phương trong toàn tỉnh có hồ chứa nước lớn, góp phần tạo thêm việc làm, tăng thêm nguồn thu nhập, thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo, từng bước cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân.
+ Giải quyết việc làm thường xuyên cho 15 lao động trên địa bàn, việc làm thêm mùa vụ cho 10 lao động khai thác, và hợp đồng đánh bắt ăn chia sản phẩm cho 70 đến 90 người đồng bào dân tộc địa phương làm nghề ngư nghiêp sinh sống ven hồ thuộc địa bàn hai tỉnh Gia Lai và Đăk Lăk;


PHẦN III
Tổ chức – Thực hiện
I/ Tổ chức điều hành triển khai thực hiện (sau khi phương án được duyệt):
Công ty cổ phần tập đoàn Đức Long phối hợp với Công ty TNHH MTV khai thác công trình thủy lợi Gia Lai triển khai thực hiện.
+ Làm các thủ tục tiếp nhận vốn đầu tư từ nguồn hỗ trợ của ngân sách nhà nước (nếu có), vay tín dụng và tiếp nhận vốn huy động từ nguồn khác theo tiến độ để chi cho các công việc đã ghi trong phương án.
+ Trong quá trình triển khai Công ty cổ phần tập đoàn Đức Long phối hợp với Công ty TNHH MTV khai thác công trình thủy lợi Gia Lai tiến hành làm biên bản bảo vệ phối hợp với chính quyền địa phương sở tại để bảo vệ công trình, bảo vệ rừng đầu nguồn, môi trường sinh thái, bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thủy sản lòng hồ, xử lý vi phạm trong khai thác thủy sản mang tính hủy diệt.
+ Công ty cổ phần tập đoàn Đức Long ký hợp đồng thuê mặt nước hồ với công ty (được giao quản lý hồ chứa) theo quy định của pháp luật hiện hành và theo giá đã lập trong dự án sau khi được Sở Nông nghiệp, UBND tỉnh Gia Lai và các ngành có liên quan thẩm định hoặc có ý kiến chỉ đạo;
II/ Giải pháp kỹ thuật:
+ Để nuôi sinh thái thủy sản (thả giống, không cho ăn) hồ chứa đạt hiệu quả cao cần phải chú trọng đến các giải pháp kỹ thuật trong tất cả các khâu từ thả giống cho đến tiêu thụ sản phẩm; Đặc biệt chú ý việc chọn cá giống, quy trình chăm sóc, bảo vệ, khai thác phải được hướng dẫn thực nghiệm, học tập và thực hiện nghiêm, các quy trình đánh tỉa, thả bù, quy trình bảo vệ nguồn lợi thủy sản hồ chứa phải được thường xuyên quan tâm và quan tâm đúng mức;

III/ Giải pháp về thị trường:
Do thủy sản nước ngọt trên địa bàn tỉnh Gia Lai cung luôn nhỏ hơn cầu nên trong phương án này không đề cập đến giải pháp về thị trường (không vội đầu tư xe bảo ôn, phương tiện vận chuyển tiêu thụ ngoài tỉnh, hợp đồng bao tiêu sản phẩm hoặc chế biến sản phẩm sau thu hoạch, tuy nhiên cần thiết đăng ký sản phẩm sạch với các siêu thị và thị trường thủy sản trong tỉnh để tiêu thụ sản phẩm được thuận lợi hơn)
IV/ Giải pháp về liên doanh, liên kết, cho thuê mặt nước thực hiện phương án:
Theo phương án: Công ty TNHH MTV khai thác công trình thủy lợi Gia Lai (đơn vị chủ hồ) kết hợp với Công ty cổ phần tập đoàn Đức Long tổ chức thực hiện dự án.
+ Công ty TNHH MTV khai thác công trình thủy lợi Gia Lai đơn vị cung cấp nước phục vụ nuôi trồng thủy sản hồ Ayun Hạ (cho Công ty cổ phần tập đoàn Đức Long thuê mặt nước).
+ Công ty cổ phần tập đoàn Đức Long thực hiện dự án và chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh từ khâu thả giống, bảo vệ, khai thác đến khâu tiêu thụ và nộp thủy lợi phí (tiền thuê mặt nước thấp nhất) cho Công ty TNHH MTV KTCT thủy lợi Gia Lai như đã đề cập trong dự án; Năm đầu tiên 2017 chưa có sản phẩm nuôi thả đánh bắt Công ty cổ phần tập đoàn Đức Long chỉ khai thác cá tự nhiên nên Công ty chỉ thu 10% sản lượng cá tự nhiên đánh bắt, từ năm thứ hai trở đi công ty thu 5% Doanh thu cố định bằng giá dự án đã đề cập;   
+ Công ty cổ phần tập đoàn Đức Long khi ký kết hợp đồng thuê mặt nước với công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Gia Lai phải đảm bảo không làm ảnh hưởng đến hoạt động thủy lợi của công ty TNHH MTV KTCT thủy lợi được quy định cụ thể trong pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi năm 2001 và các văn bản dưới luật có liên quan, phối hợp cùng với công ty bảo vệ vùng bán ngập từ cao trình 199m đến cao trình 194m; Trong quá trình hoạt động thủy sản do hồ còn có chức năng cấp nước sinh hoạt nên Công ty cổ phần tập đoàn Đức Long tuân thủ sẽ không cho cá ăn bằng thức ăn công nghiệp (chỉ thả cá và bảo vệ cá không cho cá ăn) và không được phép tổ chức nuôi cá lồng bè trên mặt hồ, Hàng năm phải thả cá giống xuống hồ đúng như dự án đã đề cập, khi thả giống phải có lập biên bản xác nhận lượng cá thả, chất lượng cá giống và chủng loài cá có sự xác nhận của công ty và chính quyền địa phương huyện Chư Prông và đơn vị chủ thể quản lý hồ chứa;
+ Trường hợp UBND tỉnh cho triển khai dự án điện năng lượng mặt trời trong tương lai sẽ làm mất đi ½ diện tích nuôi trồng thủy sản điều đó tương đương với làm mất đi ½ sản lượng thu hoạch hàng năm, vì vậy tiền thuê mặt nước trả cho công ty TNHH MTV KTCT thủy lợi cũng sẽ được giảm đi ½ so với hiện nay./.

PHẦN IV
Kết luận và kiến nghị
1/ Kết luận:
Trong hoạt động kinh doanh nuôi trồng và khai thác thủy sản phải đảm bảo hiệu quả kinh tế gắn với bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản, bảo vệ tính đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên và rừng đầu nguồn.
Hoạt động và khai thác thủy sản trên hồ phải kết hợp với đảm bảo an ninh, quốc phòng, chất lượng nguồn nước, môi trường sinh thái, tuân theo quy định của Luật thủy sản năm 2003 và Nghị đinh chính phủ sô 27/2005/NĐ-CP ngày 08/3/2005 của chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thủy sản.
Phương án nuôi trồng và khai thác cá hồ chứa Ia Mơr từ năm 2017 đến năm 2027 được lập trên cơ sở tiềm năng chất lượng nước, điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của vùng lòng hồ Ia Mơr, trong quá trình xây dựng Phương án nuôi trồng và khai thác công  ty có tham khảo và sử dụng số liệu của xí nghiệp nuôi trồng thủy sản Miền Trung về những kinh nghiệm từ khâu chọn giống, thả giống, chăm sóc, bảo quản, bảo vệ sản phẩm cũng như khai thác và tiêu thụ sản phẩm. Vì vậy phương án có khả năng thực hiện được và có tính khả thi cao.  Phương án nếu được chấp thuận hoặc phê duyệt sẽ mang lại hiệu quả kinh tế và xã hội cho tỉnh nhà đặc biệt là nhân dân huyện Chư Prông.
II/ Kiến nghị:
Đề nghị UBND tỉnh Gia Lai, Sở NN và PT Nông thôn quan tâm xem xét thẩm định phương án, xác định giá cho thuê hồ hợp lý theo quy định của Pháp luật hiện hành về nuôi cá hồ chứa để Phương án nuôi trồng và khai thác cá tại hồ Ia Mơr sớm được triển khai./.
                           Gia lai, ngày 29  tháng  5 năm 2017

                                                ĐƠN VỊ LẬP
                         Công ty cổ phần tập đoàn Đức Long

Thứ Bảy, 7 tháng 4, 2018

HỒI ỨC CHIẾN TRƯỜNG K - ÁM ẢNH CAO MÊ LAI

Có một địa danh mà những người lính Sư đoàn 5, MT479 và nhiều đơn vị khác, nếu đã từng tham chiến dọc biên giới Căm Pu Chia - Thái Lan may mắn trở về, không thể quên được, đó là Cao Mê Lai hoặc Phnum Mê Lai. 

Tiếng Khme, phnum là núi - Địa danh này được hiểu với nghĩa là Núi Mê Lai. 
Qua thị xã Sisophon, thủ phủ của tỉnh Bantay Miênchay, dọc Quốc Lộ 5 lên khoảng 50 km là cửa khẩu Pôi Pét - Cửa khẩu quốc tế nối Căm Pu Chia với Thái Lan. Cách cửa khẩu khoảng 10 km về phía đông là ngã ba Ni Mít, nhưng lính ta quen gọi là Ngã ba Con Voi, bởi giữa bùng binh của ngã ba này có một bức tượng hình một chú voi lớn, quay mặt về phía Căm Pu Chia.
Hệ thống giao thông, với cả đường bộ và đường sắt cùng với phố phường ở khu vực này cho thấy, những năm đất nước Căm Pu Chia phồn thịnh thì Pôi Pét là một cửa khẩu lớn, sầm uất, là nơi giao thương chủ yếu giữa Căm Pu Chia với Thái Lan. Nhưng, khi chúng tôi đến, Ni Mít và Pôi Pét thật hoang tàn. Cửa hàng, cửa hiệu, nhà cửa của dân bị phá hủy, phum sóc tan hoang, không một bóng người. Thân thể chú voi giữa bùng binh mang đầy vết đạn, nham nhở, sứt mẻ đến tội nghiệp, khiến ta có cảm giác, nơi đây vừa diễn ra những trận đánh rất ác liệt.
Từ Ngã ba Con Voi, rẽ trái, có một con đường đất dẫn đến Cao Mê Lai - một khu vực gồm nhiều ngọn đồi thấp nằm trên đường biên giới Căm Pu Chia - Thái Lan. Khác hẳn với địa hình bằng phẳng điển hình là những rừng le, rừng khộp mà chúng tôi đã qua trên khắp đất nước Căm Pu Chia, con đường từ Ni Mít vào Cao Mê Lai rất ít khộp, mà chủ yếu là rừng nguyên sinh nhiệt đới, nhiều tầng nhiều lớp. Tầng cao nhất là các loại cây thân to, cành lá xum xuê bám đầy dây leo. Dưới tán cây, tre mọc ken nhau dày đặc, cành đầy gai tua tủa, những chùm hoa dài như đuôi chồn phủ kín, khiến mặt trời hầu như không mấy khi lọt xuống dưới tán rừng. 
Chỉ là một con đường dài khoảng 30 km, nhưng trong những năm từ 1979 đến 1985, con đường này trở nên đặc biệt nổi tiếng, bởi sự tàn khốc của những trận đánh giữa bộ đội tình nguyện Việt Nam với lính Pốt và các lực lượng phản động Căm Pu Chia. Những người lính Sư 5 đã đặt cho con đường một cái tên mỹ miều là "Đại lộ kinh hoàng", hay "Đại lộ thần chết" , bởi nó thực sự là nỗi khiếp sợ đối với cả ta và địch. Những năm tác chiến tại đây, rất nhiều người lính đi vào bằng đôi chân trần, nhưng đi ra trên cáng tử sỹ, đi vào với cơ thể cường tráng, đi ra xiêu vẹo, võ vàng. Chỉ riêng các loại mìn và bệnh sốt rét, bệnh đái huyết sắc tố đã cướp đi biết bao sinh mạng bộ đội, chưa kể hàng trăm chiến sĩ đã hy sinh do súng đạn chiến tranh. Đối với những người lành lặn, may mắn trở về, thì những trận đánh tại Cao Mê Lai khắc sâu trong tâm trí, không thể rời ra được, ám ảnh mãi khôn nguôi.
Mùa mưa năm 1979, Trung đoàn Q16, Sư đoàn 5 được giao đảm nhiệm phòng ngự, chốt giữ khu vực từ cửa khẩu Pôi Pét đến Cao Mê Lai. Do địa hình quá phức tạp, mưa nhiều, bộ đội bị ốm đau, bệnh tật và thương vong khá lớn do tác chiến nhiều ngày nên đơn vị gặp khó khăn. Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Sư đoàn quyết định sử dụng Tiểu đoàn 5 và Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 174, đang tác chiến trên hướng Thmo Puốk, Svai Chếch tăng cường vào Cao Mê Lai, giải vây và tạo điều kiện cho Q16 đủ sức đứng chân tại khu vực này.
***
Chúng tôi hành quân đến Ni Mít vào một chiều muộn, trời ảm đạm, mưa sập sùi, con đường dẫn vào Mê Lai lầy lội với chi chít ổ voi, ổ gà do hố mìn,hố đạn pháo và những vết bánh xe kéo pháo, xe tải tạo nên, khiến ai cũng có cảm giác thật nặng nề. Mấy chiếc xe của sư đoàn đổ quân xuống ngã ba, lính tráng lũ lượt xuống xe với súng ống, đạn dược lỉnh kỉnh rồi đi về hướng đội hình tạm thời do trinh sát tiểu đoàn bố trí. Do đường xấu, và để đảm bảo bí mật nên bộ đội không thể hành quân bằng xe cơ giới, nhiệm vụ của hai tiểu đoàn là ngay trong đêm, phải hành quân bộ, xuyên qua phía nam cánh rừng tre gai, hình thành một mũi vu hồi, cùng các đơn vị của Q16 đập tan các chốt của địch trên đường dẫn vào Cao Mê Lai.
Tôi được phân công cùng Tiến Xòe đi máy cho K9, đại đội chủ lực của Tiểu đoàn. Sau khi nhận vị trí, do quá mệt, tôi mắc tạm tăng, võng, để máy ở chế độ trực canh, rồi lăn ra ngủ, mặc cho mưa vẫn rơi lộp độp trên mái tăng và muỗi như trấu bay vo ve trước mặt. Khoảng 7 giờ tối, liên lạc gọi dậy ăn cơm, tôi khoắng vội hai bát cơm nóng hổi với bột canh rồi bật máy, chuẩn bị tư trang chờ Tiểu đoàn phát lệnh hành quân.
Do trục đường vào Cao Mê lai là đường độc đạo, phía ngoài do các tiểu đoàn của Q16 đang chốt, nhưng phía trong, nơi giáp Cao Mê Lai lại do bọn lính Pốt làm chủ, nên để tạo thế bất ngờ, tiểu đoàn không hành quân theo đường lộ mà buộc phải cắt rừng, đánh thẳng vào sườn đội hình địch. 
Sau khi hành quân khoảng 7-8 km dọc lộ, chúng tôi bắt đầu cắt rừng. Đoạn đường hành quân không dài, chỉ khoảng 15km, nhưng đó là một cuộc hành quân khủng khiếp nhất mà tôi từng gặp trong suốt những năm tháng chiến đấu trên đất Căm Pu Chia. Thêm nữa, hình ảnh anh Bùi Tiến, Trung đội trưởng trinh sát của tiểu đoàn cùng tổ trinh sát dẫn đầu đội hình hành quân làm tôi thực sự khâm phục. Trong điều kiện cực kỳ khó khăn ấy, các anh vẫn xác định đúng hướng, đúng cự ly để đến khi nổ súng, đơn vị đã đánh trúng vào khu vực địch đang phòng ngự, khiến địch không kịp trở tay.
Đêm cuối tháng, trời không trăng sao, mặt đất tối om vì đi dưới tán rừng tre gai dày đặc, người trước cách người sau chỉ khoảng vài chục phân, nhưng chẳng nhìn thấy gì, việc xác định hướng đi chỉ qua tiếng bước chân của người đi trước. Những bước chân dò dẫm trong đêm, những tiếng kêu "ái", "ối', giọng xuýt xoa bị hãm lại do sợ bị lộ, gai tre rất nhiều và sắc, cào rách khắp cơ thể người lính. Đường rất trơn và tối, cạnh đường có những chiếc lá mục phát ánh sáng lân tinh, mấy thằng lính nhặt lên, đặt vào nắp ba lô người đi trước để nhìn vào đó mà đi, ánh sáng xanh lét, nhập nhòe như ma chơi.., Thỉnh thoảng lại có người ngã, tiếng oành oạch phát ra trong hàng quân, lúc xa, lúc gần, rồi tiếng xuýt xoa thật tội, các phân đội hỏa lực thì liên tục bị tụt lại phía sau bởi súng ống vướng vào các cành tre bên đường. 
Suốt một đêm vất vả luồn rừng trong điều kiện cực kỳ bí mật, mãi 5 giờ sáng, đội hình mới tiếp cận được vị trí tác chiến.
Với địa hình quá phức tạp, không có cách nào khác là phải nổ súng dọc theo chiều dài con đường. Giờ G đã ấn định, các đơn vị nhanh chóng triển khai đội hình chiến đấu. Đúng 5h15 phút, sau phát pháo lệnh, cả một khoảng rừng dài hàng cây số bỗng vang lên những tiếng nổ ầm ầm như thác đổ, tiếng cối, tiếng 12.7, tiếng B40, B41. M79 và các loại hỏa lực bộ binh quyện vào nhau, tạo thành một bản nhạc không lời vĩ đại. Những viên đạn vạch đường từ các hướng bắn lên không trung mang theo những dây lửa đan chéo vào nhau sáng rực cả bầu trời
Bị đánh bất ngờ, địch chống trả một cách yếu ớt rồi bỏ chạy về hướng Cao Mê Lai. Các đơn vị nhanh chóng tiếp cận mặt đường và chiếm lĩnh những mục tiêu địch vừa bỏ lại. Khi đi qua mấy căn hầm chúng đào sát mép đường, tôi thấy quần áo, tăng võng, súng đạn và cả những nắm cơm chúng đang ăn dở vương vãi khắp nơi. Bên gốc tre trên mặt chiến hào, một chú cua suối khá lớn bị buộc vào một bên càng đang bò lổm ngổm nhưng bị sợi dây giữ lại cứ bơi bơi mấy cái chân trong không trung... Giữa rừng sâu núi thẳm này, những thằng lính Pốt cũng chẳng có gì mà chơi, đành bắt cua lên buộc vào gốc cây để xem cho đỡ buồn.
Đi khoảng 50m, có mấy xác Pốt chết nằm ngay ven đường. Một thằng nằm ngửa, miệng há hốc, da thịt xám ngoét, hai chân duỗi thẳng, một chiếc dép đúc Trung quốc vẫn xỏ trong chân, chiếc còn lại văng cách đó mấy mét.
Đã mấy tháng vào chiến trường nhưng chưa được phát bổ sung quân trang, tôi vẫn mong có một đôi giày cao cổ hoặc một đôi dép để đi, nhưng không biết làm cách nào kiếm được, đành phải đi đôi ba ta cũ rích, rất khó chịu. Khi qua xác tên địch chết, dù rất sợ, tôi vẫn phải tháo chiếc dép từ cái chân lạnh ngắt của nó ra, nhặt thêm chiếc còn lại, miệng lẩm bẩm: "Tôi không có dép đi, xin ông đôi dép này nhé. Thông cảm cho tôi". Tay run run vì sợ...nhưng chẳng biết làm thế nào.
đành nhét vào cóc ba lô đi tiếp. 
***
Sau khi làm chủ con đường dẫn vào Cao Mê Lai, đơn vị được giao nhiệm vụ chốt chặn, không cho địch từ biên giới xâm nhập vào nội địa. Thời gian đứng chân trên hướng này không dài nhưng chúng tôi chịu những khó khăn, vất vả đến cực độ. Trời cứ mưa rả rích, nhưng nước uống không có, lính phải buộc tấm tăng vào cây tre, rồi múc nước từ những ổ voi, ổ gà trên đường, gác lên cây, chờ qua đêm khi bùn đất lắng xuống, dùng bát hớt lấy phần nước đục lờ lờ phía trên để uống.
Chiều nào cũng vậy, anh nuôi bò đến từng hầm, phát cho mỗi người hai nắm cơm và vài hạt muối. Một nắm ăn ngay và một nắm để dành đến trưa hôm sau. Những ngày đó, muối thiếu kinh khủng, cả một tiểu đoàn với gần 200 con người mà một ngày được cấp hai kg muối. Tiểu đoàn trưởng Sinh, người Quảng Ninh vốn tính điềm đạm mà ông cũng không chịu nổi, ông khùng lên quát rõ to vào máy bộ đàm khi điện cho hậu cần trung đoàn
- Mẹ kiếp, đến cả đến muối cũng không có mà ăn thì đánh đấm con c gì. Tôi nói trước nhé, nếu ngày mai mà không có muối, tôi cho lính tôi về, không đánh đấm gì nữa đâu...
Nhận 2 nắm cơm, tôi cất một nắm vào cóc ba lô, nắm còn lại mang góp chung với đại đội bộ. Trải tấm ny lông xuống đất, dùng dao găm cắt những nắm cơm thành lát, rồi mấy anh em ăn ngay khi cơm còn nóng. Cơm nắm nóng ăn với muối ngon tuyệt. Nắm cơm còn để trong ba lô, vì mưa ướt nên lúc mang ra ăn hôm nào cũng thiu. Khi ăn, thò tay vào lấy, nhớt dính đầy tay, không ăn thì đói, đành gọt vòng quanh như gọt bưởi, lấy phần lõi, ăn qua loa, chờ bữa cơm chiều...
Ngày thứ ba, tiểu đoàn được lệnh rút về Ni Mít. Nhưng, đúng lúc nhận lệnh thì địch phản kích, chúng từ bên kia biên giới dùng cối, pháo bắn cấp tập dọc con đường nơi chúng tôi đóng quân. Tiếng đạn địch bắn tới nghe thật khủng khiếp, cứ toang toác, toang toác...những bụi tre rung lên bần bật, mặt đường đầy hố đạn pháo... Rồi bộ binh địch tiến công. Cả tiểu đoàn phải căng ra quần nhau với chúng. Tiếng đạn các loại nổ khắp nơi, chạm vào thân tre cành cạch. Bộ đội từ các hướng bắn trả địch quyết liệt, nhưng giữa rừng tre bạt ngàn, mọc ken vào nhau, chẳng biết địch chỗ nào mà bắn, chỉ thấy đạn từ hướng nào bắn tới thì nổ súng theo hướng đó chứ có thấy mục tiêu đâu... Đã có mấy chiến sĩ hi sinh, một chiến sĩ quân y đang băng bó vết thương cho thương binh thì bị địch bắn gãy chân. Thằng Công điếc, anh nuôi của Trung đội Thông tin sợ quá, bản năng sinh tồn làm nó lấy cái muôi cào cào trên mặt đất, rồi rúc đầu xuống cái hố bé tẹo mới đào, hai tay ôm ngực, nằm sấp trên mặt đất nhão nhoẹt, để nguyên cái mông chổng ngược lên trời, trên lưng nó là mấy cái nồi quân dụng đen nhẻm treo lủng lẳng ngoài ba lô.
Phải nổ súng trong điều kiện hoàn toàn bị động nên phương án tác chiến của tiểu đoàn lúc đó cũng không rõ ràng. Đứng chôn chân giữa trời với chiếc áo mưa khoác trên vai, nước chảy ròng ròng từ mũ xuống vai áo, nhìn bộ đội chiến đấu với địch, Tiểu đoàn Trưởng Sinh cũng mất bình tĩnh, ông nói:
- Thằng nào có thuốc rê, cho tao một điếu.
Tôi đứng gần ông, xé cho ông mẩu báo, rồi đặt túm thuốc vào đó, đưa cho ông. Bàn tay ông run run, không thể quấn được điếu thuốc để hút nữa. Hình ảnh ấy đã diễn ra mấy chục năm rồi, mà đến hôm nay tôi vẫn thấy như đang hiện ra trước mặt.
Rồi tiếng súng im dần, tiểu đoàn bắt đầu hành quân ngược ra hướng Ni Mít. Mới có mấy ngày chiến đấu ở Cao Mê Lai mà quần áo, người ngợm ai cũng bẩn như trát bùn, quần áo rách bươm, mấy chàng lính mang B41 trên vai, mà áo chỉ còn thân, hai cánh tay áo đã xé bỏ, quần cắt ngang đầu gối rồi xé tua rua ngược lên...nhìn thật ngầu...
Những kỷ niệm về những ngày chiến đấu ở Cao Mê Lai, trên con đường tử thần ấy đã qua lâu lắm rồi, giờ chỉ còn là kỷ niệm...Nhưng mỗi khi nhớ lại,vẫn khiến lòng mình thấy rưng rưng...
(Nguyễn Văn Điền. 06/04/2018)

Nguyễn Điền
Ảnh chỉ mang tính minh họa






Thứ Sáu, 6 tháng 4, 2018

Xin đừng xúc phạm đến loài chó

                                                Mạc Văn Trang 

Gần đây một số bạn viết gọi bọn quan tham ức hiếp dân, cướp đất của dân là “bọn chó”; có bạn gọi công an đánh dân là “chó”!… Tôi thấy cách ví von như vậy không ổn, xúc phạm đến danh dự của chó. Chúng ta đều biết chó không xấu như thế. Dân gian tổng kết: “Chó không chê chủ nghèo”; chó tận trung với chủ, hết lòng với với chủ, bảo vệ chủ đến cùng, vui khi chủ vui, buồn khi chủ buồn, cùng chung hoạn nạn với chủ… Anh Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng bị công an bắt giam, nhà cửa, đầm ao, vườn bị cưỡng chế, đập phá tan tành, vơ vét sạch sanh, vợ con tán loạn… Con chó con bị bắt, con chó mẹ bị đánh què, cố chạy trốn, chịu đói rét… nhưng vẫn bám trụ trên mảnh đất của chủ. Mấy ngày sau vợ anh Vươn trở lại ngôi nhà đổ nát, con chó đã bất ngờ từ trong bụi nhảy ra. Chủ và chó ôm chầm lấy nhau. Chó thì ngoáy đuôi rối rít, chủ thì tràn nước mắt. 

Từ thời thơ ấu, kỷ niệm về một con chó vẫn in đậm trong ký ức tôi. Đó là con chó lông vàng, bình thường như mọi con chó khác. Nó chỉ đặc biệt là ngày ngày dắt ông lão mù đi ăn xin. Ông lão nắm sợi dây buộc ở cổ con chó và nó dẫn ông đi. Ông lão đeo bị, chống gậy dò dẫm từng bước thận trọng trên đường làng; con chó cũng nhẫn nại đi từng bước, nép vào mé đường. Đến mỗi cổng nhà, nó dừng lại, nằm phục xuống. Mặc cho lũ chó của chủ nhà hung hăng, sủa ầm ĩ, nó vẫn nhẫn nhục nằm im. Khi chủ nhà đã bố thí cho chủ nó, hoặc đợi hồi lâu không thấy chủ ra, ông lão bảo: “Đi thôi con”, nó mới đi tiếp. Nó nhiều lần dắt ông lão đến cổng nhà tôi. Lần nào mẹ tôi cũng bảo tôi đem cái gì đó cho ông lão: lần thì lưng bát gạo, lần thì mấy xu, có lần cho ông bát cơm nguội. Ông cám ơn và đổ cơm sang bát của ông rồi bốc ăn. Con chó cứ nhìn ông ăn và thè lưỡi liếm cái mõm đen của nó. Ông lão bốc ăn vài miếng, chỗ còn lại, ông để bát xuống cho con chó ăn. Nó ăn hùng hục, chắc đang đói lắm. 

Hình ảnh con chó và ông lão ăn xin cứ theo tôi suốt cuộc đời. Đi đâu, đến đâu tôi cũng hay để ý những chuyện về chó. Ở nước ngoài có nhiều chuyện rất cảm động về chó, tôi có ghi chép, dịp nào tiện xin kể. Nhưng có chuyện này phải nói ngay, đó là bức tượng đồng một con chó ở một công viên thành phố nọ (quên mất tên!), luôn được nhiều người yêu quý, đến ngắm nhìn, vuốt ve, chụp ảnh lưu niệm. (Trong khi nhiều tượng ông nọ, ông kia, chẳng ai đoái hoài)! Đó là tượng con chó nổi tiếng về lòng trung thành, ai đến đó nghe chuyện cũng cảm động: con chó đã đưa tiễn chủ đến nơi an nghỉ cuối cùng và cứ nằm bên nấm mồ chủ cho đến chết. 

Trên bình diện thế giới, mọi người vẫn nhớ “Bài diễn văn hay nhất là bài diễn văn về loài chó”- 

Diễn văn của luật sư Georges Graham Vest tại một phiên tòa xử vụ kiện người hàng xóm làm chết con chó của thân chủ, được phóng viên William Saller của The New York Times bình chọn là hay nhất trong tất cả các bài diễn văn, lời tựa trên thế giới trong khoảng 100 năm qua. Trong đó có đoạn: “Người bạn tốt nhất mà con người có được trên thế giới này có thể một ngày nào đó hoá ra kẻ thù quay lại chống lại ta. Con cái mà ta nuôi dưỡng với tình yêu thương hết mực rồi có thể là một lũ vô ơn. 

Những người gần gũi thân thiết ta nhất, những người ta gửi gắm hạnh phúc và danh dự có thể trở thành kẻ phản bội, phụ bạc lòng tin cậy và sự trung thành. Tiền bạc mà con người có được, rồi sẽ mất đi. Nó mất đi đúng vào lúc ta cần đến nó nhất. Tiếng tăm của con người cũng có thể tiêu tan trong phút chốc bởi một hành động một giờ. 

Những kẻ phủ phục tôn vinh ta khi ta thành đạt có thể sẽ là những kẻ đầu tiên ném đá vào ta khi ta sa cơ lỡ vận. Duy có một người bạn hoàn toàn không vụ lợi mà con người có được trong thế giới ích kỷ này, người bạn không bao giờ bỏ ta đi, không bao giờ tỏ ra vô ơn hay tráo trở, đó là con chó của ta.”… 


Vậy mà một số bạn lại đem những kẻ hại dân, hại nước ví với chó, sao được. 

12/11/2012 

MVT 

Thứ Hai, 2 tháng 4, 2018

Bi Kịch Trịnh Công Sơn

                                                      - Trịnh Cung -


Tôi gặp Trịnh Công Sơn vào năm 1958 tại Huế; lúc đó Sơn khoảng 17 tuổi và tôi 18 tuổi. Chúng tôi chơi với nhau vì cùng tâm hồn thi ca, và bởi vì lúc đó tôi chưa hề là họa sĩ.
Sơn thích thơ của tôi và đã phổ bài "Cuối cùng cho một tình yêu" năm đó. Trước đó, Trịnh Công Sơn đã viết "Ướt Mi", "Thương một người" và "Nhìn những mùa Thu đi". Ngôn ngữ của "Ướt Mi", "Thương một người" và "Nhìn những mùa Thu đi" còn nhẹ nhàng, và còn có gì đó ảnh hưởng của Ðặng Thế Phong trong "Giọt Mưa Thu" hoặc "Buồn Tàn Thu" của Văn Cao – nhưng đến khi Sơn phổ nhạc bài thơ của tôi, nhạc của Sơn bắt đầu một chương khác, do ngôn ngữ của bài thơ lúc đó rất là mới. Tôi đã dùng những chữ "đói", "mỏi" trong thơ, mà lúc này Sơn lại thích bài thơ đó.
Tuy nhiên theo tôi, bài Diễm Xưa của Sơn mới là mở đầu của một TCS hoàn toàn mới lạ và cực kỳ hấp dẫn trong nhạc trẻ, giới trẻ hồi đó.
Cuộc đời của Sơn là một bi kịch. Ba của Sơn mất lúc anh đang học ở Chasseloup Laubat - một trường dạy chương trình Pháp - và đang chuẩn bị thi bac thì Sơn phải bỏ học để về chịu tang ba.
Sơn rất giỏi thể thao. Anh tập 10 môn phối hợp rất được chú ý ở trường học. Sơn cũng giỏi về NhuÐạo và Boxing. Trong một buổi dợt với người em là Trịnh Quang Hà - anh đã bị một cú choàng vai, và bị tổn thương phổi rất nặng, nên phải bỏ cuộc, và nằm dưỡng bệnh hai năm. Nếu Sơn không bị những sự kiện đó, tôi nghĩ là Sơn sẽ đi học ở Paris và sẽ trở thành một tiến sĩ, một bác sĩ, một kỹ sư ... chớ không phải là một nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
Tôi cho biến cố đó đã đặt Trịnh Công Sơn vào tình trạng cô đơn, tuyệt vọng. Sơn tập chơi guitare, tự học guitare với một người bạn, rồi sau đó viết ca khúc "Ướt Mi", "Nhìn Những Mùa Thu Ði".
Khi tôi gặp Sơn, thì anh đã bình phục - Sơn không có điều kiện trở lại Sài Gòn để học tiếp ở Chasseloup Laubat vì gia đình anh bị phá sản,
Sau đó - để tránh cho Sơn khỏi phải đi quân dịch, một số bạn như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Kha đã giúp Sơn thi vào trường Sư phạm Quy Nhơn.
Ca khúc Biển Nhớ đã ra đời tại trường sư phạm Quy Nhơn – trong thời gian này. Và nhân vật để Sơn viết bài Biển Nhớ là một người bạn gái có tên là Khê, nên có cái câu "Ngày mai nối bước Sơn Khê."
Sau đó Sơn lên B'Lao nhận chức trưởng giáo của một trường Thượng có hai lớp, cách nhà trọ khoảng năm bảy cây số. Sơn phải đạp xe vào làng để dạy. Tôi lên thăm Sơn, và đưa Sơn raÐà Lạt để chơi cuối tuần - một căn phòng trọ với bốn bức vách đầy chim và bao thuốc lá Bastos - ở đó Sơn đã bắt đầu sự nghiệp âm nhạc của anh với những bài nhưÐàn Bò Vào Thành Phố, như Khi Mặt Trời Ngủ Yên, như Tiếng Hát Dạ Lan. Và đó cũng là thời gian anh viết những ca khúc về thân phận, và những tình khúc.Ðó chính là thời điểm tôi và Sơn gặp Khánh Ly tại một phòng trà ca nhạc nhỏ ở Ðà Lạt.
Thật ra, người hát đầu tiên nhạc Trịnh Công Sơn và làm cho công chúng yêu nhạc Sài Gòn biết đến Sơn không phải là Khánh Ly mà là Thanh Thúy. Sau đó Trịnh Công Sơn viết bài Thương Một Người để tặng cho chị với câu: "thương ai về ngõ tối, sương rơi ướt đôi vai..."
Tuy nhiên, theo tôi, người giữ lái con đò âm nhạc của TCS trên dòng sông của đất nước chính là Khánh Ly kể từ khi Diễm Xưa ra đời. Cuộc gặp gỡ một cô ca sĩ bé nhỏ trông rất là nhếch nhác ở Ðà Lạt lại là một định mệnh. Sơn đi tìm một người ca sĩ trẻ - hoàn toàn vô danh và Sơn bắt đầu từ giọng hát của người ấy với sự tập luyện của chính anh, bởi vì lúc đó Sơn không quen biết những ca sĩ nổi tiếng của Sài Gòn. Và anh nghĩ dễ hơn là đi tìm một ca sĩ vô danh như Khánh Ly lúc đó. Ánh sáng của định mệnh đã chỉ cho Sơn đến với Khánh Ly - và từ đó Khánh Ly đã tìm được nơi nương tựa và nơi phát triển tiếng hát của mình lên đỉnh cao.
Chúng tôi khuyến khích Sơn về Sài Gòn, bỏ dạy học - một cái nghề không thích hợp và không xứng đáng với Sơn. Tôi có căn phòng rất nhỏ ở đường Trương Minh Giảng. Sơn từ Ðà Lạt về và đã ở lại với tôi trong nhiều năm. Căn phòng đó ở gần chợ Trương Minh Giảng, bên kia đường là nhà của Bùi Giáng - cũng trong một cái xóm nghèo. Nhà tôi là nơi tạm trú đầu tiên của TCS khi anh về Sài Gòn. Chính họa sĩ Ðinh Cường một trong những người bạn rất thân với Sơn - cũng thường ghé đến đó.Ðôi khi ba chúng tôi ngủ chung trong một chiếc chiếu, và đã sống với nhau bằng đồng tiền dạy học của tôi.
Từ đó Sơn gặp anh em văn nghệ sĩ ở Sài Gòn. Anh bắt đầu xuất hiện tại sân trường Ðại Học Văn Khoa ở đường Lê Thánh Tôn nơi có trụ sở của Hội Họa Sĩ Trẻ và sau lưng đó là trụ sở của CPS nơi mà Ðỗ Ngọc Yến, TrầnÐại Lộc, Hà Tường Cát... đã hoạt động chương trình mùa hè ở đó.
Tại sân cỏ này, Sơn đã giới thiệu Khánh Ly và chị đã đi chân trần và hát cho Sinh Viên nghe. Rất nhanh họ trở thành thần tượng của tuổi trẻ Sàigòn, do tính chất mới mẻ và trẻ trung của nó. Trịnh Công Sơn và Khánh Ly trở thành một hiện tượng âm nhạc ngay lúc đó.
Phong trào du ca, của anh Nguyễn Ðức Quang,... đã ra đời cùng thời điểm đó. Tôi cho đó là một thời điểm lịch sử - thật sự bùng nổ về văn nghệ của giới trẻ trong đó có chúng tôi - hội họa sĩ trẻ Việt Nam.
Chính thời đại đã sản sinh ra những hiện tượng như vậy và TCS và Khánh Ly đã là những khuôn mặt nổi bật trong giới trẻ bấy giờ.
Trịnh Công Sơn - nối tiếp cao trào đo ù- đã dấn thân thêm nhiều bước trong lãnh vực âm nhạc của mình gần gũi với xã hội, và thời cuộc đất nước hơn. Những Ca Khúc Da Vàng, rồi đến Kinh Việt Nam ra đời trong giai đoạn này. .
Người ta gọi nhạc Trịnh Công Sơn - ở một số ca khúc - là nhạc phản chiến . Tôi đồng ý với anh Phạm Duy, chữ "phản chiến" không đầy đủ ý nghĩa của nó, bởi vì chữ phản chiến nghe ra có vẻ kết án, có vẻ phải gánh chịu cái hậu quả của sự thất bại của Miền Nam . Tôi cho là chữ "thân phận" của người Việt thì khái quát hơn.
Một thanh niên Việt Nam ở bất kỳ thời đại nào, vẫn đầy sự hồn nhiên, và vẫn đầy lòng lương thiện để có một lý tưởng cho dân tộc, cho sự công bằng, cho sự không đổ máu , cho sự đoàn kết, cho sự thương yêu ... và cái chất đó có hầu hết ở chúng ta, và có hầu hết ở các lứa tuổi đang bước vào Ðại Học ... nhưng tuổi trẻ không bao giờ lường trước được những âm mưu của chính trị - cho nên sự hồn nhiên đó phải trả giá.
Trịnh Công Sơn viết những bài Nối vòng tay lớn, Huế-Sài Gòn-Hà Nội 20 năm xa vẫn còn xa ...Ðể làm gì? Ðể ước mơ đất nước hòa bình thống nhất - để ước mơ anh em bắt tay nhau khi mà người di cư đã viết về "Hà Nội ơi ta nhớ...", thì rõ ràng không ai lại không nhớ Hà Nội nếu bỏ quê hương ra đi, không ai không muốn gặp lại người thân ... thì Trịnh Công Sơn đã đứng làm kẻ chịu vác cái thánh giá đó với bao nhiêu bi kịch sau đó .
Tôi và Sơn là hai người bạn, khác nhau hai hoàn cảnh. Tôi là sĩ quan của quân lực Việt Nam Cộng Hoà. Tôi chấp nhận đi Thủ Ðức bởi vì tôi không muốn sự bất hợp pháp. Tôi là một công dân tôi phải làm việc của người công dân, cho dù là chính quyền đó có thối nát, có gì đi nữa - tôi không chấp nhận sự bất hợp pháp cho nên tôi đi lính. Tôi thi hành nghĩa vụ của mình. Còn Sơn thì khác, anh không chấp nhận chuyện đó, Sơn chỉ đi vì lý tưởng của mình.
Bởi vì chúng ta là những con người chọn dân chủ, chọn tự do thì phải tôn trọng tự do của kẻ khác; vì vậy cho nên chúng tôi vẫn chơi với nhau trong tình người, còn việc làm của ai thì người đó đeo đuổi riêng của họ.
Đến ngày 30 tháng Tư thì Sơn ở lại. Tôi nhớ buổi chiều đó, Ðỗ Ngọc Yến đến đón Sơn với một nhà báo Mỹ đề nghị Sơn đã có máy bay đưa gia đình Sơn đi Hoa Kỳ. Tôi rất muốn đi Hoa Kỳ nhưng mà Ðỗ Ngọc Yến lại không hỏi tôi. Sơn ở lại thì tôi cũng đành ở lại. Tôi thì đành thôi và sau đó thì tôi đi học tập ba năm.
Còn Sơn cũng không hơn tôi đâu. Khi các bạn đã rời khỏi đất nước ngày 30 tháng Tư, có lẽ các bạn không biết chuyện gì đã xảy ra cho Sơn. Sơn phải trốn ra Huế sau khi được đánh tiếng là sẽ bị thủ tiêu bởi vì tính chất hai mặt của Sơn trong âm nhạc và tính chất hai mặt của Sơn trong cuộc đời. Bởi vì Sơn là bạn của những nhân vật cao cấp của chính quyền Sài Gòn. Sơn đã từng viết Cho Một Người Nằm Xuống về cái chết của Lưu Kim Cương và đồng thời với Hai Mươi Năm Nội Chiến từng ngày, thì điều đó người cộng sản không chấp nhận. Tôi nghe kể lại cuộc họp ở trong khu người ta lên án Trịnh Công Sơn.
Chúng ta không biết bi kịch đó cho nên chúng ta có những ngộ nhận đáng tiếc. Sau đó Sơn phải về Huế để tìm một nơi nương tựa bởi vì ở đó Sơn có nhiều anh em. Anh hy vọng là họ sẽ giúp đỡ mình; nhưng, tránh võ dưa gặp võ dừa, ở đây Sơn còn bị nặng hơn nữa là bị tố cáo tại các trường học, các biểu ngữ giăng lên. Sơn phải lên đài truyền hình Huế nhận lỗi của mình - mà người ta gọi là bài thu hoạch. Sơn rất khéo léo trong bài nhận lỗi đó. Chính Sơn kể cho tôi nghe - Hoàng Phủ Ngọc Tường không đồng ý bài đó, nói phải viết lại vì chưa thành thật. Bạn thấy chưa?
Người ta quyết liệt ghê gớm lắm trong sự kiểm soát. Sơn đã đóng cửa nhà mình, không tiếp Hoàng Phủ Ngọc Tường trong nhiều năm. Sau đó, Sơn phải đi thực tế, tức là đi để biết người nông dân cày bừa cực khổ như thế nào. Sơn đi trên những cánh đồng còn rải rác những chông mìn. Sơn đã thoát chết trong một lần; một con trâu đã cứu Sơn khi nó đạp quả mìn mà đáng lẽ Sơn sẽ đạp.
Bởi vì tài năng âm nhạc của Sơn quá lớn, cho nên trong số những người lãnh đạo đất nước đó, cũng có người khôn ngoan hơn, biết cách thức hơn để giữ Sơn lại bằng cách bao bọc cho Sơn khỏi những tình huống hiểm nghèo như vậy. Họ đã tìm cách đưa Sơn về Sài Gòn, trả lại hộ khẩu cho Sơn, tạo điều kiện để cho Sơn yên tâm sống ở Sài Gòn.
Rất nhiều người nghe nhạc Sơn thầm lén nhất là từ miền Bắc, trong đó có nhiều đảng viên cộng sản, nhưng không ai dám công khai thừa nhận nhạc của Sơn là tài sản của đất nước và Sơn không được phổ biến âm nhạc lúc đó - hiển nhiên âm nhạc hải ngoại là phản động. Ngay cả Sơn còn không được phổ biến, mà phải đợi một thời gian đổi mới và cải tổ. Vì vậy cho nên, Sơn là một bi kịch thu nhỏ của bi kịch đất nước. Và Sơn đã nghe được những luận điệu chống mình ở tại hải ngoại, nên Sơn rất sợ mặc dù có nhiều lời mời ở các đại học. Sơn đều không dám đi. Sơn từ chối, vì Sơn sợ cộng đồng ở đây sẽ đả đảo sẽ gây ra những nguy hiểm cho Sơn. Cho đến ngày Sơn mất. Có người đã về đề nghị đưa Sơn sang đây để thay gan cho Sơn miễn phí nhưng Sơn cũng từ chối.
Trong thời gian 25 năm sau ngày mất Sài Gòn, tôi cũng kẹt ở lại - tôi đã chơi với Sơn, và tôi đã không làm gì được cho Sơn - để Sơn bị một căn bịnh đã dẫn tới hậu quả tàn khốc, tức là nghiện rượu. Bởi vì buồn, bởi vì cô đơn, bởi vì không biết sử dụng thời gian để làm gì ... vì những ca khúc viết ra đều bị phê bình nặng nề - như bài "Em ra đi nơi này vẫn thế ..." ở bên này cũng kết án bài đó - ở bên kia lại kết án là "Tại sao đất nước đã thay da đổi thịt mà anh lại viết là em ra đi nơi này vẫn thế? Sài Gòn vẫn còn nguyên à?" Người nghệ sĩ luôn đi giữa hai lằn đạn! Có ai hiểu được là Sơn cô đơn như thế nào!
Và trong nhiều sáng tác của anh, nếu chúng ta tinh ý, thì chúng ta sẽ thấy tư tưởng của TCS sau ngày mất nước. Sơn đã viết "Đường chúng ta đi, đi không bao giờ tới ..." Những ca khúc nói lên sự quạnh quẽ, sự tuyệt vọng, sự bất an của mình.Ðó là một dòng nhạc đặc biệt mà có người không hiểu chê là thua những ca khúc anh viết trước 75 để chỉ chấp nhận tình khúc của anh mà thôi. Chúng ta không biết đến một dòng nhạc triết lý và đầy đau thương đã ra đời một cách lặng lẽ âm thầm.
Ngay cả bài Nhớ mùa thu Hà Nội cũng đã bị cấm hai năm - chỉ vì câu - chỉ vì câu gì các bạn biết không? Mùa Thu - chữ Mùa Thu Hà Nội đã trở thành thuật ngữ Cách Mạng Mùa Thu - thì TCS đã viết "Từng con đường nhỏ sẽ trả lời cho ta ... đi giữa mùa Thu Hà Nội để nhớ một người và nhớ mọi Người ..."
Người ta đặt câu hỏi: Nhớ một người là nhớ ai? Và từng con đường nhỏ tại sao lại phải trả lời? Hà Nội, những con đường của Hà Nội tại sao lại phải trả lời? Trả lời cho ai? Trả lời cái gì? Ðó là nhớ Khánh Ly và Khánh Ly sẽ đem phục quốc về ... Với sự suy diễn như vậy , méo mó như vậy, bài hát đó đã bị cấm hai năm. Các bạn có biết cái nỗi đau của người sinh ra đứa con tinh thần như thế nào?
Và chúng ta sai hay đúng, hãy tự soi lấy mình - khoan kết án người khác sai hay đúng - bởi vì trong chúng ta cũng đều bị lừa dối ! Chúng ta đã trưởng thành chưa sau nhiều lần bị lừa dối về chính trị - thì chúng ta đừng trách Trịnh Công Sơn và đừng trách những người nghệ sĩ nhạy cảm và chân thật với cuộc đời với con người.
Tôi xin kết thúc ở đây - để dành thời gian cho các bạn khác - tôi là một người bạn - là một nhân chứng sống trong nhiêu năm với TCS. Những ngày tháng cuối cùng của anh, tôi đã ở bên anh mỗi lần tôi có mặt ở Việt Nam. Buổi sáng, tôi ngồi với anh dưới bóng cây để uống trà, để nhìn nhau cho đỡ nhớ, để nói với nhau một vài thông tin về bạn bè - rồi đi về. Sơn ngồi ở cái vườn trên gác nhà anh, có một cây hoa sứ già 28 năm, một giàn hoa giấy ... nó đã trở thành một cánh rừng nhỏ của Sơn và tôi đã nhìn Sơn tàn phai theo nắng chiều qua những tia nắng hoặc cuối mùa, cuối ngày qua những chiếc lá của cánh rừng bông giấy. Và thỉnh thoảng có vài tiếng chim hót như chia sẻ cái nỗi cô đơn của Sơn. Buổi chiều, tôi và Sơn đi ra ngoài một cái nhà hàng mà các bạn chắc còn nhớ, đó là Givral để nhìn qua bên kia khách sạn Continental để nhìn cuộc đời đi qua, để nhìn những nguời Việt Nam đang hấp tấp vội vã trên đường phố, để nhìn một chút trời xám , để nhìn vài cánh én ... Rồi Ði Về.
Sơn thèm đi ra phố - Sơn thèm hơi của thành phố. Bởi vì chúng tôi là những con người đã gắn bó với Sài Gòn từ lúc trẻ cho nên "Chiều một mình qua phố ..." hay "Chiều chủ nhật buồn, nằm trong căn gác đìu hiu ..."Ðó là đời sống của chúng tôi, và nó theo chúng tôi mãi mãi. Và Trịnh Công Sơn - hôm nay tôi được dịp để nói về anh, về cái sự tuyệt vời chịu đựng một bi kịch kéo dài cho tới ngày mà căn bịnh quái ác đã đục khoét tinh thần sức khỏe của anh cho đến hơi thở cuối cùng. Bởi vì sự cô đơn thật không có điểm tựa để làm việc. Và anh đã chết vì cơn bịnh này.
P/s: Coppy của Do Hoang Giang!