XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG

Chủ Nhật, 22 tháng 5, 2016

ẢNH HƯỞNG CỦA MỒ MẢ, ĐẤT ĐAI ĐỐI VỚI NGƯỜI SỐNG

Từ ngàn xưa, khoa Địa-Lý đã hiểu rõ mối tương quan giữa địa linh và nhân kiệt, mối tương quan vật lý giữa đời sống của sinh vật giới và môi trường chung quanh; cũng như các tương tác về sinh cơ giữa sinh vật này với sinh vật khác. Nhờ sự quan chiêm thực nghiệm về sự liên tục của sinh cơ và các biến thái của sinh cơ, khoa Địa-Lý đã nắm vững về sự liên quan siêu vật lý giữa mồ mả tổ tiên với số mệnh của con cháu. Cho nên, “làm thầy địa lý sai lầm thì hại cả một dòng họ ! “Người bình dân cũng nói: “Không mả, con bà đứa nào làm nên"

Trải qua hàng ngàn năm, khoa Địa-Lý đã chứng tỏ vô vàn những chứng tích phi thường. Chỉ cần một lời chỉ dẫn của Trạng-Trình Nguyễn-Bỉnh-Khiêm: “Hoành-Sơn nhất đái, vạn đại dung thân,” mà  Chúa Nguyễn-Hoàng đã dựng nên đế nghiệp kế thế bao đời.
Theo sách Việt-nam Thông-Giám, mộ ông nội kết phát ở huyện Duyên-Hà, tỉnh Thái-Bình, đã phát sinh một cháu nội thiên tài là nhà bác học Lê-Qúi-Đôn. Đất “bút nghiêng” ở Hà-Tĩnh là nơi xuất thân của thi hào Nguyễn-Du, Nguyễn-Công-Trứ, Phan-Bội-Châu, Phan-Đình-Phùng. Đất kết làng Hành-Thiện, tỉnh Nam-Định là nơi phát sinh nhà ái quốc Nguyễn-Thế-Truyền, phó đề đốc Đặng-Cao-Thăng và Đặng-Xuân-Khu, tức Trường-Chinh. Làng này dưới triều Nguyễn, có 88 vị cử nhân, và 7 vị phó bảng tiến sĩ. Trong thế kỷ 20, Hành-Thiện là sinh quán của hơn 120 bác sĩ, 50 dược sĩ, 100 k sư. (Tài liệu báo Người-Việt tháng 10/1999.) Cũng ở Nam-Định, thế đất dữ “Nghịch Nữ Kình Ba” đã phát sinh các nhân vật Cộng-Sản như Lê-Đức-Thọ, đại tướng công an Mai-Chí-Thọ, trung tướng, bộ trưởng Đinh-Đức-Thiện. Thế đất “Đầu Mâu vi bút, Hạc-Hải vi nghiêng” ở làng Lệ-Thủy, tỉnh Quảng-Bình đã xuất phát tổng thống Ngô-Đình-Diệm, Võ-Nguyên-Giáp và thiếu tướng Đỗ-Mậu. Đất kết ở Quảng-Nam đã phát sinh “Ngũ phụng tề phi”, gồm 3 tiến sĩ, 2 phó bảng trong cùng một khóa thi dưới triều vua Thành-Thái (1901). Địa danh Gò-Nổi ở Quảng-Nam là quê hương của tổng đốc Hoàng-Diệu và nhân tài Phạm-Phú-Thứ. (Tiến-sĩ triều vua Minh-Mạng). Đất “Nga mi tác án” ở Gò-Công là quê hương của Nam-Phương Hoàng-Hậu và phu nhân của tổng thống Nguyễn-Văn-Thiệu. Đất  kết ở làng Kim-Liên của Nguyễn-Tất-Thành, phát sinh Hồ-chí-Minh.  Đất kết ở làng Tri-Thủy, dưới chân ngọn núi Dao, trong dãy Mặt-Qy, tỉnh Phan-Rang, đã phát sinh tổng thống Nguyễn-Văn-Thiệu ...
Tuy nhiên, vĩ đại nhất trên thế giới vẫn là đất “Minh châu cận hải” ở tiểu bang Virginia, Hoa-Kỳ. Đây là sinh quán của 8 vị tổng thống, chẳng những lừng danh thế giới mà còn ảnh hưởng đến sự lập quốc của Mỹ cũng như cuộc diện thế giới nữa:
1. George Washington: Tổng thống thứ nhất (1789-97)
2. Thomas Jefferson:    Tổng thống thứ 3 (1801-09)
3. James Madison:        Tổng thống thứ 4 (1809-17)
4. James Monroe:         Tổng thống thứ 5 (1817-25)
5. William Henry Harrison: Tổng thống thứ 9 (1841-
6. John Tyler:               Tổng thống thứ 10 (1841-45)
7. Zachary Taylor:        Tổng thống thứ 12 (1849-50)
8. Thomas Woodrow Wilson: Tổng thống thứ 28 (1913-21)
Đất kết ở Virginia được nhìn thấy qua minh đường thủy tụ ởù phía cực Nam của thủ đô Richmond, sát biên giới của North Carolina, là hồ Drummond, một cái hồ thiên nhiên lớn nhất của nước Mỹ. Hồ Drummond tròn như một điều thần bí, sáng ngời như một viên kim cương đã được mài thật đều. Từ phía Bắc là tiểu bang Maryland đi xuống, đầu tiên là sông Rappahannock, đến con sông dài nhất tiểu bang là James, rồi tới York. Cả 3 con sông đều chảy ra biển ở phía Đông như đa số sông ngòi ở Việt-Nam. Hình dáng 3 con sông như những lá cờ đuôi nheo của thống soái đang tung bay trong gió, và hồ Drummond là cái trống đồng thúc quân ra trận.?
Đến nay, khoa địa lý bị một s người cho là mê tín dị đoan, mặc dù nó rất thực nghiệm. Mồ mả ông bà tổ tiên đương nhiên có hiệu ứng tiếp truyền trên đời sống của hậu duệ qua sự kết tinh và vận chuyển của địa khí siêu vật chất. Khi vua Quang-Trung Nguyễn-Huệ chuẩn bị  cất quân đi đánh châu Ung và châu Khâm (tức Quảng-Đông và Quảng-Tây bên Tàu). Thầy địa lý Tàu đã lập mưu tìm qua đốt phá vùng núi đá vôi cạnh ngôi mộ thân sinh của Nguyễn-Nhạc, Nguyễn-Huệ, Nguyễn-Lữ, chôn trên đèo giữa đường Qui-Nhơn lên Pleiku. Lửa cháy, núi sập. Ở Bắc-Hà, anh hùng Nguyễn-Huệ bị bạo bệnh đột ngột băng hà vào năm 1792, lúc ấy Ngài mới 39 tuổi! Ngôi mộ của dòng họ Ngô-Đình bị sét đánh trước năm 1963, báo hiệu sự sụp đổ và thảm trạng đã xảy ra cho gia đình sau đó. Cuối năm 1974, giông bão nổi lên làm sụp đổ ngọn núi Dao ở Phan-Rang, báo hiệu sự cáo chung quyền hành 9 năm của ông  Nguyễn-Văn-Thiệu. Có tin đồn là ngôi mộ làng Tri-Thủy đưc một thiếu tá Địa phương quân cùng đại úy Lầy là người nhà của Ông Thiệu canh giữ, nhưng Cộng-Sản đã cho người nằm vùng bắn lén máy bay Mỹ, để cho máy bay này bắn rocket  sụp núi, làm tán khí long mạch? Điều này chúng tôi đang chờ đọc hồi ký (nếu có) của Ông Thiệu để biết hư thực ra sao về lời đồn. Ngôi mộ của Tổng thống Washington có thể nói là “mả tổ” của  nước Mỹ, đã được đặt vào một cuộc đất lớn nhất và đẹp nhất theo phong thủy. (Sẽ có bài  khác luận rõ về  phong thủy của ngôi mộ này). Cho nên, nói gì thì nói, làm gì thì làm, nước Mỹ vẫn là nước lãnh đạo thế giới.
A/  NHỮNG TRƯỜNG HỢP XẤU:
1. Mộ chôn gần cây cổ thụ, để rễ cây đâm vào hài cốt thì con cháu bị mổ xẻ, bại liệt, đui mù, câm điếc, giảm thọ.
2. Mộ chôn gần freeway, đường xe lửa, bến tàu, hay nhà máy kỹ nghệ nặng, làm nhiễu  động âm phần: Con cháu gian xảo, buôn gian bán lận, cờ bạc, hút xách.
3. Mộ chôn chỗ quanh năm ngập nước phèn, hay sình lầy: Con cháu bị bịnh phì mập, phù thủng, đau thận, đau lưng, hư răng hay mục răng.
4. Triệt địa là đào ao nuôi cá, khai mương nước, làm đường xe lửa, xây xa lộ trên đầu mộ: Long mạch bị cắt đứt! Chết bất đắc hay tuyệt tự, không con trai nối dõi.
5. Mộ chôn ở diên địa (đất có pha quặng chì), bị phá khí thái cực, gây điên đảo âm dương, nên con cháu có người bất phân phái tính, bán nam, bán nữ. Đồng tính luyến ái.
6. Quan quách mà đóng đinh sắt, thép hay chôn theo vàng bạc, châu báu: Con cháu điên khùng, ung thư.
7. Quan tài bằng đá hay kim khí, thì con cháu ngỗ nghịch, dâm đãng, giang hồ, tâm thần loạn trí, phạm pháp.
8. Mộ xây bằng bê tông cốt sắt mà bít kín mặt nấm, sẽ tạo ra áp lực của nước, của khí. Khi nhục thể bắt đầu thối rữa,  phát sinh ra nhiệt, khiến con cháu bị huyết áp cao, tiểu đường, hay cholesterol.
9. Bia mộ để dưới chân: Con cháu ngu đần, vất vả cơ hàn. (Rất may, hầu hết các nghĩa địa ở Mỹ đều để bia trên đầu, như Rose Hill, Peek family,Westminster Memorial Park, Chúa Chiên Lành...)
10. Dùng quế, trầm, tro, củi tẩm liệm: Con cháu bị bệnh  lở lói, phung cùi, xấu xí.
11. Dùng lụa tơ tằm để tẩm liệm hài cốt. Bỏ nhiều giấy vàng bạc có  bột kim khí thì con cháu hay trở thành đồng cô cốt cậu, chồng con lận đận. Bỏ hột xoàn hay vàng vào miệng người chết để phạn hàm, thì đời sau tuyệt tự, không con trai nối dõi.
12. Long hổ giao nhau. Núi đồi bên trái mộ và những gò đồi bên tay phải mộ, đụng vào nhau ở tiền án hay minh đường: Loạn luân, anh em dòng họ lấy nhau. (Như ngôi mộ nhà Trần kết phát 200 năm, nhưng gia tộc ruột thịt lấy nhau, vì sợ mất ngôí!)
13. Mộ nghịch long, tức là đầu mộ để dưới thấp, chân hướng về tổ sơn trên cao: Con cháu loạn thần tặc tử, bất hiếu, bất trung.
14. Mộ đang kết khí, kết thủy, kết mối mà bốc mộ dời đi: Con cháu suy sụp, chết bất đắc. (Nghĩa trang Mạc-Đĩnh-Chi ở Sài-Gòn khi bị Cộng-sản giải tỏa, nhiều ngôi mộ nằm ở tầng trên mà lại kết thủy đầy nước trong veo, trong khi mộ ở tầng dưới không kết tốt, lại thấy khô ran)
15. Trùng táng hay trùng huyệt, tức là chôn nhằm chỗ mà trước đây đã có người chôn rồi; hoặc có xương thú như voi, trâu, bò: Con cháu bị bệnh nan y và chết trùng tang liên táng. Nghĩa là nhiều người chết liên tục trong vòng 3 năm. Nếu nút áo của người chết bằng xương thú hay kim khí, cũng phải cắt bỏ, chứ không để nguyên như vậy mà chôn theo người chết.
16. Người Khmer thường xây mộ bằng đá ong, dùng tà thuật chôn theo người chết những tượng sa thạch, và an táng trên họa địa hay thiết địa, (đất khô cứng vì có quặng kim khí) nên con cháu tàn ác dã man, chết vì  gươm đao, súng đạn, suýt bị diệt chủng. (“Cánh đồng chết” với những núi sọ người đã làm cả thế giới hãi hùng!).
17. Người Do-Thái và người Nhật ngày xưa, có tập tục hỏa thiêu rồi giữ lại hài cốt mà không chịu chôn cất. Hậu qủa là thế hệ sau làm nạn nhân của lò thiêu Hitler và bom nguyên tử. Trong đại chiến thứ 2, Đức-quốc-Xã của Hitler muốn tiêu diệt người Do-Thái nên đã tập trung họ lại rồi lùa ï vào lò thiêu. Còn người Nhật ở Mã-Đảo và Trường-Kỳ bị thiêu hủy vì 2 trái bom nguyên tử. (Đây là một thứ nhân quả vật lý, khác với nhân qủa của nhà Phật. Ví dụ bà mẹ lận đận chồng con hai ba đời. Con gái sau đó cũng trắc trở hai ba đời chồng. Trong gia đình có người chết trôi, phải lo đoạn nghiệp, vì sợ về sau sẽ có người chết chìm nữa. Cha chết bất đắc, con cũng chết thảm như gia đình Kennedy)
B/  NHỮNG TRƯỜNG HỢP TỐT:
1. Phù địa: Là mạch đất chỗ chôn mộ ngày càng nổi lên cao, do thủy tụ làm cho đất nở trương ra. (Khác với phù sa là đất bồi do hiện tượng xâm thực của cuồng lưu)
2. Đất xốp: Nhẹ và mịn màng gần ao hồ, sông, bể. Huyệt đào lên thấy đất đỏ mịn như tròng đỏ hột gà.
3. Mộ kết: Là một điểm trong long mạch có mật độ siêu vật chất cao nhất và động nhất; đồng thời có cảm trường siêu vật lý đi qua thường trực và cao diệu. Cảm trường siêu vật lý phân giải và làm tê liệt tà vật, tà khí, vi sinh vật hủ hóa, nên hài cốt không bị tiêu hủy và bề mặt sinh cơ còn tiếp tục sinh sản dưới một hình thức khác lạ của sinh vật hạ đẳng như là nấm mốc, mối đùn, thủy tụ.
*Nấm mốc: Làm di hài còn nguyên vẹn và bên ngoài được bao bọc bởi một mạng tơ trắng hay xanh, vàng, do ngoại bì biến thái.
*Kết mối: Là mối (termite) tập họp, tạo thành một lớp keo bảo vệ hài cốt kiên cố như xây xi măng. (Tin đồn rằng mộ ông nội của tổng thống Thiệu ở làng Tri-Thủy ở Phan-Rang kết mối).
*Kết thủy: Hay thủy tụ là hài cốt được một lớp nước trong bảo vệ qua nhiều chục năm như một thứ nước ướp xác. Nếu bốc mộ thì nước sẽ nhanh chóng hóa đục và hài cốt tức khắc ngã màu đen. (Thầy địa lý cho rằng mộ ông nội của tiến sĩ Lê-Quý-Đôn ở huyện Duyên-Hà, tỉnh Thái-Bình, kết thủy ?)
C/  TẠI SAO PHẢI MAI TÁNG ?
Dù là địa táng như thường thấy ở Việt-Nam, thiên táng là sét đánh, trời trồng, núi lở, đất sụp, không thiên di hài cốt được; thủy táng như thả xuống sông Ganges ở Ấn-Độ, điểu táng là chia thành nhiều mảnh nhỏ cho chim ăn như ở Tây-Tạng... cũng đều cùng chung một mục đích: “Của THIÊN trả ĐỊA” để tấm thân tứ đại (đất, nước, gió, lửa) hòa cùng vũ trụ. Bởi vậy, đã thiêu thì phải rải xuống nước, hay đem chôn xuống đất mới đúng với quy luật tự nhiên, ngỏ hầu tránh cho con cháu đại họa bom đạn, hỏa hoạn, động đất về sau. (Vì lý do nhân qủa vật lý như đã nói ở phần trên)
Đức  Chúa Trời phán rằng: “Con người sinh ra bằng cát bụi, phải trở về với cát bụi mà thôi.”
Trăm năm còn có gì đâu ?
Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì.
Truyện Kiều, Nguyễn-Du)
Kim sanh Thủy (Kim khí nấu chảy ra nước). Thủy sinh Mộc. (Nước nuôi cây đâm chồi nẩy lộc). Mộc sinh Hỏa (Cây cháy phát ra lửa). Hỏa sinh Thổ (Lửa cháy tàn rụi ra tro đất). Cho nên, chưa “hạ Thổ” là chu luân sanh, trụ, hoại, diệt chưa hoàn tất. Nghĩa là người chết chưa đi hết hành trình sinh diệt! Thánh Gandi, người đã tranh đấu cho nền độc lập Án-Độ, sau khi hỏa táng, một số ngân hàng đã lưu trữ tro cốt của Ngài. Mới đây, hậu duệ của Ngài đã đấu tranh đòi lại để rải nốt xuống bể. Những gia đình có thờ tro cốt trong nhà, con cháu thường bệnh hoạn, ly tán, bất hòa, tình duyên trắc trở. Người Hời, người Chàm hay khoét lổ, nhét xác chết vào một khúc cây, bịt kín 2 đầu rồi đem dựng vào góc nhà mà thờ. (Chúng  ta gọi là ma xó). Kết qủa, dân tộc này đã bị diệt vong.
Người xưa nói: “Sống cái nhà, già cái mồ” là muốn khi chết được mồ yên mả đẹp. Động mồ, động mả là điều đại kỵ. Cho nên, chỉ có xá lợi của Phật là một thứ ngọc rất quý, kết tinh bởi tinh, khí, thần mới đáng để chiêm bái thờ phượng mà thôi. Còn tro cốt của người phàm nào làm trái với quy luật tự nhiên, tự nó sẽ gây ra nhân qủa vật lý có hại mà không ai có thể chối cãi được.
Nguồn:
MO-MA-DAT-DAI-DOI-VOI-NGuOI-SONG.html

Kiến thức phong thuỷ về m, m

Người xưa coi trên mặt đất là dương, dưới mặt đất là âm. Nơi ở của người sống gọi là dương trạch, nơi chôn người chết gọi là âm trạch.
Linh hồn của người chết yên ổn thì con cháu thịnh vượng, vì vậy các thầy phong thủy coi trọng âm trạch hơn dương trạch rất nhiều lần, nội dung chủ yểu của phong thủy là âm trạch, sách vỡ viết về âm trạch cũng nhiều hơn.
Ở giai đoạn đầu, con người chưa có hành vi mai táng. "Mạnh Tử, Đằng Văn Công thượng" viết "... không chôn người thân... chồn cáo ăn xác". Sau này dần dần mới có hành vi chôn cất, nhưng chưa chú ý đến thời gian, địa điểm, hình dáng mộ.
Đến xã hội nguyên thủy, hưởng chôn người có xu hướng nhất trí: 114 ngôi mộ thời đồ đá mới. phát hiện được ở Hà Nam (Trung Quốc) đều hướng về nam hơi lệch về tây, 250 ngôi mộ Văn hóa Ngưỡng Thiều đều hơi lệch về tây...
Cùng với việc chôn cất được quy hoạch hóa, đã xuất hiện tình huống xây mộ cho người sống, chọn đất mà chôn với mong muốn tạo phúc cho đời sau. Mồ mả do vậy có nhiều tên gọi:
- Phần, vốn là đống đất, sau này được dùng để gọi mồ mả.
- Mộ, là tên gọi đất chôn bậc vương giả ngày xưa.
- Gò, vốn là đất núi. Thời Xuân Thu gọi mộ là Gò (khưu).
- Chủng (mộ). vốn nghĩa là đỉnh núi. Sau này gọi mộ cao là chủng.
- Lăng, vốn nghĩa là núi đất lớn. đời sau gọi mộ đế vương là lăng.
Những người thống trị các đời nước, nói chung đều xây dụng lăng tẩm rất đồ sộ. Như Kim tự tháp ở Ai Cập. hoặc như Lăng mộ Tần Thủy Hoàng huy động tới 70 vạn dân phu, xây dựng trong 40 năm. Thứ nữa là dùng các loại hình thức trang sức mồ mả, như khắc động vật bằng đá, làm cột đá, bia đá, khắc tượng người bằng đá, khắc động vật bằng đá có các con sư tử, ngựa, lợn, rùa, voi, dê, hổ, hươu, bò, kỳ lân, lạc đà, tê giác...
Đến thời Đông Hán, khắc đá trước mộ đã rất phổ biến trở thành một loại mộ chế. Vật khắc đá được bày hai bên thần đạo, thể hiện rõ sự tôn nghiêm.
Tẩm vốn là nơi nhà vua và gia tộc ăn uống cư trú. Ðến đời Tần Hán đã đưa vào trong lăng mộ, vì người xưa cho rằng, linh hôn người chết vẫn ăn ở trong lăng tẩm.
Trong lăng tẩm có trồng cây, khắc bia đá.
Bia vốn dùng để quan sát bóng mặt trời. Sau dùng để khi hạ huyệt, kéo lôi quan tài xuống. Rồi có người khắc chữ trên hìn, và thế là thành bia mộ. Trên bia quần thần, con cháu thường khắc chữ ca ngợi công đức của vua, cha nhằm để cho đời sau biết.
Trước mộ thiên tử trồng cây thông, mộ chư hầu trồng cây bách, mộ đạo phu trồng cây loan, mộ sĩ phu trống cây hòe. mộ dân thường trồng cây liễu.
Theo các nhà phong thủy thì dựa vào ngày sinh, ngày mất  ta có thể tra cứu Trạch Quẻ để xác định 4 hướng tốt, 4 hướng xấu, chọn các ngày tốt giờ tốt để di quan, hạ huyệt, để mong người chết lưu phúc lại cho con cháu.
1. Những trường  hợp chôn mộ nơi xấu:
- Không chôn mộ nơi có dòng nước đọng lại, có nghĩa là long mạch phải chảy, không bị cắt đức, con cháu sẻ bị thận, hư răng, đau lưng, những bệnh không vận động sẽ phát sinh, chết bất đắc hay tuyệt tự, không con trai nối dõi.
- Không chôn mộ gần các cây lớn để rễ cây đâm vào hài cốt thì con cháu bị động, đau ốm có thể năm này thì rể cây chưa ăn vào nhưng các năm tiếp theo có thể bị,
- Không chôn gần các nơi công cộng, khu vui chơi, bến xe, bến tàu, khu công nghiệp nặng, phần âm trạch sẽ bị nhiễu, con cái hư hỏng, học hành không đến nơi đến chốn, tù tội.
- Không nên đóng đinh, sắc thép vào quan tài, hoặc nếu nút áo của người chết bằng xương thú hay kim khí, cũng phải cắt bỏ, chứ không để nguyên như vậy mà chôn theo người chết. Con cháu điên khùng, ung thư.
- Mộ xây bằng bê tông cốt sắt mà bít kín mặt nấm sẽ tạo ra áp lực của nước, của khí. khi nhục thể bắt đầu thối rữa, phát sinh ra nhiệt, khiến con cháu bị huyết áp cao, tiểu đường, hay cholesterol.
- Bia mộ để dưới chân, Con cháu ngu đần, vất vả cơ hàn, nghèo đói.
- Long hổ giao nhau, núi đồi bên trái mộ và những gò đồi bên tay phải mộ, đụng vào nhau ở tiền án hay minh đường thì loạn luân, anh em dòng họ lấy nhau. (Như ngôi mộ nhà Trần kết phát 200 năm, nhưng gia tộc ruột thịt lấy nhau, vì sợ mất ngôi).
- Mộ nghịch long, tức là đầu mộ để dưới thấp, chân hướng về tổ sơn trên cao, con cháu loạn thần tặc tử, bất hiếu, bất trung.
- Mộ đang kết khí, kết thủy, kết mối mà bốc mộ dời đi: Con cháu suy sụp, chết bất đắc.
- Trùng táng hay trùng huyệt, tức là chôn nhằm chỗ mà trước đây đã có người chôn rồi; hoặc có xương thú như voi, trâu, bò: Con cháu bị bệnh nan y và chết trùng tang liên táng. Nghĩa là nhiều người chết liên tục trong vòng 3 năm.
- Trong gia đình có người chết trôi, chết nước phải lo đoạn nghiệp , vì sợ về sau sẽ có người chết chìm nữa.
Địa lý âm trạch (về mồ mả) những trường hợp đặt sai hướng mộ, đặt sai huyệt vị, đặt sai ngày giờ, hoặc phạm xung sát… đều phát tác rất nhanh, có trường hợp phạm nặng, phát tác ngày trong vòng 3 ngày sau khi đặt mộ, chậm nhất sau 3 năm cũng đã phát tác. 
Trường hợp mộ bị động do thay đổi địa chất, rễ cây đâm vào, trâu bò đánh phá hoặc do nhiều tác nhân khác, chỉ cần tu sửa lại, sắm bát cơm quả trứng, chai rượu, vàng mã, quần áo mã và con ngựa mã, trầu nước hương đăng (có điều kiện thì lễ lớn hơn) tạ lễ thổ thần là được.
Nếu muốn đổi vận phát tài phát phúc cho gia đình, phải chọn được ngôi đất mới thích hợp, Chú ý nhận biết nơi khởi đầu và kết thúc, dừng tụ của sơn mạch, thủy lưu điểm trúng kết huyệt, tìm kiếm phát hiện hình mạo hướng bối của long hổ triều ứng, để định huyệt vị tọa hướng, lại phải biết tuổi người chết có hợp để phù hộ lưu phúc cho con cháu hay không.
Tuyệt đối không nên động chạm nếu không gặp trường hợp phải di dời cho dự án chẳng hạn, không nên “Ma ngủ lại rủ ma dậy”.
2. Lựa chọn những nơi đất chôn mộ tốt:
- Huyệt mộ là nơi đất mới chưa từng bị chôn lấp, đào xới. Khí đất của huyệt tươi tốt, đất rắn chắc tươi tắn. Nếu là vùng đồng bằng thì đất tươi mịn, có mùi thơm, đào lên phía dưới độ 60,70cm đất đặc quánh, có màu vàng nhạt hoặc màu nâu đậm. Nếu là vùng núi cao thì đất mịn màng, tuy khô nhưng có màu vàng nhạt.
- Kỵ nhất là huyệt là nơi đất tơi xốp, có chứa nhiều rác rưởi, hoặc có nguồn nước thải bị ô nhiễm. Đào lên ở đáy huyệt phải có mạch nước ngầm chảy dưới huyệt. Màu sắc của nước trong xanh, mùi thơm, tránh nước bị ô nhiễm hoặc nước có mùi hôi. Những huyệt ở đồng bằng, ruộng thì kỵ không có nước ở dưới huyệt.
- Ở các vùng nghĩa trang nơi quy tập nhiều mộ, thường bị tình trạng quá tải về diện tích, các mộ chen lấn nhau. Tránh huyệt bị các mộ xung quanh lấn chiếm, hoặc nằm án ngữ ngay trước phần mộ, hoặc đâm xuyên vào 2 bên cạnh mộ. Nếu chọn được huyệt phía trước rộng thoáng, lại nhìn ra ao hồ hay sông suối là đắc cách(tốt). Trường hợp đất đai quá hiếm không chọn được huyệt có phía trước thoáng rộng thì tối thiểu cũng phải có một khoảng đất trống nằm ngay phía trước huyệt mộ.
Quan sát cẩn thận hệ thống đường đi xung quanh huyệt. Nếu huyệt có đường đi đâm thẳng vào giữa hoặc đâm xuyên sang hai bên thì gia chủ bị bại không thể dùng. Đường đi sát ngay phía sau huyệt cũng tối kỵ chủ tổn hại nhân đinh. Tốt nhất chọn huyệt nơi yên tĩnh xa cách với đường đi lối lại quanh khu vực mộ.
Ở vùng núi non thì cần thẩm định huyệt theo những tiêu chí của địa lý chính tông. Huyệt cần được bao bọc có long hổ hai bên ôm lấy huyệt(hai đồi núi ôm lấy nhau, mộ ở phần giữa), phía sau có cao sơn che chắn, phía trước có minh đường thuỷ tụ…
Các bạn lưu ý rằng, nên nhờ một thầy chuyên gia có kinh nghiệm Phong Thuỷ chính tông tiến hành xem xét cẩn thận trước khi chôn, nếu không biết mà tự ý tiến hành thì sẽ dẫn đến những hậu qủa khó lường.
Nếu đã có nghĩa trang của dòng họ được thiết kế sẵn từ trước thì việc này rất đơn giản vì khi lập nghĩa trang đã có các Phong thủy sư tính toán cho rồi.  
- Tầm Long tróc mạch- Xác định Huyệt Khí-Mua cuộc đất đã tìm được- Tính toán, phân kim sẵn, bao gồm các bước như xác định Loan đầu,Thiên Môn, Địa hộ, xác định vị trí kết Huyệt- Tính toán thời gian đặt mộ, độ sâu và phương đặt để đạt được Huyệt Khí Bảo Châu...
- Nhiều khu vực vì đã có đất hay nghĩa trang từ trước nhưng không tụ đủ Khí phải thực hiện việc dẫn Long về để tụ Khí tại cuộc đất đã chọn. Nói tóm lại những điều nói trên rất phức tạp và là chuyên môn của các Phong Thủy Sư. Một việc rất quan trọng là phải cân được phúc đức của dòng họ của mình. Phúc phận của dòng họ đó như thế nào phải đặt vào khu Địa Huyệt có năng lượng tương đồng mới có kết quả. Không vì khu đất kết Huyệt quá to , quá mạnh, quá nhiều đời mà đặt vào khi phúc phận của dòng họ chưa đủ.Thông thường những gia đình bình thường về phúc phận chỉ cần một con giun cũng đủ cho một cuộc sống bình an, ổn định, đâu có cần tới những con Long, những Huyệt kết đắc địa. Những Huyệt lớn chỉ sử dụng cho những vị to lớn, những dòng họ đã đủ phước báu do Thiên định mà thôi (như Võ Nguyên Giáp chẳng hạn).
- Phù Địa: Là mạch đất chỗ chôn mộ ngày càng nổi lên cao, do thủy tụ làm cho đất nở trương ra. ( Khác với phù sa là đất bồi do hiện tượng xâm thực của cuồng lưu.)
- Đất xốp: Nhẹ và mịn màng gần ao hồ, sông, bể. Huyệt đào lên thấy đất đỏ mịn như tròng đỏ hột gà.
- Mộ kết: là mộ đã thụ được Linh Khí của Long mạch, tụ khí lại trong mộ và làm cho con cháu trong dòng họ đó làm ăn thuận lợi, gia đình , dòng họ thuận hòa và mạnh khoẻ. Có nhiều cách để kiểm tra mộ kết như bằng các phương pháp Cảm xạ, ngoại cảm, cảm nhận trường Khí...Có thể quan sát bằng mắt thường sẽ thấy ngôi mộ đó càng ngày càng nở ra do được tích tụ Linh khí của Long mạch, giống như những cái gò thường nổi lên do hiện tượng dư khí của Long mạch trên cánh đồng. Trên các ngôi mộ kết thường cỏ mọc rất nhanh và xanh tốt. Tại Hà Tĩnh, có ngôi mộ kết khi người nhà đi thăm mộ, khi về vứt bỏ những đoạn thân của bó hoa cúc ra ven mộ, vài ngay sau những đoạn thân đó đã mọc ra những cây cúc hết sức tươi tốt. Người xưa cũng dùng phương pháp này để xác định Huyệt kết. họ cắm những cành cây khô vào những cuộc đất nghi có mộ kết, nếu những cành khô đó nẩy mầm xanh tốt thì gần như chắc chằn nơi đó có Huyệt kết. Một quan sát khác nữa là nhìn những viên đá , bia mộ tại Huyệt, nếu mộ kết tức là làm cho những viên đá, bia mộ đó bóng loáng lên như được lau chùi bằng dầu bóng.Khi gặp trường hợp Mộ kết, tốt nhất là để nguyên không được dịch chuyển vì sẽ gây ra vô vàn rắc rối trong cuộc sống của dòng họ.
- Kết mối: Là mối (termite) tập hợp, tạo thành một lớp tường bảo vệ hài cốt kiên cố khỏi bị xâm phạm của tà khí. (Tin đồn rằng mộ ông nội của tổng thống Thiệu ở làng Tri-Thủy ở Phan-Rang kết mối)
- Kết thủy: Hay thủy tụ là hài cốt được một lớp nước trong bảo vệ qua nhiều chục năm như một thứ nước ướp xác. Nếu bốc mộ thì nước sẽ nhanh chóng hóa đục và hài cốt tức khắc ngã nàu đen. (Thầy địa lý cho rằng mộ ông nội của tiến sĩ Lê-Quý-Đôn ở huyện Duyên-Hà, tỉnh Thái-Bình, kết thủy?)
3. Thời gian cải táng và quy tập mộ: 
Theo tất cả các sách từ xưa để lại, thời gian tốt nhất trong năm là từ cuối Thu đến trước ngày Đông Chí của năm. Không ai cải táng , quy tập mộ đầu năm cũng như sau Đông Chí . "Chọn lựa thời điểm để cải táng là một việc vô cùng quan trọng. Theo phong tục của người Việt Nam, người mất sau 3 năm thì cải táng, cũng là lúc con cháu mãn tang, tức là hoàn toàn hết để tang vong linh. Vì thế, việc cải tháng thường được tiến hành sau 3 năm chôn hung táng. Tuy nhiên, hiện nay thực tế môi trường địa lý và khí hậu có nhiều thay đổi, các hoá chất được sử dụng nhiều trong đất để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Hiện tượng sau 3 năm xác người chết chưa phân huỷ diễn ra khá phổ biến, nên nhiều gia đình lựa chọn giải pháp là để thời gian cải tháng lâu từ 4 đến 5 năm để tránh hiện tượng trên.Năm để tiến hành cải táng phải lựa chọn theo tuổi của vong, tránh những năm xung sát. Ngoài ra còn phải căn cứ theo tuổi của trưởng nam trong nhà, vì khi vong đã mất thì mọi sự may rủi đều gánh trên vai của người trưởng nam. Năm để tiến hành cải táng cũng phải được phù hợp với tuổi của người trưởng nam.

Thứ Hai, 16 tháng 5, 2016

Đến Bhutan, bạn sẽ thấy ở Việt Nam còn hạnh phúc gấp vạn lần



Đến Bhutan, bạn sẽ thấy ở Việt Nam còn hạnh phúc gấp vạn lần


Bhutan được mệnh danh là quốc gia hạnh phúc nhất thế giới với vị trí địa lý nằm ở Nam Á, giữa Ấn Độ và Trung Quốc. Điều này có được là do người dân Bhutan thường xuyên tìm kiếm sự hạnh phúc về tinh thần, họ không quan tâm đến TV, Đài hay Internet, những vấn để nổi trội của thế giới. Còn đối với những người dân tại quốc gia khác, việc tìm kiếm hạnh phúc tại Bhutan lại khó hơn người ta tưởng. Đâu phải việc ở một quốc gia hạnh phúc nhất thế giới sẽ giúp bạn trở nên hạnh phúc hơn. Nếu là người Việt Nam và đặt chân tới Bhutan, có lẽ bạn sẽ thấy quê hương chúng ta còn hạnh phúc gấp vạn lần. Tại sao lại như vậy?
1. Đất nước không có dân chủ
Vào năm 2008, Bhutan thực hiện quá trình chuyển đổi từ chế độ quân chủ tuyệt đối sang chế độ quân chủ lập hiến và tổ chức cuộc tổng tuyển cử đầu tiên.
Nhà nước Bhutan dù có Đức Vua nhưng Vua không có thực quyền – chỉ trị vì nhưng không cai trị, tất cả quyền lực điều hành nhà nước đều nằm trong tay quốc hội do Đảng chiếm đa số ghế đứng đầu.
So về việc tổng tuyển cử dân chủ, Việt Nam mình đã đi trước mấy chục năm, từ năm 1945 còn gì. Bhutan cái gì cũng bị kiểm soát dưới sự kiểm soát của nhà nước quân chủ lập hiến. Ví dụ thực tế: Nhà nước ban lệnh con nít bắt buộc phải đi học và dù nhà có điều kiện cũng không được trả tiền.

Trẻ em nhà giàu hay nhà nghèo đều phải làm tròn nghĩa vụ của mình là học hành và vui chơi, những vấn đề còn lại để nhà nước đảm bảo và đáp ứng. Trẻ em muốn đi làm kiếm tiền mưu sinh như ở Việt Nam cũng không được thông qua.
Du khách nào muốn đến Bhutan, không được đi tự do nữa, mà phải đặt qua công ty du lịch hoặc có bạn là người Bhutan xin visa giúp mới được cho đi.
Đối với mỗi thanh toán của du khách nước ngoài, nhà nước đánh thuế lên đến 35%. Tất cả tiền này vào quỹ được gọi là quỹ du lịch- hạnh phúc, và được dùng để phục vụ cho người dân Bhutan, các vấn đề về an sinh giáo dục.
Một điều nữa là đối với khách du lịch, nhà nước không khuyến khích du khách cho trẻ con ở Bhutan quà, bánh hay bất cứ thứ gì, vì điều này sẽ làm những đứa trẻ Bhutan hình thành thói quen xin đồ từ khách du lịch – vô cùng không tốt trong sự hình thành nhân cách của chúng.
Quay lại Việt Nam, ở Sapa, Hà Giang, hay cả Sài Gòn, Hà Nội, một số người lớn khuyến khích, chỉ bảo cho trẻ em đi xin tiền của người khác. Chỉ trừ một số thành phố như Đà Nẵng, gần đây là Sài Gòn không khuyến khích và cấm, còn lại thì để cho họ tự do.
2. Không có tự do tôn giáo, toàn bộ người dân theo phật giáo
Hơn 98% người dân Bhutan theo đạo Phật, học theo giáo lý và hành xử của những người theo Phật – hiền lành, chất phác, trung thực, làm gì cũng rõ ràng, vì rõ ràng nên họ mất thời gian lâu hơn để tìm hiểu, kiểm tra, kiểm định các thông tin, chứ đâu có “nhanh nhẹn, nhanh nhạy”.
Người dân Bhutan cũng không có chính kiến, toàn nghe theo giáo lý nhà Phật, nghe theo những điều của Nhà nước quy định trong “Chỉ số Hạnh Phúc Quốc gia”.
Chỉ số này được đặt ra trong năm 1972 bởi Dragon King thứ 4 của Bhutan , Jigme Singye Wangchuck . Nó đại diện cho một cam kết xây dựng một nền kinh tế sẽ phục vụ văn hóa Bhutan dựa trên các giá trị tinh thần Phật giáo thay vì chỉ số đo bằng tổng sản phẩm trong nước của phương tây (GDP): tập thiền mỗi buổi sáng, sống cân bằng, biết đủ, không bon chen nói xấu lẫn nhau, không giết hại súc vật.
3. Không có sự sáng tạo trong giáo dục
Vì là nước nghèo – quốc vương có điều kiện được ba mẹ cho đi Anh Quốc du học, rồi đem nguyên hệ thống đó vào áp dụng, có điều chỉnh và bổ sung thêm về văn hoá, con người, giá trị, bài học đạo đức vào để áp dụng cho đất nước.
Bạn đến Bhutan, đừng ngạc nhiên vì sao người dân Bhutan từ con nít đến người lớn – hơn 80% đều nói tiếng Anh rành rõi, bên cạnh tiếng mẹ đẻ Dzongkha và 53 ngôn ngữ trong hệ ngôn ngữ Tây Tạng.
5. Taxi không rõ ràng minh bạch – đi mà không tính theo km đường đi
Taxi ở Bhutan không có cái máy để tính tiền theo km bạn đi. Lên taxi tài xế hỏi đường bạn đi đến đâu, rồi báo số tiền là như vậy rồi bạn đi thôi.
Họ không dám nói dối, nói xạo, vì như vậy là không đúng theo giáo lý nhà Phật. Nghĩ lại nước mình, trừ các hãng có uy tín, một số hãng khác có máy tính tiền rõ ràng minh bạch nhưng sao hành khách hay có cảm giác được trả tiền cao hơn bình thường.
6. Nền kinh tế chuyên nhập siêu
Vì là quốc gia Phật Giáo, nên đa phần người dân không được sát sinh, giết hại súc vật. Người Bhutan chủ yếu ăn gạo, ngũ cốc, sữa và các sản phẩm từ sữa, còn thịt cá thì đa phần cho du khách nước ngoài.
Thịt cá động vật được giết ở bên ngoài Bhutan – chủ yếu là Ấn Độ và nhập về. Người Bhutan vẫn chăn nuôi gia súc gia cầm bình thường nhưng không bao giờ giết hại. Cái này chẳng phải nhập siêu còn gì?
7. Quốc gia lãng phí nhất
Một người ở Bhutan kể bạn anh ấy bị bệnh, mà bệnh viện ở Thimpu không có đủ trang thiết bị y tế để chữa trị, thế là bạn đó được đưa qua bệnh viện Ấn Độ chữa trị đến nơi đến chốn mà không phải trả bất kỳ khoản phí bệnh viện nào cũng như chi phí chuyển viện, di chuyển từ Bhutan qua Ấn Độ. Quá tốn kém!
8. Sử dụng tiền không đúng mục đích
Đức Vua và Quốc hội nhận thấy không khí, môi trường, tài nguyên rừng là một phần không thể thiếu, nên đi đến đâu cũng bắt người dân phải bảo vệ môi trường, thiên nhiên.
Tiền thuế của người dân, các công ty, “tập đoàn kinh tế” đóng vào thì được sử dụng vào việc bảo tồn thiên nhiên, tự nhiên này.
Nhà nước không biết khuyến khích chặt rừng chặt cây lấy gỗ càng nhiều càng tốt để làm kinh tế, bán đi cho có nhiều ngoại tệ, cho nên mỗi ngày người dân Bhutan chỉ toàn ngửi mùi gỗ, mùi cây, mùi không khí.
Mùi tiền từ việc đốn cây bán rừng chặt rừng thì còn lâu họ mới chịu ngửi. Hỏi không phải sử dụng tiền sai mục đích chứ là gì?
9. Chi phí cho khách du lịch đắt đỏ
Như đã chia sẻ ở trên, để du lịch ở Bhutan, bạn phải đặt tour qua công ty du lịch và phải trả chi phí ít nhất 200$/người/ngày vào mùa thấp điểm ( tháng 1,2, 6,7,8,12) và 250$/người/ngày vào mùa cao điểm (3,4,5,9,10,11). Với tiêu chuẩn ở khách sạn 3 sao, bao gồm các tour cơ bản, ăn uống, không bao gồm chi phí vé máy bay.
Và khi trả số tiền này, có nghĩa là bạn đã góp phần cho Bhutan có nền giáo dục chất lượng miễn phí cho các em nhỏ, người dân Bhutan được hưởng sự chăm sóc y tế toàn diện, và môi trường sống trong lành, bảo đảm không phá hoại tự nhiên, và tôn giáo (đạo Phật) được tu dưỡng và không bị du lịch làm mờ nhạt, biến tướng cũng như không có tình trạng chặt chém du khách.
10. Quốc gia sống ảo nhất thế giới
Nước thì nhỏ, kinh tế còn đang phát triển, dân thì bị nhà nước kiểm soát như thế, ko có tự do gì cả… mà đi đâu, cũng thấy làm thương hiệu với hai từ “Hạnh Phúc”- từ sân bay đến đường đi, vào rừng… thế có phải sống ảo không? Ảo tưởng mình hạnh phúc nhất thế giới!
11. Nhỏ mà có võ – Đất nước không sợ chết
Dân số Bhutan chỉ hơn 700,000 người (ít hơn dân số Đà Nẵng – Việt Nam), nằm kẹp giữa hai quốc gia đông dân nhất thế giới và lớn về diện tích là Trung Quốc và Ấn Độ, vậy mà “Võ công cao cường”- không sợ gì hết.
Bhutan chỉ thiết lập quan hệ ngoại giao với Ấn Độ, và nói không với anh Trung Quốc. Đơn giản lãnh đạo Bhutan nói rằng “ từ trước đến nay Trung Quốc luôn coi Bhutan là một phần của Tây Tạng, mà Tây Tạng là của Trung Quốc, nên đương nhiên việc sớm muốn Trung Quốc muốn coi Bhutan thuộc quốc gia này cũng bình thường”.
Bất kỳ quan hệ ngoại giao nào với Trung Quốc cũng ko có cái gọi là công bằng. Dựa trên kinh nghiệm quan sát của Bhutan, nên nói không trong việc thiết lập quan hệ ngoại giao, ko cho mở sứ quán Trung Quốc ở Thimpu và không cho mở đường bay thẳng từ Trung Quốc qua Bhutan- dù hai nước cạnh nhau và có hơn 475km đường biên giới.
Trung Quốc có mời chào cho tiền viện trợ, lãnh đạo nhà nước và quốc vương Bhutan cũng ko thèm, vì họ tự nuôi sống họ từ nguồn tài nguyên thiên nhiên, và còn xuất khấu năng lượng sạch qua Ấn Độ.
Tham khảo Thasanova

El Niño HAY CON NGƯỜI GIẾT CÁ?

CŨNG CẦN HẠ HOẢ ĐỂ ĐỌC THÊM NHỮNG THÔNG TIN NÀY:
El Niño HAY CON NGƯỜI GIẾT CÁ?
Nguyễn Thị Thanh Minh
Tiến sỹ Di truyền học, Từ Sài Gòn
(BBC Tiếng Việt - 10/5/2016)

El Niño hiểu đơn giản là hiện tượng nóng lên của vùng xích đạo Thái Bình Dương tập trung ở khu vực trung tâm và phía đông của đại dương này.
Trung bình cứ 2 - 7 năm sẽ có một đợt El Niño. Mỗi đợt El Niño sẽ gây ra những hậu quả nặng nhẹ khác nhau, rất khó để dự đoán. Nhìn chung, El Niño sẽ có thể gây ra bão, lụt, hạn hán, cháy rừng, dịch bệnh, nạn đói, mùa màng thất bát, các giống loài bị phân bổ lại, động vật bị chết hàng loạt, cá chết hàng loạt, và san hô bị tẩy trắng (không hẳn là chết nhưng nếu bị tẩy trắng quá lâu thì cũng sẽ chết).
Đợt El Niño năm 1997-1998 là đợt nóng kinh khủng nhất trong lịch sử của El Niño, được gọi là Siêu El Niño, và gây hậu quả nghiêm trọng nhất bao gồm: bão nhiệt đới ở miền Đông Canada và Mỹ, lũ ở Trung Quốc, cháy rừng ở Úc, dịch sốt xuất huyết bùng nổ ở Tây Thái Bình Dương và Châu Á, hơn 35 nước tuyên bố có thiên tai, mùa màng thất bát, đất đai mất chất, ô nhiễm sông ngòi, nguồn nước ngầm bị cạn kiệt dẫn đến đói kém, cá chết hàng loạt ở nhiều nơi trên thế giới, san hô cũng bị tẩy trắng khắp nơi trên thế giới, và có 23,000 người tử vong do hậu quả của trận Siêu El Niño này.
Đầu năm 2014, một nhóm các nhà khoa học trên thế giới chuyên về dự đoán khí hậu đã đưa ra minh chứng cho mối liên quan giữa biến đổi khí hậu toàn cầu và El Niño trên tạp chí danh tiếng Nature Climate Change.
Theo dự đoán có cơ sở của họ thì khi trái đất ngày càng nóng lên, tần số Siêu El Niño xảy ra cũng sẽ tăng theo, từ một lần mỗi 20 năm thì bây giờ sẽ là một lần mỗi 10 năm.
Bắt đầu từ tháng 8/2015, nhiều báo đài uy tín trên toàn cầu, trong đó có NOAA, đã đưa ra cảnh báo El Niño 2015-16 sẽ là đợt El Niño tương đương với đợt Siêu El Niño 1997-98 và thậm chí có thể kinh khủng hơn.
Vậy những lý do nào khiến El Niño và việc trái đất nóng lên có thể là thủ phạm của việc gây chết cá tại vùng biển Hà Tĩnh đến Đà Nẵng của Việt Nam?

El Niño dẫn đến thiếu hụt oxygen và thức ăn cho cá
Đoạn hoạt hình ngắn sau cung cấp bởi NOAA (National Oceanic and Atmostpheric Administration - Cơ quan Theo dõi Đại dương và Khí hậu Quốc gia của Mỹ) cho thấy sự thay đổi về nhiệt độ bề mặt của biển (SST - sea surface temperature) Thái Bình Dương do ảnh hưởng của El Niño từ đầu tháng 2 đến cuối tháng 4/2016 rất rõ rệt. Màu càng đỏ thì nghĩa là nhiệt độ càng cao.
( Xem hình 1)
Nếu chú ý nhìn vào khu vực biển bao quanh Việt Nam thì có thể thấy rõ đây là khu vực bị tăng nhiệt độ theo hướng lấn sâu vào bờ, và có màu đỏ đậm. Nghĩa là khu vực biển Đông này có nhiệt độ bề mặt của biển tăng nhiều nhất, từ 1 - 2 độ C. Hậu quả là nhiệt độ bề mặt của nước biển dọc theo sườn Việt Nam tăng lên trên 28 độ C trong giai đoạn này, cũng là giai đoạn có cá chết hàng loạt từ Hà Tĩnh đến Đà Nẵng.
Đợt Siêu El Niño năm 1997-1998 cũng đã khiến nhiệt độ bề mặt của biển của khu vực đông Thái Bình Dương này tăng trên 28 độ C. Rất tiếc là khi đó báo mạng ở Việt Nam chưa có nên không thể tìm lại được thông tin gì nhiều xoay quanh hậu quả của đợt Siêu El Niño này tại Việt Nam.
Bình thường, "đường phân cách nhiệt" (thermocline) ở biển Đông khu vực Hà Tĩnh - Đà Nẵng thuộc loại nông, và nằm trong khoảng từ dưới 50m đến dưới 100m mặt nước biển, theo nghiên cứu của nhóm các nhà khoa học Trung Quốc dẫn đầu bởi tiến sỹ Fan Wei, đã xuất bản trên tạp chí khoa học biển Acta Oceanol.Sin. năm 2014.
Đường phân cách nhiệt là vùng biển chuyển tiếp từ vùng biển bề mặt có nhiệt độ ấm hơn và vùng biển đáy có nhiệt độ lạnh. Phía trên đường này, lượng oxygen hoà tan trong nước biển (DO level) là 100%. Và phía dưới đường này thì DO sẽ dưới 100%. Các loại sinh vật biển đã thích nghi với điều kiện sống như thế tuỳ theo môi trường chúng đang sống.
(Xem hình 2)
Do ảnh hưởng của El Niño, bề mặt nước biển nóng lên, lượng oxygen hoà tan trong bề mặt nước biển sẽ bị giảm mạnh, và làm đường phân cách nhiệt này bị tăng lên, trong khoảng từ 20 đến 40m dưới mặt nước biển (thay vì quanh mức 50-100m). Hậu quả của điều này là cá sống ở từ 20 - 100m dưới mặt biển sẽ thích ứng không kịp với việc thiếu oxygen (DO giảm đột ngột xuống dưới 100%), dẫn đến tử vong hàng loạt.
Điều này phù hợp với việc các cá chết dọc bờ biển Hà Tĩnh-Đà Nẵng đa số là sống trong khoảng 30 - 40m dưới mặt nước biển.
Không chỉ vậy, El Niño còn ngăn cản lớp nước biển lạnh ở sâu dưới đường phân cách nhiệt trồi lên trên, mà đây lại là lớp nước biển giàu dinh dưỡng.
Do đó, cá ở trên đường phân cách nhiệt sẽ bị thiếu cả thức ăn, ngoài việc thiếu oxygen ra. Và như thế, cá ở dọc Hà Tĩnh-Đà Nẵng sẽ còn tiếp tục chết cho đến khi El Niño chấm dứt, dự đoán có thể là vào tháng 6 này.
Cá chết hàng loạt ở nhiều nơi trên thế giới do ảnh hưởng của El Niño
Tính từ năm 2015 đến nay (cũng là lúc Siêu El Niño bắt đầu), tình trạng các sinh vật biển chết hàng loạt đã xảy ra liên tiếp cận kề nhau ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là các nước nằm trong vùng ảnh hưởng của El Niño.
Gần Việt Nam nhất về phía Tây có Campuchia, Thái Lan, Myanmar, Bangladesh, Ấn Độ, Malaysia, Singapore; về phía đông có đảo Hải Nam (Trung Quốc), Hong Kong, Nhật, Hàn Quốc, Malaysia, Indonesia, Philippines, Úc, New Zealand v…v.. rồi đến các nước xa hơn nhưng cũng nằm trong vùng ảnh hưởng ở châu Mỹ (Canada, Mỹ, Mexico, Nicaragua, Panama, Colombia, Brazil, Peru, Chile, Argentina v..v..), châu Âu (Iraq, Israel, Thổ Nhĩ Kỳ, Tây Ban Nha, Anh, Ai Cập v…v…), và châu Phi (Algeria, Mauritania, Nam Phi).
Điển hình là tại Florida, hàng km bờ biển đã bị phủ trắng bởi cá chết. Các nhà chức trách đã kết luận là do El Niño.
Hay gần chúng ta hơn nữa là Campuchia, cuối tháng Tư vừa qua cũng có chừng 65 tấn cá chết trong các hồ, và cũng đã được các nhà chức trách kết luận do El Niño. Malaysia, Chile, Ấn Độ cũng đều bị cá chết hàng loạt và đều được các nhà chuyên môn cho là do El Niño.
Còn đây là bản đồ nhiệt độ bề mặt nước biển (SST) bị tăng do El Niño lấy từ NOAA, và mỗi chấm là một nước có tình trạng cá chết hàng loạt xảy ra vào năm 2015 và 2016 vừa qua.
(Xem hình 3)
Nhìn vào bản đồ này, có thể thấy rằng các nước bị cá chết đều nằm trong vùng ảnh hưởng của El Niño, trong đó có Việt Nam.
Image copyrightMinh Nguyen
Có vài điểm trùng khớp xoay quanh việc giống nhau giữa Siêu El Niño năm 1997-1998 và 2015-2016
Nếu là do El Niño làm cá chết thì tại sao trước giờ Việt Nam chưa từng có điều này xảy ra?
Điều này có thể giải thích là vì mỗi El Niño lại có biểu hiện và gây ra hậu quả khác nhau, nên sẽ không có lần nào như lần nào.
Tuy nhiên, El Niño lần này được cho là giống nhất với lần xảy ra năm 1997-1998. Và điều thú vị là hiện tượng cá chết hàng loạt này cũng đã chỉ xảy ra với một số nơi vào hai khoảng thời gian này là 1997 - 1998 và 2015 - 2016. Ví dụ gần Việt Nam nhất là Hong Kong và Úc.
Tại Hong Kong, các nơi nuôi cá biển khắp nơi bị cá chết lên đến 80% vào tháng 3-4/1998. Nguyên nhân được kết luận là do tảo đỏ hay còn gọi là thuỷ triều đỏ (red tides).
Tuy nhiên, một nhóm các nhà khoa học Hong Kong và Canada, dẫn đầu bởi tiến sỹ Kedong Yin, trên tạp chí khoa học Marine Ecology Progress Series năm 1999, đã khẳng định vụ cá chết mùa xuân năm 1998 có nguyên nhân sâu xa là do El Niño dẫn đến hiện tượng tảo nảy nở quá độ, khiến cá bị chết vì thiếu oxygen và bị ngộ độc tảo.
Bắt đầu từ tháng 12/2015 đến nay, Hongkong lại bị một trận cá chết, và được so sánh là tương đương với trận năm 1998. Tổng cộng 36 tấn cá biển nuôi bị chết dọc sông Shing Mun. Nguyên nhân cũng là do thuỷ triều đỏ. Còn tại sao có thuỷ triều đỏ thì chưa rõ, nhưng được khẳng định là không phải do ô nhiễm nước.
Trong lịch sử của Hong Kong chỉ mới có hai trận cá chết với số lượng lớn như thế, và thật tình cờ là cả hai lần đều trùng với lúc xảy ra Siêu El Niño.
Tại Úc, El Niño đã được kết luận là thủ phạm tẩy trắng (coral bleaching) Rặng San Hô Great Barrier Reef của Úc lần đầu tiên vào năm 1997-98, và đã được ghi nhận lại trong quyển “The Geomorphology of the Great Barrier Reef: Development, Diversity and Change” của tác giả David Hopley, Scott G. Smithers, và Kevin Parnell.
Lần thứ hai rặng san hô này bị tẩy trắng vào đợt El Niño năm 2002 - 2003 và bị tiêu hủy hết 18%, nhưng đợt El Niño này không giống với đợt năm 1997 - 1998.
Đây là lần thứ ba Great Barrier Reef bị tẩy trắng, và lần này, El Niño có thể là một trong những nguyên nhân phá huỷ đến 93% rặng san hô này. Như vậy trong lịch sử bị tẩy trắng của Great Barrier Reef có ba đợt thì hết hai đợt xảy ra cùng lúc với El Niño, và đợt thứ ba là đợt kinh khủng nhất.
Cũng thật trùng khớp là ngày 7/5/2016 vừa qua, báo Pháp Luật cũng đã đưa tin các rặng san hô gần bờ ở Quảng Bình cũng đã bị tẩy trắng.
35 tấn cá chết ở đảo Hải Nam ngày 4/5/2016. Đây là điều tôi đã trông đợi xem có xảy ra không. Và nó đã xảy ra. Lý do tôi nghĩ nó sẽ xảy ra là vì nó nằm rất gần Hà Tĩnh của Việt Nam trong vùng bị El Niño ảnh hưởng, và có nhiều đặc điểm khí hậu/dòng chảy/nhiệt độ v..v.. cùng với vùng bờ biển từ Bắc bộ đến Trung bộ của Việt Nam, nên có khả năng cao là sẽ chịu ảnh hưởng tương tự.
Với tất cả những lý do trên để chứng minh cho giả thuyết El Niño là nguyên nhân dẫn đến cá chết ở Việt Nam, thì sau tất cả, nguyên nhân sâu xa nhất vẫn là yếu tố con người.
Theo một nghiên cứu mới nhất xuất bản tháng 4/2016 vừa qua của nhà khoa học Andrew King, tại trường University of Melbourne, trên tạp chí khoa học Geophysical Research Letters, thì con người đã bắt đầu làm ảnh hưởng đến khí hậu và khiến trái đất nóng lên từ những năm 1930.
Theo mô hình của họ, nếu không vì con người làm thay đổi khí hậu, thì những đợt nóng khủng khiếp đã không xảy ra trong những năm vừa qua, và khả năng rặng san hô Great Barrier Reef bị tẩy trắng sẽ giảm đến 175 lần. Họ cũng tìm ra rằng việc nước biển Coral Sea quanh khu vực rặng san hô này bị nóng lên 1,5 độ C là trong đó 1 độ C do khí thải của con người từ năm 1900, và chỉ có 0,5 độ C là do yếu tố thay đổi tự nhiên mà thôi.
Những kết luận này không có gì ngạc nhiên, nhưng quan trọng là nó là nghiên cứu đầu tiên chứng minh được con người là thủ phạm.
Thêm vào việc gây ô nhiễm không khí, đương nhiên việc con người gây ô nhiễm nguồn nước là không thể bỏ qua. Tất cả những điều này đều góp phần vào việc làm trái đất bị nóng lên, khí hậu bị thay đổi theo hướng tệ hơn, và do đó, El Niño ngày càng khủng khiếp.
Trong một tương lai rất gần, trước khi thế kỷ này kết thúc, biển đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng hàng loạt, theo một nghiên cứu năm 2010 của các nhà khoa học môi trường, dẫn đầu bởi tiến sỹ Hoegh-Guldberg tại Center of Excellence for Coral Reef Studies tại Queesland, Úc, và lý do chính có thể sẽ là do thiếu hụt oxygen trong nước biển.
Câu hỏi đặt ra là: Chúng ta đã và đang làm gì để ngăn chặn điều đó xảy ra?

*THÔNG TIN BÊN LỀ:
Tính toán lượng chì trong biển
Khoảng 300Km (300,000m) là chiều dài đường bờ biển từ Hà Tĩnh đến Đà Nẵng.
Biển Đông sâu 40m gần bờ và 100m xa bờ.
Ống xả của Vũng Áng đặt ở 2km (2000m) ngoài khơi, tính từ đất liền.
Khi đó, thể tích nước biển là: 300,000m đường bờ biển x 40m độ sâu cạn nhất của biển Đông x 2000m bán kính ngắn nhất của biển bị ảnh hưởng bởi sự có mặt của kim loại nặng Pb = 24.000.000.000m3 = 24.000.000.000.000L.
Theo Trung Tâm Phòng Ngừa và Kiểm Soát Dịch Bệnh Mỹ (CDC) thì nồng độ chì IDLH gây nguy hiểm đến mạng sống và sức khoẻ con người là 100g/1,000,000L chứ không phải là 1g/1,000,000L.
Như vậy, cần có ít nhất 2.400.000.000g chì hoà tan trong khối nước biển tối thiểu đã tính ở trên, tương đương 2.400.000kg hay 2.400 tấn chì trong nước biển. Con số này quá kinh khủng để một khu công nghiệp như Vũng Áng có thể thải ra trong một thời gian ngắn.
Để so sánh tương đối, một nghiên cứu xuất bản năm 2014 của tác giả Jong-Mi Lee trên tạp chí Earth and Planetary Science Letters cho thấy, toàn nước Ấn Độ thải ra tổng cộng cao nhất là 3500 tấn chì trong 1 năm. Và Ấn Độ cũng là nước thải ra chì nhiều nhất trong các nước Nam Á. Do đó, việc chỉ một khu công nghiệp Vũng Áng thải ra được 2400 tấn chì là không hợp lý cho lắm khi so sánh với số liệu kể trên của Ấn Độ.
Theo một số nhà khoa học Việt nào đó trích dẫn, 1gram chì/1,000,000L là đủ để gây chết người. Và số liệu được tác giả lấy từ EPA ( http://moitruongvadoisong.vn/…/ca-chet-hang-loat-nguy-co-n…/ ).
Nhưng khi tôi tìm kiếm thì kết quả cho ra số liệu IDLH của chì (Pb) không phải là 1g Pb/1,000,000L mà là 100mg/m3, tương đương 100g/1,000,000L.
Tính toán cụ thể như sau: IDLH (Pb): 100mg/m3 = 100mg/1000L = 100.000mg/1.000.000L = 100g/1.000.000L
Số liệu này được lấy từ trang của Trung tâm Phòng và Kiểm soát Dịch bệnh của Hoa Kỳ, tại http://www.cdc.gov/niosh/idlh/7439921.html
Bài viết thể hiện quan điểm và ý kiến riêng của Tiến sỹ Nguyễn Thị Thanh Minh, ngành Di truyền học, Trường Albert Einstein College of Medicine, New York, Hoa Kỳ, đã đăng trên blog Khoa Học và Em của tác giả

TẬT XẤU NGƯỜI VIỆT QUA TỤC NGỮ CA DAO



Tật xấu người Việt qua tục ngữ (làm trai cứ nước hai mà nói).
“Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn” nên chuột cũng biết lo lót quà cáp cho mèo để việc đại hỉ được “đầu xuôi đuôi lọt” trong bức tranh dân gian nổi tiếng Đám cưới chuột
Tay có ngón ngắn ngón dài, người có năm bảy hạng nên có những quan điểm sống trái ngược nhau. Do vậy tục ngữ cũng là tấm gương phản chiếu những tật xấu, nhân sinh quan của một bộ phận người Việt.
Trước hết đó là tính cá nhân, vị kỷ, chỉ biết vơ vén cho mình, cho gia đình, họ hàng, với lối sống khôn lỏi, ranh vặt: khôn sống mống chết, khôn ăn người dại người ăn. Và tạo ra những vây cánh họ tộc: trong họ ngoài làng, một người làm quan cả họ được nhờ.
Người Việt trọng miếng ăn: đánh mõ không bằng gõ thớt, muốn ăn trước người, còn khó khăn, nguy hiểm đùn cho người khác: ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau.
Của chùa, của người thì bồ tát mặc sức xài xả láng, còn của mình thì lạt buộc. Điều gì cá nhân không hưởng lợi thì không làm: ôm rơm rặm bụng.
Việc chung sẽ có người khác lo, tội gì ăn cơm nhà, vác tù và hàng tổng, chỉ tổ lắm thóc, nhọc xay. Ấy vậy nên cha chung không ai khóc.
Lối sống vô cảm cháy nhà hàng xóm bình chân như vại, sống chết mặc bay, tiền thày bỏ túi cũng sinh ra từ tính cá nhân, ích kỷ.
Muốn sống yên ổn trong một xã hội nhiều tai bay vạ gió, con người phải thu mình lại, tránh những vạ miệng, nói năng nước đôi: người khôn ăn nói nửa chừng, để cho kẻ dại nửa mừng nửa lo, làm trai cứ nước hai mà nói hoặc mũ ni che tai, việc ai chẳng biết.
Có lối sống an phận lão giả an chi, nhẫn nhục im lặng ngậm miệng ăn tiền, cam chịu thân hèn không dám động đến những người quyền chức, còn do miệng quan trôn trẻ, lươn lẹo khó lường. Thấp cổ bé họng nhưng muốn sống an toàn nên sẵn sàng lo lót, chạy chọt.
Dẫu nghề nào cũng “ăn”, cũng “tham nhũng vặt”: thợ may ăn giẻ, thợ vẽ ăn hồ, thợ bồ ăn nan, thợ hàn ăn thiếc... nhưng nghề làm quan thì hết biết: quan thấy kiện như kiến thấy mỡ. Nghề làm quan kiếm ăn dễ nhất, “khủng” nhất, tham nhũng lớn nhất khiến bà mẹ phải thốt lên: Con ơi mẹ bảo con này/cướp đêm là giặc cướp ngày là quan. Quan mới hay bới chuyện. Vô phúc mới lôi nhau lên quan. Vô phúc đáo tụng đình, tụng đình rình vô phúc, bởi nén bạc đâm toạc tờ giấy.
Coi mình là trung tâm, cái gì của mình cũng hơn và thiên lệch đến vô lý: Ta về ta tắm ao ta/dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.
Mình là nhất nên không thích và cũng không có khả năng hợp tác, nhất là khi quyền hành nắm trong tay. Hậu quả là lắm thầy thối ma, lắm cha con khó lấy chồng. Tự cao đấy nhưng cũng lại tự ti đấy: văn mình, vợ người.
Anh em sinh đôi của tính ích kỷ, cá nhân là bệnh háo danh, dẫu là hư danh. Trạng Quỳnh từng được người làng cầu cạnh giúp họ trở nên ông nọ bà kia, với cuộc đời một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp. Sinh thói trọng hình thức, rồi nạn mua quan bán tước.
Có cầu ắt có cung. Hình thành những người hành nghề “chạy” (chạy chức, chạy quan, chạy bằng cấp, chạy huân chương, chạy danh hiệu...), và những người làm giả tất tần tật mọi thứ, tạo ra một xã hội đầy rẫy những giá trị giả.
Háo danh nên chỉ thích được khen, khó chịu cả với những lời chê hợp lý. Người Việt chỉ sợ mang tiếng chứ không sợ làm điều xấu.
Trong các từ điển tiếng Việt, chỉ có cụm từ (sợ) mang tiếng, (sợ) mất mặt mà không thấy (sợ) cái xấu. Còn công việc thì lại đùn đẩy nhau trách nhiệm, biên chế càng phình lên thì công việc càng rối và bê trễ, lắm sãi không ai đóng cửa chùa.
Đáng sợ nhất là thói kèn cựa con gà tức nhau tiếng gáy, trâu buộc thì ghét trâu ăn, quan võ thì ghét quan văn dài quần và thậm chí không ăn thì đạp đổ.
Một xã hội mà tính cá nhân, đố kỵ nổi trội lại rất háo danh và coi trọng hình thức sẽ không có chỗ đứng cho những người tài, muốn đóng góp cho đất nước luôn vươn tới những tầm cao mới.
Đánh chó phải ngó chủ
Nhiều vụ việc trong đời sống, nhiều cách hành xử cho thấy người Việt rất nhớ câu đánh chó phải ngó chủ, gió chiều nào che chiều ấy, cốt sao được an toàn. Và cũng là lối sống phù thịnh, chẳng ai phù suy. Ai chẳng may gặp rủi ro, thất thế thì người ta nhờ gió bẻ măng, thừa cơ đục nước béo cò, giậu đổ bìm leo dìm cho chết luôn.
(Sưu tầm).

Thứ Tư, 11 tháng 5, 2016

Hình ảnh hiếm có về Đông Dương trước năm 1880

Toàn cảnh thành Hà Nội, rừng rậm bên sông Sài Gòn, một góc Phnom Penh... là những hình ảnh quý giá về Đông Dương được giới thiệu năm 1880.
Hình ảnh được trích từ bộ sưu tập ảnh "Chuyến đi từ Ai Cập tới Đông Dương" (Voyage de l'Égypte à l'Indochine) của hai nhà nhiếp ảnh Hippolyte Arnoux và Emile Gsell, xuất bản năm 1880. Bản điện tử được giới thiệu trên trang Gallica.bnf.fr.

Phố Hàng Chiếu ở Hà Nội.
Toàn cảnh thành Hà Nội .
Cửa Bắc thành Hà Nội.
Khu nhượng địa của Pháp tại Hải Phòng trong quá trình xây dựng.
Sông ở Nam Định.
Chùa Báo Ân , Hà Nội.
Làng Gò Vắp, đặt tên dựa theo vùng đất mọc nhiều cây vắp, gần Sài Gòn.
Thác Trị An trên sông Đồng Nai.
Rừng rậm bên sông Sài Gòn.
Xe bò trong rừng cây dầu, Nam Kỳ .
Thân cây bằng lăng cổ thụ bị đốn hạ ở rừng Phước Linh.
Làng ven sông ở Nam Kỳ khi thủy triều xuống.
Toàn cảnh sông Sài Gòn và rạch Bến Nghé nhìn từ nóc Nhà Rồng.
Một ngôi làng ở Nam Kỳ.
Bờ sông Sài Gòn.
Một góc Phnom Penh, Campuchia.
Xóm làng ven sông ở Nam Kỳ.
Đồn bốt của Pháp ở Vĩnh Long.
Bến thuyền ở Sa Đéc, Đồng Tháp.
Sông nước Vĩnh Long.
Lò vôi của người Hoa ở Chợ Lớn.
Chợ ven sông ở Mỹ Tho.
Chùa của người Hoa ở Chợ Lớn.
Dinh Toàn quyền, Sài Gòn.
Khu phố Tây ở Sài Gòn.
Doanh trại trong thành Sài Gòn.
Khu vực cảng Sài Gòn.
Một góc khác của cảng Sài Gòn.
Xóm chài ở Nam Kỳ.
Những con thuyền đã xếp buồm nằm trên bến, Nam Kỳ.
Bến cảng ở Bắc Kỳ .
Khung cảnh Tây Nam Bộ.