XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghi án Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghi án Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 5 tháng 12, 2020

VỤ ÁN NĂM CANH TÍ VÀ NGHI ÁN NGÔ THÌ NHẬM

 

1. Vụ án năm Canh Tí.

Vụ án năm Canh Tí xảy ra vào khoảng tháng 8 năm 1780 (1). Đây là một vụ án lớn, xảy ra trong phủ chúa Trịnh. Vụ án này đã làm nội bộ chính quyền Lê - Trinh rạn nức, xã hội đàng Ngoài thêm rối ren.

* Nguyên nhân :

Chúa Trịnh là Trịnh Sâm bệnh nặng. Dẫu vậy ngôi Đông cung vẫn còn trống. Trịnh Khải là con trưởng, Trịnh Cán là con thứ. Trong khi đó chúa lại hết mực yêu thương Cán và Đặng Tuyên Phi. Khải sợ ngôi thế tử sẽ thuộc về Cán nên gấp rút hành động, dành ngôi thế tử.

* Diễn biến :

Trịnh Khải bàn mưu với gia thần là Đàm Xuân Thụ, Thế Thọ, Thẩm Thọ và Vĩnh Vũ bí mật sắm sửa vũ khí, chiêu tập dũng sĩ, để chờ thời cơ giết chết Đặng Thị Huệ và Hoàng Đình Bảo. Ngoài ra, Trịnh Khải còn ngầm liên kết với Trấn thủ Sơn Tây là Hồng lĩnh hầu Nguyễn Khản, Trấn thủ Kinh Bắc là Tuân sinh hầu Nguyễn Khắc Tuân để sẵn sàng hỗ trợ việc tranh ngôi Thế tử của mình.

* Vỡ lỡ :

Bấy giờ có viên Cấp sự trung là Nguyễn Huy Bá, vốn tính ưa giảo hoạt, từng vì tội tham ô mà bị bãi chức. Bá cho con dâu vào thị tì, hầu hạ Đặng Thị (Huệ), lại còn sai người thân tín vào cầu cạnh để làm môn hạ của Nguyễn Khắc Tuân (là người đối nghịch với phe Đặng Thị Huệ). Nhờ kẻ thân tín này, mà Bá dò biết được cơ mưu, liền tố cáo ngay với Đặng Thị (Huệ). (Ngô Thì) Nhậm cũng phụ họa với Đặng Thị, bèn cùng với Bá hợp mưu tố cáo rằng Khải đã lén lút liên hệ với hai viên trấn thủ (Sơn Tây & Kinh Bắc) để làm chuyện phản nghịch. (Trịnh) Sâm giận lắm, cho triệu (Hoàng) Đình Bảo vào phủ bàn việc này.

* Bị kết án :

Nghe theo lời bàn của Hoàng Đình Bảo, chúa Trịnh Sâm bèn hạ lệnh triệu hồi Nguyễn Khản về kinh, rồi cho bí mật bắt hết bè đảng của viên trấn thủ này. Đồng thời, chúa cũng cho triệu Nguyễn Khắc Tuân về triều. Sau khi giam tất cả lại, chúa sai Ngô Thì Nhậm cùng viên hoạn(Trịnh) Sâm muốn trị tội ngay, song (Hoàng) Đình Bảo can rằng: "Sở dĩ (Trịnh) Khải dám làm chuyện ghê gớm này, chung quy cũng vì có hai viên trấn thủ Sơn Tây & Kinh Bắc chủ mưu. Nay, cả hai người này đang cầm quân ở ngoài, nếu vội vàng trị tội thì sợ là sẽ có biến cố khác. Vậy chi bằng hãy triệu hết hai viên trấn thủ ấy về triều rồi hãy trị tội cũng không muộn". (Trịnh) Sâm cho lời ấy là phải.(2)

 quan là Phạm Huy Thức cùng lo việc tra khảo. Bất ngờ, cha Ngô Thì Nhậm là Ngô Thì Sĩ mất, nên ông phải về chịu tang, nên chúa dùng Lê Quý Đôn để thay.(4)

Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục, thì: Đàm Xuân Thụ, Thế Thọ, Thẩm Thọ và Vĩnh Vũ đều bị giết. Nguyễn Khản, Nguyễn Khắc Tuân đều bị giam vào ngục, còn Nguyễn Phương Đính (hoặc Định) bị kết tội nuôi dưỡng Trịnh Khải không nên người, bị lột hết chức tước và đuổi về làng. Sau, Nguyễn Khắc Tuân và Chu Xuân Hán đều uống thuốc độc mà chết. Riêng Trịnh Khải bị phế, chỉ được ở ngôi nhà ba gian, ăn uống đi lại đều không được tự do.

Lê Quý dật sử, còn cho biết: người nhũ mẫu của Trịnh Khải là Thị Quỳnh (vợ của người lính Sơn Tây là Quỳnh Tài, nhờ có nhiều sữa tốt, nên được làm vú nuôi) chạy trốn ở Sơn Tây, vào làm bà vãi ở chùa, (cũng) bị lính đuổi theo, bắt được giải về kinh, chúa cho voi đực dày xé.

Sách Hoàng Lê nhất thống chí, chỉ ghi ba đại thần theo phe Trịnh Khải đều phải mất mạng, đó là: Khê trung hầu, Tuân sinh hầu (Nguyễn Khắc Tuân) đều uống thuốc độc tự tử, Nguyễn Quốc Tuấn (thuộc hạ của Khắc Tuân) bị án chém; còn Trịnh Khải bị quản thúc ngặt trong một ngôi nhà ba gian.

2. Nghi án Ngô Thì Nhậm.

Đốc đồng trấn Kinh Bắc Ngô Thì Nhậm có phải là người đồng tố giác việc mưu sự của phe Trịnh Khải hay không, vẫn còn là một nghi vấn trong sử Việt.

Sách Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục chép: " Trước khi Ngô (Thì) Nhậm tố cáo cơ mưu của Trịnh Khải, có đem bàn với cha là Ngô (Thì) Sĩ. Ngô (Thì) Sĩ cố sức ngăn... Đến khi hay tin Ngô (Thì) Nhậm đã tố cáo, Ngô (Thì) Sĩ buồn bực mà uống thuốc độc tự tử. Ngô (Thì) Nhậm, vì có công tố giác, được thăng làm Hữu Thị lang bộ Công, nhưng thiên hạ lúc ấy lại có câu rằng: "Sát tứ phụ nhi Thị lang", nghĩa là "giết bốn người cha mà làm Thị lang". Bốn cha là: Sĩ, thân phụ; Tông, quân phụ; Khắc Tuân, và Xuân Hán, phụ chấp (bạn của bố). Có thuyết lại nói tứ phụ là Sỹ và Nguyễn Khản, Phương Định, Khắc Tuân ba người bạn của bố. Tuy nhiên KDVSTGCM là chính sử Triều Nguyễn, Ngô Thì Nhậm lại làm quan cho nhà Tây Sơn tới chức binh bộ thượng thư nên có phần ác cảm. Ngoài ra KĐVSTGCM lại biên soạn vào thời Tự Đức thời gian khá xa , vì vậy tính xác thực không cao .

Theo Hoàng Lê Nhất Thống Chí: Theo sách này thì chỉ có một mình Nguyễn Huy Bá đứng ra tố giác. Sách này còn kể ông Nhậm đã có lời khuyên Nguyễn Khắc Tuân phải hỏa tốc về kinh can ngăn Trịnh Khải dừng lại cơ mưu, nhưng không được nghe. Đến khi ông Tuân bị bắt giam, ông Nhậm định tìm cách gỡ tội, nhưng vì việc tang nên phải về. Tuy nhiên Hoàng Lê Nhất Thống Chí chỉ là tiểu thuyết lịch sử , nếu như lấy Hoàng Lê Nhất Thống Chí ra khảo cứu thì chẵng khác nào lấy Tam Quốc Chí đi chơi với Tam Quốc Diễn Nghĩa. Ngoài ra các tác giả của HTLTC đều thuộc dòng họ Ngô Thì nên có phần thiên vị về Ngô Thì Nhậm cũng nên . Trong Vũ Trung Tùy Bút có đoạn: "Năm Canh Tý phát ra cái án của Thế tử là do Ngô Thì Nhậm. Ông Thì Nhậm nhờ công ấy được thăng làm Công bộ thị lang. Người thời bấy giờ có câu: "Giết bốn cha mà được thị lang, trung cần chí hiếu". Cái lỗi của Thì Nhậm, dư luận không dung thứ. Khi em là ông Thì Chí vào làm Thiêm tri hình phiên, có soạn bộ sách Nhất thống chí; chép về cái mật án ấy, cũng có che đậy đi ít nhiều. Nhưng về những việc trong cung phủ thì chép được tường lắm, không nên nhất nhất đều chê cả."

Sách Lê Quý Dật Sử chép: "Ngô Thì) Sĩ thấy con bè đảng xu phụ Tuyên Phi (Đặng Thị Huệ), vu khống Thế tử, ông bất bình, ra sức khuyên ngăn, nhưng (Ngô Thì) Nhậm không nghe, ông phẫn uất uống thuốc độc tự tử... (Sau vụ án) cất nhắc Ngô Thì Nhậm làm Công bộ tả thị lang, vì tố cáo Thế tử (Trịnh Khải) nên được ban thưởng, thăng vượt cấp bảy lần." Lê Quý Dật Sử do Bùi Dương Lịch biên soạn. Tác giả sống cùng thời với những sự việc này. Nên ghi chép của Lê Quý Dật Sử là đáng tin.

Tuy nhiên, chính sử Lê - Trịnh lại ghi chép có phần khác với Lê Quý Dật Sử. Sách Đại Việt Sử Ký Tục Biên chép:

"Lúc ấy Đốc Đồng Kinh Bắc là Ngô Thì Nhậm trước kia giảng sách hàng ngày cho Tông. Học trò Nhậm là tiểu giám Hà Như Sơn làm người giữ sách cho Tông, biết Tông cũng bọn ấy có âm mưu, nói với Nhậm. Nhậm sợ quá , mật khuyên Tuân cùng Đĩnh thôi việc ấy đi, nếu không được thì đổ lỗi cho đám tôi tớ n vào xin yết kiến để chịu tội, không được vào. Chúa sai nội thần trách Tuân rằng:" Cậu cùng thằng Tông làm giặc, cậu cứ đi mà dấy quân, ta có tướng giỏi để. Tuân không nghe, bây giờ Tuân cũng bị triệu về. Thấy Khản, Đĩnh đã bị giam, Tuâ u đối chọi ". Tuân ra gặp Nhậm ở cửa các, nắm lấy tay Nhậm than rằng: "Tôi thờ chúa từ lúc chúa lọt lòng mà ra đến nay, nay chúa gọi là giặc. Ngày trước tôi nghe ông nói tưởng việc cũng dễ dàng, bây giờ làm thế nào ? "

Nhậm lập tức đến nhà Tả Xuyên , gặp Khản và hỏi duyên cớ tại sao? Khản nói rằng : họa sinh ra tự cha con chúa, lũ Khản bị dèm đã lâu, biện bạch cũng vô ích, không gì bằng đem sự trạng của Tông nói ra để chúa biết việc tự đám tôi tớ. Thế là dùng thuốc độc để chữa bệnh độc.

Lập tức nói với Nội Giám Phong Triều Hầu Phạm Huy Thức đem thư của Khản kể tội Tông dâng lên. Tuân cũng làm thư nói việc trước và dẫn lời của Nhậm vào, lại nói tôi cũng định tố giác nhưng chưa kịp làm đấy thôi. Tờ khải đến nơi, chúa mắng rằng: "người ta bảo cho nói mà không nói, chả phải dự mưu là gì ?". Chúa không xét, cho Tuân Thọ xé thư ấy trước mặt Tuân. Tuân lại quỳ xuống mà nhặt lấy. Do đấy mà chúa lại càng giận, cho bắt cả Chu Xuân Hán. Giao cho Ngô Thì Nhậm cùng Phong Triều Hầu tra xét, phát giác được tội trạng của lũ tôi tớ. Giặp lúc Nhậm có tang cha xin từ chức."

Đại Việt Sử Ký Tục Biên là cuốn chính sử thời Lê - Trịnh. Giữa chính sử (ĐVSKTB) và tư sử (Lê Quý Dật Sử) thì chính sử có độ tin cậy cao hơn. Lúc bấy giờ Ngô Thì Nhậm từ chức về chịu tang cha, vả lại sau đó lại xảy ra "loạn kiêu binh" nên các sử quan không việc gì phải bao che cho Ngô Thì Nhậm.

Như vậy Ngô Thì Nhậm là người khuyên bảo Nguyễn Khắc Tuân tự thú. Đến khi phát án, ông được Trịnh Sâm giao việc điều tra, chứ không phải "ghết bốn cha để lên thị lang" như sử Nguyễn đã ghi.

---------------------------------‐-----------------------------------------

Chú thích :

- (1) theo KĐVSTGCM và HLNTC .

- (2) theo KDVSTGCM.

- (3) theo HLTTC .

Nguồn tham khảo :

- KDVSTGCM - Quốc Sử Quán Triều Nguyễn - bản điện tử .

- HLNTC - Ngô Gia Văn Phái - Ngô Tất Tố dịch - nxb Văn Học - Hồi 1 .

- Lê Quý Dật Sử - Bùi Dương Lịch - bản điện tử .

- Vũ Trung Tùy Bút - Phạm Đình Hổ - Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến dịch - nxb Văn Hóa Dân Tộc - chương Nhà họ Nguyễn ở Tiên Điền .

- Đại Việt Sử Ký Tục Biên - Viện Nghiên Cứu Hán Nôm - nxb Hồng Đức - tr 483 .

- Ngô Cao Lãng - Lịch Triều Tạp Kỷ.

- Nguyễn Thu - Lê Quý Kỷ Sự.

Thứ Hai, 16 tháng 11, 2020

BẮC MÔN TỎA THƯỢC

HÃY KHẮC GHI 4 CHỮ

Nhân việc Trung Quốc đang ra sức thực hiện mưu đồ độc chiếm Biển Đông. Tôi xin chia sẻ về 4 chữ mà tổ tiên ta nhắn nhủ con cháu còn khắc trên cổng Bắc Cố Đô Hoa Lư Ninh Bình cách đây hơn 1000 năm.

"Là Người Việt Nam, xin hãy nhớ kỹ 4 chữ của các bậc tiền nhân dặn dò khắc trên cổng phía Bắc Cố Đô Hoa Lư Ninh Bình, đã hơn 1000 năm nay vẫn còn đó:

" BẮC MÔN TỎA THƯỢC "

( )

- Có nghĩa là: Khóa chặt cửa Bắc...

****

"BẠN VÀNG" - HOÀNG SA & NHỮNG SỰ KIỆN

----------

A. MẤT HOÀNG SA :

Hoàng sa bị TQ chiếm tháng 1.1974.

Cho đến nay lũ phản động hải ngoại, đặc biệt nguy hại hơn là một số kẻ trong nước, trong đó có không ít người có học thức không nghiên cứu tý nào, nghe theo bọn phản động mớm, rồi gân cổ cãi đến cùng, đỏ mặt tía tai: mất Hoàng Sa là do Chính phủ Việt Nam bán cho TQ, theo Mật Ước Thành Đô - không hiểu đó là kế ly gián!

Đối với sự việc này, chúng ta hãy cùng điểm qua từng căn cứ :

1/ Hoàng Sa nằm ở vỹ tuyến 16°30. Theo Hiệp định Geneva 1954, Quần đảo Hoàng Sa do CQ VNCH quản lý. Hiệp định phân chia 2 miền từ vỹ tuyến 17, mất vào tay TQ tháng 1.1974, vậy ai làm mất Hoàng Sa? (đến trẻ con cũng hiểu!)

2/ Tháng 1.1974 Hoàng Sa bị TQ chiếm ngay trước mũi Hạm đội 7 của Mỹ đang quản lý Biển Đông mà sao họ "giả mù, giả điếc ". 4 chiến hạm của Ngụy quyền Sài Gòn : (HQ-16), (HQ-10), (HQ-5), (HQ-4) do đại tá Hà Văn Ngạc chỉ huy. Họ bị các tàu chiến của TQ tấn công với lực lượng đông đảo nên đã thua trận, gọi chi viện nhưng Mỹ không phê chuẩn để cho máy bay Mỹ và VNCH ra can thiệp.

Theo ông Nguyễn Thành Trung - khi đó là Trung úy phi công Không lực Việt Nam Cộng hòa, ngày 19/1/1974, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu điều 5 phi đoàn phản lực F-5 bao gồm 120 máy bay và 150 phi công (mỗi phi đoàn có 24 máy bay), 4 phi đoàn ở sân bay Biên Hoà, 1 ở sân bay Đà Nẵng, ra Đà Nẵng chuẩn bị tái chiếm quần đảo Hoàng Sa. 40 năm sau, theo đánh giá của phi công Nguyễn Thành Trung, thì việc tái chiếm Hoàng Sa là hoàn toàn khả thi với sức mạnh áp đảo của không quân bao gồm 120 chiếc F-5 đang chờ lệnh ở Đà Nẵng. Thời điểm năm 1974, không quân Trung Quốc chỉ có MiG-21 là loại máy bay có tầm bay ngắn, không đủ nhiên liệu bay ra Hoàng Sa, còn hải quân Trung Quốc chỉ có khoảng 40 tàu cỡ nhỏ ở Hoàng Sa (không có tàu lớn, tất cả là tàu loại nhỏ chỉ có khả năng phòng không yếu). Trong khi đó, mỗi máy bay F-5 đủ sức tác chiến tại Hoàng Sa trong 30 phút, mỗi chiếc mang được tới 3 tấn bom. Như vậy, cứ 3 máy bay đánh 1 tàu thì chỉ cần sau nửa ngày là có thể đánh chìm toàn bộ 40 tàu Trung Quốc. Ông Trung tin rằng "phần thắng là chắc chắn 100%, vì tàu Trung Quốc không thể chạy thoát nổi (do máy bay có vận tốc nhanh hơn rất nhiều), mỗi tàu chỉ cần trúng 1 quả bom là xong... Trung Quốc đi ra Hoàng Sa là bằng tàu thôi, nếu mà diệt hạm đội này là họ cụt ngòi". Các phi công lúc bấy giờ cũng cho rằng chiến dịch khá dễ dàng, chỉ trong vòng 12 giờ là 40 tàu Trung Quốc sẽ chìm hết.

Nhưng cuối cùng, lực lượng không quân Việt Nam Cộng hòa đã nhận được lệnh không được cất cánh. Cũng theo lời thuật của Nguyễn Thành Trung, kế hoạch này cuối cùng đã không được thực hiện do "Mỹ đã cảnh báo Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu không được hành động". Ông cho rằng "Nếu ngày đó chiến dịch diễn ra đúng kế hoạch thì bây giờ và các thế hệ con cháu đỡ biết bao nhiêu. Bây giờ Trung Quốc đã chiếm đóng bất hợp pháp ở Hoàng Sa rồi, cái di sản, cái gánh nặng để lại cho các thế hệ con cháu Việt Nam thật là quá nặng nề!"

Theo ông Nguyễn Hữu Hạnh, Chuẩn tướng, phụ tá Tổng Tham mưu trưởng quân đội Việt Nam Cộng hòa năm 1975, Mỹ muốn lợi dụng mâu thuẫn giữa Trung Quốc và Liên Xô nên nhân sự kiện này đã ngầm giao Hoàng Sa lại cho Trung Quốc, nhằm chặn đường vào miền Bắc Việt Nam của hạm đội Liên Xô.

3/ Từ 1974 đến nay TQ liên tục xây dựng các đảo ở Hoàng Sa thành tiền đồn của họ, trong mưu đồ độc chiếm Biển Đông.

Các nước trên thế giới, kể cả Mỹ cũng biết rõ điều đó. Các giới khoa học, hàng hải, các trường đại học, những bản đồ cổ của Trung Quốc và thế giới... đều có căn cứ vững chắc về sự kiện này, quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam.

B. NHỮNG HÀNH XỬ THẢO KHẤU CỦA ÔNG "BẠN VÀNG":

1/ Năm 1954, trong chiến dịch Điện Biên Phủ, TQ cử đoàn chuyên gia sang giúp ta, khuyên ta: "đánh nhanh thắng nhanh", nhưng ta xem xét kỹ, chủ trương: "đánh chắc tiến chắc"...nếu cứ nghe họ thì ta như "tự lấy trứng đập vô đá" - vỡ nát rồi, đất nước này đi đâu về đâu?

2/ Sau chiến thắng ĐBP, tại hội nghị Geneva, ta đấu tranh gần thắng lợi, phân chia 2 miền từ vỹ tuyến 16 là tại Đèo Hải Vân- Hiệp Định có hiệu lực đến sau tổng tuyển cử 1956. Nhưng TQ ép ta phải chấp nhận chia từ vỹ tuyến 17 (sông Bến Hải - đây là âm mưu chiếm Hoàng Sa, vì HS ở vt 16°30') nếu không sẽ cắt viện trợ, hồi đó ta còn rất khó khăn, non trẻ... đành nhân nhượng.

3/ 1965 Mỹ đổ 50 vạn quân vào Nam VN. TQ cản trở ta đánh Mỹ, họ khuyên ta là Mỹ quá mạnh, ta nên mềm dẻo, chỉ đánh du kích cao nhất là cấp trung đội, để đấu tranh nghị trường (ta sẽ bị tiêu diệt dần từng trung đội). Ta lại kiên quyết đánh Mỹ giải phóng miền Nam, theo phương châm: "nắm thắt lưng địch mà đánh", dám đánh, biết đánh và quyết thắng...nếu không bám đánh gần, hỏa lực mạnh của Mỹ sẽ đánh phía sau, làm thiệt hại nặng nề.

4/ Những năm 1966, TQ đề nghị đưa 30.000 quân qua bảo vệ, giữ miền Bắc, để chúng ta vô giải phóng miền Nam. Họ còn nói cho 3.000 xe quân sự có cả người lái sang giúp ta. Bác Hồ, TBT Lê Duẩn và TW từ chối với lý do: chỉ nhận viện trợ vật chất vì nợ tiền của còn trả được, nợ máu không thể trả được... thế là bạn Vàng cắt không cho 3.000 xe nữa!

Sau đó, chúng ta cũng có nhân nhượng cho mấy đại đội cao xạ sang Tây Bắc...Họ bắn đỏ trời mà chả trúng máy bay nào, nhưng lại tăng cường khai thác gỗ, lâm sản chở về nước...Mãi mới đuổi được họ về hết.

(Có mấy đại đội cao xạ đuổi mãi mới xong, 30.000 quân thì nếu nghe theo ông bạn Vàng, chưa đánh Mỹ xong, miền Bắc bị đồng hóa, biến thành ...đất TQ là cái chắc, không còn quê hương mà về!)

5/ Tại Hội nghị 4 bên ở Paris, phe XHCN có TQ ngồi cùng với Liên Xô, nhưng họ thường bất đồng chính kiến với LX, ép ta không được làm mạnh, nhưng khuyên ta thỏa hiệp với Mỹ...

6/ Bạn Vàng dụ VN mãi không xong, ngày 10.4.1971, đích thân TW Đảng CS TQ mời Đội bóng bàn Mỹ qua chơi (vẫn gọi là Ngoại giao bóng bàn)... làm tiền trạm cho tháng 2.1972, TT Mỹ Richard Nixon sang thăm TQ (sau 23 năm, nối lại quan hệ NG, kể từ 1949).

* Vậy họ bàn những gì :

1/ Chặn không cho tàu hỏa liên vận của Liên Xô chở tên lửa SAM3 qua đất TQ viện trợ cho Hà Nội, trong khi các cảng biển Bắc VN bị phong tỏa bằng thủy lôi. Để sau đó 10 tháng (12.1972) Mỹ đánh B52 Hà Nội. (Âm mưu thâm độc chia phần đất nước ta: Mỹ đàng trong, TQ đàng ngoài).

Mỹ chủ quan là SAM2 chỉ hiệu lực ở cao độ 10.000m, chưa tới tầm 12.000m của B52; do đó họ ồ ạt cho B52 đánh phá Hà Nội, Hải Phòng - coi như đi uống cafe vậy... nhưng khi SAM3 chưa kịp qua, ta bí mật cải tiến SAM2, nối thêm ống phóng, cải tiến mạch điều khiển - (không để bạn Vàng biết) đồng thời giữ tuyệt mật cách đánh, nên VN là nước đầu tiên và duy nhất đến bây giờ bắn rơi B52 chiến lược... và chỉ 12 ngày đêm mà 34 chiếc B52 rụng như sung - Mỹ đành chịu thua!

2/ Thỏa thuận 1972 là Mỹ là đánh đổi lại cho TQ có được Hoàng Sa 1974. Ngoài ra năm 1975, Mỹ còn lờ đi để một số đồng minh như Đài loan, Philippines, Indonesia, Malaysia... chiếm một số đảo ở Quần đảo HS và Trường Sa. Còn Campuchia thì chiếm đảo Phú Quốc, Thổ Chu... có đảo chúng giết hại gần hết, cuối năm 1975 ta mới đánh chiếm lại được.

3/ Ngày 27.1.1973 khi HĐ PARIS được ký kết, Mỹ rút quân về nước. Bọn Bắc Kinh cay cú lập mưu xây dựng, nuôi dưỡng bọn Khmer đỏ, lôi kéo Sihanuk. Đến khi giải phóng 1975, TQ công khai xây dựng cho Khmer đỏ thành 23 sư đoàn, giam lỏng Sihanuk tại TQ, kích động bọn Polpot liên tục quấy phá biên giới Tây Nam trong những năm 1976, 1977... Và TQ dần điều quân về biên giới phía Bắc Việt Nam.

4/ Năm 1978 : TQ kích động bọn Polpot tấn công toàn tuyến biên giới VN - CPC, trong khi ta mới thống nhất đất nước vô vàn khó khăn. Tháng 1.1979, ta phải chấp nhận cuộc chiến bắt buộc, bạn CPC cầu cứu, đã buộc ta phải cứu đất nước Chùa Tháp thoát nạn diệt chủng. Trong lúc 2 Quân đoàn, hơn 20 sư đoàn của ta đang ở CPC, thì TQ lu loa kêu gọi LHQ và các nước thù hận chống lại VN và 17.2.1979 TQ bất ngờ ra lệnh 600.000 quân, với 3000 xe tăng, hàng chục ngàn khẩu pháo (trừ không quân) tấn công trên toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam, hòng cứu bọn Khmer đỏ...

Ngay sau đó Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ký lệnh Tổng động viên toàn quốc, Liên xô ngay lập tức lên tiếng và điều ngay 600.000 quân, 3000 xe tăng áp sát biên giới phía Bắc TQ, thực hiện bắn đạn thật diễn tập quy mô lớn sát biên giới LX-TQ... Điều các trận địa tên lửa chiến lược, máy bay QS sang bố trí trên đất Mông Cổ..., điều không quân, lập cầu hàng không, đưa 2 Quân đoàn 2 và 3 của VN từ CPC về nước. Đích thân Đại tướng của LX sang mặt trận Lạng Sơn thị sát tham vấn. TQ buộc phải rút quân, xong lại lật lọng, mưu hèn kế bẩn, quấy phá suốt năm 1979 đến mãi 1989... đặc biệt năm 1984, mặt trận Vị Xuyên, Hà Giang là nơi ác liệt nhất.

* Có thể nói:

- Ta đã luôn giữ hòa khí, mềm dẻo giữ gìn vì hòa bình của đất nước. Trong lịch sử thì hàng ngàn năm nay lũ giặc phương Bắc chưa khi nào từ bỏ dã tâm xâm lược Việt Nam.

- Hàng ngàn năm vẫn không thể khuất phục được VN. Xương cốt của hàng trăm vạn quân xâm lược: Thục, Lương, Tùy, Đường, Hán, Tống, Minh, Thanh... là tổ tiên của người TQ đang làm phân bón cho cây cối VN, họ ức lắm chứ...!

Hiểu cho hết lẽ, “Bắc môn tỏa thược” không phải là bế quan, là khép kín hay thụ động với phương Bắc. Trái lại, nước Việt luôn cảnh giác nhưng tự chủ, chủ động tay hòm chìa khóa để gìn giữ biên cương, nói rộng ra là trong mọi quan hệ với người phương Bắc. Đấy chính là nét đặc sắc trong sách lược ngoại giao mềm dẻo nhưng độc lập, tự chủ của cha ông ta.

Từ xưa, với nền kinh tế thuần nông của nước Việt, việc bang giao làm ăn với Trung Hoa không nhiều. Tuy vậy, ở các phiên trấn, cửa khẩu thủy bộ, dân hai nước vẫn làm ăn buôn bán tấp nập.

Về văn hóa, với gốc gác có nhiều điểm tương đồng, sự hòa nhập, giao thoa sâu đậm là không tránh khỏi. Tuy vậy, nền văn hóa Việt mang tính dân gian đậm nét vẫn có sức đề kháng kỳ diệu, vẫn chắt lọc được phần tinh túy nhất trong kho tàng văn hóa Trung Hoa để tự tồn và phát triển, không những thế còn cộng hưởng và làm giàu thêm nền văn hóa bản địa. Nhờ thế, chúng ta mới được thừa hưởng những giá trị và tinh hoa văn hóa Việt ngày hôm nay.

Người Việt trọng sự khiêm nhường, nhưng không phải lúc nào cũng phải hòa hiếu với kẻ luôn có sẵn dã tâm trong máu. Bài học lịch sử “Bắc môn tỏa thược”, trải hàng ngàn năm qua đã phải trả bằng xương máu của nhiều thế hệ cha ông. Chính vì vậy, trong giai đoạn ngày nay, chúng ta càng phải hiểu và vận dụng 4 chữ “BẮC MÔN TỎA THƯỢC” sao cho linh hoạt và phù hợp nhất để ĐÓN GIÓ LÀNH và NGĂN GIÓ ĐỘC. Nhận rõ đối tác và đối tượng, có vậy, hòa bình, độc lập và phát triển mới có thể mãi vững bền!

Kết thúc bài viết này, một lần nữa tôi chỉ mong muốn mọi người VN hãy nhớ kỹ 4 chữ của các bậc tiền nhân dặn dò khắc trên cổng Bắc Cố Đô Hoa Lư Ninh Bình, đến nay đã hơn 1000 năm, vẫn còn đó:

"BẮC MÔN TỎA THƯỢC"

( )

- Có nghĩa là: Khóa chặt cửa Bắc...

- Ý nghĩa sâu xa là:

"Đề phòng giặc phương Bắc"

Muôn đời, muôn kiếp vẫn thế, vẫn phải thế... mà thôi!

(Sưu tầm)

NGUỒN BÀI ĐĂNG


Thứ Hai, 23 tháng 9, 2019

Có một hay hai Ngô Văn Sở?


       Vấn đề có một hay hai Ngô Văn Sở đã từng là đề tài được tranh cãi sôi nổi trên Văn đàn và trong nhiều cuộc Hội thảo khoa học diễn ra ở Huế cách nay vài ba thập niên. Hiện tại có lẽ vấn đề đã ngã ngũ là có hai ông Ngô Văn Sở sống gần như đồng thời vào khoảng cuối Lê đầu Nguyễn.
       Tuy vấn đề được giới khoa học bàn luận sôi nổi đó liên quan đến người họ Ngô, nhưng Ban Liên lạc họ Ngô Việt Nam khi ấy (nay là Hội đồng Ngô tộc Việt Nam) chủ trương không tham gia cuộc tranh luận vì sợ rằng điều ấy có thể dẫn đến sự thiếu tính khách quan vì có thể có người cho rằng dòng họ Ngô nói về người họ mình thì chắc phải đúng rồi, còn tranh cãi mà làm gì. Vì thế, chúng tôi đã đứng ngoài cuộc tranh luận nói trên trong suốt thời gian nó diễn ra, không phải vì chúng tôi không có tư liệu gì để bàn. Trong suốt thời gian đó chúng tôi đã âm thầm đi các nơi để tìm kiếm tư liệu đặc biệt là Gia phả các chi họ liên quan. Từ nguồn tư liệu khá phong phú mà chúng tôi thu thập được, Phả hệ họ Ngô Việt Nam năm 2013 đã khẳng đinh có hai ông Ngô Văn Sở: Ngô Văn Sở của Tây Sơn và Ngô Văn Sở của Gia Long.
       Các bạn có thể hỏi chúng tôi căn cứ vào đâu mà kết luận như vậy?
       Thưa rằng chúng tôi đã căn cứ vào gia phả của họ Ngô phường Bình Thạnh Tp Qui Nhơn, vào gia phả họ Ngô Thuận Nhơn xã Hải Vịnh huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị (thông qua các bài viết của ông Ngô Văn Xưng - Vĩnh Định) và "Ngô gia kị nhật"-gia phả của họ Ngô thôn Trung xã Ninh Hiệp huyện Gia Lâm, Hà Nội (VIện Hán Nôm, mã số 3170) và nhiều sách của các nhà nghiên cứu về Huế như Nguyễn Đắc Xuân, Phan Thuận An,...
       Từ các nguồn tư liệu đó, chúng tôi khẳng định có hai ông Ngô Văn Sở vì hai ông có quê hương bản quán khác nhau, có vợ con khác nhau và tuổi tác khác nhau, nên là hai người khác nhau.
       Cụ thể như sau:
1) Về quê hương bản quán
           a-Ngô Văn Sở Tây Sơn là con Ngô Văn Diễn làm quan nhà Lê Trịnh, trấn giữ đất Quảng Nam, quê gốc ở xã Trảo Nha huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh, nay là Thị trấn Can Lộc.
           b- Ngô Văn Sở Gia Long nay chưa rõ con ai quê Thuận Nhơn, Quảng Trị, quê gốc lang Nành (Ninh Hiệp), Gia Lâm, Hà Nội.
2) Về vợ con
           a- Ngô Văn Sở Tây Sơn có 6 bà vợ và 2 con trai, không có con gái; Sáu bà vợ là Nguyễn Thị Quý, Đặng Thị Vậy, Trương Thị Trà, Trần Thị Ngoạn, Lê Thị Yến và Huỳnh Thị Lan. Hai con trai là Ngô Văn Đắc, Ngô Văn Nhât.
           b- Ngô Văn Sở Gia Long có một bà vợ và 3 người con: một gái hai trai. Bà vợ là Nguyễn Thị Đích quê Thăng Long, bà lấy chồng khi còn ở Thăng Long vào khoảng năm 1788. Ba con gồm một gái là Ngô Thị Chánh, hai trai là Ngô Văn Thắng, Ngô Văn Thọ. Bà Ngô Thị Chánh sinh năm 1792 và là sủng phi của vua Minh Mạng.
3) Về tuổi tác
          Tuy ta không biết năm sinh của hai ông Ngô Văn Sở, nhưng có thể suy đoán hai ông thuộc hai thế hệ khác nhau cách nhau chừng vài chục tuổi. Những căn cứ để suy đoán đó là:
               - Ông Ngô Văn Sở Gia Long có con trai lớn Ngô Văn Thắng, ông Thắng là em trai cùng mẹ với bà Ngô Thị Chánh, nên sớm ra thì ông nhỏ hơn bà Chánh 1 tuổi, tức giả định ông sinh năm 1793. Thế thì cho đến khi nhà Tây Sơn sụp đổ vào năm 1802, thì con trai ông Ngô Văn Sở Gia Long (ông Thắng) mới chừng 10 tuổi.
              - Trong khi đó ông Ngô Văn Sở Tây Sơn đã có hai cháu nội Ngô Văn Chương, Ngô Văn Kỳ (đều là con Ngô Văn Đắc) dã phải chạy trốn khỏi quê để tránh sự trả thù của Gia Long.
          Tóm lại, trong giai đoạn lịch sử cuối Lê đầu Nguyễn có hai người họ Ngô cùng tên Văn Sở cùng là võ tướng phục vụ cho hai vương triều khác nhau là nhà Nguyễn Tây Sơn và nhà Nguyễn Gia Long là hai người khác nhau, chứ không phải một người.
          Chi tiết xin xem sách "Góp bàn chuyện trong sử cũ" tác giả Ngô Vui do NXB Lao động ấn hành năm 2011.

Có phải An Tư công chúa lấy Thoát Hoan sinh hai con?


         Công chúa An Tư là con gái út của Thái Tông nhà Trần. Có thể nói hậu thế không được biết gì nhiều về bà, ngoại trừ việc bà được cống cho tên tướng giặc Nguyên Thoát Hoan để "làm thư giãn nạn nước"- như lời sách Đại Việt sử ký toàn thư đã viết.
         Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt (1260-1295) ngay sau khi tiêu diệt nhà Nam Tống, đặt được ách thống trị lên toàn cõi Trung Hoa vào năm 1279, đã có dã tâm thôn tính nước ta. Năm 1282 Hốt Tất Liệt sai Toa Đô mang 50 vạn quân theo đường biển tiến đánh Chiêm Thành, rồi chờ sẵn ở đó đợi khi Thoát Hoan mang 50 vạn quân từ phía Bắc đánh xuống nước ta, sẽ từ phía Nam đánh ra tạo thành hai gọng kìm nhằm bóp nát binh lực nhà Trần. Cuối năm 1284, đại quân của Thoát Hoan tràn vào nước ta thế như bão lốc. Quân ta thua ở Chi Lăng, rồi Vạn Kiếp rồi Đông Bộ Đầu,..Vua Nhân Tông và Thượng hoàng Thái Tông phải bỏ Thăng Long chạy về Thiên Trường. Thế quân Nguyên mỗi lúc một lớn, chúng chiếm đóng khắp nơi. Bọn hoàng tộc Trần Ích Tắc, Trần Lộng, Trần Tú Viên, ..cùng lũ thuộc hạ đều ra hàng giặc. Trong tình cảnh nước sôi lửa bỏng đó, nhà Trần phải hiến công chúa An Tư cho Thoát Hoan để lấy một khoảng lặng cần thiết cho hai vua và Quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo tổ chức lại lực lượng, xốc lại tinh thần binh tướng để rồi chỉ 5 tháng sau đó quân dân Đại Việt đã đánh tan 20 vạn quân xâm lược Nguyên Mông, chém đầu Toa Đô, Thoát Hoan phải chui vào ống đồng trốn chết chạy về nước. Đất nước sạch bóng quân thù, không ai biết gì về hành tung của công chúa.
          Đó là một khoảng trống trong lịch sử không thể khoả lấp. Hai tác giả " Các triều đại Việt Nam" Quỳnh Cư và Đỗ Quốc Hùng đã viết rằng, công chúa An Tư đã theo Thoát Hoan chạy về Tàu và sinh cho tướng giặc Thoát Hoan hai người con! Và cho biết hai tác giả đã căn cứ vào sách "An Nam chí lược" của Lê Tắc.
          Lê Tắc là thuộc hạ của Chương hiến thượng hầu Trần Kiện-con Quốc Khang cùng chủ đầu hàng Toa Đô được bọn giặc cho đưa về Bắc, nhưng khi ra đến biên giới thì Trần Kiện bị giết, Lê Tắc thoát chết chạy được sang Tàu sống lưu vong, về sau viết ra cuốn sách nói trên.
          Ta hãy xem Lê Tắc viết những gì về chuyện này. Chúng tôi xin dẫn "An Nam Chí lược" - tr.249: Trong mục "Các Vương hầu nội phụ"-tức là những kẻ trong hoàng tộc nhà Trần đầu hàng giặc Nguyên và sống lưu vong ở Tàu. Về nhân vật Trần Tú Viên ( con Trần Di Ái), Lê Tắc viết:"Mùa Đông năm Giáp Thân niên hiệu Chí Nguyên (1284) đại binh đến An Nam. Mùa Xuân năm sau, Tú Viên xin cha mẹ quy thuận. Tháng 4 vào bệ kiến. Lúc bỏ nước ra đi, dọc đường gia quyến bị tử vong hết 8 người. Tháng 9 đến Kinh sư, Hoàng thượng (tức Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt) ngợi khen và xuống chiếu phong làm Phụ Nghĩa công.. .(.).Năm Ất Hợi (1285) các người đều được cho cung tên, tiền bạc, yên ngựa để theo quân qua đánh An Nam. Năm sau trở về Hán Dương, Trấn Nam Vương ( tức Thoát Hoan) cưới em gái làm thứ phi sinh được hai con.."
           Theo đoạn văn trích dẫn ra ở trên thì người con gái sinh hai con với Thoát Hoan là con gái Trần Di Ái, em Trần Tú Viên chứ không phải công chúa An Tư- con gái Trần Thái Tông.
           Lại một lần nữa hai tác giả sách "Các triều đại Việt Nam" Quỳnh Cư và Đỗ Quốc Hùng đã phạm sai lầm ngất người do sự tra cứu cẩu thả.
           Theo suy đoán của chúng tôi, công chúa An Tư không thể cố chết chạy về Bắc theo tên tướng giặc Thoát Hoan, mà có thể công chúa đã hy sinh do tên bay đạn lạc trong đám loạn quân. Và chính công chúa đã được dân thôn Viên xã Cổ Nhuế huyện Từ Liêm (nay là quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội) lập đền thờ gọi là Đền Bà Chúa với cái tên được che đậy để tránh sự phá hoại của kẻ thù, nếu chúng lại sang. Đó là công chúa Trần Khắc Hãn- ngụ ý rằng nàng công chúa nhà Trần này đã từng kiềm chế được sự hung hãn của kẻ thù.
Sưu tâm trên internet

Thứ Hai, 14 tháng 1, 2019

Trở lại vụ án Lệ Chi Viên


(Tưởng niệm 570 năm ngày mất của danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi 1380-1442)
Những gì sắp trình bày ở đây không phải là hoàn toàn mới, bởi trước đây các nhà nghiên cứu ít nhiều đã đề cập về vấn đề này rồi. Nhưng cái mới ở đây là trên cơ sở kế thừa thành tựu đã có, kết hợp tìm tòi thêm tư liệu, bài viết này nêu lại một cách có hệ thống xung quanh vụ án Lệ Chi Viên oan nghiệt, đã tàn hại cả một tộc họ, nhất là tiêu diệt một con người tài hoa, uyên bác, lịch lãm và vĩ đại cách đây đúng 570 năm!
1. Về cái chết đột ngột của vua Lê Thái Tông và bản án tru di tam tộc
Sách Đại Việt sử ký toàn thư – Bản kỷ thực lục – quyển XI chép: Nhâm Tuất (tức 1442), Đại Bảo năm thứ 3, mùa thu, tháng 7, ngày 27, vua [Thái Tông] đi tuần về miền Đông, duyệt binh ở thành Chí Linh. Nguyễn Trãi đón vua ngự ở chùa Côn Sơn, ở hương của Nguyễn Trãi [1]. Khoảng mười ngày sau, trên đường về lại Thăng Long bằng thuyền rồng, vua Thái Tông (trị vì 1433-1442) mất đột ngột tại vườn Vải:“Tháng 8 ngày mồng 4 (tức ngày 07 tháng 9 năm 1442) vua về đến vườn Lệ Chi, huyện Gia Định, bỗng bị bệnh ác rồi băng. Trước đây vua thích vợ của Thừa chỉ Nguyễn Trãi là Nguyễn Thị Lộ, người đẹp, văn chương hay, gọi vào cung cho làm Lễ nghi học sĩ, ngày đêm hầu hạ bên cạnh. Đến khi đi tuần miền Đông, về đến vườn Lệ Chi, xã Đại Lại trên sông Thiên Đức, vua thức suốt đêm với Thị Lộ rồi băng. Các quan bí mật đưa về, ngày mồng 6 đến kinh sư, nửa đêm đem vào cung mới phát tang. Mọi người đều nói là Nguyễn Thị Lộ giết vua. (…) Ngày 16 tháng 8 (tức ngày 19 tháng 9 năm 1442), giết Hành khiển Nguyễn Trãi và vợ lẽ là Nguyễn Thị Lộ, giết đến 3 đời. Trước là Nguyễn Thị Lộ ra vào cung cấm, Thái Tông trông thấy thích lắm, cùng với Thị Lộ cợt nhả, đến đây đi tuần về miền Đông, đến chơi nhà Trãi rồi bị bệnh ác mà chết, cho nên Trãi bị tội ấy [2].
Đây là bộ chính sử đầu tiên viết về vụ án Lệ Chi viên. Bộ sử này được sử thần Ngô Sĩ Liên biên soạn vào năm 1479 theo lệnh vua Lê Thánh Tông, tức 37 năm sau khi xảy ra vụ thảm án.
Cần lưu ý, dù chính sử có ghi:“Trước đây vua thích vợ của Thừa chỉ Nguyễn Trãi là Nguyễn Thị Lộ, người đẹp, văn chương hay, gọi vào cung cho làm Lễ nghi học sĩ, ngày đêm hầu hạ bên cạnh”; và: “Trước là Nguyễn Thị Lộ ra vào cung cấm, Thái Tông trông thấy thích lắm, cùng với Thị Lộ cợt nhả” nhưng theo tôi việc này nên xem xét lại. Bởi lẽ, theo thiển nghĩ, trong hậu cung của Lê Thái Tông thiếu gì phi tần mỹ nữ trẻ trung đẹp đẽ, tại sao nhà vua lại mê đắm một phụ nữ đã có chồng, lớn hơn mình đến 30 tuổi, tức hơn tuổi của mẹ mình?[3]   
2. Các triều đại minh oan cho Ức Trai
Sau vụ án Lệ Chi viên oan nghiệt không lâu thì vua Lê Nhân Tông (trị vì 1442-1459) có lần đến Bí thư các, đã đọc Dư địa chícủa Nguyễn Trãi, có phát biểu rằng: “Nguyễn Trãi là người trung thành giúp đức Thái Tổ dẹp loạn tặc, giúp đức Thái Tông sửa sang thái bình. Văn chương và đức nghiệp của Nguyễn Trãi các danh tướng của bản triều không ai sánh bằng, không may bị người đàn bà gây biến, để người lương thiện mắc tội rất là đáng thương” [4]. Lời nói trên của nhà vua đã hàm ý minh oan cho Ức Trai, dù đó chỉ là lời phát biểu, có thể xem như lời dụ, chứ chưa phải là văn bản chính thức, mà sau này Lý Tử Tấn, người bạn đồng khoa, đồng liêu với Nguyễn Trãi có ghi lại trong phần Thông luận sách Dư địa chí. Nhưng lời phát biểu đó lại đổ hết mọi tội lỗi cho bà Nguyễn Thị Lộ!
Đến năm 1464, vua Lê Thánh Tông (trị vì 1460-1497), mới chính thức ban chiếu minh oan cho Ức Trai, truy tặng tước Tán trù bá, sai tìm con cháu còn sót lại của ông để bổ chức quan, cấp 100 mẫu ruộng để tế tự. Rồi ba năm sau (1467), lại ban chiếu sai văn thần Trần Khắc Kiệm sưu tầm thơ văn còn lại của ông (bộ sưu tầm này đã mất, hiện chỉ còn bài Tựa viết năm 1480). Tiếp theo, năm 1494, nhà vua còn ngợi ca Nguyễn Trãi trong bài Minh lương qua câu thơ: Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo [5].
Câu hỏi đặt ra ở đây là, tại sao Thánh Tông chỉ chiêu tuyết cho cụ Nguyễn Trãi mà không minh oan cho bà Nguyễn Thị Lộ, lại truy tặng tước thấp hơn trước một bậc, trong khi vợ chồng Nguyễn Trãi lại là ân nhân của mẹ con nhà vua? Thiển nghĩ, đây là một vấn đề tế nhị trong nội bộ hoàng tộc, lại là chuyện đã lỡ rồi và có lẽ nhà vua không muốn khơi lại chuyện đau lòng đã qua, tốt nhất là cứ theo lời kết tội cũ cho yên chuyện.
Sau đó, các triều đại nhiều lần minh oan Nguyễn Trãi bằng cách gia phong tước, chẳng hạn: năm Nhâm Thân (1512), vua Lê Tương Dực (trị vì 1510-1516) truy tặng tước Tế Văn hầu; năm Nhâm Ngọ (1822), vua Nguyễn Thánh Tổ Minh Mạng (trị vì 1820-1840), truy phong tước Khê Quận công, ban chiếu sai văn thần Dương Bá Cung là người cùng làng Nhị Khê, sưu tầm di văn của Nguyễn Trãi, dịp này ông cùng Nguyễn Thâm (là cháu trực hệ của Nguyễn Trãi) soạn lại gia phả họ Nguyễn ở Nhị Khê, và viết lời Tựa. Công trình của Dương Bá Cung Ức Trai di tập gồm 07 quyển được Phúc Khê đường khắc in vào năm Mậu Thìn (1868) dưới đời Tự Đức (trị vì 1847-1883).
Ở đây, giữa lời chính sử đã ghi và lời chiếu của triều đình minh oan có mâu thuẫn. Bởi lẽ, nếu sau năm 1442, Lê Nhân Tông khi đọc Dư địa chí có phát biểu với ý minh oan Nguyễn Trãi và trách bà Lộ, thì đến năm 1464 và 1467, vua Lê Thánh Tông đã chính thức ban chiếu minh oan. Điều đó cho thấy trong suy nghĩ và dưới cái nhìn của các vị hoàng đế bấy giờ, Nguyễn Trãi là vô tội. Vậy mà khi phụng chiếu viết sử vào năm 1479, Ngô Sĩ Liên đã chép theo lời kết luận của toà Đại hình là gán cho bà Lộ cái tội đã giết vua, làm vạ lây đến Nguyễn Trãi và ba đời của tộc họ này! Điều đó có nghĩa, bà Lộ là thủ phạm và Nguyễn Trãi là tòng phạm. Việc này, sử thần họ Ngô có lời bàn: “Nữ sắc làm hại người quá lắm thay. Thị Lộ là một người đàn bà thôi. Thái Tông yêu nó mà thân phải chết, Nguyễn Trãi lấy nó mà cả họ bị diệt, chẳng nên răn lắm ư?”[6]. Trong khi đó, theo “Ngọc phả họ Đinh” thì Toà Đại hình do Tuyên Từ Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Anh và hoàng đế Lê Nhân Tông (mới 2 tuổi) chủ toạ phiên toà, Đại Đô đốc Thái sư Lân Quốc công Đinh Liệt làm chánh án xét xử vào ngày 19 tháng 9 năm 1442, có chép lại lời của Hoàng Thái hậu rằng: Nguyễn Trãi chủ mưu sai Thị Lộ đầu độc nhà vua [7], tức Nguyễn Trãi là thủ phạm và bà Lộ là tòng phạm. Vậy thực hư của vụ án ra sao?
3. Vì sao có vụ án oan nghiệt trên?
Trả lời câu hỏi này cho tường minh, thật không dễ dàng gì. Mặc dù lời ghi của bộ Đại Việt sử ký toàn thư triều Lê là lời chính thống, chẳng nên bàn cãi, dù bản thân tôi có nghi ngờ về ngòi bút của sử thần họ Ngô khi viết về vụ án này, bởi khi chép sử, có thể vị sử thần bị một thế lực nào đó thúc ép chăng, nhưng qua thời gian, lần theo manh mối từ những mảnh vụn lịch sử cách đây trên năm thế kỷ rưỡi, rồi chắp nối chúng lại, có thể nêu lại đầu mối sự việc như sau:
Một là, vợ chồng Nguyễn Trãi từng xin vua Thái Tông để giải thoát cho bà phi Ngô Thị Ngọc Dao ra khỏi lãnh cung. Sự việc theo lời truyền như sau: Khoảng gần cuối năm 1441, bà Tiệp dư Ngọc Dao nhân nằm mộng thấy tiên đồng ôm mặt trăng nhảy vào lòng, nhân đó bà có mang. Chi tiết thụ thai thần kỳ đó là điềm lành dự báo sẽ sinh quý tử, thánh nhân. Việc này đã làm cho Hoàng hậu Nguyễn Thị Anh lo sợ và không thích, bởi có liên đới đến địa vị của con trai mình sau này. Trước đó, một bà phi khác tên Huệ cũng nằm mộng thấy mặt trời mà có mang. Bà Hoàng hậu lập mưu hãm hại bà phi này, bằng cách cho tay chân thân tín chôn hình nhân ở cung của bà phi Huệ, rồi vu cáo bà này mời đạo sĩ vào cung trấn ếm. Tiếp theo Hoàng hậu lại vu cho bà phi Ngọc Dao có liên can đến vụ của bà phi Huệ, nên cũng bị giam ở lãnh cung. Lúc này (từ năm 1440 trở đi), Nguyễn Trãi trở lại triều đình làm quan và Nguyễn Thị Lộ đang giữ chức Lễ nghi học sĩ trong cung. Cả hai vợ chồng ông được vua Thái Tông sủng ái, tin cậy, nhờ thế mới có điều kiện xin vua tha cho bà Ngô Thị Ngọc Dao (Bà này là ái nữ của Ngô Từ, một đại thần lo việc hậu cần thời Lam Sơn khởi nghĩa, mà Ngô Từ là người đã giúp Nguyễn Trãi yết kiến Lê Lợi tại Lỗi Giang, dâng Bình Ngô sách vào năm 1421, khi ông trở lại Lam Sơn lần thứ hai). Cho nên việc cụ Ức Trai cứu con gái của bạn là hợp đạo lý và cũng là cách trả ơn khi xưa bạn đã từng giúp mình. Vợ chồng Nguyễn Trãi đã đưa bà Ngọc Dao ra tá túc tại chùa Huy Văn (nay ở đường Chùa Bộc, Hà Nội) và đã sinh hoàng tử Tư Thành ở đấy vào ngày 20 tháng 7 năm Nhâm Tuất (dương lịch 24-8-1442). Sau đó lại đưa mẹ con bà Ngọc Dao về tá túc tại một ngôi chùa ở Từ Liêm (hiện chùa mang tên Thánh Chúa, nằm trong khuôn viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tên chùa là do vua Lê Thánh Tông đặt khi mới lên ngôi, ý nói nơi đây vị chúa thánh minh đã từng tá túc). Việc này, văn bia ở hai ngôi chùa trên có ghi lại; tiếp theo Nguyễn Trãi mới đưa mẹ con bà Ngọc Dao ra trú ở vùng An Bang (nay là Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh), nơi ông trị nhậm với cương vị Ngự sử Đông Bắc đạo. Việc làm đó, vô tình vợ chồng Nguyễn Trãi đã chuốc vạ vào thân, và đã trở thành cây đinh, thành đối thủ, thành kẻ thù số một của Hoàng hậu Nguyễn Thị Anh.
Hai là, trước đó Nguyễn Trãi từng được nghe Đinh Phúc, Đinh Thắng là Tổng quản nội quan trong cung, ngầm báo cho biết chuyện bà Nguyễn Thị Anh được tiến cung làm Hoàng hậu rồi chỉ mới sáu tháng sau thì sinh ra Bang Cơ! Điều đó có nghĩa, Bang Cơ chưa chắc là con đẻ của Thái Tông. Chính Ngọc phả họ Đinh có chép lại bài thơ của Thái sư Đinh Liệt nói về chuyện này:
茸新六个月開花,
不識何人寶種多.
主靠送胎為靈藥,
舊瓶新酒盛醫科.
Phiên âm:    Nhung tân lục cá nguyệt khai hoa,
Bất thức hà nhân chủng bảo đa?
Chủ kháo tống thai vi linh dược,
Cựu bình tân tửu thịnh y khoa.
Bài thơ với ẩn ý sâu xa, vị Thái sư đã dùng hình thức chơi chữ kiểu nói lái để hé lộ một sự thật trong thâm cung triều đại Thái Tông, vạch rõ thủ đoạn của Hoàng hậu Nguyễn Thị Anh, và nói rõ bí mật gốc gác của vị vua thứ ba vương triều Hậu Lê sơ: “nhung tân” đọc thành “Nhân Tông” tức Thái tử Bang Cơ; “tống thai” đọc thành “Thái Tông”; “thịnh y” (thịnh còn đọc là thạnh) nên “thạnh y” đọc thành “Thị Anh”. Từ đó, có thể dịch nghĩa bài thơ như sau:
Nhân Tông [cái mầm non (nhung tân)] mới sáu tháng đã sinh ra,
Chẳng biết dòng giống quý của người nào đây?
Nương dựa Thái Tông [bằng cách tặng biếu cái thai (tống thai)] để làm vị thuốc hiệu nghiệm,
Bình cũ rượu mới là cách thức của Thị Anh [nền y học phát triển (thịnh y)].
Dịch thơ: Nhân Tông sáu tháng đã sinh ra,
Dòng giống nhà ai, chẳng quý a?
Nương dựa Thái Tông làm thuốc báu,
Thị Anh dùng mẹo đổi dòng cha.
                                         (NCL dịch)
Việc này ngoài vợ chồng Nguyễn Trãi, Đinh Phúc và Đinh Thắng, còn có vài đại thần khác có thể đã biết như Thái sư Đinh Liệt, Thái uý Trịnh (Lê) Khả và con là Trịnh (Lê) Quát (bởi được ban quốc tính), Tư khấu Trịnh Khắc Phục và con là Phò mã Đô uý Trịnh Bá Nhai. Chính cái biết rõ này là mầm mống tai vạ về sau cho Nguyễn Trãi và tộc họ của ông cùng các vị trên.
Ba là, nay nhà vua đi tuần miền Đông, duyệt binh ở thành Chí Linh, Nguyễn Trãi đón vua về ngự ở Côn Sơn. Việc nhà vua ghé Côn Sơn thăm cụ Ức Trai có thể làm cho Hoàng hậu Nguyễn Thị Anh lo sợ rằng Nguyễn Trãi sẽ hé lộ sự việc gốc gác con trai của mình cho nhà vua biết, thì ngôi vị Hoàng thái tử của Bang Cơ chắc chắn có nguy cơ bị mất, mà ngôi vị này trước đó là của Nghi Dân, nhờ mưu mẹo bà mới giành giật được khi Bang Cơ chưa đầy một tuổi, và dĩ nhiên là bà và tộc họ sẽ bị tội đại hình!
Để thoát khỏi tội lỗi, Hoàng hậu Nguyễn Thị Anh chỉ còn một cách duy nhất là: Cần phải tiêu diệt vợ chồng Nguyễn Trãi để bịt đầu mối. Mối thâm thù từ lâu của bà Nguyễn Thị Anh đối với vợ chồng Nguyễn Trãi đến đây cần phải được giải quyết cho gọn càng sớm càng tốt. Nay dịp may đã đến. Có thể là bà đã sắp đặt mưu mô từ trước. Thuyền rồng của vua trên đường từ Chí Linh về lại Thăng Long, có bà Lộ đi nhờ theo. Thực hiện âm mưu, bọn thủ túc thân tín của bà đã hạ độc thủ, đầu độc nhà vua rồi vu oan cho bà Lộ, ông Trãi giết vua. Như vậy, kẻ chủ mưu giết vua đã rõ. Vua mất, theo lệ, Thái tử sẽ kế vị, mà ngôi Thái tử lúc này là Bang Cơ, con trai riêng của bà! Có thể thấy bà Nguyễn Thị Anh đã sắp đặt mưu mẹo thật hoàn hảo! Chỉ cần bắn một mũi tên mà trúng được nhiều đích: giết được kẻ đối đầu với mình; giết chồng; giành ngôi báu cho con trai; bản thân bà thì được giữ ngôi Hoàng Thái hậu buông màn cầm quyền nhiếp chính, cai trị thiên hạ, vì nhà vua còn quá nhỏ, chưa đầy 2 tuổi (Bang Cơ sinh ngày mồng 9 tháng 6 năm Tân Dậu 1441, lập làm Hoàng thái tử ngày 16 tháng 11 năm ấy, lên ngôi ngày mồng 8 tháng 12 năm Nhâm Tuất 1442).
Nhưng vụ án chưa kết thúc ở đó.
Sau khi diệt được vợ chồng cụ Nguyễn Trãi, thì sau đó không lâu, Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Anh cho giết tiếp Đinh Phúc, Đinh Thắng (là người ghi chép những chuyện cụ thể ở nội cung), bắt giam Thái sư Đinh Liệt vào đại lao, hạch tội cha con Thái uý Trịnh Khả, v.v.. Cần phải giết tất cả những người đã biết về cái bí mật của riêng bà để bịt đầu mối. Việc giết người và bắt giam người hàng loạt này, toàn là những bậc tôi trung, những bậc khai quốc công thần là có chủ ý của người đàn bà cầm quyền nhiếp chính. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Ngày mùng 9 tháng 9 giết hoạn quan là Đinh Phúc, Đinh Thắng, vì khi Nguyễn Trãi sắp bị tử hình có nói là hối hận không nghe lời của Thắng và Phúc”[8] và năm Quý Hợi, Thái Hoà năm thứ nhất (1443): “Mùa thu, tháng 7 bắt giam Thái phó Lê Liệt (Đinh Liệt)”[9] để rồi mãi đến mấy năm sau, Mậu Thìn, Thái Hoà năm thứ 6 (1448) mới được tha: “Mùa hạ, tháng 6 tha cho Lê Liệt ra khỏi lao hầm. Vì cớ bọn người là Lê (Trịnh) Khắc Phục và công chúa Ngọc Lan, tám người làm trạng tâu khẩn khoản xin nới phép rộng ơn”[10] 
4. Tại sao sử gia Ngô Sĩ Liên lại ghi chép vụ án như thế ?
Thiết nghĩ, người đứng đầu Sử quán triều Lê Thánh Tông là Ngô Sĩ Liên khi chép lại chuyện này không thể không đau lòng và trăn trở, bởi hơn ai hết vị sử thần này biết rất rõ rằng sử biên niên phải viết theo bút pháp Xuân Thu[11], nhưng có thể ông không có thừa dũng khí như sử gia vĩ đại Tư Mã Thiên[12] khi xưa lúc viết bộ Sử ký nổi tiếng! Đau lòng và trăn trở còn là vì Nguyễn Trãi là bạn đồng chí chiến đấu từng chịu đựng gian khổ trong những năm tháng khởi nghĩa; là bạn đồng liêu tại triều; và còn là người mà có thể ông đã chịu ơn, bởi khoa thi đầu tiên dưới triều Hậu Lê sơ, khoa Đại Bảo (đầu năm Nhâm Tuất 1442), Nguyễn Trãi với tư cách là quan Độc quyển, giúp nhà vua chấm bài, duyệt quyển đã lấy cho ông đỗ học vị Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân.
Mặt khác, khi chép lại vụ Lệ Chi Viên trong bộ chính sử, có thể vị sử thần còn vướng mắc một uẩn khúc khác, rất tế nhị, khó nói. Đó là chuyện trước đây ông có dính líu đến vụ Lê Nghi Dân giết em là Bang Cơ Lê Nhân Tông để soán ngôi vào năm 1458, nhưng hiện ông vẫn được tân vương Lê Thánh Tông tin dùng, cho trông coi Sử quán. Vì thế mà khi chép sử, ông không thể không cân nhắc, nghĩ suy, tính toán, lựa chọn cách viết, sao cho hợp với nhà vua, với tâm lý chung của triều thần, nên tốt nhất là viết lại theo lời luận tội của triều đình do bà Nguyễn Thị Anh làm chủ toạ phiên toà ngày ấy đã kết luận.  
5. Về chuyện “Rắn báo oán”
Việc này theo lời truyền thì có nhiều dị bản, riêng Phan Huy Chú trong mục Nhân vật chí, sách Lịch triều hiến chương loại chí chép rằng: “Đời truyền rằng, trong gò lớn ở làng ông có con rắn lớn. Chỗ ấy cây cối um tùm, người làng không dám chặt. Người ông nội của ông thích về phong thuỷ, mới dựng nhà học trên đó, sai người nhà chặt cây dọn dẹp, nhỡ giết phải con rắn ấy. Con rắn thành tinh ngầm mang thù oán, mới đầu thai làm Thị Lộ. Nàng sinh ra dưới sườn có vảy. Ông lúc nhỏ đi đường gặp nàng ở Vũ Lăng, yêu về tài sắc mới lấy nàng làm lẽ. Khi ông lo việc nước, những chiếu chỉ từ mệnh, nàng đều được dự nhuận sắc. Thái Tông nghe tiếng, vời nàng vào hầu cho làm Lễ nghi học sĩ. Bấy giờ, ông đã già, muốn về dưỡng nhàn ở Côn Sơn, mấy lần xin không được, mới lưu nàng ở lại hầu vua, vua mới cho. Ngày vua đi đông tuần, nàng hầu đêm, bỗng vua chết một cách bất ngờ. Kịp khi kết tội lâm hình, Thị Lộ chạy gieo mình xuống nước, người ta cho là rắn báo oán” [13].
Ở đây, Sử gia họ Phan đã theo lời truyền mà chép lại. Thực tế, suy cho cùng, đây là chuyện hoàn toàn bịa đặt và vu cáo bởi Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Anh cùng bè đãng thân tín của bà như Lương Đăng, Nguyễn Thúc Huệ, v.v.. chẳng hạn.
6. Lời kết
Những gì mà chúng tôi vừa trình bày ở trên nhằm đi đến kết luận rẳng: Vụ án Lệ Chi Viên năm 1442 là vụ án giết người diệt khẩu để bịt đầu mối.
Nhưng bà Hoàng Thái hậu gian ác kia đâu có ngờ rằng, sự việc trên, đương thời đã có nhiều người biết đến, và sau này vua Lê Thánh Tông cũng có thể đã biết, nhưng nhà vua vì thể diện của triều đình, của nội bộ hoàng tộc mà không muốn làm to chuyện ra, đành phải giữ kín. Còn chuyện giết oan một bậc khai quốc công thần là chuyện đã lỡ rồi, chỉ còn cách minh oan mà thôi, và tốt nhất là cứ đổ hết tội lỗi lên đầu một người khác: bà Lộ, thế là yên chuyện! rồi gán cho bà cái tính lẳng lơ, cợt nhả, làm nhà vua say đắm; lại gán cho bà là hiện thân của rắn chúa để báo oán Nguyễn Trãi! Thật là hoang đường hết sức! Chuyện hoang đường nhưng người ta vẫn tin, còn nếu không tin thì vẫn im tiếng để giữ mình, bởi câu chuyện đó được nói ra từ một người có quyền lực nên không ai dám trái lệnh, trái ý, nếu vi phạm có thể bị hành hình hoặc tù ngục đến rục xương! 
Hậu thế đã có phán xét của riêng mình. Cụ Ức Trai đã được minh oan từ lâu, người dân Việt Nam ai ai cũng rõ. Còn nỗi oan của bà Lễ nghi Học sĩ thì ai cũng biết nhưng không ai minh oan. May mà gần đây, nhân dân đã thấu hiểu, đã minh oan và tôn vinh bằng cách lập đền thờ, tạc tượng để hương khói. Và ít ra trên miền Bắc hiện đã có ba nơi lập đền thờ: tại Thanh Trì, gần nơi vợ chồng bà bị hành quyết khi xưa; ở Thái Bình và ở Đông Triều (Quảng Ninh). Nhà giáo Đoàn Ngọc Chức trong công trình viết về bà Lễ nghi học sĩ có kể lại rằng khi tạc tượng bà Nguyễn Thị Lộ xong, lúc rước thầy làm lễ an vị và điểm nhãn, thì mọi người thấy từ trong khoé mắt của pho tượng đã rỉ ra những giọt nước long lanh! Ôi lòng thành của cháu con hôm nay, người xưa đã hiển linh và thấu hiểu nên đã cảm động hoá thành giọt lệ đó chăng?
Tháng 8-2011 – tháng 8-2012
TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ngô Sĩ Liên và Quốc Sử quán triều Lê, Đại Việt sử ký toàn thư, Cao Huy Giu dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, chú giải, khảo chứng, tập 3, Nxb KHXH, HN, 1972.
2. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, mục Nhân vật chí, bản dịch, tập 1, Nxb Sử học, HN, 1961.
3. Đinh Công Vỹ, Đám sương mù quanh thảm án Lệ Chi viên, Hồn Việt số 5, tháng 11-2007 (tr 8-10).
4. Ngọc phả tộc Đinh, tài liệu photocopy từ tủ sách của cố GS. Bùi Văn Nguyên.

Nguồn: Tạp chí Kiến thức ngày nay, số đặc biệt (800) ngày 01-11-2012

[1] Đại Việt sử ký toàn thư, Cao Huy Giu dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, chú giải, khảo chứng, tập 3, Nxb KHXH, HN, 1972, trang 131. Xin chú thêm:
1- Chùa Côn Sơn tức chùa Tư Quốc, còn gọi là chùa Hun, được tạo dựng lúc Tư đồ Chương Túc Quốc Thượng hầu Trần Nguyên Đán về đây lập động Thanh Hư, do thiền sư Pháp Loa chứng minh Lễ khởi công xây dựng. Sách Đại Việt sử ký toàn thư tại Bản kỷ thực lục, quyển XI, chú thích số 85, trang 348, ghi rằng: “Chùa Tư Quốc, tương truyền do nhà sư Pháp Loa làm”. Cương mụcq.17 cũng ghi lại như thế. Về sau chùa được đổi tên là Tư Phúc cho đến nay vẫn còn. Tại nhà thờ Tổ của chùa có thờ ba vị Tổ Thiền phái Trúc Lâm: Điều ngự Giác hoàng Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang và thờ quan Tư đồ Trần Nguyên Đán. Trước nhà thờ Tổ của chùa, hiện còn mộ tháp của thiền sư Huyền Quang.
2- Lê Thái Tông (sinh 1423, mất 1442) trong thời gian trị vì 1433–1442 đã đặt 2 niên hiệu: Thiệu Bình (1434–1439), Đại Bảo (1440–1442).
[2] Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, trang 131. Bộ sử này lúc Ngô Sĩ Liên phụng chỉ biên soạn có tên là Sử ký toàn thư. Sử gia họ Ngô đã kế thừa bộ Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu (thế kỷ XIII), Sử ký tục biên của Phan Phu Tiên (đầu thế kỷ XV) biên soạn mới phần Ngoại kỷ, rồi chép tiếp phần Bản kỷ. Đến thời Lê trung hưng, bộ sử của họ Ngô được các sử gia đời Lê – Trịnh chép tiếp. Năm Ất Tỵ 1665, vua Lê Huyền Tông và chúa Trịnh Tạc sai Phạm Công Trứ khảo đính bộ sử của họ Ngô và viết thêm phần Bản kỷ tục biên, đặt tên bộ sách là Đại Việt sử ký toàn thư. Phạm Công Trứ đã sửa chữa và bổ sung mười phần nhưng chỉ mới khắc in được năm, sáu phần. Đến năm Đinh Sửu 1697, vua Lê Huyền Tông và chúa Trịnh Căn lại sai Lê Hy và Nguyễn Quý Đức sửa chữa và viết tiếp phần Bản kỷ tục biên từ năm 1663 đến năm 1675. Như vậy, bộ Đại Việt sử ký toàn thư bản khắc in năm 1679 không phải là sách chỉ do Ngô Sĩ Liên biên soạn mà tác giả của bộ sử này là tập thể các sử gia tiếp nhau biên soạn trong các giai đoạn khác nhau: Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Phạm Công Trứ rồi Lê Hy và Nguyễn Quý Đức, với nội dung chép sử nước ta từ đời Hồng Bàng đến năm Ất Mão 1675 đời Lê Gia Tông.
[3] Dù hiện này không có tài liệu chính thức nào ghi chép về tuổi tác của bà Lộ, nhưng theo lời truyền thì bà nhỏ hơn cụ Nguyễn Trãi khoảng 10 tuổi, tức bà sinh khoảng 1390, trong khi đó Lê Thái Tông sinh 1423, nghĩa là bà lớn hơn nhà vua đến 33 tuổi. 
[4] Nguyễn Trãi, Dư địa chí – Phần Thông luận do Lý Tử Tấn viết, bản dịch của Phan Duy Tiếp, Nxb Sử học, HN, 1960.
[5] Về câu thơ này, trước đây nhiều người dịch là “Lòng Ức Trai sáng như sao Khuê”, đó là dịch sát nghĩa. Ở đây, sao Khuê là ngôi sao chủ về văn chương, biểu tượng cho văn chương. Lòng của Ức Trai lúc nào cũng lo cho dân cho nước với niềm ưu ái rừng rực, cuồn cuộn; và văn chương của ông cũng vậy, tức thể hiện tấm lòng ưu ái ấy, cho nên câu này nên dịch lại là: Lòng Ức Trai rực sáng như văn chương (của ông). Ý này cũng đã được PGS. Bùi Duy Tân nhiều lần khẳng định trong các bài viết của ông.
[6] Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, trang 131. 
[7] TS. Đinh Công Vỹ là hậu duệ của dòng tộc họ Đinh, hiện công tác tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, trong bài “Đám sương mù quanh thảm án Lệ Chi viên, Hồn Việt số 5, tháng 11-2007 (tr 8-10), ông đã dựa vào Ngọc phả của tộc họ mà viết lại.
[8] Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, trang 132.
[9] Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, trang 135. Lúc này Đinh Liệt đang giữ chức hàm Thái phó, nhưng theo Ngọc phả họ Đinh thì chức hàm của Đinh Liệt lúc này là Thái sư (dù cùng là Tam Thái, nhất phẩm triều đình, quyền ngang Tể tướng, nhưng Thái sư có quyền hành hơn Thái phó) – NCL chú thêm. 
[10] Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, trang 142.
[11] Bút pháp Xuân Thu chỉ việc chép sử phải chí công, trung thực, chính xác như sự việc vốn có trong hiện thực đời sống. Đây là lối chép sử của Khổng Tử (551-479 tr.CN) khi ngài biên soạn bộ Xuân ThuXuân Thu là một trong Ngũ kinh, là cuốn biên niên sử nước Lỗ, quê hương của ngài, chép người thật việc thật từ đầu đời Lỗ Ân Công đến năm thứ 14 đời Lỗ Ai Công (từ năm 722 đến năm 481 tr. CN), tất cả là 242 năm. Về sau, các nhà Nho lấy kinh Xuân Thu làm chuẩn mực trong bút pháp chép sử, gọi đó là bút pháp Xuân Thu.     
[12] Tư Mã Thiên (145 hoặc 135 – khoảng 87 tr.CN), sử gia vĩ đại và là nhà tư tưởng lớn của Trung Quốc thời Tây Hán. Nối nghiệp cha là Tư Mã Đàm (? –110 tr.CN), một vị quan Thái sử lệnh dưới thời Hán Vũ Đế  (140-87 tr.CN), Tư Mã Thiên được nhận chức Thái sử lệnh vào năm 108 tr.CN. Trong thời làm quan, vì cương trực và trung thực, chí công, mà có lần Tư Mã Thiên bị Hán Vũ Đế khép tội bắt giam và bị cung hình, chỉ vì ra sức biện bạch với nhà vua để gỡ tội cho tướng quân Lý Lăng (?-74 tr.CN) khi đánh nhau với Hung Nô bị thua trận, mà sau này sử sách gọi là “hoạ Lý Lăng”. Việc này làm ông đau khổ và uất ức, có lần định tự tử, nhưng vì bộ sử được viết theo lời tâm nguyện phó thác của cha, chưa hoàn thành nên ông đành nuốt hận, nén nhục, tiếp tục sống để viết. Có lần, vua Hán Vũ Đế đòi xem bộ sử đang viết, ông kiên quyết không cho vua xem với lý do sợ nhà vua không bằng lòng, vừa ý với sự thật mà ông đã chép, có thể nổi giận, đốt bộ sử và có thể làm hệ luỵ đến ông. Tính cương trực khảng khái ấy của ông đã làm cho vua Hán Vũ Đế phải kính nể.
[13] Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, mục Nhân vật chí, bản dịch, tập 1, Nxb Sử học, HN, 1961, trang 192-193.