XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG

Thứ Sáu, 18 tháng 12, 2020

Hội đồng nghiệp thủy lợi Gia Lai gặp mặt lần thứ 7 ngày 12.12.2020

 



75 năm thủy lợi Việt Nam và 44 năm thủy lợi Gia Lai

          1/ 75 năm phát triển Thủy lợi Việt Nam

          Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với hệ thống sông, suối dày đặc với gần 3.500 sông, suối có chiều dài từ 10 km trở lên. Tổng lượng nước mặt trung bình của tất cả các con sông vào khoảng 843 tỷ m3, trong đó khoảng 520 tỷ m3 sản sinh ở bên ngoài lãnh thổ (tương ứng 62% tổng lượng nước mặt), nguồn nước nội sinh trên lãnh thổ Việt Nam vào khoảng 323 tỷ m3, tổng trữ lượng khai thác nước ngầm tiềm năng khoảng 48,5 tỉ m3/năm– tương đương khoảng 5,7% tổng lượng nước mặt, tập trung tại một số lưu vực sông lớn, phân bố không đồng đều trong lãnh thổ dẫn đến tình trạng căng thẳng về nước theo mùa với sự bất cân đối giữa cung, cầu và có xu hướng gia tăng khó khăn cho công tác điều phối, phân bổ nguồn nước cho các mục đích phát triển. Bên cạnh đó, nước ta là một trong các quốc gia hứng chịu thiên tai nhiều nhất trong khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, với xu hướng lũ lụt và hạn hán gia tăng.

          Cách đây 75 năm, ngày 28/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh thành lập Bộ Giao thông Công chính - cơ quan thực hiện chức năng, nhiệm vụ về Thuỷ lợi của Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Qua quá trình trưởng thành và phát triển, với nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn, hệ thống thủy lợi đã từng bước phát triển. Thời kỳ Pháp thuộc, chúng ta mới chỉ có 13 hệ thống thủy nông phục vụ sản xuất nông nghiệp, đến nay, đất nước đã có một hệ thống hạ tầng thủy lợi ngày càng hoàn thiện. Theo kết quả điều tra, hiện có 4 công trình thủy lợi quan trọng đặc biệt (Cửa Đạt, Ngàn Trươi, Tả Trạch, Dầu Tiếng), 122 hệ thống công trình thủy lợi vừa và lớn (hệ thống có nhiệm vụ tưới hoặc tiêu thoát nước cho 2.000ha trở lên). Nhiều hệ thống công trình thủy lợi lớn đã được đầu tư, xây dựng đưa vào khai thác. Ở phía Bắc có một số hệ thống tiêu biểu, như: Núi Cốc, Cầu Sơn - Cấm Sơn, Bắc Nam Hà, Bắc Hưng Hải,… miền Trung, Tây Nguyên có công trình thủy lợi Cửa Đạt, Sông Mực, Kẻ Gỗ, Thạch Nham, Phú Ninh, Đồng Cam, Biển Hồ, Krong Pak Thượng, Buôn Joong… miền Nam có hệ thống thủy lợi Sông Ray, Dầu Tiếng - Phước Hoà, Đồng bằng sông Cửu Long có hệ thống thủy lợi Quản Lộ - Phụng Hiệp, Tứ Giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười, Ô môn-Xà no, Nam Măng Thít…. Giai đoạn gần đây, nhiều hệ thống công trình thủy lợi quy mô lớn đã và đang được đầu tư xây dựng từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ và vốn vay ODA, như: hồ chứa nước Bản Mồng, Sông Sào, Ngàn Trươi, Rào Đá, Đá Hàn, Thác Chuối, Tả Trạch, Định Bình, Vân Phong, Nước Trong, Tân Mỹ, Bản Lải; hệ thống thủy lợi Phan Rí - Phan Thiết, Phước Hòa, Easup Thượng,  Bắc Bến Tre, Cái Lớn – Cái Bé … đã từng bước góp phần phục vụ hiệu quả sản xuất, dân sinh, góp phần thay đổi nhiều vùng đất, từ khô cằn, thường xuyên bị ngập lũ, lụt, chua, phèn, nhiễm mặn trở thành những vùng đất trù phú, thuận lợi cho sản xuất, dân sinh.

          Pháp luật thủy lợi được hoàn thiện, Quốc hội khóa XIV thông qua Luật Thủy lợi ngày 19/6/2017 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2018 là văn bản pháp lý quan trọng để công tác thủy lợi phát triển, định hướng đổi mới thông qua:

Nhà nước tiếp tục đầu tư công trình thủy lợi quan trọng đặc biệt, công trình thủy lợi lớn, công trình ở vùng khó khăn; tổ chức cá nhân sử dụng sản phẩm dịch vụ thủy lợi đầu tư công trình thủy lợi nội đồng.

          Vận hành hồ chứa thủy điện, vận hành liên hồ chứa  phục vụ thủy lợi, trong đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương thực hiện việc điều tiết nước hồ chứa thủy điện phục vụ thủy lợi trong trường hợp hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn, lũ lớn. Đây là bước luật hóa các nội dung công việc đã được ngành thủy lợi tham mưu giúp Chính phủ trong thời gian hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn, đặc biệt giai đoạn Elnino 2014-2016, vụ Hè Thu  2019 và vụ Đông Xuân 2020 vừa qua.

          Chuyển đổi cơ chế “thủy lợi phí” sang “giá sản phẩm, dịch vụ thủy lợi” là nội dung có tính chất quan trọng đột phá. Thực hiện cơ chế giá sẽ làm thay đổi nhận thức của xã hội, từ thủy lợi “phục vụ” sang “dịch vụ”; gắn trách nhiệm của bên cung cấp dịch vụ thủy lợi và bên sử dụng dịch vụ thủy lợi; giúp người sử dụng dịch vụ hiểu rõ bản chất nước là hàng hóa, coi dịch vụ thủy lợi là chi phí đầu vào trong sản xuất, nâng cao ý thức sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả. Thực hiện cơ chế giá nhằm thu đúng, thu đủ từ các đối tượng sử dụng dịch vụ thủy lợi phi sản xuất nông nghiệp, như: cấp nước, phát điện, tiêu, thoát nước….

          Cơ quan chuyên môn thuộc lĩnh vực thủy lợi có thẩm quyền, trách nhiệm tham mưu, cấp phép xả nước thải vào công trình thủy lợi, tạo sự thống nhất, nâng cao chất lượng dịch vụ thủy lợi, bảo vệ chất lượng nước trong công trình thủy lợi.

          Đến nay, hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành Luật Thủy lợi đã được ban hành, đảm bảo thống nhất, đồng bộ, hiệu quả trong thi hành Luật; Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược Thủy lợi Việt Nam giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT đã phê duyệt gần 50 quy hoạch thủy lợi cho toàn bộ các lưu vực sông, hệ thống công trình thủy lợi trên phạm vi toàn quốc làm cơ sở đầu tư phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng thủy lợi quốc gia.

          Tổ chức quản lý nhà nước ở Trung ương đã thành lập Tổng cục Thủy lợi, Tổng cục Phòng, chống thiên tai, Cục quản lý xây dựng công trình… trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thủy lợi. Đến nay, tất cả các địa phương đã thành lập Chi cục Thuỷ lợi. Ở cấp huyện, thành lập Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoặc Phòng Kinh tế thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thuỷ lợi. Nhìn chung, các cơ quan quản lý nhà nước về thủy lợi đã thực hiện tốt chức năng tham mưu giúp việc cho các cấp lãnh đạo trong chỉ đạo, điều hành phục vụ phát triển kinh tế-xã hội.

          Hệ thống đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có các đơn vị chủ lực, như Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, Viện Quy hoạch Thủy lợi, Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam, Trường Đại học Thủy lợi... Công tác quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi, công trình cấp nước sinh họa nông thôn đang từng bước đi vào nền nếp, phục vụ tốt sản xuất, dân sinh. Hiện cả nước có khoảng 90 doanh nghiệp quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi, trong đó có 6 đơn vị trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý các hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải, Bắc Nam Hà, các hồ Dầu Tiếng, Cửa Đạt, Tả Trạch, Ngàn Trươi. Về quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi nhỏ và hệ thống thủy lợi nội đồng, cả nước khoảng 17.000 tổ chức thủy lợi cơ sở, bao gồm các loại hình chủ yếu là: (i) Hợp tác xã có làm dịch vụ thủy lợi (Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp và Hợp tác xã chuyên khâu thủy nông), (ii) Tổ chức hợp tác (Hội sử dụng nước, Tổ hợp tác, Tổ, Đội thủy nông); và (iii) Ban quản lý thủy nông. Quản lý cấp nước nông thôn có Trung tâm Quốc gia nước sạch và VSMTNT (trực thuộc Tổng cục Thủy lợi), các Trung tâm nước sạch và VSMTNT trực thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh; các tổ chức cộng đồng quản lý công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn.

          Hệ thống thủy lợi được phát triển trong suốt quá trình lịch sử đất nước, hiện nay có trên 900 hệ thống thuỷ lợi có quy mô diện tích phục vụ từ 200 ha trở lên; trong đó, có 122 hệ thống thủy lợi vừa và lớn với diện tích phục vụ trên 2.000 ha. Tổng số công trình thủy lợi là 86.202 công trình, gồm: 6.998 đập, hồ chứa thủy lợi có dung tích trữ từ 0,05 triệu m3 và có chiều cao đập từ 05 m trở lên; 19.416 trạm bơm; 27.754 cống; 15.975 đập dâng; 16.057 đập tạm; 291.013 km kênh mương các loại (82.744 km kênh mương đã được kiên cố); 25.960 km đê các loại; 16.573 công trình cấp nước tập trung cấp nước sinh hoạt nông thôn.

          Công trình thủy lợi cấp nước tưới cho khoảng 4,28 triệu ha/11,54 triệu ha (chiếm 36,5%) tổng diện tích đất canh tác nông nghiệp, trong đó, hằng năm tưới cho lúa khoảng 7,26 triệu ha/7,68 triệu ha gieo trồng; cho cây trồng cạn 0,22 triệu ha/0,37 triệu ha gieo trồng (đạt 59%); cấp nước cho nuôi trồng thủy sản 686.600 ha và khoảng 6 tỷ m3 nước cho sinh hoạt, công nghiệp; dần nâng mức bảo đảm phòng chống lũ, chống ngập cho các đô thị, khu dân cư, bảo vệ sản xuất. Ngoài ra, hệ thống thủy lợi cũng được khai thác kết hợp với phát điện, giao thông thủy, bảo vệ môi trường. Hệ thống thủy lợi giữ vai trò quan trọng, không thể thiếu trong việc phục vụ sản xuất nông nghiệp, góp phần quan trọng tăng diện tích gieo trồng, tăng thời vụ, cải tạo đất, đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu, đưa sản lượng nông nghiệp Việt Nam từ chỗ không đủ cung cấp nội địa (bị thiếu đói vào năm 1945) đến trở thành một trong nước xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp hàng đầu. Trên 88,5% số dân số nông thôn đã được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, (trong đó 51% sử dụng nước sạch đạt Quy chuẩn), với khoảng 44% dân số nông thôn được cấp nước từ công trình cấp nước tập trung, 56% dân số nông thôn sử dụng công trình cấp nước quy mô hộ gia đình.

          Qua 75 năm phát triển, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, đóng góp của nhân dân, công tác thủy lợi đã đạt được những kết quả to lớn, tuy nhiên, cũng bộc lộ những hạn chế, trước thách thức từ biến đổi khí hậu, yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội lớn, và nhiệm vụ bảo đảm an ninh nguồn nước quốc gia.

          Công tác quy hoạch thủy lợi chưa kịp đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội đất nước. Quản lý khai thác công trình thủy lợi, công trình hiệu quả chưa cao, hệ thống công trình chóng xuống cấp; nhiều hồ đập, kênh mương bị xuống cấp, mức bảo đảm xả lũ giảm, công trình cấp nước nông thôn hoạt động không hiệu quả, thiếu đồng bộ; nước trong hệ thống công trình có nguy cơ ô nhiễm ngày càng tăng. Tổ chức, bộ máy, đặc biệt lực lượng cán bộ quản lý khai thác ngày càng đông nhưng năng suất lao động không được cải thiện. Khoa học công nghệ còn chưa chuyên nghiệp, chưa có động lực để giải quyết tốt yêu cầu của thực tế.

         Trong sản xuất nông nghiệp mới chú ý đến cây lúa, còn cây trồng cạn và thủy sản là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đóng góp giá trị gia tăng cao cho sản xuất nông nghiệp lại chưa được quan tâm đúng mức. Công tác phòng chống thiên tai chưa quan tâm đúng mức đến quản lý rủi ro, giải pháp phòng chống thiên tai còn nặng về giải pháp công trình nhưng còn nhẹ về giải pháp phi công trình. Công tác dự báo, cảnh báo thiên tai còn đôi lúc chưa sát với thực tế, nhiệm vụ phòng chống, thiên tai chưa lồng ghép tốt vào các nhiệm vụ phát triển. Hoạt động dịch vụ nước còn mang tính bao cấp, chưa tạo được hoạt động theo hướng kinh tế thị trường, hạn chế sự tham gia và phát huy tính chủ động, sáng tạo của khu vực doanh nghiệp tư nhân, cộng đồng và nhân dân tham gia. Phát triển bền vững cấp nước nông thôn đòi hỏi sự tham gia của khu vực tư nhân, của cộng đồng và hộ gia đình nhưng chưa có chính sách thực sự tạo động lực…

          Một số vấn đề nổi cộm cần giải quyết như hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn, hạ thấp mực nước tại các lưu vực sông ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và dân sinh. Năm 2019, cùng thời điểm, khi khu vực Miền Trung xảy ra hạn hán nghiêm trọng, thì Miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và Tỉnh Thanh Hóa lũ lụt, ngập úng gây thiệt hại lớn. Năm 2020, mặn xâm nhập sâu, xuất hiện sớm và đạt mức kỷ lục tại Đồng bằng sông Cửu Long; các tháng đầu mùa cạn, dòng chảy về Đồng bằng sông Hồng suy giảm, trong khi lượng nước tích được tại các hồ chứa lớn thiếu hụt trầm trọng so với trung bình nhiều năm. Hạ thấp mực nước sông vùng Đồng bằng sông Hồng tác động bất lợi đến hoạt động lấy nước của hầu hết các hệ thống công trình thủy lợi lớn, làm gia tăng tình hình ô nhiễm nguồn nước, gián đoạn giao thông thủy; hàng năm Vụ Đông Xuân, các hồ chứa thủy điện phải điều tiết về hạ du khoảng 5 tỉ m3 nước.… Tại vùng ĐBSCL, đo đạc giám sát gần đây cho thấy nguồn nước ngọt về vùng đồng bằng có xu thế giảm, mặn đến sớm hơn, xâm nhập càng sâu vào các sông, sụt lún đất tại một số khu vực làm gia tăng hạn hán, thiếu nước, ô nhiễm nguồn nước trên diện rộng, cũng như ngập lụt, úng, đặc biệt tại các đô thị, vùng dân cư tập trung. Đầu tháng 4/2020, trên sông Cổ Chiên và sông Hậu ranh mặn 4 g/l xâm nhập sâu từ 42-43 km, sông Hàm Luông là 78km, sông Cửa Đại và Cửa Tiểu là 57km, sông Vàm Cỏ Đông là 86km, sông Vàm Cỏ Tây 127km, sông Cái Lớn 62km - diện tích thiệt hại tính đến tháng 4/2020 do hạn hán, xâm nhập mặn khoảng 43.000 ha lúa Đông Xuân, 1.700ha cây ăn trái và 94ha rau màu, khoảng 96.000 hộ dân thiếu nước sinh hoạt. Khu vực Tây Nguyên, Nam Trung bộ hàng năm xảy ra thiếu nước, giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 7/2020, tỉnh Bình Thuận thường xuyên có khoảng 27.000 hộ dân thiếu nước sinh hoạt.

          Tình hình mưa lũ cực đoan gây ngập lụt, lũ, úng… thường xuyên xảy ra, hàng năm trên toàn quốc có trên dưới 250.000 ha lúa và hoa màu bị thiệt hại do ngập úng, các vùng thường xuyên bị ngập úng là các địa phương có địa hình úng, trũng, khó tiêu thoát, như: Nam Định, Thái Bình, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Khánh Hòa… và ngay cả các vùng ven đô của các thành phố lớn, nơi đang diễn ra đô thị hóa nhanh chóng. Về thiệt hại nhà cửa, cơ sở hạ tầng do ngập úng, lũ cuốn và sạt lở cũng thường xuyên xảy ra, trong đó những năm mưa bão khốc liệt như năm 2017 có đến hơn 8.000 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi, gần 600.000 ngôi nhà bị sạt lở, năm 2020 sạt lở bờ sông diễn biến phức tạp tại vùng ĐBSCL… Thiệt hại do mưa lớn, lũ xảy ra lớn nhất ở khu vực miền Trung, các tỉnh miền núi. Sạt lở không chỉ diễn ra do mưa lớn, lũ lớn (như ở các vùng miền núi hay khu vực miền Trung) mà còn do hoạt động khai thác, phát triển kinh tế xã hội, do các hoạt động điều tiết, thay đổi chế độ dòng chảy… như ở hạ lưu các hồ thủy điện, thủy lợi lớn miền Bắc, miền Trung, nhất là các khu vực có độ dốc lớn, hay ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Hoạt động khai thác nguồn nước, phát triển kinh tế xã hội cũng làm cho tính chất đối tượng bề mặt tiêu thoát thay đổi dẫn tới hệ số tiêu cho các vùng bị thay đổi so với thiết kế ban đầu, cùng với đó do sự thay đổi cực đoan của khí hậu dẫn tới gia tăng hệ số tiêu thực tế nên khi công trình đi vào phục vụ thường không đáp ứng được nhu cầu cần tiêu khu dân cư, đô thị cũng như diện tích canh tác nông nghiệp. Quá trình phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng cũng làm ngăn cản hướng tiêu, khẩu độ tiêu thoát lũ, úng ngập là những thách thức lớn đòi hỏi cần nghiên cứu, có giải pháp ứng phó phù hợp.

          Phát triển dân số và quá trình đô thị hóa trong thời gian qua đã và đang gây sức ép đến môi trường nước trong các hệ thống công trình thủy lợi, đặc biệt tại các vùng hạ du lưu vực sông Hồng, sông Đồng Nai…. Mức độ ô nhiễm nguồn nước trong các kênh, sông, hồ ở các thành phố lớn, các khu tập trung dân cư rất nghiêm trọng. Trong tổng lượng nước thải phát sinh ra các lưu vực sông, lượng nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất. Hiện chỉ có 12,5% nước thải sinh hoạt từ các đô thị loại IV trở lên được thu gom, xử lý đạt tiêu chuẩn quy định. Nguồn nước này cũng là đầu vào của hệ thống công trình thủy lợi là nguyên nhân khiến cho nước trong hệ thống không thể quay vòng, tái sử dụng, ô nhiễm nguồn nước trầm trọng diễn ra tại các hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải, Bắc Đuống, Bắc Nam hà, Sông Nhuệ. Thống kê của ngành Y tế cho thấy bệnh tiêu chảy liên quan tới ô nhiễm môi trường nước vẫn đứng đầu danh sách về tổng số ca bệnh trên toàn quốc. Ô nhiễm môi trường nước cũng gây những thiệt hại kinh tế không nhỏ trong hoạt động sản xuất nông nghiệp và khai thác, nuôi trồng thủy sản. Gia tăng nhu cầu sử dụng nguồn nước, cùng vấn đề ô nhiễm nguồn nước làm phát sinh các mâu thuẫn, xung đột trong xã hội.

          Phát triển thủy lợi đang đứng trước thách thức lớn từ biến đổi khí hậu với thực tiễn diễn biến lũ, ngập lụt, úng, hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn... ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và dân sinh; khoảng 70% dân số có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi các loại hình thiên tai, ô nhiễm liên quan đến nước. Năm 2019, cùng thời điểm, khi khu vực Nam Trung bộ xảy ra hạn hán nghiêm trọng, thì Miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Bắc Trung bộ lũ lụt, ngập úng gây thiệt hại lớn. Năm 2020, diễn biến bất thường của hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn xảy ra tại vùng ĐBSCL, ĐBSH, Nam Trung bộ và Tây Nguyên.

          Việc các quốc gia ở thượng nguồn các sông quốc tế triển khai đầu tư xây dựng, hoặc có kế hoạch xây dựng các hồ thủy điện, công trình lấy nước, công trình chuyển nước liên lưu vực sông, dự báo sẽ gây hậu quả nghiêm trọng đến vùng hạ du tại Việt Nam, đặc biệt là vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng. Phát triển thủy điện trên dòng chính sông Mê Công, gia tăng sử dụng nước, chuyển nước lưu vực sông tại các quốc gia thượng nguồn sẽ tác động lớn đến vùng ĐBSCL nước ta, theo nghiên cứu của Hội đồng Ủy hội sông Mê Công Quốc tế năm 2017 khi các công trình thủy điện hoàn thành xây dựng, đi vào vận hành sẽ tác động bất lợi vô cùng lớn, không thể đảo ngược, đến chế độ dòng chảy, phù sa, chất dinh dưỡng, môi trường, sinh kế người dân vùng ĐBSCL của nước ta - dự kiến lượng phù sa về ĐBSCL có thể giảm 97% ở thời điểm năm 2040.

          Hoạt động phát triển, đô thị hóa, công nghiệp hóa tạo sức ép lớn lên công tác thủy lợi, qua tác động làm suy giảm nguồn nước, lấn chiếm không gian cho nước, cản trở các tuyến thoát nước, trong khi, công trình thủy lợi được xây dựng từ lâu đã xuống cấp. Nhiệm vụ trước đây công trình thủy lợi được thiết kế để phục vụ sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, chưa đáp ứng được yêu cầu phục vụ nền sản xuất đa dạng và hiện đại, hoạt động phát triển kinh tế của đất nước giai đoạn vừa qua. Hệ thống thủy lợi chủ yếu tập trung cấp, tiêu nước cho cây lúa; phần lớn diện tích canh tác cây trồng cạn chưa được tưới, hoặc tưới bằng các biện pháp lạc hậu, lãng phí nước; diện tích cây trồng áp dụng tưới tiên tiến, tiết kiệm nước còn hạn chế. Bên cạnh đó, chất lượng nước trong một số hệ thống công trình không bảo đảm để cấp cho sản xuất nông nghiệp sạch, an toàn; hạ tầng thủy lợi chưa đáp ứng được yêu cầu phục vụ nuôi trồng thủy sản. Công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn hoạt động không hiệu quả còn chiếm tỉ lệ lớn; tại nhiều vùng nông thôn chất lượng nước cấp cho sinh hoạt nông thôn chưa đạt quy chuẩn nước sạch. Hoạt động phát triển kinh tế-xã hội đất nước, đô thị hóa, công nghiệp hóa đã tạo sức ép lớn lên công tác thủy lợi, qua tác động làm suy giảm nguồn nước, lấn chiếm không gian cho nước, cản trở các tuyến thoát nước - trong khi nhiều công trình thủy lợi được xây dựng từ lâu với năng lực thiết kế thoát nước mưa, nước lũ thấp.

         Tác động từ biến đổi khí hậu, nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, cùng với hạn chế, tồn tại trong công tác thủy lợi là thách thức lớn đối với an ninh nguồn nước quốc gia. Tổng lượng nước hiện đã khai thác, sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam hàng năm khoảng 100 tỷ m3/năm, dự báo đến năm 2030 sẽ cần khoảng 111 tỷ m3/năm, trong đó tỷ trọng nhu cầu nước nông nghiệp chiếm khoảng 83-85%, sinh hoạt 2-3%, công nghiệp 5-6%, môi trường 8-9%.

          Với mục tiêu phát triển thủy lợi theo hướng hiện đại, linh hoạt, bảo đảm cấp nước cho dân sinh, các ngành kinh tế, góp phần phục vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững, góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước quốc gia. Đồng thời, chủ động phòng, chống và giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra, ứng phó với trường hợp bất lợi nhất, nâng cao mức bảo đảm tiêu thoát nước, phòng chống lũ, ngập lụt, hạn hán, xâm nhập mặn, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển thượng nguồn các lưu vực sông; góp phần xây dựng một xã hội an toàn trước thiên tai. Trong thời gian tới, cần tập trung triển khai vào thực tiễn các nội dung của Luật Thủy lợi, Chiến lược Thủy lợi Việt Nam giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó, chú trọng các nhiệm vụ:

          Trước tiên, triển khai lập quy hoạch thủy lợi phạm vi quốc gia, các lưu vực sông, các hệ thống công trình thủy lợi làm cơ sở đầu tư công trình thủy lợi trên phạm vi toàn quốc nhằm góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước quốc gia, trong đó tập trung xây dựng tầm nhìn, giải pháp thủy lợi phù hợp cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long, vùng Đồng bằng sông Hồng; giải pháp chuyển nước lớn; giải pháp cho diễn biến hạ thấp lòng dẫn đáy sông, hạ thấp mực nước tại vùng hạ lưu các lưu vực sông; giải pháp cải thiện chất lượng nước trong công trình thủy lợi.

          Thứ hai, tiếp tục đầu tư công trình lớn vùng Tây Nguyên, Miền Trung, ĐBSCL; hoàn thiện các hệ thống thủy lợi; nghiên cứu đề xuất giải pháp chuyển nước, kết nối nguồn nước phạm vi liên vùng; nghiên cứu hình thành mạng lưới chuyển nước quốc gia; đầu tư công trình điều tiết, công trình kiểm soát lũ, nạo vét các trục kênh để chủ động trữ nước, công trình chuyển nước ngọt ra vùng ven biển đáp ứng yêu cầu phục vụ phát triển kinh tế, xã hội, cấp nước cho các ngành kinh tế,đặc biệt tại vùng ĐBSCL, ĐBSH.

          Thứ ba, tập trung ứng phó với thiên tai tại khu vực Miền Trung, Tây Nguyên, miền núi phía Bắc và ĐBSCL, đặc biệt đối với hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn, ngập lũ, ngập lụt, sạt lở bờ sông, bờ biển, sạt lở đất…

          Thứ tư, thúc đẩy chuyển từ cơ chế “thủy lợi phí” sang “giá sản phẩm, dịch vụ thủy lợi”, phân rõ vai trò chủ quản lý và đơn vị khai thác công trình thủy lợi, đổi mới phương thức hoạt động quản lý, khai thác công trình thủy lợi, chuyển mạnh sang đặt hàng, đấu thầu quản lý, khai thác công trình thủy lợi.

          Thứ năm, quan tâm đặc biệt đến an toàn đập, an toàn công trình thủy lợi, đến năm 2025 cần sửa chữa, nâng cấp khoảng 1200 hồ chứa nước xung yếu; đồng thời nâng cao năng lực dự báo (mưa, lũ) phục vụ vận hành hồ chứa theo thời gian thực;

          Thứ sáu, triển khai đồng bộ các giải pháp để thúc đẩy khu vực tư nhân đầu tư vào nước sạch nông thôn; huy động cộng đồng tham gia xây dựng, quản lý hệ thống cấp nước quy mô nhỏ, hoạt động cấp nước hộ gia đình, đặc biệt cấp nước sạch ở vùng sâu, vùng xa, biên giới; rà soát cơ chế chính sách, áp dụng công nghệ mới nâng cao chất lượng, tính bền vững trong cấp nước sinh hoạt quy mô hộ gia đình – lồng ghép nhiệm vụ cấp nước sinh hoạt nông thôn vào xây dựng nông thôn mới.

          Nhìn lại chặng đường đã qua, từ khi thành lập ngành Thuỷ lợi, qua các giai đoạn tổ chức có sự thay đổi, tên gọi có khác nhau nhưng bất kỳ ở đâu và trong thời gian nào, các nhiệm vụ thuỷ lợi vẫn luôn được thực hiện với quyết tâm cao và đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phục vụ phát triển nông nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, cải thiện môi trường. Thủy lợi không những có đóng góp quan trọng bảo đảm an ninh nguồn nước, an ninh lương thực quốc gia mà còn đưa nước ta trở thành nước xuất khẩu gạo và nhiều loại nông sản có vị thế cao trên thị trường quốc tế. Những thành tựu này có được trước hết là nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự đóng góp của nhân dân và sự phấn đấu, cống hiến không mệt mỏi của các thế hệ cán bộ, công nhân viên ngành Thuỷ lợi từ ngày thành lập đến nay. Chúng ta vui mừng trước sự trưởng thành và tham gia đóng góp ngày càng quan trọng của ngành Thủy lợi vào thành tựu chung của nền nông nghiệp và sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Tấm Huân chương Sao Vàng, phần thưởng cao quý mà Đảng, Nhà nước trao tặng cho ngành Thủy lợi năm 1995 nhân kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Ngành là sự đánh giá và ghi nhận công lao to lớn của Ngành Thủy lợi.

          Năm 2020, đất nước đang khẩn trương thực hiện nhiệm vụ tái cơ cấu nền kinh tế, tái cơ cấu nông nghiệp trong bối cảnh tác động của biến đổi khí hậu, của hoạt động phát triển ở thượng nguồn các lưu vực sông quốc tế ngày càng phức tạp. Yêu cầu, nhiệm vụ của công tác thủy lợi ngày càng lớn, đòi hỏi cần phải tập trung nỗ lực, nâng cao tính chủ động, sáng tạo, đổi mới tư duy trong công tác quản lý. Cùng với sự kiện Quốc hội ban hành Luật Thủy lợi, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Thủy lợi Việt Nam giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đội ngũ cán bộ thủy lợi sẽ tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp của ngành, hoàn thành tốt nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao phó. 

 

GS.TS Nguyễn Văn Tỉnh

Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy lợi

 

       2/ Thủy lợi Gia Lai 44 năm hình thành và phát triển

        Đối với tỉnh Gia Lai-Từ sau ngày 17/3/1975, ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng 30/4/1975 và cụ thể hơn là từ sau Nghị quyết đại hội đảng IV năm 1976 ngành thủy lợi Gia Lai-Kon Tum chính thức được thành lập, cho đến nay trải qua bao nhiêu năm xây dựng và trưởng thành, ngành thủy lợi từ điểm xuất phát ban đầu toàn tỉnh chưa hề có công trình thủy lợi, sản xuất của nhân dân phụ thuộc vào nước trời 1 vụ mùa mưa, những năm 1976-1991 ngành thủy lợi Gia Lai-Kon Tum đã xây dựng nên những công trình ban đầu ở Gia Lai như: Hồ Ia H’Rung, Hồ Hoàng Ân, Hồ Ia Glai, Hồ Biển Hồ, Hồ Phú Cần, đập dâng Ia Peet, đập Uar, đập Chư Jôr,..ở Kon Tum: Hồ Đăk Uy, Hồ Đak Rơn Ga, Hồ Đăk Sa Men, Đập Đăk Cấm, ,…sau ngày chia tỉnh 1991 đến nay ở địa bàn Gia Lai ngành đã tạo ra hệ thống thủy lợi đầy đủ với 340 công trình thủy lợi lớn nhỏ (gồm 112 hồ chứa, 188 đập dâng, 40 trạm bơm điện) với tổng năng lực tưới theo thiết kế 54.684ha đảm bảo tưới đủ nước cho 48.001ha (trong đó có 26.620ha lúa, 2.785ha màu, 18.596ha cây công nghiệp).     Riêng công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Gia Lai quản lý và khai thác 38 công trình thuỷ lợi loại vừa và lớn (gồm 12 hồ chứa, 22 đập dâng), 4 trạm bơm điện với tổng năng lực thiết kế là 31.472 ha, đảm bảo phục vụ tưới đủ nước cho trên 29.000 ha diện tích lúa, màu, cây công nghiệp, ao nuôi thuỷ sản trên địa bàn 11 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Gia Lai.

          Nhờ có thủy lợi, thủy nông, thủy điện và sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, từ một tỉnh nghèo nàn, lạc hậu với kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp, du canh du cư, Gia Lai đã chuyển sang nền kinh tế hàng hóa phát triển đa dạng, có tốc độ tăng trưởng cao và cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân liên tục.… kết cấu hạ tầng thiết yếu cho phát triển kinh tế-xã hội từng bước được đầu tư cơ bản; bộ mặt đô thị, nông thôn có nhiều khởi sắc. Gia Lai đang trên đà phát triển trở thành vùng kinh tế động lực trong khu vực Tam giác phát triển Việt Nam-Lào-Campuchia.

          Ngoài ra trong suốt chiều dài  trưởng thành và phát triển ngành cũng đã đào tạo cho tỉnh nhà những cán bộ nòng cốt của đảng và nhà nước tiêu biểu như nguyên chủ tịch UBND tỉnh Đào Quang Phổ, Phó bí thư-Chủ tịch Hội đồng nhân dân Phạm Đình Thu, UV Thường vụ Tỉnh ủy-Chủ nhiệm UBKT tỉnh đảng bộ-Ksor Keng. Giám đốc Ty thủy lợi – Huỳnh Lầu, Giám đốc Sở thủy Lợi Phạm Xuất,..v.v….

          Ngành Thủy lợi tỉnh Gia Lai có được những thành quả to lớn trên trước hết là nhờ sự quan tâm chỉ đạo và đầu tư của Đảng, Nhà nước, Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Sở Thủy lợi, Sở Nông nghiệp và PTNT, sự phối hợp giúp đỡ của các ngành liên quan trong tỉnh và toàn thể nhân dân, hộ dùng nước thủy lợi trong đó có các thế hệ cán bộ công nhân viên qua các thời kỳ trong suốt những năm qua. Ẩn sau vóc dáng các công trình thủy lợi mà chúng ta nhìn thấy hôm nay, ngoài sự quan tâm đầu tư, giúp đỡ của các ngành, các cấp từ địa phương đến Trung ương, còn có hình ảnh, dáng dấp, máu xương của những đồng nghiệp đã ngã xuống, còn có mồ hôi, nước mắt của đồng nghiệp đang có mặt hôm nay và chúng ta mãi mãi không quên những bước chân vượt đại ngàn, hố thẳm, dốc sâu, những lần nằm lán trời mưa bị sốt rừng, rét núi,…những cuộc dò tìm, tháo gỡ bom mìn, những tàn tích chiến tranh để lại trên mảnh đất Tây Nguyên này, nơi công tình thủy lợi được xây dựng nên cũng là nơi đi qua của bao lớp người khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng công trình. Để rồi tụ hội sự quan tâm, đầu tư, giúp đỡ, sự hy sinh lớn lao của lớp người đi trước, những công trình thủy lợi lần lượt được ra đời. Thủy lợi dễ nhìn thấy nhất đó là Nước từ thượng nguồn trong xanh theo dòng kênh chảy về những vùng đất đỏ bazan, tiếp thêm sinh lực mới cho cây trồng phát triển, đã và đang làm nên một Tây Nguyên giàu đẹp như hôm nay và mai sau.

          Xin phép được thay mặt ngành Thuỷ lợi, Ban Liên lạc Hội đồng nghiệp thủy lợi Gia Lai bày tỏ lòng biết ơn đối với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước; cảm ơn sự phối hợp giúp đỡ của các Ty, Sở, Ngành liên quan, các địa phương, các cơ quan truyền thông, báo chí đã hết lòng giúp đỡ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển của Thuỷ lợi Gia Lai; cảm ơn các đơn vị khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng công trình đã góp phần cho sự ra đời của các công trình thủy lợi. Và đặc biệt là cảm ơn sự cống hiến của những người đã và đang làm thủy lợi.

          Xin được gửi tới thế hệ các cụ, các bác Hưu trí Thuỷ lợi, những người đã có những cống hiến to lớn cho sự nghiệp thuỷ lợi trong những thời kỳ khó khăn của đất nước và tỉnh nhà vừa qua. Chúc các cụ, các bác, các đồng chí luôn mạnh khoẻ và tiếp tục có những đóng góp xây dựng ngành và bồi dưỡng, truyền đạt cho những thế hệ sau những kiến thức, kinh nghiệm quý báu để hoàn thành các nhiệm vụ của Ngành trong thời gian tới. Chúc toàn thể cán bộ công nhân viên chức-người lao động đang hoạt động trong các lĩnh vực thuỷ lợi trên địa bàn tỉnh Gia Lai phấn đấu không ngừng, vươn lên giành những thành tựu mới.

                                  Ban Liên Lạc Hội đồng nghiệp thủy lợi Gia Lai






































































































































Chữ Hán giản thể


Chuyện phiếm về chữ Hán giản thể...Báo trước điềm gì ???

Nguồn:  Đại kỷ nguyên tiếng Việt, không dẫn link được nên copy:

Có người cho rằng, những chữ Hán giản thể giống như là một điềm báo chẳng lành. Vì sao lại nói như vậy? Mời bạn xem tiếp sẽ rõ.

Văn hóa Á Đông không hề đơn giản như bề mặt mà mọi người nhìn thấy. Từng nét lễ nghi, từng bộ trang phục, từng nét chữ đều ẩn chứa những nội hàm vô cùng sâu sắc, và liên hệ mật thiết với từng hơi thở trong cuộc sống của chúng ta.

Có một nét văn hóa mà không thể không nhắc đến, chính là nội hàm thâm sâu của loại chữ viết tượng hình – Chữ Hán. Tuy nhiên, sau khi chữ Hán bị giản lược, thì những nội hàm ấy cũng bị mất đi, thay vào đó là sự lệch lạc, thậm chí biến dị.

Có một cư dân mạng đã liệt kê ra hàng loạt các chữ Hán giản thể. Tác giả đối chiếu những chữ Hán giản thể này với các hiện tượng tai nghe mắt thấy trong cuộc sống hiện đại ngày nay. Và điều nhìn thấy được khiến người ta không khỏi phải giật mình kinh ngạc!

1. Chữ “Thân” chính thể (người thân)

Chữ “Thân” giản thể , mất chữ “Kiến” 

Thân bất kiến: Người thân không gặp được nhau. Một năm chẳng biết cha mẹ, con cái, người thân được đoàn tụ bao nhiêu lần? Nơi nào cũng thấy lưu lại những cuộc tình chớp nhoáng. Các quý ông, quý bà khinh thường đạo lý, lang chạ khắp nơi. Điều này khiến những người cùng huyết thống cũng chẳng được vui vầy bên nhau.

2. Chữ “Sản” chính thể (sinh sản)

Chữ “Sản” giản thể , mất chữ “Sinh”

Sản bất Sinh: Đậu thai mà không sinh. Ngày nay các phòng khám tư, phẫu thuật phá thai nơi nào cũng thấy. Ruộng màu thì bị bỏ hoang, mọi người đổ dồn về các khu công nghiệp và thành phố lớn, không cần ngũ cốc chỉ lo kiếm tiền.

3. Chữ “Hương” chính thể (Quê hương)

Chữ “Hương” giản thể , mất chữ “Lang” – những người trẻ

Hương vô Lang: Quê nhà không có người trẻ. Ai nấy đều đổ về thành phố lập nghiệp mưu sinh. Trong thôn làng khó có thể bắt gặp những khuôn mặt trẻ trung. Khắp cả ngôi làng chỉ thấy những người già yếu, trẻ con và người tàn tật. Đây cũng chính là một cảnh tượng thường thấy nhất tại Trung Quốc ngày nay.

4. Chữ “Ái” chính thể (Yêu)

Chữ “Ái” giản thể , mất chữ “Tâm” – trái tim

Ái vô tâm: Yêu không xuất phát từ trái tim. Ngày nay thử hỏi có mấy người còn giữ tấm chân tình son sắt, hay là chỉ quen chạy theo thời thế xô bồ. Đại gia cặp với chân dài. Kẻ ham tiền, người háo sắc, hễ có lợi là trao thân. Tình một đêm, tình sét đánh, tình chớp nhoáng khiến nhà nghỉ mọc lên nhan nhản khắp nơi. Quả là tình yêu không còn sự kết nối thiêng liêng và trách nhiệm suốt cuộc đời như văn hóa Thần truyền xưa kia.

5. Chữ “Miến” chính thể (Mỳ)

Chữ “Miến” giản thể , mất “bộ Mạch” – Lúa mỳ

Miến không Mạch: Bột mỳ không làm từ lúa mạch, thì làm từ thứ gì, bạn thử đoán xem? Bột mỳ không có mùi lúa mạch, kỳ thực đã trộn lẫn phoóc môn. Đây cũng là tình trạng làm giả thực phẩm, gạo giả… phổ biến trong xã hội ngày nay

Bột mì giả. Ảnh dẫn theo phapluatplus.vn

6. Chữ “Tiến” chính thể (Tiến tới)

Chữ “Tiến” giản thể , mất chữ “Giai” – Tốt

Tiến bất giai: Bước tiếp sẽ không may mắn, mà thành con ếch ngồi trong đáy giếng (Chữ Tỉnh : cái giếng). Sự nghiệp cả đời truy cầu chỉ như mò trăng đáy nước, tiền tài cũng như hái hoa trong gương.

7. Chữ “Ứng” chính thể (Hồi ứng)

Chữ “Ứng” giản thể , mất chữ “Tâm”

Ứng vô tâm. Lời nói gió bay, dẫu hứa hẹn cũng khó thành hiện thật, nói lời lật lọng mà không biết ngượng ngùng. Bởi vậy, trong xã hội ngày nay ‘thành tín’ ngày càng mai một, dường như đã trở thành một thứ gì đó xa xỉ không với tới. Đây cũng là tình trạng xuống dốc, đạo đức suy đồi trong xã hội ngày nay.

Người xưa rất xem trọng chữ Tín, coi lời thề hẹn nặng tựa núi Thái Sơn, lời nói ra là đã được Trời Đất làm chứng, ắt phải thực hiện. Tuy nhiên, nhiều người ngày nay vốn ảnh hưởng bởi học thuyết vô Thần, lừa gạt lật lọng, chỉ hòng đạt được lợi ích cho mình. Thật chẳng đáng buồn lắm sao!

8. Chữ “Thính” chính thể (Nghe)

Chữ “Thính” giản thể , mất chữ “Nhĩ” – tai

Chữ “Thính” (lắng nghe) ở dạng chính thể gồm bộ “Nhĩ” (tai), bộ “Vương ” (vua), chữ “Thập ” (mười), chữ “Mục” (mắt), chữ “Nhất” và chữ “Tâm ”.  Nếu ghép các bộ này vào nhau chúng ta sẽ hiểu được hàm ý mà ông cha ta muốn gửi gắm. Khi lắng nghe một ai đó, chúng ta phải khiến người ấy cảm thấy mình quan trọng như một vị vua (chữ Vương), và lắng nghe bằng đôi tai của mình (bộ Nhĩ). Đồng thời chúng ta còn phải dồn mọi ánh nhìn và sự chú ý tới họ (chữ Thập, chữ Mục). Nhưng như vậy vẫn chưa đủ, điều quan trọng nhất là phải dành trọn trái tim để cảm nhận những điều họ nói (chữ Nhất, Tâm). Chỉ có như vậy chúng ta mới có thể lắng nghe trọn vẹn những thông điệp mà họ muốn truyền tải, mới biết cách thấu hiểu và trân trọng người khác.

Chữ “Thính” giản thể là Thính thiếu Nhĩ: Nghe mà thiếu mất tai. Nó chỉ gồm bộ “Khẩu” (cái miệng) và bộ “Cân” (cái rìu). Đại ý là không phải dùng tai, dùng mắt, hay dùng tâm để lắng nghe như văn hóa truyền thống, mà là nghe bằng miệng, bằng những lời búa rìu sắc nhọn.

Khi chữ “Thính” giản thể. Ảnh dẫn theo twitter.com

9. Chữ “Ưu” chính thể (Ưu tú)

Chữ “Ưu” giản thể , mất chữ “Ưu” – ưu lo

Ưu cần phải Ưu lo: Muốn thành người ưu tú, xuất chúng cần phải biết lo lắng cho đại cục, cho người khác. Bậc hiền tài như vậy trong thiên hạ là khó cầu nhất. Người tài thời nay nghĩ đến vinh hoa, phú quý cho riêng mình hay lợi ích cho muôn dân? Những người nhiều tài lắm tật, e rằng lợi ít hại nhiều. Kiểu người này chỉ khiến con người càng thêm lo sầu.

10. Chữ “Thái” chính thể (Hái)

Chữ Thái giản thể , thiếu bộ Thủ – Cái Tay

Thái vô Thủ: Muốn hưởng mà không muốn động tay ra hái. Ngồi mát ăn bát vàng người người muốn, đục nước béo cò kẻ kẻ cầu. Đây cũng có thể nói là một thực trạng dễ thấy trong xã hội ngày nay. Những cậu ấm cô chiêu, những thế hệ trẻ chỉ biết ‘cúi đầu’ chờ đợi từ sự sắp đặt của cha mẹ mình, chỉ mong cầu hưởng thụ cuộc sống giàu sang mà không biết ra tay làm việc.

11. Chữ “Địch” chính thể (Kẻ địch)

Chữ “Địch” giản thể , thêm bộ “thiệt” -  Cái lưỡi

Tấc lưỡi là kẻ thù rất đáng sợ. Vậy nên mọi người khi nói năng, diễn thuyết phải chú ý. Bách gia tranh minh là cái bẫy. Theo ta thì sống, chống ta thì chết, muốn sống phải nói cùng khẩu khí với ta. Điều này có thể dễ dàng nhìn thấy trong thời Đại cách mạng Văn hóa tại Trung Quốc. Chính phủ trưng cầu ý kiến của giới trí thức, để họ tự do biểu đạt lý tưởng của mình. Sau đó dùng chính những lý luận đó khép họ vào tội phản quốc. Có người thậm chí vì vậy mà mất mạng.

12. Chữ “Bút” chính thể

Chữ “Bút” giản thể

Ngày nay bút không còn thẳng. Con người thường dùng bút cong mà viết sử nên gọi là bẻ cong sử sách. Bút ngay sử thẳng xưa đã có, tới nay sóng gió đã cuốn trôi.

13. Chữ “Tân” chính thể (Quan khách)

Chữ “Tân” giản thể , thiếu chữ Bối   Bảo bối, thêm chữ “Binh” – Binh lính

Xưa kia khách quý đến nhà mang theo quà quý (- Bảo bối). Chủ nhà bày biện yến tiệc, khoản đãi với tấm lòng thành. Ngày nay binh lính tới nhà (Bộ “Miên” chỉ mái nhà), không chỉ thiếu quà quý, mà còn có binh đao. Từ xưa đã gọi chuyện này là loạn cõi thế gian.

14. Chữ “Miếu” chính thể (Chùa chiền)

Chữ “Miếu” giản thể , thiếu chữ “Triều” – nghi thức bái lạy

Miếu bất Triều: Trong miếu mà không thấy thật tâm tiến hành những nghi lễ bái lạy Thần Phật. Ngày xưa chùa chiền là nơi con người ăn năn sám hối, bởi con người kính cẩn bái lạy Thần Phật, mong tìm được sự thanh thản trong tâm.

Ngày nay, chùa chiền như chiếc áo khoác của những kẻ vô Thần, trở thành thắng cảnh du lịch, thành nơi kiếm chác, trao đổi của kẻ phàm tục. Người mà quỷ thần cũng không sợ, ắt sẽ to gan dám làm càn.

15. Chữ “Võng” chính thể (Lưới)

Chữ “Võng” giản thể , mất bộ Mịch – sợi cước

Lưới không có cước, lưới vô dụng, cá lọt lưới trước mắt như thể trêu ngươi. Pháp luật cũng như một chiếc lưới. Ngày xưa Thiên tử cũng phải chịu tội như thứ dân. Ngày nay quyền thế thay pháp luật một cách vô nguyên tắc, thậm chí có thể lợi dụng quyền thế trong tay mà một tay che cả bầu trời.

16. Chữ “Hậu” chính thể (Đời sau)

Chữ “Hậu” giản thể , thêm chữ nhất , bộ khẩu

Đời sau chỉ được sinh một con, về già cha mẹ ốm đau bệnh tật khó lòng nhờ vả. ‘Kế hoạch hóa gia đình là quốc sách, sinh quá một con gia đình nghiêng ngả’ – Đây là chính sách một con thường thấy ở xã hội Trung Quốc. Bao nhiêu hệ lụy của xã hội, quả thực cũng khiến lòng người âu lo.

Ở trên chỉ là một số ít ỏi được đưa ra, nhưng cũng đủ để biết rằng cải cách chữ Hán, chữ Hán sau khi bị giản lược thì những nội hàm tinh túy của văn hóa truyền thống cũng bị mất đi, thay vào đó là sự sai lệch, biến dị. Mà điều đáng tiếc hơn cả là, sự suy đồi và trượt dốc trong xã hội, dường như cũng đã và đang diễn ra đúng theo từng sự lệch lạc trong từng chữ Hán giản thể đó.

Thứ Năm, 17 tháng 12, 2020

Phim Trên từng cây số


KÝ ỨC XEM PHIM TRÊN TỪNG CÂY SỐ (P1)

Trần Minh Hải, tự truyện

Vừa qua Tôi đi xem "Tuần phim Nga" ở NCC, thật ra bây giờ xem lại thấy phim hồi ấy mình cho là hay, xem lại thấy tiết tấu chậm rãi, ngô nghê lắm, không hấp dẫn như những phim bây giờ đâu. Chẳng qua xem để nhớ về quá khứ, bật ra phim xưa minh xem ở hoàn cảnh nào, bồi hồi nhớ thời đói khát thèm được xem phim

Hôm qua admin trang "Lặng lẽ nước Nga" đăng dự định. Nhoằng cái trên 200 lượt bình luận, ủng hộ đăng lại sê ri phim. Tôi thích xem lại phim này lắm. “Trên từng cây số” là một trong những bộ phim tôi không thể quên đến tận bây giờ. Nếu Tôi được chọn một bộ phim điển hình cho phim trên truyền hình được yêu thích của những năm 197x (khi tivi phát 3 tối/tuần) chắc chắn đó là phim này.

Phim Trên từng cây số là bộ phim của Đài truyền hình Bun ga ri (1968-1971) rất hay một thời mê hoặc khán giả Việt Nam. Sao mà háo hức nghe nhạc đầu phim, có câu "chúng tôi có mặt trên từng cây số, từ đây đến tận cùng của Tổ Quốc..." vang vọng và hình ảnh người lính bị bắn đổ người chồm lên trên cột mốc cây số, đạn nổ chát chúa. Tiềng nhạc trầm hùng thôi thúc, giục ai đến muộn rảo bước chân...Như là mối tình đầu với tivi, chẳng bao giờ quên đâu.

Chợt nhớ : Năm 1975 Đài THVN phát hình 3 tối thứ 4,7 và Chủ nhật. Dễ biết được điểm xem tivi hồi ấy từ xa, nhờ cột sắt cao ngất ngưởng có ăng ten chĩa về phía Giảng võ. Biết mỗi điểm có vài chục cho đến hàng trăm người háo hức nhòm cái tivi màn hình lồi, phát hình trắng đen, hình ảnh muỗi thỉnh thoảng có xọc dưa loằng ngoằng do điện yếu.

Bộ phim này 2 phần 26 tập. 13 tập đầu tiên ngắn 60ph, chủ yếu quá trình cách mạng, không hay và dài thời lượng như của 13 tập sau (phản ánh chống thế lực phản động, trải dài nam mỹ, tây ban nha và ở châu âu, hấp dẫn, kết cấu chặt) Phần đầu có các nhan đề là

1-Chiếc xà lan

2-Hai cây đàn Ghi ta

3-Chiếc đồng hồ chuông

4-Ba dấu chấm than

5-Những đoàn tàu ngược chiều

6-8 giờ kém 10

7-Lối đi của con lừa

8-Cô gái Di gan

9-Trên từng cây số

10-Lễ Phục sinh

11-Người chết sống lại

12-Cây Thập tự Hiệp sỹ

13-Ngày đầu tiên...

Tôi xem phim này lần đầu tiên là tập 9 "Trên từng cây số" tại nông trường bộ Tam đảo khi mặc áo lính, ấn tượng là nhạc đầu phim hay õ. Cái tivi 19 ins hình muỗi. Tôi xem phim này chiếu rạp, khi đã ra quân, bởi áp phích phim vẽ quá đẹp tại rạp Kinh đô chiếu 2 tập liền   "Sà lan-Hai chiếc đàn ghi ta". Hồi ấy hiếm phim, thấy "Màn ảnh Thủ đô giới thiệu" (tập sách mỏng của bác Nguyễn Văn Mùi) các rạp lần lượt chiếu các tập phim seri trên. Dạo qua các sạp bán báo, ngoài ảnh Ái Vân, Trà Giang bôi màu má môi (Bộ đội hay mua nhét vào trong ví thập kỷ 1970-1972. Trong rừng đổi được gà của bà con dân tộc) còn có anh chàng Đâyanop kẻng trai hết chỗ nói (Các thiếu nữ HN thời 197x-198x trong ví ko thể thiếu ảnh Đây a nốp mặc quân phục Đức)

KÝ ỨC XEM PHIM TRÊN TỪNG CÂY SỐ (P2)

Trần Minh Hải, tự truyện

Thuở chiếu phim tivi đầu tiên "Trên từng cây số" ở làng, việc xem nhờ rõ cực. Bởi số tivi có trong làng đếm trên đầu ngón tay, có nhà khoảnh khoá cổng ngõ và thả chó. Có nhà cho vào thì chật không có chỗ ngó cửa sổ, ngó cửa ở hàng hiên (nói gì ngồi trong nhà) Tivi mắc ở hiên, sân gạch đặc kín người ngồi. Nhớ mãi xem "Cô gái Di gan" kiễng chân nhòm qua hàng rào găng cúc tần, qua chấn song cửa sổ tới tấm kính phóng quả tivi 12 ins, tiếng được tiếng mất, bùi ngùi cô gái mất trên tay Đayanop, cặp mắt xếch của Bombop rần rật.

Trẻ con khỏi nói, thấy khuôn mặt của Đại uý Bôm bốp là reo ầm lên, chỉ trỏ. Chị em hít hà khen Thiếu tá Đayanop "đẹp giai hết sảy". Ảnh của viên Thiếu tá này dán tường, lưu sổ tay vô khối.

Nhưng rồi đội CB32 huyện Từ liêm về làng, cũng chiếu phim này, có người thuyết minh, chạy máy nổ, chiếu bằng máy chiếu phim nhựa 35mm cưa cụt 3 chân máy, tập phim chỉ có 6 cuốn, kèm TSTL và "rong riềng khoai nước, chăm sóc bèo hoa dâu" là xong một buổi chiếu. Phim rõ nét hơn hẳn xem màn tivi muỗi lấm chấm. Phim phần 2 quay cốt truyện phản gián ở các nước. Cặp bài trùng Đayanop-Bombơ com lê củ táo nom hoành. Ác liệt nhất là Họ chiến đấu ở Tây ban nha, xứ sở của đấu bò tót. Tay trùm phản gián bên địch béo mẫm, mắt mèo xì gà hút thả phanh, đóng phim này hoá sướng. Cứ nhớ vẻ mặt thất thần của Hắn, sau mỗi trận thua "quân ta"

Có thời kỳ các rạp Hà nội đồng loạt chiếu luân phiên các tập. Xe chiếu bóng QĐ cũng chiếu một số tập phim hay. Sau năm 1975 ít viện trợ các kiểu, phim XHCN ko còn cho không, ít nhập phim nước ngoài. QDCB đành phải lấy phim truyền hình gốc (thường là phim màu) in tráng phim nhựa đen trắng chiếu cho toàn quốc, Thế hệ sau này không thể hình dung : Một thời thèm xem phim, được xem phim gì cũng thích và nhớ rất lâu.

Theo "Màn ảnh Thủ đô"giới thiệu bà con đồn thổi phim nào hay, thì ràn rạt người mua vé, nhất là các tập phản gián sau này. Nhiều chi tiết ko logic, có hề gì. Nom chàng đẹp giai từng cm là khoái tỷ rồi. Mí lại phong cảnh các thành phố châu Âu thì "thôi rồi Lượm ơi". Cuộc đời người tình báo sao mà hào hoa phong nhã thế không biết, thoát chết trong gang tấc tèn ten

Tôi biết 3 lần Đài THVN phát phim này, lần 3 là theo yêu cầu của Khán giả (chiếu 21 tập thôi nhé). Lại nhớ cái thuở đi lính về, học lại Đại học dang dở. Tối chiếu "Trên từng cây số" bèn cuốc bộ hơn 1km qua ga Lưu xá B, chui vào NVH của Xưởng Đường sắt (rìa QL3 đi qua Khu Gang thép) Tivi xem muỗi, tiếng thuyết minh phim lẫn tiếng đầu máy xe lửa hồng hộc vận chuyển vật liệu từ ga vào chân lò cao nấu gang thép. Lâu rồi không nhớ hết các tập về sau, nhưng nhớ cảm giác vui buồn, hồi hộp qua từng tập phim. Lúc tan sương trắng mờ, che lấp miền sỏi đá trập trùng cây bạch đàn và các răng tre pheo, bụi bám đầy từ lá đến thân gày guộc;

LẠI MỘT HUYỀN THOẠI ĐIỆN ẢNH THẾ GIỚI RA ĐI…

Vĩnh biệt Thiếu tá tình báo Deianov - diễn viên điện ảnh nổi tiếng Bulgaria và thế giới Stefan Danailov những năm 60, 70 của thế kỷ trước…

… Thời kỳ khá xa xưa đó, có lẽ bạn trẻ nào ở miền Bắc cũng lưu giữ cho mình những tấm ảnh của Deianov trong bộ phim nổi đình nổi đám “Trên từng cây số”. Một thần tượng điện ảnh đồng thời là một hình mẫu cho lớp trẻ VN thời bấy giờ về lòng quả cảm, sự trí dũng song toàn và đặc biệt là một hình tượng đẹp rất nam tính…

Nhớ lại, thời ấy chỉ có tivi đen trắng nhưng cứ mỗi buổi tối đến giờ chiếu phim này thì ngoài đường phố bỗng trở nên vắng tanh còn trong các gia đình có tivi thì đông vui như hội. Mọi người từng giờ từng phút mong được gặp lại Deianov - chàng Thiếu tá tình báo đẹp trai tài ba trong một bộ phim đang nổi như cồn…

Như bao người khác, mình cũng rất mê Deianov nên trong bộ sưu tập điện ảnh của mình không thể thiếu những hình ảnh của anh…(xin phép được gọi là anh vì trong tâm trí khán giả điện ảnh anh bao giờ cũng trẻ trung hào hoa, không ai muốn anh già đi theo thời gian cả).

Có một kỷ niệm nhỏ khó quên... Ngày ấy ở Hà Nội tại các sạp báo người ta hay bán những tấm ảnh của Deianov trong phim Trên từng cây số và ảnh bán rất chạy… Cũng may mình nhờ được cậu bạn Bảo Tuấn cạnh nhà cũ tìm mua hộ và cậu bạn thân đã cất công đi tìm mua bằng được ảnh và gửi vào Nam cho mình. Những tấm ảnh ấy hiện vẫn nằm trong bộ sưu tập điện ảnh mà mình đăng lên đây. Cu cậu còn tìm gửi cho mình nhiều cuốn Màn ảnh Hà Nội - hàng hiếm, giờ tìm không ra nữa. Thật cảm động! Một lần nữa cám ơn Bảo Tuấn nhé!

… Lại nói về huyền thoại điện ảnh Stefan Danailov. Anh sinh năm 1942 tại Sofia thủ đô Bulgaria và đã đóng vai chính trong hàng chục bộ phim điện ảnh cũng như truyền hình nổi tiếng như  “Viên thanh tra và bóng đêm”, “Cuộc chơi lớn”, “Vũ hội hóa trang”, “Thiên thần đen”, “ Trên từng cây số”, v..v.  Ngoài ra, Danailov còn được mời tham gia những bộ phim do Bulgaria hợp tác với Liên Xô, Mỹ, Pháp, Tây Ban Nha, Italy...

Với những đóng góp to lớn cho nghệ thuật, anh nhận được nhiều giải thưởng điện ảnh cao quý trong nước và quốc tế như Askeer, Stara Planina và Golden Age. Anh còn là cựu Bộ trưởng Bộ Văn hóa đồng thời cũng là Phó Chủ tịch của Đảng Xã hội Bulgaria.

Ngoài ra, huyền thoại điện ảnh còn tham gia giảng dạy diễn xuất tại Học viện Sân khấu Bulgaria và sau đó trở thành giáo sư tại học viện này vào năm 1996.

Những năm gần đây, Stefan Danailov mắc bệnh Parkinson và bệnh tim. Anh ra đi ngày 27/11 vừa qua tại Sophia, tròn 77 tuổi…

Vẫn biết, huyền thoại điện ảnh thế giới nào rồi cũng phải chấp thuận quy luật tự nhiên nhưng sự ra đi của họ vẫn tạo nên sự hụt hẫng, nuối tiếc. Những gì tốt đẹp nhất về tài năng và vẻ đẹp của họ sẽ còn đọng mãi trong tâm trí khán giả và người hâm mộ mà Stefan Danailov là một trong số đó…

Vĩnh biệt anh, vĩnh biệt Deianov, vĩnh biệt một huyền thoại và thần tượng điện ảnh của lớp trẻ những năm khó khăn nhưng rất đáng tự hào…

Chủ Nhật, 6 tháng 12, 2020

Ca nhạc gia đình

 

XEM PHIM KINH ĐIỂN NGA-CHIM CÚC CU (PHẦN I VÀ II)
Chim cúc cu phần 2
CỔNG BÃO TẬP 1
CỔNG BÃO TẬP 2
CỔNG BÃO TẬP 3
CỔNG BÃO TẬP 4

Thứ Bảy, 5 tháng 12, 2020

VỤ ÁN NĂM CANH TÍ VÀ NGHI ÁN NGÔ THÌ NHẬM

 

1. Vụ án năm Canh Tí.

Vụ án năm Canh Tí xảy ra vào khoảng tháng 8 năm 1780 (1). Đây là một vụ án lớn, xảy ra trong phủ chúa Trịnh. Vụ án này đã làm nội bộ chính quyền Lê - Trinh rạn nức, xã hội đàng Ngoài thêm rối ren.

* Nguyên nhân :

Chúa Trịnh là Trịnh Sâm bệnh nặng. Dẫu vậy ngôi Đông cung vẫn còn trống. Trịnh Khải là con trưởng, Trịnh Cán là con thứ. Trong khi đó chúa lại hết mực yêu thương Cán và Đặng Tuyên Phi. Khải sợ ngôi thế tử sẽ thuộc về Cán nên gấp rút hành động, dành ngôi thế tử.

* Diễn biến :

Trịnh Khải bàn mưu với gia thần là Đàm Xuân Thụ, Thế Thọ, Thẩm Thọ và Vĩnh Vũ bí mật sắm sửa vũ khí, chiêu tập dũng sĩ, để chờ thời cơ giết chết Đặng Thị Huệ và Hoàng Đình Bảo. Ngoài ra, Trịnh Khải còn ngầm liên kết với Trấn thủ Sơn Tây là Hồng lĩnh hầu Nguyễn Khản, Trấn thủ Kinh Bắc là Tuân sinh hầu Nguyễn Khắc Tuân để sẵn sàng hỗ trợ việc tranh ngôi Thế tử của mình.

* Vỡ lỡ :

Bấy giờ có viên Cấp sự trung là Nguyễn Huy Bá, vốn tính ưa giảo hoạt, từng vì tội tham ô mà bị bãi chức. Bá cho con dâu vào thị tì, hầu hạ Đặng Thị (Huệ), lại còn sai người thân tín vào cầu cạnh để làm môn hạ của Nguyễn Khắc Tuân (là người đối nghịch với phe Đặng Thị Huệ). Nhờ kẻ thân tín này, mà Bá dò biết được cơ mưu, liền tố cáo ngay với Đặng Thị (Huệ). (Ngô Thì) Nhậm cũng phụ họa với Đặng Thị, bèn cùng với Bá hợp mưu tố cáo rằng Khải đã lén lút liên hệ với hai viên trấn thủ (Sơn Tây & Kinh Bắc) để làm chuyện phản nghịch. (Trịnh) Sâm giận lắm, cho triệu (Hoàng) Đình Bảo vào phủ bàn việc này.

* Bị kết án :

Nghe theo lời bàn của Hoàng Đình Bảo, chúa Trịnh Sâm bèn hạ lệnh triệu hồi Nguyễn Khản về kinh, rồi cho bí mật bắt hết bè đảng của viên trấn thủ này. Đồng thời, chúa cũng cho triệu Nguyễn Khắc Tuân về triều. Sau khi giam tất cả lại, chúa sai Ngô Thì Nhậm cùng viên hoạn(Trịnh) Sâm muốn trị tội ngay, song (Hoàng) Đình Bảo can rằng: "Sở dĩ (Trịnh) Khải dám làm chuyện ghê gớm này, chung quy cũng vì có hai viên trấn thủ Sơn Tây & Kinh Bắc chủ mưu. Nay, cả hai người này đang cầm quân ở ngoài, nếu vội vàng trị tội thì sợ là sẽ có biến cố khác. Vậy chi bằng hãy triệu hết hai viên trấn thủ ấy về triều rồi hãy trị tội cũng không muộn". (Trịnh) Sâm cho lời ấy là phải.(2)

 quan là Phạm Huy Thức cùng lo việc tra khảo. Bất ngờ, cha Ngô Thì Nhậm là Ngô Thì Sĩ mất, nên ông phải về chịu tang, nên chúa dùng Lê Quý Đôn để thay.(4)

Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục, thì: Đàm Xuân Thụ, Thế Thọ, Thẩm Thọ và Vĩnh Vũ đều bị giết. Nguyễn Khản, Nguyễn Khắc Tuân đều bị giam vào ngục, còn Nguyễn Phương Đính (hoặc Định) bị kết tội nuôi dưỡng Trịnh Khải không nên người, bị lột hết chức tước và đuổi về làng. Sau, Nguyễn Khắc Tuân và Chu Xuân Hán đều uống thuốc độc mà chết. Riêng Trịnh Khải bị phế, chỉ được ở ngôi nhà ba gian, ăn uống đi lại đều không được tự do.

Lê Quý dật sử, còn cho biết: người nhũ mẫu của Trịnh Khải là Thị Quỳnh (vợ của người lính Sơn Tây là Quỳnh Tài, nhờ có nhiều sữa tốt, nên được làm vú nuôi) chạy trốn ở Sơn Tây, vào làm bà vãi ở chùa, (cũng) bị lính đuổi theo, bắt được giải về kinh, chúa cho voi đực dày xé.

Sách Hoàng Lê nhất thống chí, chỉ ghi ba đại thần theo phe Trịnh Khải đều phải mất mạng, đó là: Khê trung hầu, Tuân sinh hầu (Nguyễn Khắc Tuân) đều uống thuốc độc tự tử, Nguyễn Quốc Tuấn (thuộc hạ của Khắc Tuân) bị án chém; còn Trịnh Khải bị quản thúc ngặt trong một ngôi nhà ba gian.

2. Nghi án Ngô Thì Nhậm.

Đốc đồng trấn Kinh Bắc Ngô Thì Nhậm có phải là người đồng tố giác việc mưu sự của phe Trịnh Khải hay không, vẫn còn là một nghi vấn trong sử Việt.

Sách Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục chép: " Trước khi Ngô (Thì) Nhậm tố cáo cơ mưu của Trịnh Khải, có đem bàn với cha là Ngô (Thì) Sĩ. Ngô (Thì) Sĩ cố sức ngăn... Đến khi hay tin Ngô (Thì) Nhậm đã tố cáo, Ngô (Thì) Sĩ buồn bực mà uống thuốc độc tự tử. Ngô (Thì) Nhậm, vì có công tố giác, được thăng làm Hữu Thị lang bộ Công, nhưng thiên hạ lúc ấy lại có câu rằng: "Sát tứ phụ nhi Thị lang", nghĩa là "giết bốn người cha mà làm Thị lang". Bốn cha là: Sĩ, thân phụ; Tông, quân phụ; Khắc Tuân, và Xuân Hán, phụ chấp (bạn của bố). Có thuyết lại nói tứ phụ là Sỹ và Nguyễn Khản, Phương Định, Khắc Tuân ba người bạn của bố. Tuy nhiên KDVSTGCM là chính sử Triều Nguyễn, Ngô Thì Nhậm lại làm quan cho nhà Tây Sơn tới chức binh bộ thượng thư nên có phần ác cảm. Ngoài ra KĐVSTGCM lại biên soạn vào thời Tự Đức thời gian khá xa , vì vậy tính xác thực không cao .

Theo Hoàng Lê Nhất Thống Chí: Theo sách này thì chỉ có một mình Nguyễn Huy Bá đứng ra tố giác. Sách này còn kể ông Nhậm đã có lời khuyên Nguyễn Khắc Tuân phải hỏa tốc về kinh can ngăn Trịnh Khải dừng lại cơ mưu, nhưng không được nghe. Đến khi ông Tuân bị bắt giam, ông Nhậm định tìm cách gỡ tội, nhưng vì việc tang nên phải về. Tuy nhiên Hoàng Lê Nhất Thống Chí chỉ là tiểu thuyết lịch sử , nếu như lấy Hoàng Lê Nhất Thống Chí ra khảo cứu thì chẵng khác nào lấy Tam Quốc Chí đi chơi với Tam Quốc Diễn Nghĩa. Ngoài ra các tác giả của HTLTC đều thuộc dòng họ Ngô Thì nên có phần thiên vị về Ngô Thì Nhậm cũng nên . Trong Vũ Trung Tùy Bút có đoạn: "Năm Canh Tý phát ra cái án của Thế tử là do Ngô Thì Nhậm. Ông Thì Nhậm nhờ công ấy được thăng làm Công bộ thị lang. Người thời bấy giờ có câu: "Giết bốn cha mà được thị lang, trung cần chí hiếu". Cái lỗi của Thì Nhậm, dư luận không dung thứ. Khi em là ông Thì Chí vào làm Thiêm tri hình phiên, có soạn bộ sách Nhất thống chí; chép về cái mật án ấy, cũng có che đậy đi ít nhiều. Nhưng về những việc trong cung phủ thì chép được tường lắm, không nên nhất nhất đều chê cả."

Sách Lê Quý Dật Sử chép: "Ngô Thì) Sĩ thấy con bè đảng xu phụ Tuyên Phi (Đặng Thị Huệ), vu khống Thế tử, ông bất bình, ra sức khuyên ngăn, nhưng (Ngô Thì) Nhậm không nghe, ông phẫn uất uống thuốc độc tự tử... (Sau vụ án) cất nhắc Ngô Thì Nhậm làm Công bộ tả thị lang, vì tố cáo Thế tử (Trịnh Khải) nên được ban thưởng, thăng vượt cấp bảy lần." Lê Quý Dật Sử do Bùi Dương Lịch biên soạn. Tác giả sống cùng thời với những sự việc này. Nên ghi chép của Lê Quý Dật Sử là đáng tin.

Tuy nhiên, chính sử Lê - Trịnh lại ghi chép có phần khác với Lê Quý Dật Sử. Sách Đại Việt Sử Ký Tục Biên chép:

"Lúc ấy Đốc Đồng Kinh Bắc là Ngô Thì Nhậm trước kia giảng sách hàng ngày cho Tông. Học trò Nhậm là tiểu giám Hà Như Sơn làm người giữ sách cho Tông, biết Tông cũng bọn ấy có âm mưu, nói với Nhậm. Nhậm sợ quá , mật khuyên Tuân cùng Đĩnh thôi việc ấy đi, nếu không được thì đổ lỗi cho đám tôi tớ n vào xin yết kiến để chịu tội, không được vào. Chúa sai nội thần trách Tuân rằng:" Cậu cùng thằng Tông làm giặc, cậu cứ đi mà dấy quân, ta có tướng giỏi để. Tuân không nghe, bây giờ Tuân cũng bị triệu về. Thấy Khản, Đĩnh đã bị giam, Tuâ u đối chọi ". Tuân ra gặp Nhậm ở cửa các, nắm lấy tay Nhậm than rằng: "Tôi thờ chúa từ lúc chúa lọt lòng mà ra đến nay, nay chúa gọi là giặc. Ngày trước tôi nghe ông nói tưởng việc cũng dễ dàng, bây giờ làm thế nào ? "

Nhậm lập tức đến nhà Tả Xuyên , gặp Khản và hỏi duyên cớ tại sao? Khản nói rằng : họa sinh ra tự cha con chúa, lũ Khản bị dèm đã lâu, biện bạch cũng vô ích, không gì bằng đem sự trạng của Tông nói ra để chúa biết việc tự đám tôi tớ. Thế là dùng thuốc độc để chữa bệnh độc.

Lập tức nói với Nội Giám Phong Triều Hầu Phạm Huy Thức đem thư của Khản kể tội Tông dâng lên. Tuân cũng làm thư nói việc trước và dẫn lời của Nhậm vào, lại nói tôi cũng định tố giác nhưng chưa kịp làm đấy thôi. Tờ khải đến nơi, chúa mắng rằng: "người ta bảo cho nói mà không nói, chả phải dự mưu là gì ?". Chúa không xét, cho Tuân Thọ xé thư ấy trước mặt Tuân. Tuân lại quỳ xuống mà nhặt lấy. Do đấy mà chúa lại càng giận, cho bắt cả Chu Xuân Hán. Giao cho Ngô Thì Nhậm cùng Phong Triều Hầu tra xét, phát giác được tội trạng của lũ tôi tớ. Giặp lúc Nhậm có tang cha xin từ chức."

Đại Việt Sử Ký Tục Biên là cuốn chính sử thời Lê - Trịnh. Giữa chính sử (ĐVSKTB) và tư sử (Lê Quý Dật Sử) thì chính sử có độ tin cậy cao hơn. Lúc bấy giờ Ngô Thì Nhậm từ chức về chịu tang cha, vả lại sau đó lại xảy ra "loạn kiêu binh" nên các sử quan không việc gì phải bao che cho Ngô Thì Nhậm.

Như vậy Ngô Thì Nhậm là người khuyên bảo Nguyễn Khắc Tuân tự thú. Đến khi phát án, ông được Trịnh Sâm giao việc điều tra, chứ không phải "ghết bốn cha để lên thị lang" như sử Nguyễn đã ghi.

---------------------------------‐-----------------------------------------

Chú thích :

- (1) theo KĐVSTGCM và HLNTC .

- (2) theo KDVSTGCM.

- (3) theo HLTTC .

Nguồn tham khảo :

- KDVSTGCM - Quốc Sử Quán Triều Nguyễn - bản điện tử .

- HLNTC - Ngô Gia Văn Phái - Ngô Tất Tố dịch - nxb Văn Học - Hồi 1 .

- Lê Quý Dật Sử - Bùi Dương Lịch - bản điện tử .

- Vũ Trung Tùy Bút - Phạm Đình Hổ - Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến dịch - nxb Văn Hóa Dân Tộc - chương Nhà họ Nguyễn ở Tiên Điền .

- Đại Việt Sử Ký Tục Biên - Viện Nghiên Cứu Hán Nôm - nxb Hồng Đức - tr 483 .

- Ngô Cao Lãng - Lịch Triều Tạp Kỷ.

- Nguyễn Thu - Lê Quý Kỷ Sự.

Thứ Năm, 3 tháng 12, 2020

ÔNG BIẾT TÔI LÀ AI KHÔNG?


ÔNG BIẾT TÔI LÀ AI KHÔNG?

- Bùi Bảo Trúc

Cho mãi đến mấy hôm trước, tôi mới tìm ra được câu trả lời cho một câu hỏi tôi bị hỏi từ hơn ba mươi lăm năm trước.

Một bữa đang ngồi trong quán cà phê ở Sài Gòn, thì tôi bị một người đàn ông gây sự và cuối cùng ông ta quăng ra cho tôi câu hỏi : “Ông biết tôi là ai không ?”

Quả thật lúc ấy, tôi không biết ông ta là ai thật. Ông không phải là một tài tử, một nhà văn, hay một chính trị gia nổi tiếng để tôi phải biết. Tôi đành ngồi đó, chịu thua ông, không có câu trả lời.

Ít lâu sau, tôi được cho biết ông là đàn em của một quan chức lớn, và nhờ đó, ông thỉnh thoảng đem chút “hào quang” vay mượn được để hù dọa những người yếu bóng vía như tôi.

Sang đến Mỹ, thỉnh thoảng tôi cũng bị hỏi câu hỏi đó, mà đau cho những người đó, cả Mỹ lẫn Việt, tôi không bao giờ có câu trả lời cho câu hỏi đó của họ cả. Họ thì nghĩ tôi phải biết họ, mà thật tình, tôi thì không hề biết họ bao giờ. Và cứ mỗi lần bị những nhân vật như thế cật vấn, thì tôi chỉ biết ngẩn mặt ra, giả bộ lục lọi cái trí nhớ thảm hại của tôi để tìm câu trả lời cho người nổi tiếng nhưng vô danh và không ai thèm biết đó.

Mấy tháng trước, trong chuyến về lại Los Angeles, California , tôi phải ghé lại Newark, New Jersey để đổi máy bay. Phi cơ của tôi bị trễ hơn một tiếng. Hành khách có một số rất bực bội vì công việc bị xáo trộn do sự chậm trễ của máy bay gây ra.

Tại quầy bên cạnh cổng 112, một tiếp viên dưới đất của công ty đang cố giải quyết những yêu cầu, khiếu nại của khách hàng thì bỗng nhiên một hành khách có vẻ tức tối lắm, lấn lên phía trên, len qua mặt mấy người khác và ném tấm vé lên quầy.

Ông ta nói lớn rằng ông ta muốn được cho bay chuyến sớm nhất và phải xếp cho ông ta ngồi hạng nhất. Người tiếp viên trả lời rằng cô xin lỗi về những phiền nhiễu mà chuyến bay gây ra cho ông, nhưng cô cũng phải giải quyết những hành khách tới trước và hứa là sẽ giúp ông khi đến lượt ông.

Nhưng ông khách không bằng lòng, ông hỏi như hét vào mặt cô, rõ ràng là để cho các hành khách khác cũng nghe được. Ông hỏi đúng câu mà tôi cũng bị hỏi mấy lần : “Cô biết tôi là ai không ?” (Do you know who I am ?).

Thì ra người Mỹ, trẻ và xinh như cô tiếp viên cũng bị hạch hỏi bằng câu đó chứ chẳng riêng gì tôi. Tôi liền cố lắng tai nghe xem cô tiếp viên ở quầy trả lời như thế nào để biết mà ứng phó sau này.

Người phụ nữ này, vẫn tươi cười, cầm chiếc micro của hệ thống khuếch âm lên và nói lớn bằng giọng rành rẽ rằng: “Ở quầy 112, có một vị hành khách không biết mình là ai, quý hành khách ai có thể giúp ông ta biết được căn cước hay thân thế của ông, xin tới quầy 112.”

Ông khách tự nhiên, vì chính câu hỏi của ông, biến thành một bệnh nhân tâm thần, một người mắc Alzheimer, một người lãng trí, tâm lý, thần kinh thác loạn, lẫn lộn bản thể, không còn nhớ mình là ai, tên gì, ở đâu nữa. Và lúc ấy thì đám hành khách đang sốt ruột đứng trước quầy đều phá ra cười.

Ông khách điên tiết, chỉ mặt người tiếp viên ở quầy và bật ra một câu chửi thề tục tĩu : “Đ.M. mày”( F,,k you) .

Người phụ nữ ở quầy, không một chút giận dữ, bằng giọng bình thản, trả lời ông nguyên văn như thế này : “I’m sorry, sir, but you’ll have to stand in line for that, too”.( Thưa ông, chuyện đó, chuyện ông đòi giao hợp với tôi, ông cũng phải xếp hàng chờ đến lượt mới được.)

Chao ôi, hay biết là chừng nào ! Thế mà tôi không nghĩ ra từ bao nhiêu năm nay để mà ấm ức không nguôi.

Bây giờ, nếu người đàn ông ngày xưa ở Saigon hay dăm ba người khác đặt lại câu hỏi đó với tôi, thì tôi đã có ngay được câu trả lời học được của người tiếp viên phi hành ở phi trường Newark, New Jersey hai hôm trước.

Bùi Bảo Trúc