XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG

Thứ Ba, 20 tháng 10, 2026

TRƯỜNG CA XỨ THANH

 


Đất dựng cơ đồ
Sử tạc hùng
Hồn ngân văn hiến
Người xây non nước
I. XỨ THANH – MIỀN ĐẤT TỔ TIÊN
Xứ Thanh mở cõi tự ngàn xưa,
Núi nối mây bay, biển đón mùa.
Sông Mã cuộn dòng khơi khí phách,
Sông Chu nặng nghĩa đắp đồng trưa.
Đồi trung du nối miền sơn cước,
Bãi lúa xanh liền dải cát thưa.
Biển rộng, rừng sâu, đồng đất rộng,
Ngàn năm hun đúc một miền xưa.
Từ thuở cha ông khai đất Việt,
Trống đồng Đông Sơn vọng sớm chiều. Lưỡi giáo, hoa văn in dấu cổ,
Văn minh tỏa sáng giữa trời yêu.
Núi Đọ còn ghi miền cổ tích,
Hang Con Moong giữ dấu người xưa.
Đất thiêng chở nặng bao tầng sử,
Một dải non sông thắm nắng mưa.
II. THÀNH NHÀ HỒ – CHỨNG TÍCH NON SÔNG
Thành đá Tây Đô xây thế nước,
Bốn phương vững chãi giữa trời Nam.
Đá lớn xếp thành trang sử dựng,
Tường rêu in bóng những thăng trầm.
Hồ Quý Ly từng ôm chí lớn,
Đổi thay thời cuộc giữa gian nan.
Dẫu cuộc cải canh còn tranh luận,
Vẫn để nghìn sau chuyện thế gian.
Lam Kinh xanh bóng rừng Lê Thái,
Đất phát anh hùng rạng sử vàng.
Lê Lợi dựng cờ nơi đất tổ,
Mười năm kháng chiến dậy non ngàn.
Hội thề Lũng Nhai nung chí lớn,
Bình Ngô đại cáo sáng giang san.
Từ đất Lam Sơn bừng chính nghĩa,
Nước Nam độc lập, sử huy hoàng.
III. ĐẤT TRUNG – NGƯỜI TRUNG – LÒNG TRUNG NGHĨA
Đất đồi trung du nuôi chí bền,
Thành phần trung nông giữ nếp nền.
Tư tưởng trung bình – lời suy ngẫm,
Chớ vội xem thường những điều quen.
Nghịch nhĩ trung ngôn cần lắng đọng,
Lời ngay đôi lúc khó lọt tai.
Trung nghĩa không nằm trong tiếng lớn,
Mà trong hành động giữa đường dài.
Ái quốc trung quân thời quân chủ,
Lòng dân, lòng nước chẳng hề vơi.
Qua buổi đổi thay, cần nhận rõ,
Trung với non sông, sáng đạo đời.
Trung không có nghĩa là cam chịu,
Nghĩa chẳng đồng tình với bảo thủ.
Yêu nước phải luôn cùng lẽ phải,
Giữ lòng nhân ái, trọng dân chủ.
Từ chuyện dân gian mà ngẫm nghĩ,
Từ nếp quê nhà mà xét soi.
Một chữ trung cần thêm trí tuệ,
Một lòng yêu nước sáng muôn đời.
IV. SỬ THANH – DÒNG NGƯỜI CỨU NƯỚC
Bao lớp người Thanh ra trận mạc,
Gươm thiêng giữ nước, máu tô cờ.
Từ buổi Lam Sơn vang tiếng gọi,
Đến ngày độc lập rạng trời mơ.
Bà Triệu cưỡi voi tung chí lớn,
Núi Nưa còn vọng tiếng quân thề.
Nữ kiệt đất Thanh lòng bất khuất,
Muôn đời son sắt chẳng phai phê.
Lê Hoàn dựng nghiệp thời nguy biến,
Lê Lợi khởi binh cứu nước nhà.
Tướng sĩ từ dân mà đứng dậy,
Một lòng quyết giữ cõi sơn hà.
Có những tên người thành bất tử,
Có những đời dân khuất nẻo xa.
Sử chẳng chỉ ghi trang chiến thắng,
Còn ghi xương máu của muôn nhà.
Qua những triều Lê, triều Nguyễn cũ,
Đất Thanh từng gánh nặng sơn hà.
Khi nước lâm nguy, người đứng dậy,
Khi đời đổi mới, bước đi xa.
V. HỒN THANH – TIẾNG QUÊ HƯƠNG
Tiếng nói Xứ Thanh mang sắc thái,
Âm vang mộc mạc giữa đời thường.
Có câu nặng nghĩa tình quê mẹ,
Có tiếng đằm sâu thấm dặm đường.
“Răng, rứa” miền Trung còn vang vọng,
Xứ Thanh riêng giọng tựa phù sa.
Phương ngữ kết tinh hồn đất nước,
Mỗi miền một sắc, một lời ca.
Câu ví, điệu hò trên bến nước,
Lời ru đưa võng giữa trưa hè.
Mẹ hát con nghe tình đất mẹ,
Dòng sông lặng chảy suốt triền đê.
Chiếu cói Nga Sơn thơm nắng mới,
Tơ tằm, lụa quý dệt tình quê.
Bánh gai Tứ Trụ thơm hương nếp,
Nem chua xứ sở đượm lời thề.
Mắm tép, chè lam, hương vị cũ,
Mỗi miền lưu giữ một câu ca.
Món quê không chỉ là hương vị,
Mà cả tình người đọng thiết tha.
VI. ĐỊA LINH NHÂN KIỆT – VĂN HIẾN NGÀN NĂM
Đất học sinh người qua thế kỷ,
Văn chương nối tiếp những mùa thi.
Bảng vàng ghi dấu bao danh sĩ,
Chí lớn mang theo bước quản kỳ.
Đền miếu khói hương gìn đạo nghĩa,
Làng quê lưu giữ nếp gia phong.
Di tích chẳng là tường đá cũ,
Mà hồn dân tộc giữa non sông.
Một miền văn hiến đâu riêng sách,
Còn ở lời ăn, nếp ở đời.
Trong tục thờ cúng, trong câu hát,
Trong cách thương nhau lúc đầy vơi.
Đất có thể sinh người tài giỏi,
Người phải vun bồi đức với tâm.
Danh tiếng không bằng lòng tử tế,
Công danh không quý bằng nhân văn.
VII. NGƯỜI THANH – SẮC NÉT VÀ GIỚI HẠN
Người Thanh mạnh mẽ trong gian khó,
Bền chí đi lên giữa nhọc nhằn.
Quen việc nặng, quen đời sóng gió,
Gặp bước gian nan chẳng ngại ngần.
Có người thẳng tính như dao sắc,
Có kẻ tự tôn bởi đất nhà.
Có lúc nóng lòng nên thiếu nhẫn,
Có khi trọng tiếng nhẹ điều hòa.
Nhưng chớ lấy vài người làm mẫu,
Mà đem gán ghép cả quê hương.
Tính cách còn do thời thế tạo,
Do cảnh sinh thành, nếp học đường.
Người miền núi khác người đồng bãi,
Người chốn thị thành khác xóm quê.
Một tỉnh bao miền, bao thế hệ,
Đâu thể gom chung một lối về.
Yêu quê không phải lời tô vẽ,
Cũng chẳng vì quê mà tránh lời.
Dám nhận điều sai, tìm cách sửa,
Mới là yêu xứ sở thật người.
VIII. TỪ XỨ THANH XƯA ĐẾN XỨ THANH NAY
Ngày trước đường xa, đò cách trở,
Núi rừng ngăn lối bước chân đi.
Nay đường cao tốc xuyên miền rộng,
Nhịp mới vươn dài những chuyến xe.
Nghi Sơn mở cảng, tàu ra biển,
Bỉm Sơn công nghiệp nối chân trời.
Lam Sơn đồng mía xanh bờ bãi,
Sầm Sơn sóng gọi khách muôn nơi.
Thủy điện dựng nguồn nơi núi thẳm,
Lúa vàng trải rộng giữa đồng xanh.
Người trẻ học hành, xây nghiệp mới,
Mang trí tài đi khắp thị thành.
Nhưng phát triển đâu riêng nhà máy, Chẳng chỉ đường cao với phố đông.
Còn phải giữ gìn sông núi sạch,
Cho làng quê mãi đẹp bên dòng.
Di sản cần gìn trong cuộc sống,
Văn hóa cần nuôi giữa lòng dân.
Kinh tế đi cùng tình nghĩa cũ,
Hiện đại mà không mất cội nguồn.
IX. XỨ THANH TRONG DÒNG CHẢY ĐẤT NƯỚC
Thanh Hóa không riêng miền đất cổ,
Mà là một phần của Việt Nam.
Từ Bắc vào Nam chung một dải,
Núi sông cùng chảy dưới cờ vàng.
Người Thanh lập nghiệp nơi muôn nẻo, Mang giọng quê nhà đến mọi miền.
Dẫu sống xa quê lòng vẫn nhớ,
Một dòng sông Mã, một miền yên.
Quê hương chẳng phải miền khép kín,
Mà cửa giao lưu mở bốn phương.
Biết giữ căn cốt trong hội nhập,
Biết học điều hay để mở đường.
Tự hào phải gắn liền trách nhiệm,
Truyền thống đi cùng bước sáng tạo.
Đất quý nhờ người vun đắp mãi,
Người tài nhờ đức dựng tương lai.
X. XỨ THANH – MỘT CÁCH NHÌN VỀ ĐẤT VÀ NGƯỜI
Đọc sử để lòng thêm hiểu sử,
Đọc địa chí để biết quê nhà.
Đọc văn hóa để thương nguồn cội,
Đọc chuyện người xưa hiểu chúng ta.
Đất Thanh phát thế từ sông núi,
Sử Thanh hun đúc chí anh hùng.
Hồn Thanh kết tụ trong văn hóa,
Người Thanh góp sức dựng non sông.
Bốn mạch hòa chung thành bản sắc,
Địa linh không chỉ bởi trời ban.
Nhân kiệt còn nhờ người vun xới,
Văn hiến do bao lớp dựng xây.
Một cuốn sách hay khơi câu hỏi,
Một miền quê đẹp bởi lòng người.
Hiểu quê sâu sắc hơn lời tụng,
Yêu quê bằng việc tốt cho đời.
Đừng chỉ tự hào trang sử cũ,
Hãy làm trang mới sáng mai sau.
Để cháu con nhìn về đất mẹ,
Thấy quê hương tiến bước bền lâu.
XI. KHÚC KẾT – MÃI GỌI XỨ THANH
Ơi Xứ Thanh ơi, miền đất mẹ,
Núi Nưa, Lam Mã vọng ngàn năm.
Thành đá Tây Đô còn đứng đó,
Lam Kinh xanh bóng giữa trăng rằm.
Từ thuở cha ông khai mở cõi,
Đến ngày đổi mới dựng cơ đồ.
Bao lớp người đi xây cuộc sống,
Để đất quê mình đẹp ước mơ.
Ta quý quê hương không mù quáng,
Ta thương quê nhà chẳng sá lời.
Điều hay gìn giữ, điều chưa tốt,
Cùng sửa cùng xây, đẹp cuộc đời.
Đất đồi trung du nuôi sức sống,
Trung ngôn soi sáng lẽ công bằng.
Trung nghĩa phải cùng dân, với nước,
Cho lòng yêu nước mãi trong ngần.
Xứ Thanh – đất sử và văn hiến,
Đất của tình người, đất dựng xây.
Dẫu bước muôn phương còn nhớ mãi,
Quê hương là gốc rễ đời này.
Mai sau con cháu về nguồn cội,
Đọc lại nghìn trang chuyện nước non.
Xin hiểu đất này qua sự thật,
Yêu bằng trí sáng, nghĩa vuông tròn.
Xứ Thanh còn mãi trong lòng Việt,
Sông Mã còn vang khúc tự hào.
Đất dựng cơ đồ, người giữ nước,
Ngàn năm văn hiến sáng trời cao!
Xứ Thanh không chỉ được nhận diện bằng những chiến công, danh nhân hay địa danh nổi tiếng, mà còn bằng cả đời sống bình dị của người dân, tiếng nói quê nhà, phong tục làng xã, những mặt mạnh và những điều cần tự sửa đổi. Trường ca này vì thế hướng tới một tình yêu quê hương có chiều sâu: tự hào nhưng không tự tôn, trân trọng truyền thống nhưng không ngừng đổi mới, yêu Xứ Thanh và đồng thời yêu đất nước Việt Nam thống nhất.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét