XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG

Thứ Tư, 31 tháng 12, 2025

HUYỆN NHƯ THANH


      Ngày 18 tháng 11 năm 1996, Chính phủ ban hành Nghị định số 72/CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính các huyện Quan Hóa, Như Xuân, Đông Sơn, Thiệu Yên thuộc tỉnh Thanh Hóa. Với Nghị định này, cùng với việc thành lập các huyện Mường Lát, Quan Sơn tách ra từ huyện Quan Hóa, Thiệu Hóa tách ra từ huyện Thiệu Yên và Đông Sơn, huyện Như Thanh cũng ra đời trên phần đất tách ra từ huyện Như Xuân. Đây là những huyện có tuổi đời trẻ nhất trong số các huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Thanh Hóa. Nếu tính đến thời điểm 1/7/2025, ngày xóa bỏ cấp huyện, các huyện này tồn tại vỏn vẹn có 30 năm, một tuổi đời không nhiều đối với đơn vị hành chính cấp huyện.

    Huyện Như Thanh giáp huyện Triệu Sơn về phía bắc, huyện Tĩnh Gia và Nông Cống về phía đông, huyện Như Xuân và Thường Xuân về phía tây và tỉnh Nghệ An về phía nam. Huyện có tên Như Thanh là được ghép từ đầu của hai địa danh: Như Xuân và Thanh Hóa. Vì thế, nói một cách hình ảnh, Như Thanh chính là người con của huyện Như Xuân và tỉnh Thanh Hóa, cả về danh xưng và tuổi đời.

      Như Thanh có diện tích 588,11km2, dân số là 106.690 người (năm 2022) với 4 dân tộc Kinh, Mường, Thái, Thổ, trong đó dân tộc Mường chiếm 23,43%, dân tộc Thái chiếm 19,21%, dân tộc Thổ chiếm 0,58%, còn lại là dân tộc Kinh. Trước khi sắp xếp chính quyền địa phương 2 cấp, Như Thanh có 13 đơn vị cấp xã và thị trấn Bến Sung.

     Là đơn vị hành chính mới được thành lập trên cơ sở tách ra từ huyện Như Xuân, Như Thanh có lịch sử hình thành và tên gọi giống như huyện Như Xuân. Là huyện miền núi nhưng chỉ cách trung tâm tỉnh lỵ Thanh Hóa 35km, có đường giao thông thuận tiện, được quy hoạch trong vùng kinh tế động lực Nam Thanh – Bắc Nghệ nên so với các huyện miền núi khác Như Thanh có nhiều lợi thế để phát triển. Với cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn, văn hóa tộc người độc đáo và phong phú, nhiều giá trị văn hóa được bảo tồn đã tạo cho Như Thanh lợi thế trong phát triển du lịch. Không chỉ cùng chung quyền sở hữu với huyện Như Xuân báu vật thiên nhiên là vườn Quốc gia Bến En, trên phần đất Như Thanh phần địa giới của vườn Quốc gia còn có nhiều hang động, di tích tâm linh, hồ đập nổi tiếng.

    Về tự nhiên núi sông của huyện Như Thanh có thể kể đến núi Lâm Động tại xã Thanh Kỳ, núi Voi xã Yên Thọ, núi Nam xã Xuân Du. Rừng núi Như Thanh cũng là nơi bắt nguồn các con sông lớn của huyện Quảng Xương và Tĩnh Gia là sông Yên và sông Bạng. Đặc biệt, Như Thanh có hồ sông Mực nằm giữa Vườn Quốc gia Bến En rộng tới 2.000ha, có hơn 100 đảo nhô lên trên mặt hồ trong xanh, soi bóng xuống hồ là các cánh rừng nguyên sinh xanh mát với hệ động thực vật phong phú đã biến hồ sông Mực thành cảnh quan sinh thái tuyệt mỹ làm say lòng người.

    Vườn Quốc gia Bến En vừa có giá trị sinh thái đặc biệt, đồng thời là tài nguyên du lịch quý hiếm. Khi đến nơi đây, ngồi trên thuyền thả trên mặt hồ ngắm nhìn rừng xanh, nước xanh, trời xanh ta như đang lạc vào tiên cảnh. Khí hậu ở đây rất mát mẻ do rừng xanh bao quanh hồ nước. Cùng với hệ  sinh thái hồ, đảo, rừng và sự đa dạng sinh học, Bến En còn có dãy núi đá vôi, với hệ thống hang động đẹp còn giữ được nét đẹp nguyên sơ như hang Ngọc, hang Cận. Với cảnh quan vừa hùng vĩ vừa nên thơ nên Bến En được mệnh danh là “Hạ Long trên cạn” của xứ Thanh. Không chỉ có cảnh quan tuyệt đẹp được thiên nhiên ban tặng, Bến En còn là không gian văn hóa tộc người rất độc đáo. Đến Bến En ta không chỉ được đi thuyền ngắm cảnh trên sông Mực, tham quan các đảo, hang động mà còn có dịp trải nghiệm tại các  làng bản, tìm hiểu cuộc sống của cư dân bản địa và giao lưu văn hoá với người dân ở đây. Hiện nay, tập đoàn Sun Group đang triển khai dự án đầu tư xây dựng nơi đây thành một quần thể khu du lịch nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí đẳng cấp với nhiều hạng mục, nếu hoàn thành sẽ trở thành điểm đến hàng đầu của du lịch quốc gia.

      Nằm trong vùng đệm Vườn Quốc gia Bến En thuộc làng Xuân Tiến, xã Như Thanh là hang Ngọc. Đây là hang núi hoang sơ nằm ngay chân núi, ngoài cửa hang có dòng suối chảy qua với những khối đá cuội lớn lạ mắt. Đi qua cửa hang sẽ có hai ngách để vào trong. Hang có độ sâu khoảng 700m, chỗ rộng nhất có chiều dài 80m, rộng 8m, cao 2,5m. Hang Ngọc là động đá vôi do thời gian bào mòn tạo thành mang vẻ đẹp nguyên sơ, trên vòm và vách hang có những nhũ đá tự nhiên mang nhiều hình thù kỳ thú, ở mỗi góc nhìn ta lại thấy những hình thù khác nhau. Phần ngoài hang rất rộng, vòm trần như chiếc bát úp khổng lồ, nhũ đá tỏa xuống tua tủa trông như trên tiên giới. Ngay chính giữa hang là khối thạch nhũ rất lớn trông lấp lánh như ngọc nên được gọi là Hòn Ngọc và hang cũng được gọi là hang Ngọc. Trong lòng hang có một dòng suối nước trong vắt, mát lạnh, quanh năm không bao giờ cạn. Truyền thuyết dân gian và tín ngưỡng của người dân nơi đây lưu truyền, khi tắm nước hang Ngọc, con người sẽ được gột rửa hết tội lỗi và bụi trần.

      Không chỉ có thiên nhiên hoang sơ và hấp dẫn, Như Thanh còn là vùng đất gắn với lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Tại các xã Như Thanh, Xuân Du, Thanh Kỳ…vẫn còn nhiều dấu tích, truyền thuyết gắn với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Bình Định Vương Lê Lợi đã trú quân nơi đây khi chuyển hướng chiến lược đánh vào Nghệ An.

     Đền Khe Rồng còn gọi là đền Đức Ông nằm bên bờ khe Rồng thuộc xã Như Thanh, là nơi thờ Mẫu Tam phủ gồm Đệ nhất phủ Liễu Hạnh, Đệ nhị phủ Thượng Ngàn, Đệ tam phủ Thủy cung. Tuy nhiên, đây là di tích gốc thờ một vị tướng có công trong khởi nghĩa Lam Sơn được tôn danh là Đức Ông. Theo sử cũ ghi lại, theo kế hoạch của tướng quân Nguyễn Chích, Lê Lợi đã tiến quân vào chiếm Nghệ An để làm bàn đạp tiến ra Bắc quét sạch quân Minh. Theo truyền thuyết, trên đường hành quân, một vị tướng đã ốm và mất tại vùng đất này. Sau khi lên ngôi, nhà vua đã cho lập đền thờ để ghi nhớ công lao của vị tướng đã mất. Trải qua biến thiên của thời gian, ngôi đền xưa đã không còn, di vật còn lại là chiếc khánh đá nhỏ có chạm hoa văn, chân tảng, gạch ngói nằm rải rác tại nền cũ. Hiện nay đền thờ Đức Ông đã được xây dựng mới có quy mô 3 gian 2 chái theo thức kiến trúc truyền thống và một số công trình khác trong không gian của đền như cổng tam quan, chùa Long Khê. Lễ hội đền Đức Ông được tổ chức hàng năm vào ngày mồng 1 tháng giêng và mồng 1 tháng 03 âm lịch.

      Đền thờ Bạch Y công chúa nằm ở xã Mậu Lâm là nơi thờ Bạch Y công chúa hay còn gọi là Bạch Y thần nữ, còn có tên gọi khác là đền Hạ Bồng, một địa danh được người Mường khai phá và đặt tên làng từ giữa thế kỷ 19. Đền còn được gọi là đền bà Chúa Thượng Ngàn. Theo tín ngưỡng dân gian của đồng bào miền núi Thanh Hóa, Bạch Y công chúa chính là phân thể của bà Chúa Thượng Ngàn, người cai quản vùng rừng núi. Đây chính là tín ngưỡng lưỡng giao phối thờ của người Việt - Mường trong đời sống tâm linh. Tuy nhiên, hạt nhân của hiện tượng độc đáo này là xuất phát từ nhân vật lịch sử có công phò vua giúp nước. Theo truyền thuyết, người có thần hiệu Bạch Y thần nữ là nhân vật có thật đã từng cứu Lê Lợi thoát khỏi sự truy đuổi của giặc Minh (hiện được phối thờ ở Lam Kinh). Ngôi đền xưa chỉ nhỏ 2 gian, làm bằng luồng lợp tranh, phía ngoài đặt tượng hộ pháp, đã bị hủy hoại trong kháng chiến chống Pháp. Hiện vật chỉ còn lại long ngai thần Bạch Y, bát hương, chuông đồng, kiếm thờ, một số đồ thờ cúng khác. Đặc biệt hiện còn 4  đạo sắc của các đời vua Thành Thái và Khải Định từ 1905-1925 đã sắc phong thần cho Thần Nữ. Trong những năm 2014 đến 2016, đền Bạch Y công chúa được đầu tư xây dựng mới. Đền xây dựng có kiến trúc chữ Đinh với tiền đường và hậu cung thông nhau. Hệ thống ban thờ 4 cấp nối từ nhà tiền đường đến hậu cung, cao nhất là ban thờ Thượng thiên Thánh Mẫu, ban thứ hai thờ Bạch Y Thượng Ngàn thánh Mẫu, ban thứ ba thờ Công đồng và ban dưới cùng thờ Thủy phủ. Ở gian Tiền đường, bên trái là ban thờ đức Thánh Trần, bên phải là ban thờ Mẫu. Hàng năm vào ngày 18 tháng giêng âm lịch tại đền thờ diễn ra lễ hội rước linh vị Bạch Y công chúa và các hoạt động văn hóa của nhân dân địa phương.

    Nói đến di tích của Như Thanh không thể không kể đến Na Sơn động phủ nằm ở xã Xuân Du, nơi thờ Mẫu nổi tiếng linh thiêng, điểm không thể bỏ qua trong hành trình lễ hội “lên rừng xuống biển”, một phong tục cầu may đầu năm của người dân xứ Thanh. Phủ Na là nơi thờ Mẫu, trong đó thờ cả thiên thần và nhân thần là: mẫu Âu Cơ, mẫu Thượng Thiên, mẫu Thượng Ngàn và Bà Triệu. Không chỉ thế, điều thú vị là dấu ấn tín ngưỡng nguyên thủy của người Mường cũng song song tồn tại nơi đây, đó là tín ngưỡng thờ mẹ Âu Cơ, chúa Cửa Rừng và thánh Tản Viên. Có thể thấy thần điện ở Phủ Na là sự hòa phối, giao thoa của hệ tín ngưỡng Việt - Mường. Theo nghiên cứu, các công trình kiến trúc của phủ Na hiện nay được xây dựng vào thời nhà Nguyễn (1909). Về mặt kiến trúc, Phủ Na bao gồm nhiều hạng mục công trình được bố trí theo thế núi và không gian rộng lớn nơi đây. Ngoài cùng là đền Cô Ba (đền đón), đi qua cây cầu nhỏ là vào khu vực chính điện. Chính điện được kiến trúc theo lối kiến trúc truyền thống hình chữ Tam thờ Mẫu và Đức Ông (gồm 3 cung Đệ nhất, Đệ nhị và Hậu cung) được bài trí các ban thờ cúng uy nghi, đẹp mắt. Nằm sâu trong phía trong, sát với vách núi là đền thờ bà Chúa Thượng và đền thờ Cô Chín, nơi đây có giếng Tiên với dòng thác nhỏ chảy từ trên đỉnh núi xuống nước trong vắt, mát rượi quanh năm. Trong không gian với Phủ Na là công trình hạt nhân còn có các công trình kiến trúc tín ngưỡng phụ cận như: đền Quan Hoàng, lầu Cô, lầu Cậu. Vẻ đẹp trong quy mô kiến trúc, độc đáo trong tín ngưỡng thờ cúng dân gian cùng với phong cảnh sơn thủy hữu tình và hệ thống đền miếu quy tụ ở bên sườn Na Sơn hùng vĩ đã tạo nên cho Phủ Na thành một quần thể di tích lớn và có giá trị. Đến Phủ Na, ngoài việc được thỏa mãn các nhu cầu mang tính tín ngưỡng tâm linh, còn có thể kết hợp thưởng ngoạn cảnh quan sinh thái với núi non trùng điệp. Cùng với Phủ Na là lễ hội Phủ Na mỗi năm hai lần, lần một kéo dài từ tháng 1 đến tháng 2 âm lịch hằng năm và lần hai từ mồng 1 đến ngày 16 tháng 8 âm lịch. Theo tín ngưỡng dân gian, hằng năm cứ mỗi độ xuân về, đông đảo nhân dân trong vùng và du khách thập phương lại trở về trẩy hội Phủ Na, vừa để thắp hương tưởng nhớ những người có công với đất nước, đồng thời mong muốn cầu nguyện cho một năm mới quốc thái dân an, mùa màng tốt tươi, mọi người may mắn, an lành, gia đình khoẻ mạnh. Ngoài các phần nghi thức khai hội của chính quyền địa phương, điểm nhấn của lễ hội Phủ Na là các hoạt động tế lễ mang tính tín ngưỡng thờ Mẫu như: rước bóng, rước kiệu, lễ tế Tứ Phủ, lễ tế Bà Triệu của bản đền, bản hội và tín đồ thập phương. Ở phần hội, các hoạt động văn hóa văn nghệ, các trò chơi dân gian cũng được tổ chức góp phần làm cho lễ hội thêm sinh động và hấp dẫn.

      Đền Phủ Sung nằm ở xã Như Thanh nơi thờ mẫu Tam phủ gồm: Thượng ngàn Thánh Mẫu, Thiên tiên Thánh Mẫu và Thoải cung Thánh Mẫu. Đền phủ Sung được xây dựng năm Thành Thái thứ 9 (1897), trải qua thời gian đã bị hủy hoại thành phế tích. Trong những năm 2011-2015 bằng nguồn kinh phí chống xuống cấp và các nguồn tài trợ, địa phương đã tiến hành xây dựng lại nhà từ đường và một số hạng mục. Hiện nay đền có 5 gian thờ Tam tòa Thánh mẫu và phối thờ các vị thần núi, thần sông. Cách bài trí nội thất đồ thờ là theo văn hóa truyền thống. Ngoài cùng là nghi môn, tiếp đến là sân đền có diện tích 210m2, ba phía có tường rào được xây bằng gạch. Nhà bái đường có 5 gian, 4 vì, 2 mái theo thức kiến trúc cổ truyền. Việc bố trí nơi thờ tự trong  bái đường được bố trí ở gian giữa, nơi có hai câu đối treo trên hai cột. Bệ thờ được xây thành 3 bậc, trên cùng thờ mẫu; bệ thứ hai có một bát hương, hai cây đèn và một lư hương bằng đồng; bệ thứ ba có một bát hương ở giữa và hai ống hương đồng hai bên. Hiện ngôi đền còn lưu giữ được một số hiện vật gốc có giá trị như lư hương đồng hình tròn thời Nguyễn, hai ống hương bằng đồng, một con chó đá, mười hai hòn đá tảng.

     Cùng với các di tích lịch sử văn hóa, Như Thanh còn có di tích lịch sử - cách mạng là lò cao kháng chiến Hải Vân nằm trong khu căn cứ cách mạng Đồng Mười. Di tích cách mạng này gắn với tên tuổi giáo sư Trần Đại Nghĩa và kỹ sư Võ Quý Huân. Lò cao bắt đầu được xây dựng vào năm 1949 để sản xuất gang, thép cho quân giới chế tạo súng đạn phục vụ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Mùa thu năm 1949, lò bắt đầu được xây dựng. Sau 15 tháng gian khổ vận chuyển hàng trăm tấn máy móc và nguyên liệu từ Nghệ An ra, Ninh Bình vào, đến tháng 9 năm 1951, lò cao thứ nhất được hoàn thành, tiếp đó lò cao thứ hai được xây dựng. Ngày 19/12/1951 mẻ gang đầu tiên ra lò, đánh dấu bước trưởng thành của ngành công nghiệp phục vụ kháng chiến kiến quốc. Trong ba năm, từ tháng 9 năm 1951 đến tháng 12 năm 1954, cán bộ, công nhân quân khí đã nêu cao ý chí kiên cường, vượt mọi khó khăn, thiếu thốn, vất vả để cho ra lò 500 tấn gang, góp phần đáng kể vào việc chế tạo vũ khí phục vụ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Cuối năm 1953, quân Pháp phát hiện được cơ sở cơ khí của ta ở đây nên đã cho máy bay bắn phá ác liệt. Để tiếp tục sản xuất, lò được chuyển vào lắp đặt hoàn chỉnh trong lòng hang núi đá Đồng Mười và lấy tên là Lò cao Hải Vân để kỷ niệm chiến thắng to lớn của quân ta tại đèo Hải Vân (Đà Nẵng). Sau chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, đến tháng 12/1954, lò cao Hải Vân ngừng hoạt động. Ngày nay, toàn bộ núi và hang Đồng Mười, nơi có lò cao Hải Vân, là di tích lịch sử - cách mạng còn được bảo tồn tương đối nguyên vẹn cả về cảnh quan thiên nhiên và di tích. Hiện nay tại di tích còn lò ủ gang (lò đứng/lò cao), “trái tim” của cỗ máy sản xuất gang từ những năm 50 của thế kỷ trước. Bước qua cửa hang là một không gian rộng, thoáng. Lò ủ nằm ở cuối hang chính, sát với vách đá và cao gần chạm trần hang. Lò được cấu trúc thành 5 tầng theo kiểu hình trụ tháp, mặt trong lát gạch chịu lửa, mặt ngoài bọc sắt. Lò được đặt trên 4 trụ sắt hình chữ Y, đỉnh được neo giữ vào trần hang bằng dây thép và cọc sắt, miệng lò vẫn còn lỗ thoát khí và thoát khói. Đặc biệt, trên các vách hang còn nhiều câu khẩu hiệu: “Đào sâu nhớ kỹ, kiểm điểm thành tích, viết tự thuật đầy đủ cụ thể”; “Đề cao tương trợ, đẩy mạnh sản xuất, giúp nhau kiểm điểm lấy thành tích, viết tự thuật tốt”... Ngày 18/4/2013, Lò cao kháng chiến Hải Vân đã được công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc gia.

     Cùng với các di sản văn hóa vật thể, vùng đất Như Thanh còn lưu giữ các di sản văn hóa phi vật thể rất độc đáo như lễ múa cây bông, trò chơi tung còn, trò đẩy gậy.

   Lễ múa cây bông của cộng đồng người Thái ở bản Mó Một, xã Xuân Du (lễ hội Séc Booc Mạy) có từ xa xưa. Hàng năm vào ngày mồng 10 Tết, người Thái ở bản Mó Một lại tổ chức lễ hội với ước mong được thần linh phù hộ cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, sức khỏe dồi dào, bản làng yên vui. Lễ vật để cúng là những sản vật tự nhiên, đặc biệt có một con lợn do chính nhà thầy Mo nuôi và chăm sóc trong một năm. Cúng lợn có ý nghĩa quan trọng trong lễ hội bởi con lợn sẽ mở đường dẫn âm binh lên mường Trời để bẩm báo với Pó Then (Trời) về việc Mo Mùn dưới Mương Piêng (trần gian) đã làm được nhiều việc tốt, thay mặt cho người Mương Piêng xin cảm tạ Pó Then không để cho các dịch bệnh đi xuống mường dưới và ban cho mường dưới được mưa thuận, gió hòa, mùa màng tươi tốt. Ngoài ra, lễ vật còn có một mâm xôi, một con gà, rượu 4 mâm 4 chai, mỗi mâm 2 quả trứng gà và 1kg gạo, 4 khăn vuông của người Thái, nến bằng sáp ong, 4 cái kiếm và một số đồ trong túi của thầy Mo, 4 cái đệm ngồi của người Thái dệt, 4 khăn piêu, 4 cái ô tự làm. Trong lễ cúng có 4 thầy cúng được thầy Mo mời đến dự, dựng cây hoa (cây bông) giữa nhà và 1 hũ rượu cần để trước cây hoa. Cây bông được làm bằng tre hoặc luồng, hoa cây bông, cây dâu, cây sắn, cây chục bục với các hình chim, thú, dụng cụ lao động sản xuất. Tùy thuộc vào thế hệ nhà Mo mà cây bông được làm 3, 5, 7, 9 tầng. Hiện nay, cây bông trong lễ hội được làm 9 tầng, với hàng ngàn hoa. Mỗi cây bông được ví như một số phận con người, mỗi bông hoa là một mùa vụ. Trên cây hoa có 1 dây dài vắt từ bàn thờ Mo Mùn đến đỉnh cây hoa gọi là “sái mương” và khi kết thúc lễ hội thầy Mo sẽ đưa cây hoa lên mường trời tặng Pó Then. Khi đã sửa soạn lễ xong, thầy Mo bắt đầu hành lễ, cúng rước thần linh, thần đất, thần nước, thần sông, thần núi, thần đồi, để báo cáo tổ tiên và các đấng bề trên về chứng cho lòng thành của dân làng, giúp xua đuổi quỷ dữ, tà ma và phù hộ mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu để dân làng được ấm no, hạnh phúc. Thầy Mo cũng không quên xin Pó Then cấp sắc (thăng chức) cho Mo Mùn để Mo Mùn có thể diệt trừ tà ma, ác quỷ, thần trùng. Sau khi phần lễ kết thúc, phần hội diễn ra với cây bông là vật trung tâm. Bên cây bông, điệu múa khăn, múa kiếm, múa ô, nhảy sạp được các cô gái, chàng trai trình diễn một cách điêu luyện, các trò diễn như lễ cầu mưa, đi cày, đi cấy, trỉa hạt, gặt lúa, giã gạo hay như bắt cá, trồng bông, dệt vải, thêu thùa, quay tơ... được tái hiện lại một cách sinh động.

        Trò đẩy gậy là môn thể thao dân gian truyền thống của đồng bào các dân tộc ở huyện Như Thanh. Cơ sở vật chất, dụng cụ cho môn chơi này rất đơn giản. Để tổ chức thi đấu môn thể thao này chỉ cần có gậy thi đấu làm bằng loại gỗ tốt hoặc tre già có chiều dài 2m, được sơn 2 màu khác biệt (thường sơn màu đỏ - vàng hoặc đỏ - trắng); thân gậy được làm nhẵn và có đường kính bằng nhau (khoảng 5cm). Sân thi đấu là một vòng tròn có đường kính 5m, có vạch giới hạn rộng 5cm. Trọng tài môn này thường mặc trang phục đồng bào dân tộc hoặc trang phục màu đen có thắt lưng bằng vải đỏ. Sau khi có khẩu lệnh “cầm gậy”, người chơi mới được phép cầm gậy. Trọng tài một tay cầm chính giữa gậy, hô “chuẩn bị”, sau đó thổi một hồi còi phát lệnh cho hiệp đấu bắt đầu, đồng thời buông tay cầm gậy ra. Theo quy định người nào bị đẩy ra khỏi vòng tròn trước là thua cuộc. Mỗi cuộc thi đẩy gậy thường diễn ra từ 2-3 hiệp (không hạn chế thời gian). Đẩy gậy là môn thể thao dân tộc kết hợp giữa sức khỏe và sự khéo léo của người chơi, sức mạnh là yếu tố cơ bản quyết định sự thắng thua, nhưng bên cạnh đó những yếu tố quan trọng như: tâm lý, kỹ thuật, kinh nghiệm thi đấu, sự dẻo dai cũng là yếu tố không thể thiếu. Trong các dịp lễ hội, lễ trọng của làng bản, đẩy gậy không chỉ dừng lại là trò chơi, mà nó còn là một diễn ngôn nhằm biểu dương sức mạnh về thể chất của cộng đồng dân cư

           Trò tung (ném) còn là trò chơi dân gian gắn liền với đời sống sinh hoạt và lao động của dân tộc Thái, Mường ở huyện Như Thanh. Trò chơi này thường được tổ chức vào dịp đầu năm mới, đặc biệt là trong các dịp lễ hội. Đây là dịp để đồng bào vui chơi, giao lưu kết bạn, thậm chí giao duyên với sự tham gia của đông đảo các nam thanh, nữ tú. Để thực hiện trò chơi tung còn chỉ cần có quả còn, cây nêu và sân bãi rộng. Sân tung còn là bãi đất rộng, ở giữa chôn một cây nêu bằng tre, trên đỉnh cột buộc một “vòng còn” hình tròn đường kính 40 - 50cm, một mặt dán giấy đỏ (biểu tượng cho mặt trời), mặt kia dán giấy vàng (biểu tượng cho mặt trăng). Quả còn hình cầu, to bằng nắm tay trẻ nhỏ, bên trong nhồi thóc và hạt bông, có các tua vải nhiều màu trang trí. Chơi tung còn phải có hai đội, một đội nam và một đội nữ, hoặc hỗn hợp nam, nữ mặc sắc phục truyền thống của dân tộc mình, lấy cây nêu làm ngăn cách, nhìn hướng vào nhau. Số lượng người chơi ở mỗi đội không hạn chế. Mỗi đội được làm hai quả còn và đều muốn quả còn của mình đẹp nhất, rực rỡ nhất. Mở đầu cuộc chơi là phần nghi lễ, thầy Mo dâng hai quả còn làm lễ giữa trời đất, cầu cho bản làng yên vui, mùa màng tươi tốt, nhà nhà no ấm. Sau phần nghi lễ, thầy mo cầm hai quả còn đã được “ban phép” tung lên cho mọi người tranh cướp, khai cuộc chơi ném còn. Người chơi đứng đối mặt với nhau qua cây còn, tung quả còn lọt qua vòng còn trên đỉnh cột là thắng cuộc. Tung còn là trò chơi hấp dẫn nhất của trai gái trong dịp hội xuân, hội làng, dịp lễ lớn của Mường, của đất nước. Trong dịp xuân mới, cuộc chơi thường kéo dài suốt mấy ngày hội và khi bóng chiều xuống dần, họ lại cùng nhau quây quần nâng chén rượu nồng chúc nhau khỏe mạnh, hạnh phúc, nhà nhà đầy thóc, đầy ngô, lợn gà đầy chuồng. Trước khi khép hội, thầy mo rạch quả còn lấy hạt thóc, hạt bông bên trong tung lên để mọi người cùng hứng lấy vận may. Người ta quan niệm hạt giống này sẽ mang lại mùa màng bội thu và may mắn. Hội tung còn đầu xuân còn là hội của tình yêu đôi lứa, nhiều đôi trai gái nên vợ chồng cũng bắt nguồn từ tham gia trò chơi này.

     Chợ Bến Sung nằm ở trung tâm xã Như Thanh, được xây dựng sau khi thành lập Thị trấn Bến Sung năm 2002. Chợ là đầu mối giao thương không chỉ của nhân dân trong huyện mà điểm trao đổi hàng hóa của vùng rừng Như Thanh, Như Xuân và đồng bào dưới xuôi lên đây. Vì vậy, đây không chỉ là nơi buôn bán, giao thương hàng hóa mà còn là nơi giao lưu văn hóa đa sắc màu giữa các tộc người. Chợ được xây dựng quy mô, kiên cố, các mặt hàng được chia thành từng khu chuyên biệt. Chợ bán rất nhiều mặt hàng, từ đồ gia dụng, dân dụng, may mặc,… cho đến lương thực, thực phẩm. Đặc biệt, hàng hóa ở chợ mang đậm màu sắc của núi rừng, đó là các sản vật đặc sản của vùng rừng núi Như Thanh, Như Xuân như: mật ong, thuốc nam, măng, rau sắng, chuối, các loài thủy sản sông suối, đặc biệt là cá sông Mực. Chợ cũng có những gian hàng bán các sản phẩm do người Mường, người Thổ sản xuất như: thổ cẩm, vải vóc, đồ dùng cá nhân, dụng cụ gia đình, công cụ sản xuất. Khi đến thăm chợ, ngoài việc mua được những món hàng hóa mang đậm bản sắc vùng miền, người đi chợ còn được ngắm nhìn những bà, những cô bán hàng mang trên mình những bộ trang phục, trang sức truyền thống đầy sắc màu, được nghe giọng nói, câu hát bằng đúng chất giọng của đồng bào dân tộc Mường, Thổ

       Làng du lịch cộng đồng Roọc Răm ở xã Yên Thọ là ngôi làng cổ, nằm trong vùng đệm của Vườn Quốc gia Bến En, nơi sinh sống chủ yếu của đồng bào dân tộc Thái, Mường. Đây cũng chính là địa điểm diễn ra lễ hội kin chiêng boọc mạy, di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, vô cùng đặc sắc. Làng Roọc Răm còn nổi tiếng với di tích đền Cấm linh thiêng gắn liền với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Hiện nay dự án làng du lịch cộng đồng Roọc Răm đang trong giai đoạn hình thành. Khi đi vào hoạt động, làng du lịch sẽ mang đến cho du khách sản phẩm du lịch sinh thái, trải nghiệm đậm chất văn hóa bản địa. Đến đây du khách được tham gia các hoạt động sinh thái gắn liền với núi rừng, tham quan danh thắng tự nhiên, trải nghiệm cuộc sống thường ngày của các gia đình dân tộc Thái, Mường, cũng như tìm hiểu về truyền thống văn hóa của người dân bản xứ thông qua các hoạt động sinh hoạt thường ngày và lễ hội văn hóa dân gian. Đặc biệt, lễ hội Kin Chiêng Boọc Mạy của người Thái ở đây đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2018.

    Thực hiện cuộc cách mạng sắp xếp đơn vị hành chính và tinh giản tổ chức bộ máy, sau 30 năm ra đời, tồn tại và phát triển đến nay huyện Như Thanh không còn. Từ 1/7/2025, 13 xã và 1 thị trấn, Như Thanh sẽ còn 6 xã là: Như Thanh, Xuân Du, Mậu Lâm, Yên Thọ, Thanh Kỳ và xã Xuân Thái.

      Là vùng miền núi thấp, chuyển tiếp giữa miền núi cao và đồng bằng nam Thanh Hóa, Như Thanh không chỉ có những lợi thế về cảnh quan thiên nhiên, văn hóa tộc người phong phú mà còn nằm trong khu vực kinh tế động lực Nam Thanh - Bắc Nghệ. Dù huyện Như Thanh không còn nhưng vùng đất mang tên Như Thanh vẫn còn đó, cảnh quan thiên nhiên đặc sắc vẫn còn đó, những giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng các tộc người vẫn còn đó để vùng đất này tự tin vào tương lai tươi sáng của mình.

Ps: Hồ sông Mực ở vườn QG Bến En

Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2025

LÃO TỬ VÀ KHỔNG TỬ.

        Hơn hai ngàn năm trước có cuộc gặp kỳ lạ giữa Khổng và Lão.

        Khổng ngồi kiệu đi trên đại lộ. Ngài vừa phe phẩy chiếc quạt, vừa lim dim đôi mắt. Bọn người khênh kiệu còng lưng đi thật đều để giữ thăng bằng cho thầy an tọa. Bỗng phía trước có kẻ cưỡi trâu cắt ngang qua. Khổng mở mắt nhìn và quát:

        – Tên trẻ trâu kia vô lễ, đường lớn không đi lại cắt ngang mặt người ta?

        Con trâu dừng lại ngoái cổ nhìn. Tên trẻ trâu cười nói:

        – Ngươi biết ta đã bao nhiêu tuổi rồi không mà cao giọng bảo ta trẻ trâu vô lễ? Chẳng qua ngươi đi trên con đường người ta đã dọn sẵn. Sự thực không có đường nào là lớn cả. Nơi không có đường mới thực sự là lớn!

       Khổng mở to mắt nhìn. Bây giờ mới thấy người kia dù mặt mũi trẻ con nhưng râu tóc bạc phơ, chừng như đã sống mấy trăm năm, bèn ra lệnh cho phu hạ kiệu và bước xuống vòng tay thi lễ:

       – Tại hạ có mắt như mù. Chẳng hay lão trượng chính là Lão Tử, người nước Sở?

       Lão vẫn ngồi vắt vẻo trên lưng trâu nheo mắt cười:

       – Đích thị là mỗ, bốn phương là nhà, không cần biết sinh ra ở đâu! Thái độ trịch thượng như ngươi ta đoán không nhầm là người họ Khổng nước Lỗ? Chào Khổng Phu Tử!

       Khổng lại vái chào lần nữa:

       – Tại hạ là Khổng Khâu đây, Đạo của tại hạ vốn khiêm cung, lão trượng đã quá lời…

       Lão nhìn bọn phu kiệu lưng ướt đẫm mồ hôi rồi nhìn Khổng khăn áo lượt là mà cười, con trâu cũng cười theo. Lão nói:

       – Đạo của ngươi là gì?

       Khổng trịnh trọng:

       – Tóm gọn trong mấy chữ Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

       Lão cười vang:

       – Có đến năm thứ, thứ nào cũng khó, cũng cao, sao gọi là khiêm cung? Những người dân chân lấm tay bùn làm sao học được cái Đạo ấy?

       Khổng thanh minh:

       – Đạo của tại hạ chỉ dành cho người quân tử, không dành cho kẻ tiểu nhân. Với người dân chân lấm tay bùn chỉ cần Lễ là đủ. Nhất nhật khắc kỉ phục lễ, thiên hạ quy nhân yên!

       Lão hỏi:

       – Tự nhiên sinh ra vốn bình đẳng, làm gì có phân biệt quân tử hay tiểu nhân? Lễ là phép tắc, trật tự, ngày nào cũng bắt dân phục lễ khác nào ngươi bắt dân phải đeo gông đi trên con đường hẹp. Còn Nhân, Nghĩa, Trí, Tín ngươi dành cho quan quyền khác nào mở đường cho chúng tự do nói dối, giả nhân giả nghĩa, lưu manh, lừa lọc? Vậy còn phụ nữ thì sao?

        Khổng lúng túng không trả lời hết các câu hỏi, chỉ trả lời câu cuối cùng như cái máy:

       – Phận nữ nhi thường tình!

       Lão lại cười ha ha:

       – Vậy mẹ của ngươi cũng là tiểu nhân? Vậy thì Lễ của ngươi nói kính cha thờ mẹ để làm gì? Bây giờ thì ngươi đi đâu?

      Khổng tự hào thưa:

      – Đi chu du thiên hạ để truyền Đạo. Nhà Chu suy, chư hầu nổi loạn, rất cần đạo trị – bình để thu thiên hạ về một mối, yên ổn vì đại cục…

       Lão cắt lời:

       – Nguy tai! Nguy tai! Nhà Chu suy đồi mà ngươi lại dùng phép tắc nhà Chu làm mẫu mực để gọi là Lễ? Nói thật, Đạo của ngươi cũng chỉ là con đường cụt. Lễ mà ngươi dạy đời ấy chỉ tạo thêm ra loại người đối với bề trên thì nịnh nọt uốn gối khom lưng, đối với kẻ dưới thì trịch thượng khinh người. Đạo trị – bình của ngươi chỉ có thể giữ thế ổn định tạm thời để bọn quan quyền tham nhũng. Dân vì hèn, vì sợ mà tạm bình, chứ quan đang nắm quyền thống trị thì sẽ tranh chấp hỗn loạn, cắn nhau như chó tranh cứt. Sao không để chư hầu nổi loạn mà làm lại từ đầu? Cái cây già mục ruỗng đã sắp chết thì dọn đi để trống đất cho cây con mọc lên, khư khư giữ lấy làm gì?

       Nghe đến đấy, Khổng không khỏi nổi giận, mặt đỏ phừng phừng:

       – Lão trượng không nên xúc phạm Thiên tử và kích động làm loạn. Tội phản nghịch đáng bị tru di ba họ. Nhưng thôi, coi như tại hạ chưa nghe gì. Vậy mạo muội hỏi, Đạo của lão trượng là gì?

       Lão Tử vẫn khoan thai, tay đưa lên vuốt chòm râu trắng:

      – Ta chỉ có một cái đầu trong muôn vạn cái đầu của thiên hạ. Ba họ nhà ta là ai ta còn chưa biết thì sợ gì họa tru di. Ngươi hỏi Đạo của ta ư? Đạo của ta là vô đạo, đường của ta đi là không có con đường. Đó mới là Đại Đạo.

       Khổng ngơ ngác không hiểu gì. Nhìn vẻ mặt ngơ ngác ấy, Lão lại ngửa mặt cười vang, đưa ngón tay vẽ một vòng thái cực vào không khí và nói:

       – Ngươi cứ nhìn vào trời đất mà hiểu Đạo của ta. Kìa, có trời thì có đất, có núi thì có sông, có cao thì có thấp, có dài thì có ngắn, có cương thì có nhu, có rỗng thì có đặc, có sáng thì có tối, có thẳng thì có cong… Mọi thứ đang dịch chuyển trong sự biến hóa vô cùng. Tự nhiên tự do nhưng có trật tự và cái lý của nó. Cao thì xa, thấp thì gần, dài thì yếu, ngắn thì mạnh, cương thì gãy, nhu thì dẻo, rỗng thì âm to, đặc thì câm… Mọi thứ trong trời đất gắn kết được nhờ khác biệt, không có chuyện giống nhau mà hợp lại được với nhau. Đạo của ngươi áp đặt mọi thứ theo trật tự như ngươi muốn và bắt buộc mọi thứ giống như nhau mà được à?

        Bây giờ thì Khổng nghe như nuốt từng lời. Khổng hỏi:

       – Đạo của lão trượng từ đâu ra vậy?

       Lão nói:

       – Từ trời đất, từ nhân gian mà ra. Ta học được từ đám dân đen mà Đạo của ngươi gọi là bọn tiểu nhân đáng khinh bỉ đấy!

      Lão lại nhìn Khổng đang trố mắt mà tiếp:

      – Ta nghe ngươi đi đến đâu, các vua chư hầu đuổi đến đó như đuổi tà. Có người bảo ngươi chỉ là kẻ cơ hội. Nhưng ngươi yên tâm, vài trăm năm sau Đạo của ngươi sẽ được trọng dụng vì nó sẽ là vũ khí bịp bợm tốt nhất. Người ta sẽ leo lẻo nói điều Nhân, điều Nghĩa, người ta luận về điều Trí, điều Tín, nhưng nói một đằng làm một nẻo. Và hiển nhiên, người ta sẽ tôn ngươi là Thánh để mê hoặc lòng người!

        Đến đây, Khổng cúi sát người xuống chân Lão mà lạy ba lạy:

        – Tại hạ lĩnh giáo và xin bổ sung vào Đạo của mình. Đời vẫn có quân tử và tiểu nhân, nhưng Đạo lớn nhất vẫn là lấy dân làm gốc ạ!

        Lão lại bật cười đến văng nước bọt:

        – Câu đó sẽ là câu mị dân lớn nhất! Dân nghe vậy sẽ vui vẻ làm trâu cày cho sự nghiệp của các quan chứ gì?

        Nói đoạn, Lão vỗ mông trâu bỏ đi, không một lời chào. Con trâu họ lên một tiếng và ỉa một bãi to tướng trước mặt Khổng rồi đưa Lão băng qua cánh đồng. Khổng nhìn theo không chớp mắt. Kỳ lạ là con trâu đi đến đâu cỏ cây dạt ra đến đấy. Lão Tử nhẹ nhàng như bay giữa không gian vô tận rồi mất hút ở chân trời. Khổng lầm bầm, rằng Lão thật sự tự do, con đường của Lão thật sự là con đường lớn, không như ta cả đời tự đeo gông vào cổ và đi vào ngõ cụt mà không biết…

        Tối hôm đó về nhà trọ, Khổng trằn trọc suốt ba canh rồi thiếp đi. Trong giấc mơ, Khổng thấy mình sống lừng lững đến 2000 năm, bao nhiêu người đến sụp lạy tôn Khổng thành Thánh. Khổng cứ ngồi bất động mà làm Thánh. Không biết là mộng ác hay mộng lành. Chỉ biết rằng khi tỉnh dậy, Khổng thấy cứt đầy quần. Bèn thay quần áo và gói ghém mọi thứ ô uế vào chiếc tay nải bằng nhung rồi một mình lặng lẽ bước đi trong đêm tối. Khổng ném tất cả xuống cầu và đứng nhìn dòng sông đen ngòm đang chảy xiết…

        Sử sách chỉ viết có cuộc gặp gỡ Khổng – Lão mà tuyệt nhiên không kể lại đầu đuôi chuyện này.

Sưu tầm

Chủ Nhật, 30 tháng 11, 2025

46 BÀI THUỐC DÂN GIAN VÀ 53 MẸO TRỊ BỆNH HAY

 


Kinh nghiệm dân gian. Không biết hiệu quả thế nào, nhưng chắc không hại gì.

 

01. Bụi hoặc muỗi bay vào mắt, mắt bị cay xè:

Chớ có dụi mắt mà tổn thương đến giác mạc. Chỉ cần thè lưỡi liếm mép vài cái, nước mắt sẽ ứa ra “lùa vật lạ” ra khỏi mắt! Nên nhớ một điều:

nếu bị mắt phải thì liếm mép bên trái và ngược lại.

02. Mắt nhắm không khít:

Một mắt nhắm không khít (do bị liệt dây thần kinh số 7 chẳng hạn), hơ ngải cứu bên mắt đối xứng. Ngày hơ nhiều lần, mỗi lần hơ độ vài phút, mắt sẽ dần dần nhắm khít.

03. Mũi nghẹt cứng:

Dù mũi bị nghẹt (tắc hoặc tịt) đến mức nào và đã bao lâu rồi, chỉ cần hơ ngải cứu vào đồ hình mũi trên trán - từ giữa trán (huyệt 103) đến đầu đôi lông mày (huyệt 26), độ một phút thôi, mũi sẽ thông thoáng ngay. Thật là một phép lạ đến khó tin.

04. Bả vai đau nhức, không giơ lên cao được:

Dùng đầu ngón tay trỏ gõ vài chục cái vào đầu mày (huyện 65) cùng bên đau. Vai hết đau và tay lại giơ lên cao được ngay.

05. Bong gân, trật khớp cổ tay:

Hãy bình tĩnh dùng ngón tay trỏ gõ mạnh độ vài chục cái vào sát đuôi mày cùng bên đau, cổ tay sẽ trở lại bình thường (muốn tìm điểm chính xác cần gõ, hãy lấy ngón tay miết nhẹ vào đuôi mày, thấy chỗ nào hơi lõm xuống, đấy là điểm chính xác - huyệt 100 - phản chiếu đúng cổ tay).

06. Bong gân, trật khớp vùng mắt cá chân:

Mắt cá chân bên nào bị trật khớp, hơ vùng mắt cá tay cùng bên. Mắt cá chân bị đau dù đã lâu ngày cũng lành trong vài phút. Các vận động viên quốc gia, các cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp hãy nhớ lấy mẹo này để tự cứu mình và giúp người.

07. Bắp chân bị vọp bẻ (chuột rút):

Dùng cườm tay day mạnh vào bắp tay độ vài chục cái, vọp bẻ hết liền.

Nhớ vọp bẻ chân bên nào thì day mạnh bắp tay bên đó.

08. Gai gót chân:

Nhớ hơ đúng điểm tương ứng bên gót chân đối xứng, chỉ vài phút thôi, gót chân hết đau liền. Hết sức cẩn thận kẻo bị phỏng.

09. Đầu gối đau nhức:

Hơ vùng khuỷu tay (cùi chỏ) cùng bên, chỉ độ vài phút đầu gối (khuỷu

chân) hết đau liền.

10. Bị táo bón lâu ngày:

Dùng hai ngón tay (ngón trỏ và ngón giữa) lăn quanh miệng độ vài ba phút - khoảng độ 200 vòng, táo bón sẽ được giải quyết.

Cách lăn như sau: lăn từ mép phải vòng lên môi trên sang mép trái. Lăn tiếp vào phía dưới và giữa môi dưới rồi kéo thẳng xuống ụ cằm (hình thành một dấu hỏi lớn chiếm 3/4 quanh miệng). Nhớ lăn từ phải qua trái mới nhuận tràng, hết táo bón. Ngược lại lăn từ trái qua phải, sẽ càng táo bón hơn đấy!

11. Nhức đầu

a. Bất cứ nhức ở bộ phận nào trên đầu, mới nhức hay đã lâu, nặng hay nhẹ, chỉ cần hơ mu bàn tay trái (đã nắm lại) trên điếu ngải độ vài phút, nhức đầu như búa bổ cũng hết ngay. Nào! Thử làm xem.

b. Nếu nhức nửa đầu bên phải, hơ nửa mu bàn tay phía bên phải.

c. Nếu nhức nửa đầu bên trái, hơ nửa mu bàn tay phía bên trái.

d. Nếu nhức sau gáy, hơ phía cổ tay trên.

e. Nếu nhức đỉnh đầu, hơ ụ xương gồ cao nhất của ngón tay giữa.

f. Nếu nhức thái dương, chỉ cần hơ thái dương đối xứng 1 phút là hết ngay.

g. Nếu nhức cả hai bên thì hơ đi hơ lại.

h. Nếu nhức trán, hơ hết các đốt cuối của 4 ngón tay đã nắm lại.

i. Nếu chỉ nhức nửa trán bên phải, hơ 2 ngón tay bên phải.

k. Nếu chỉ nhức nửa trán bên trái, hơ 2 ngón tay bên trái.

l. Nếu chỉ nhức giữa trán, chỉ cần hơ 2 ngón giữa độ 1 phút là hết ngay.

k. Nếu nhức quanh đầu, hơ quanh mu bàn tay.

12. Mất ngủ

Bất kể mất ngủ vì nguyên nhân gì, xin nhớ không nên dùng thuốc ngủ vừa tiền mất vừa tật mang. Bí quyết đơn giản để có giấc ngủ ngon là:

trước khi ngủ, hãy xoa đôi bàn chân cho ấm. Chân ấm là bụng ấm, thân ấm. Đó là điều kiện đầu tiên để ngủ ngon. Sau đó, dùng đầu ngón tay giữa bên trái gõ vào huyệt An thần (tức Ấn đường của Đông y hoặc huyệt

26 của Diện Chẩn - đầu đôi lông mày) độ vài phút sẽ làm nhịp tim ổn định và tinh thần được thư thái. Tay trái phản chiếu tim, Đầu ngón tay giữa phản chiếu cái đầu. Tâm và Thân an lạc – đó là những điều kiện cần thiết để ngủ ngon.

13. Sình bụng (do ăn không tiêu)

Nếu ở nhà, hãy lấy ngải cứu hơ vào rốn và quanh vùng rốn độ vài phút, bụng sẽ xẹp dần. Nếu đang ở bữa tiệc đông khách, hãy lặng lẽ đi ra ngoài đến chỗ vắng người, lăn bờ môi trên một lúc: trung tiện bùng phát, bụng hết sình ngay!

14. Bí tiểu

Người lớn hoặc các cháu nhỏ có lúc bí tiểu, hãy bình tĩnh vuốt cằm độ vài phút, “cơn bí” hết liền! Cách vuốt như sau: ngón tay cái giữ chân cằm, ngón tay trỏ vuốt ụ cằm từ trên xuống dưới nhiều lần. Bàng quang sẽ được tháo nút, nước tiểu tự do chảy (theo Diện Chẩn, ụ cằm phản chiếu bàng quang – huyệt 87). Các cụ già hay đi tiểu đêm, các cháu nhỏ hay đái dầm, trước khi ngủ độ 15 phút hãy tự vuốt cằm đi, các “tật”

trên sẽ tự biến rất nhanh!

15. Nấc cụt

Đây là bệnh thông thường nhưng lại gây nhiều khó chịu, làm cho người bệnh mất ăn, mất ngủ. Ăn sao được khi vừa nâng bát cơm lên đã bị cơn nấc trào ngược rồi; ngủ sao được khi vừa nằm xuống, cơn nấc đã rộ lên âm vang khắp nhà! Có người phải nằm bệnh viện nhiều ngày mà vẫn không dứt căn. Chỉ cần làm một trong các hướng dẫn dưới đây, nấc cụt sẽ phải “đầu hàng”:

a- Dùng đầu ngón tay trỏ gõ mạnh vào đầu sống mũi nằm giữa cặp lông mày (huyệt 26 và312) độ 15 cái. Nấc cụt biến mất đến khó tin (huyệt 26 là an thần và huyệt 312 thông nghẽn nghẹt).

b- Dùng đầu ngón tay trỏ vuốt mạnh từ đầu cánh mũi bên trái xuôi xuống chân cánh mũi độ 10-15 cái. Nấc cụt chịu phép phải nằm im, không dám ló mặt ra!

c- Dùng 4 đầu ngón tay (từ ngón trỏ đến ngón út co sát lại với nhau thành một đường thẳng) vạch dọc giữa đầu (từ trán ngược lên đỉnh đầu) độ 15 cái là hết nấc cụt! Xin hãy thử làm xem!

16. Đau bụng

Có thể khỏi nhanh bằng một trong những cách chữa đơn giản sau:

a- Hơ (bằng điếu ngải) hai lòng bàn tay độ 10 phút.

b- Hơ hai lòng bàn chân độ 10 phút.

c- Hơ rốn và lấy tay lăn quanh miệng.

17. Đau tử cung:

a- Gạch rãnh nhân trung từ đầu rãnh (sát mũi) đến cuối rãnh (sát bờ môi trên) nhiều lần.

b- Gạch hai bờ nhân trung và bờ môi trên nhiều lần.

18. Đau đầu dương vật:

Chỉ cần hơ đầu mũi độ 1 phút, đầu dương vật sẽ hết đau.

19. Đau khớp háng:

Gạch và hơ đường viền cánh mũi một lúc, khớp háng hết đau. Nhớ đau khớp háng bên nào thì gạch đường viền cánh mũi cùng bên.

20. Đau gót chân:

Hơ và gõ gót chân đối xứng độ vài phút, gót chân đang đau hết ngay.

21. Đau bụng kinh:

Hãy vuốt môi trên vài phút, đau bụng kinh hết liền.

22. Ho ngứa cổ:

a- Chà xát hai cổ tay vào nhau nhiều lần. Nhớ hai bàn tay phải nắm lại đã trước khi cọ xát vào nhau.

b- Hơ cổ tay trong của bàn tay trái đã nắm lại vài phút, ho và ngứa cổ hết rất nhanh. Xin chú ý, bàn tay trái nắm lại, lật úp xuống: mu bàn tay phản chiếu đầu não, cổ tay phản chiếu cổ gáy. Bàn tay trái nắm lại, lật ngửa ra: lòng bàn tay phả chiếu trái tim, cổ tay phản chiếu cổ họng.

23. Huyết áp cao:

Hãy lấy đầu ngón tay út bấm vào huyệt (huyệt 15) nằm sâu sau loa tai bên trái nhiều lần (độ 1 phút), huyết áp sẽ hạ liền.

24. Huyết áp thấp:

Vẫn dùng đầu ngón tay út bấm sâu vào huyệt (huyệt 19) đầu nhân trung sát với mũi nhiều lần, huyết áp sẽ được nâng lên liền.

25. Huyết trắng:

Dùng hai đầu ngón tay – ngón trỏ và ngón giữa – để nằm ngang chà xát hai bờ môi một lúc.

26. Bế kinh:

Dùng lăn đôi lớn lăn xuôi từ rốn xuống háng cho đến khi bụng nóng lên.

Ngày lăn nhiều lần; độ 3-5 ngày, kinh nguyệt sẽ trở lại bình thường.

27. Lẹo mắt (lên chắp)

Chỉ cần bấm vào chân mụn lẹo vài lần, mụn lẹo sẽ tiêu rất nhanh. Nhớ phát hiện càng sớm, chữa càng khỏi nhanh.

28. Liệt mặt (Thần kinh số 7 ngoại biên) Chỉ cần nhìn qua bên mặt bị liệt đã thấy hai triệu chứng rõ rệt: mắt nhắm không khít và một bên mép bị méo xệch xuống. Cách chữa hết sức đơn giản đến mức khỏi rồi mà vẫn tưởng như nằm mơ. Nhanh độ 3 ngày, chậm độ 7 ngày là khỏi.

a. Lấy điếu ngải cứu đốt hơ bên mắt lành độ vài phút, mắt có bệnh cứ từ từ nhắm lại. Mỗi ngày hơ vài lần, mắt nhắm lại dần dần.

b. Lấy tay hoặc lăn đôi nhỏ (trong bộ dụng cụ lăn, day huyệt) lăn chéo từ mép bị méo lên phía đỉnh tai. Ngày lăn nhiều lần, mỗi lần lăn độ vài phút. Chẳng bao lâu mép sẽ được kéo lên cân bằng với mép lành.

29. Mắt không di động được

Chỉ cần gõ vài chục lần vào huyệt nằm ở phía trước và dưới bình tai, mắt sẽ chuyển động bình thường. Huyệt này nằm ở ngay chỗ lõm sát bình tai, khi há miệng là sờ thấy ngay. Đây là huyệt số 0 của diện chẩn và đồng thời cũng là huyệt Thính hội của Đông y.

30. Đắng miệng

Dùng ngón tay trỏ gõ mạnh vào huyệt lõm kề sát bên dưới môi dưới (huyệt 235) độ vài chục cái, miệng hết đắng liền!

31. Hàm mặt đau cứng (Thần kinh số 5)

Lấy điếu ngải cứu hơ mặt ngoài ngón tay cái (cùng bên đau) từ ngón đến giáp cổ tay. Nhớ khi hơ bàn tay phải xòe ngửa ra. Chỉ cần hơ độ vài phút, hàm mặt đau cứng sẽ mềm dần và trở lại bình thường.

32. Hắt hơi liên tục

Sẽ hết ngay trong 1 phút nếu biết lấy ngải cứu hơ dọc từ giữa trán (huyệt 103) thẳng xuống đến giữa đôi lông mày (huyệt 26).

33. Ho khan lâu ngày

Lấy ngải cứu hơ hai bên sườn mũi, hai bên mang tai (từ đỉnh tai xuống đến dái tai), cổ tay trong (của bàn tay trái đã nắm lại) và trực tiếp cổ họng.

34. Hóc (hột trái cây, xương)

Bấm hoặc gõ vào huyệt sát đầu nhân trung (huyệt 19) nhiều lần.

35. Các khớp ngón tay khó co duỗi

Lấy ngải cứu hơ đầu xương các đốt ngón tay rồi lăn, vê các đốt đó nhiều lần.

36. Mắt quầng thâm

Lấy ngải cứu hơ trực tiếp vào mắt, quầng thâm sẽ tan dần.

37. Buồn ngủ nhíu mắt lại

Vò hai tai một lúc là tỉnh ngủ liền.

38. Nhảy mũi

Lấy ngón tay trỏ cào từ cửa lỗ mũi xuống đến môi vài chục cái là hết nhảy mũi!

40. Quai bị

Bấm huyệt ngay sát dái tai bên sưng (huyệt 14) rồi hơ dái tai đối xứng độ vài phút. Ngày làm nhiều lần, quai bị tiêu rất nhanh.

41. Nhức răng

Hơ ngải cứu quanh vùng má bên đau độ 1 phút, răng hết nhức liền.

42. Mắt đỏ

Gạch đầu gan bàn tay dưới 3 ngón tay giữa độ vài phút, mắt đỏ hết rất nhanh. Nhớ mắt đỏ bên nào, gạch bàn tay cùng bên.

43. Mắt nhức

Hãy dùng đầu ngón tay trỏ cào đỉnh tai (huyệt 16) bên mắt nhức độ một lúc, mắt hết nhức liền.

44. Mắt nháy (giật)

Dùng đầu ngón tay trỏ cào vào phần dưới (huyệt 179) của đầu lông mày bên mắt bị nháy một lúc, mắt sẽ hết giật.

45. Tê lưỡi, cứng lưỡi

a- Hơ ngải cứu xong rồi vê ngón tay cái bàn tay trái một lúc, lưỡi hết tê.

b- Gõ vào huyệt sát trên dái tai độ 1 phút, hết cứng lưỡi.

46. Khan tiếng

a- Chà xát vùng gáy cho nóng lên độ vài phút là hết.

b- Dùng ngón tay trỏ gõ mạnh vào vùng trước dái tai nhiều lần trong ngày

 

Y học cỏ truyền - Mẹo Dân Gian lưu truyền

 

1. Cách cai rượu:

Lấy 2 lạng hạnh nhân sống cùng một ít bột ngọt pha thành nước, sau đó ngâm hai ngày rồi nhỏ hai giọt vào rượu, cùng uống một ít, có thể cai rượu.

2. Cách cai thuốc lá:

Lấy một quả tân lang (quả cau) (k cần trầu không)

khoan một lỗ nhỏ, đổ một ít dầu thay thuốc lá vào lỗ đó, ngâm nước hai ngày rồi lấy ra để khô, khi muốn hút thuốc, chỉ cần ngửi một cái là không còn muốn hút nữa, ai ngửi cũng có thể cai thuốc lá.

3. Cách giải rượu:

Dấm, đường trắng, nước trà mỗi loại 100g, sau khi uống say, lập tức uống vào, có thể nhanh chóng tỉnh rượu, uống càng nhiều tỉnh càng nhanh.

4. Làm trắng răng:

Khi đánh răng, thêm một chút baking soda lên kem đánh răng, đánh ba lần răng sẽ trắng như ngọc, mảng bám tự nhiên rơi ra.

5. Cách khử hôi miệng:

Mỗi ngày nhai vài lá trà trong miệng ba lần, có thể giữ hơi thở thơm mát, ba ngày sau khử được hôi miệng.

6. Khản giọng phải làm sao:

Lấy 50g giấm tinh, 50g đường trắng, hòa với 250g nước nguội, khuấy đều rồi uống chậm rãi, một ngày là khỏi, bệnh nặng thì tối uống thêm hai lần.

7. Táo bón:

Lấy một đoạn hành to bằng ngón út, chấm ít dầu mè, rồi đưa vào hậu môn, kéo lên kéo xuống; nếu bị táo bón lâu năm thì dùng giấm tinh.

8. Bệnh vẩy nến:

Lấy nửa cân giấm gạo ngâm 1 lạng hạt thông đã bóc vỏ, ngâm hai ngày, mỗi ngày bôi ba lần, hiệu quả càng tốt hơn. Hoặc dùng một thìa bột vỏ quýt hòa với nửa thìa dầu mè rồi bôi.

9. Đau răng tuyệt chiêu:

Lấy nhân đào đốt nóng rồi cắn vào răng đau, làm vài lần sẽ không đau răng nữa.

10. Chảy máu cam:

Khi chảy máu cam nhiều, để bệnh nhân nằm ngửa, tay đối diện với bên mũi chảy máu giơ cao, huyệt vị sẽ tự động khép lại, máu lập tức ngừng.

11. Mắc xương cá:

Dùng giấm cũ súc họng, sau đó nuốt chậm, làm vài lần là khỏi.

12. Hôi chân, nấm chân:

Lấy một cân giấm gạo, đổ vào chậu, ngâm hoặc rửa chân, mỗi ngày hai lần, mỗi lần khoảng một giờ, có thể tiêu viêm sát khuẩn, chữa nấm chân, đơn giản và nhanh, nhẹ thì bốn ngày khỏi hẳn.

13. Điếc, ù tai sau bệnh:

Lấy nước tiểu mèo có mùi tỏi, nhỏ vào tai ba lần, mỗi lần hai giọt có thể chữa khỏi điếc sau bệnh. Ù tai có thể dùng da rắn nung thành tro, thổi vào tai, thổi ba lần là khỏi.

14. Kiểm soát tiểu đường phương pháp mới:

Lấy một cân hạt ngô tươi, thêm nước thích hợp, đun đến khi ngô nở bung, chia làm bốn lần, mỗi ngày uống một bát, phương thuốc này không chữa khỏi hẳn, chỉ kiểm soát bệnh, có thể hạ đường huyết. Người bị phù, tiểu nhiều dùng hiệu quả rất tốt.

15. Ngủ ngáy, nghiến răng:

Trước khi ngủ ngậm một miếng vỏ quýt trong miệng, ngậm 15 phút rồi nhổ ra, làm 3–5 lần sẽ khỏi ngáy và nghiến răng.

16. Hôi chân, ra mồ hôi chân:

Tán phèn chua thành bột mịn, xoa lòng bàn chân 10 phút, làm 3–4 lần, sau đó chân không còn ra mồ hôi, không hôi. Hiệu quả duy trì 7–8 tháng.

17. Động kinh (Dương cước phong):

Lấy một con giun đất, nửa lạng phèn chua, cho vào bát to, dùng nước sôi pha loãng, uống một bát mỗi sáng lúc đói, uống liên tục 10 ngày.

18. Viêm miệng:

Mỗi ngày sáng tối ăn một quả lê, nuốt chậm, giữ 3–4 ngày sẽ cải thiện ngay. Trường hợp nặng cũng có thể dùng cách này.

19. Bệnh mạch vành:

Lấy 50g đậu tương, luộc chín, thêm ít muối ăn nhiều, ăn liên tục 3–4 ngày, phương này giúp kiểm soát bệnh mạch vành không tiến triển, rất hiệu quả, khi phát bệnh cũng dùng phương này.

20. Chữa đau nửa đầu:

Dùng vỏ củ cải trắng dán lên hai bên huyệt Thái Dương mỗi tối 20 phút, hiệu quả nhanh, hết đau đầu thì không cần dán nữa, phương này chủ trị chóng mặt, đầu căng tức.

21. Chữa bệnh trĩ (phương thuốc dân gian):

Lấy 3 lạng urê, cho vào chậu, dùng nước sôi hòa tan, nhúng khăn vào cho ướt rồi vắt khô, đặt lên ghế ngồi xông. Mỗi lần 10 phút, mỗi ngày 3 lần, xông liên tục 7 ngày. Có thể chữa trĩ nội, trĩ ngoại, chảy máu, sa hậu môn.

22. Gọi sữa nhanh:

Vừng rang chín, thêm ít muối, tốt nhất nên ăn trước khi sinh 10 ngày, ăn kèm bữa cơm như món phụ, có thể nhanh chóng tăng sữa, ăn càng nhiều sữa về càng nhanh.

23. Chữa mất ngủ (mẹo nhỏ):

Cắt nhỏ phần trắng của hành, để vào đĩa nhỏ, đặt cạnh gối trước khi ngủ, sẽ ngủ yên giấc, liên tục vài ngày có thể khỏi hẳn. Người mất ngủ lâu năm, chỉ cần áp dụng 5 ngày là khỏi.

24. Bệnh tim:

Mỗi sáng và tối ăn 50g dứa, ăn 5–7 ngày hiệu quả tốt nhất, khoảng 2 năm không tái phát, nếu phát bệnh lại, tiếp tục ăn lần nữa. Người bệnh nặng mỗi ngày ăn 2 lần, có thể ổn định bệnh tình.

25. Suy giảm thị lực phải làm sao:

Lấy vỏ hạnh khô, xé nhỏ, làm gối nhỏ, có thể giúp sáng mắt, dưỡng thần. Có hiệu quả nhất định với giảm thị lực, chảy nước mắt khi gặp gió, cận thị, viễn thị.

26. Nứt da tay chân:

Dùng cao dán phong thấp dán lên chỗ bị nứt, sau một ngày bóc ra sẽ lành, trăm lần như một.

27. Viêm da (mẹo nhỏ):

Lá mướp rừng vò nát, chà lên vùng bị bệnh đến khi đỏ, mỗi 7 ngày chà một lần, làm 3 lần là khỏi; bệnh nặng làm 6 lần sẽ khỏi hẳn.

28. Viêm mũi:

Dùng bông gòn thấm một giọt dầu mè, đặt vào mũi 15 phút rồi lấy ra, liên tục 2–3 ngày, mỗi ngày 3 lần; bệnh nặng tăng thêm 2 lần. Cũng có thể ngâm tỏi với giấm rồi nhét vào mũi.

29. Cao huyết áp:

Lấy 2 lạng rong biển tươi, nấu thành một bát canh rong biển, không cho rau khác vào, sáng sớm uống khi đói, uống liên tục 10 ngày sẽ phục hồi huyết áp bình thường.

30. Thận hư:

Đậu khấu tươi 100g, thêm nước nấu nhừ, cho ít muối, uống trước mỗi bữa cơm, liên tục 3–5 ngày sẽ phục hồi sức khỏe. Nếu thường xuyên ăn, có tác dụng tăng cường thể lực.

31. Cách tẩy nám, đốm trên mặt:

Hạnh ngâm nước cho mềm, bóc vỏ, giã nhuyễn thành bột, thêm một lòng trắng trứng gà khuấy đều, mỗi tối bôi trước khi ngủ, sáng hôm sau rửa bằng rượu trắng, làm đến khi vết nám mờ.

32. Chữa bệnh dạ dày (dân gian):

Lấy 20 vỏ trứng gà đỏ, đặt lên ngói, hơ khô, tán bột mịn, uống với nước đường, trước bữa ăn uống một thìa nhỏ, ngày 2 lần, uống hết là được. Phương thuốc này rất quý, đồng thời có tác dụng bổ sung canxi và chữa bệnh còi xương.

33. Chấn thương bầm tím:

Hẹ giã nát, thêm một ít nước tiểu trẻ nhỏ, đắp lên chỗ bị thương, vài giờ là hết sưng, 3 ngày sau phục hồi bình thường.

34. Giảm béo nhanh:

Mua 2 lạng trà Ô Long ở cửa hàng quốc doanh, uống trong một tuần, trà Ô Long có thể nhanh chóng hòa tan mỡ, thúc đẩy chuyển hóa mỡ, đạt hiệu quả giảm cân, đồng thời phòng ngừa béo phì (trà phải đặc).

35. Bí quyết trường thọ:

Thường xuyên vận động, không nóng giận, không lo lắng, hằng năm nên ăn nhiều tỏi ngâm đường, tỏi ngâm đường là phương thuốc tốt nhất kéo dài tuổi thọ, có thể tiêu diệt nhiều loại vi khuẩn có hại trong cơ thể.

36. Kinh nguyệt không đều:

Lấy 2 lạng lá Tô Tử (lá tía tô), ngâm nước nóng rồi uống, người nhẹ chỉ cần uống 4 chén là được, người nặng uống nhiều ngày, có tác dụng điều kinh, an thần, đặc biệt hiệu quả với đau bụng kinh, lạnh bụng, kinh nguyệt không đều.

37. Tóc bạc sớm:

Lấy 500g vỏ sò điệp (canh bối) sắc nước gội đầu, mỗi ngày một lần, liên tục 6–8 lần, tóc mọc lại đen và dày, nếu tóc bạc nhiều thì gội thêm vài lần.

38. Da thô ráp trở nên mịn:

Mỗi tối dùng một lòng trắng trứng gà xoa mặt, sau một giờ rửa sạch bằng nước, nếu làm thường xuyên, da sẽ ngày càng mịn.

39. Viêm quanh khớp vai, đau lưng chân, đau thần kinh tọa, thoát vị đĩa đệm:

Lấy 7 con thổ nguyên (bọ xít đất) nung thành tro, 7 lạng rượu vàng, cho chung vào chai, ngâm 7 ngày 7 đêm, mỗi tối lúc 7 giờ uống 7 tiền rượu vàng, đồng thời dùng nắm tay vỗ mạnh lên chỗ đau 7×7=49 lần hoặc 9 lần, bệnh nặng uống nhiều liệu trình sẽ khỏi.

40. Lao phổi (phương thuốc dân gian):

500g kén tằm sống, hơ khô, tán thành bột mịn, mỗi lần uống 3–5g, ngày 2 lần, uống hết là được, hiệu quả rất tốt, phương thuốc này do Viện Nghiên cứu Trung Y Trung Quốc cung cấp.

41. Chữa đau khớp (viêm khớp):

Lấy rơm lúa đốt thành tro, cho vào túi nhỏ, chỗ nào đau thì dán vào đó, mỗi tối dán 1 giờ, dán 3 lần sẽ khỏi. Phương này vừa đơn giản, vừa hiệu quả, có cải thiện rõ rệt với đau lưng, đau chân.

42. Hôi nách:

Dùng 100g giấm gạo, 5g bột hồi hương, trộn đều, bôi nhiều lần dưới nách, hôi nách sẽ biến mất ngay.

43. Ngứa phải làm sao:

Lấy một lát gừng tươi, chà vào lòng bàn chân, nam chà bên trái, nữ chà bên phải, mỗi lần chà 10 phút.

44. Tăng sinh xương (gai xương):

Lấy 4 ống xương ống cừu, đốt bằng củi to đến khi cháy vàng, sau đó nghiền thành bột, mỗi tối sau bữa cơm uống với 1–2 lạng rượu vàng, dùng liên tục vài lần.

45. Nuốt phải vật kim loại:

Lấy hẹ xào chín, nuốt từng miếng to, vật sẽ theo phân ra ngoài. Với mảnh kính vỡ, sau khi nuốt phải cũng có thể dùng phương này.

46. Tay chân tê dại:

Nấm mèo đen đã ngâm, nhân đào, mật ong mỗi thứ 120g, giã nhuyễn, để vào bát hấp nóng, chia ăn hết trong 4 ngày, sẽ khỏi tê dại vĩnh viễn. Phụ nữ mang thai cấm dùng.

47. Rụng tóc, gàu:

Lấy rễ cải thảo, rửa sạch, thái lát, cho vào nồi gang thêm đủ nước, đun sôi rồi thêm giấm tinh, dùng để gội đầu, liên tục 7–8 ngày, tóc sẽ mềm mượt, bóng đẹp, gàu biến mất nhanh, không rụng tóc.

48. Chữa nấm móng (móng tay/móng chân bị mốc):

Tỏi vỏ tím giã nhuyễn, thêm ít phèn chua trắng, bôi lên móng bị bệnh, không bôi quá dày, dùng nilon bọc kín móng, nilon có tác dụng che sáng tốt, chỉ cần 7–8 ngày, cảm giác căng tức là khỏi.

49. Tẩy giun đũa:

Hạt bí đỏ (bóc vỏ giữ nhân) 50–100 hạt, nghiền nát, thêm nước và đường vừa đủ, khuấy thành hồ, uống lúc đói một lần sẽ khỏi. Phương này có thể tẩy nhiều loại ký sinh trùng ở trẻ em.

50. Viêm tuyến vú:

Lấy một miếng nhỏ cây xương rồng, giã nát, thêm 3 giọt dầu mè, đắp lên chỗ bị bệnh.

51. Chữa mắt cá chân (chai chân):

Lấy một miếng băng dính, cắt lỗ nhỏ giữa, dán lên mắt cá, lỗ trùng với mắt cá, rồi rắc ít bột urê (phân hóa học) lên mắt cá, dán thêm miếng băng dính khác đè lên, 3 ngày thay một lần, thay 6 lần, mắt cá tự tiêu biến.

52. Viêm tiền liệt tuyến:

Táo khô 3 lạng, gan gà trống 3 cái, hầm nhừ, ăn cả nước lẫn cái, uống liên tục 3 lần.

53. Thấp khớp dạng thấp:

Lấy cành dâu non, bao nhiêu cũng được, thái nhỏ, trộn ít rượu, xào vàng, thêm nước sắc uống, sáng tối mỗi lần 1 chén, uống liên tục có hiệu quả.

Sưu tầm : YHCT