XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG

Thứ Bảy, 10 tháng 1, 2026

LÁ SỐ TUỔI MẬU TUẤT (1958


I. THÔNG TIN CĂN BẢN
• Năm sinh: Mậu Tuất – 1958
• Thiên can: Mậu (Thổ dương)
• Địa chi: Tuất (Thổ)
• Ngũ hành nạp âm: Bình Địa Mộc (Gỗ đồng bằng)
• Cung mệnh:
• Nam: Càn (Kim) – Tây tứ mệnh
• Nữ: Ly (Hỏa) – Đông tứ mệnh

Can – Chi đều thuộc Thổ nhưng nạp âm là Mộc → đời có nghịch lý: trong cứng có mềm, ngoài nghiêm trong nhân.

II. TÍNH CÁCH – KHÍ CHẤT
Người tuổi Mậu Tuất có khí chất của người giữ nền – giữ đạo – giữ lời.

Nét nổi bật:
• Sống chính trực, ghét gian dối
• Trọng chữ Nghĩa – Tín
• Chịu thiệt về mình, ít than vãn
• Có xu hướng gánh việc cho người khác
• Suy nghĩ nhiều, nội tâm sâu

Nhược điểm:
• Dễ ôm việc, ôm trách nhiệm
• Ít nói tâm sự → dễ u uất
• Hay lo xa, nặng lòng gia đình – xã hội

Tuổi này không hợp bon chen, càng không hợp lối sống “được – thua tức thì”.

III. CÔNG DANH – SỰ NGHIỆP
Tổng quan:
• Tiền vận: chậm, lận đận, làm nhiều hưởng ít
• Trung vận: ổn dần, có vị thế
• Hậu vận: an nhàn nếu biết buông đúng lúc

Tuổi Mậu Tuất không phát sớm, nhưng càng về sau càng có:
• Uy tín
• Kinh nghiệm
• Sự kính trọng của người khác

Hợp với:
• Quản lý, hành chính
• Giáo dục, đào tạo
• Nông – lâm nghiệp
• Văn hóa, nghiên cứu
• Công việc liên quan đến cộng đồng, làng xã

* Không hợp:
• Đầu cơ, lướt sóng
• Nghề nhiều rủi ro, biến động nhanh

IV. TIỀN BẠC – TÀI LỘC
• Tiền đến từ lao động bền bỉ, không phải may mắn
• Có lộc nhà đất, ruộng vườn, tích tiểu thành đại
• Ít khi giàu nhanh, nhưng hiếm khi khốn khó về già

Phúc lớn nhất của tuổi này là biết đủ.

V. TÌNH DUYÊN – GIA ĐẠO
• Sống vì gia đình, con cái
• Hôn nhân có thể không êm ả lúc đầu
• Về sau gia đạo ổn định, con cháu nể trọng

Lời khuyên:
• Học cách nói ra điều mình nghĩ
• Đừng gánh hết phần thiệt về mình

VI. SỨC KHỎE – THÂN TÂM
Dễ gặp các vấn đề:
• Xương khớp
• Dạ dày – tiêu hóa
• Huyết áp
• Mất ngủ do lo nghĩ

Tuổi này sống thọ hay không phụ thuộc vào việc buông bớt lo toan.

VII. ĐẠI VẬN CUỘC ĐỜI (KHÁI QUÁT)
• 0–30 tuổi: Vất vả, nhiều thử thách
• 31–45 tuổi: Gầy dựng, chưa rảnh tay
• 46–60 tuổi: Ổn định, có tiếng nói
• 61 trở đi: Hậu vận an nhàn, hưởng phúc nếu không tham việc.

VIII. TRIẾT LÝ SỐ MỆNH TUỔI MẬU TUẤT
“Không sinh để hơn người,
mà sinh để giữ đạo cho đời.”

Tuổi Mậu Tuất:
• Không cần phô trương
• Không cần hơn thua
• Chỉ cần sống đúng, sống bền → phúc tự đến.

MẬU TUẤT DIỄN CẦM TAM THẾ

(Cổ phán theo tháng sinh)
Sinh tháng Giêng
Xuân lai Mậu Tuất khí còn hàn,
Tiền vận lao đao chí chẳng tàn.
Trung niên vững bước nhờ nhân nghĩa,
Hậu hưởng an nhàn phúc thế gian.
Sinh tháng Hai
Thổ gặp mưa xuân nặng nợ đời,
Thiếu thời gánh vác chẳng thảnh thơi.
Giữa đời có tiếng hơn có của,
Cuối vận yên lành cháu thuận vui.
Sinh tháng Ba
Mộc khí sinh Thổ lẫn tranh giành,
Sớm nếm phong trần lắm ngọt cay.
Qua bốn mươi tuổi thời hanh thông,
Về già thanh thản hưởng cơ may.
Sinh tháng Tư
Hạ khởi hỏa vượng khắc Bình Mộc,
Một đời nhẫn nhịn giữ tâm trong.
Danh đến muộn mà bền như đá,
Hậu vận yên vui cửa phúc hồng.
Sinh tháng Năm
Nắng lửa nung gan chí chẳng mòn,
Thiếu niên cơ cực chẳng kêu than.
Trung vận dựng nên nền gia nghiệp,
Cuối đời con cháu vẹn bình an.
Sinh tháng Sáu
Thổ gặp Hỏa nhiều dễ nặng lo,
Một đời giữ nghĩa ít mưu to.
Qua thời gian khó tâm càng sáng,
Về già phúc lộc tự tìm cho.
Sinh tháng Bảy
Kim sinh Thủy động mệnh Bình Mộc,
Sớm gặp thị phi, lắm rối ren.
Giữ được lòng ngay qua bĩ cực,
Cuối đời yên ổn tựa mây hiền.
Sinh tháng Tám
Thu sang khí tĩnh, số an bài,
Không ưa tranh đoạt, ghét khoe tài.
Trung niên có vị trong làng xóm,
Hậu vận thanh nhàn hưởng lộc dài.
Sinh tháng Chín
Thổ vượng thu sâu dễ cô đơn,
Tâm nhiều trăn trở nặng tình thân.
Danh không rực rỡ nhưng bền chắc,
Về già phúc hậu cháu con gần.
Sinh tháng Mười
Đông chớm phong sương chí vẫn bền,
Một đời lặng lẽ chẳng bon chen.
Qua năm năm mươi thời vận mở,
Tuổi già an lạc hưởng trời yên.
Sinh tháng Mười Một
Thủy hàn khắc Mộc, số long đong,
Thiếu vận lao tâm lắm nỗi lòng.
Nhờ đức giữ nhà qua khốn khó,
Hậu lai phúc trạch tự thong dong.
Sinh tháng Chạp
Cuối năm tích khí đủ âm dương,
Trải hết gian nan mới tỏ đường.
Trung vận vững vàng nhờ nhẫn đức,
Về già an hưởng phúc miên trường.
TỔNG PHÁN CHUNG
Mậu Tuất số không giàu sớm,
Nhưng bền đức, bền danh, bền phúc.
Qua sáu mươi, nhẹ việc đời,
Phúc do tâm mà sinh, thọ do đức mà dài.
P/S: Diễn Cầm Tam Thế Tướng Pháp là một bộ sách kỳ thư (sách quý) về bói toán, tướng số, dựa trên tinh thần Kinh Tam Thế Nhân Quả Phật giáo, giúp luận đoán vận mệnh, quá khứ, hiện tại và tương lai của con người thông qua ngày tháng năm sinh và các yếu tố khác, kết hợp tinh hoa từ tác phẩm của Gia Cát Lượng (Tam Thế Tướng Pháp) và Viên Thiên Cương (Diễn Cầm Tam Thế).

MẬU TUẤT DIỄN CẦM TAM THẾ – CỔ PHÁN (Tháng sinh âm lịch)

Tháng Giêng
Xuân hàn nhập mệnh, số lao đao,
Trung niên vững đức, hậu an hào.

Tháng Hai
Thổ gặp mưa xuân, gánh nặng vai,
Giữ nghĩa qua đời, phúc tự khai.

Tháng Ba
Phong trần sớm nếm, chí chưa nhàn,
Qua tuổi trung niên vận mở sang.

Tháng Tư
Hỏa vượng nung thân, tâm chẳng đổi,
Danh muộn mà bền, phúc chẳng phôi.

Tháng Năm
Nắng lửa nung gan, đời thử thách,
Trung vận gây nền, hậu hưởng lạc.

Tháng Sáu
Hỏa thổ giao tranh, tâm lắm lo,
Nhẫn qua gian khó, phúc về cho.

Tháng Bảy
Kim thủy động mệnh, lắm thị phi,
Giữ lòng ngay thẳng, hậu an trì.

Tháng Tám
Thu khí điều hòa, số thảnh thơi,
Danh hơn của cải, sống an đời.

Tháng Chín
Thổ vượng thu sâu, nặng tình thân,
Không giàu rực rỡ, phúc lâu bền.

Tháng Mười
Sương sa nhập số, chí còn bền,
Qua năm năm chục vận hanh yên.

Tháng Mười Một
Thủy hàn khắc mộc, đời long đong,
Giữ đức qua nạn, hưởng thong dong.

Tháng Chạp
Cuối năm tích khí, số viên dung,
Hậu vận an hòa, thọ miên trường.

CHUNG PHÁN

Mậu Tuất chẳng hợp cầu nhanh,
Lấy đức làm gốc, lấy nhẫn làm thuyền,
Qua bĩ cực, tự đến thái lai.

PS: Diễn Cầm Tam Thế Tướng Pháp là một bộ sách kỳ thư (sách quý) về bói toán, tướng số, dựa trên tinh thần Kinh Tam Thế Nhân Quả Phật giáo, giúp luận đoán vận mệnh, quá khứ, hiện tại và tương lai của con người thông qua ngày tháng năm sinh và các yếu tố khác, kết hợp tinh hoa từ tác phẩm của Gia Cát Lượng (Tam Thế Tướng Pháp) và Viên Thiên Cương (Diễn Cầm Tam Thế).

LỊCH SỰ KIỂU SÀI GÒN


Sài Gòn quen lối đèn son đỏ
Quẹo phải thong dong chẳng vội vàng
Xe dạt lề chừa đường nho nhỏ
Một làn vừa đủ bánh xe sang.
Đường chật kẹt xe không ai gắt
Sau lưng im lặng, chẳng còi vang
Được quyền quẹo phải là quyền đó
Chứ chẳng ưu tiên ép lối ngang.
Thấy ai chạy sát đừng lo sợ
Chẳng phải giựt đồ, chẳng hiểm nguy
“Anh ơi! Chị ơi! Cái chống đó!”
Một lời nhắc nhẹ ấm tình si.
Bao gương mặt lạ qua đường phố
Chỉ trỏ chân xe, nhắc vội vàng
Nói xong phóng mất như cơn gió
Muốn gửi lời ơn cũng lỡ làng.
Ai chở đồ nhiều dây ràng lỏng
Thế nào cũng có tiếng kêu to
“Anh ơi! Dây tuột!” – nghe thân thuộc
Giữa dòng xe cộ vẫn ân lo.
Chở trẻ ngủ quên lưng dựa ngả
Có người nhắc khẽ rất chân tình
Áo quên kéo khóa ai dè thấy
Một tiếng thì thầm giữ nghĩa sinh.
Mưa xuống, thành phố thành sông nước
Ngã giữa mênh mang có bạn dìu
Xe chết máy nhau cùng đạp giúp
Xa gần nhường sửa chẳng hơn thua.
Lỡ quẹt đuôi xe, câu xin lỗi
Đủ làm nguôi giận, mát lòng nhau
Một lời nhỏ thôi mà êm ái
Tránh được bao điều dữ về sau.
Nhường đường, xin lỗi và cám ơn
Ba nét văn minh giữa phố phường
Sài Gòn – Gia Định – Chợ Lớn đó
Chảy mãi trong đời sống thân thương.
“Cám ơn nha!” – “Không có chi đâu!”
Câu nói nghe sao ngọt ngào ghê
Đèn xanh đèn đỏ quen câu hát
Cây Gõ tỏ lu vẫn vỗ về.
Gật đầu cám ơn qua ngã rẽ
Đủ hiểu người đây sống có tình
Giận hờn, yêu thương hay nói lẫy
Vẫn ngọt như đường giữa nắng hanh.
Cùng một cội nguồn con cháu Việt
Lý thuyết là chung, sống khác nhiều
Người Nam nói thẳng: “Tôi Nam Việt”
Gắt lên thì bảo: “Sai Gon, I live.”
Saigonese – đâu cần sinh quán
Sống sao cho đúng nết Sài Gòn
Tôn trọng, lịch sự, lòng cởi mở
Thì nơi nào cũng hóa quê hương.

PHÉP LỊCH SỰ

 

Sang không bởi áo quần đeo
Mà do cư xử sớm chiều với nhau
Lời ăn tiếng nói trước sau
Là thước đo phẩm, sang giàu người ơi.
Chê người dung mạo làm chi
Không khen thì hãy thầm thì lặng im
Gương soi họ tự nhìn tìm
Lời dư chỉ khiến trái tim nặng lòng.
Bàn ăn là chốn đo lòng
Được mời chớ gọi món sang nhất bàn
Bạn bè san sẻ công bằng
Cà phê chầu lại, nghĩa càng thêm thân.
6 ta, 9 phía người gần
Khác nhau góc nhìn, chẳng cần hơn thua
Giữ tình quý hơn tranh đua
Thắng lời mà mất dây đưa… uổng rồi.
Hai lần gọi đã đủ thôi
Không nghe tức bận, đừng lôi thêm phiền
Nhắn vài dòng ngắn dịu hiền
Tôn trọng khoảng lặng là duyên con người.
Bao giờ cưới? Lương bao nhiêu?
Nhà đâu, con cái… hỏi liều vô duyên
Quan tâm chẳng phải tò mò
Im lặng đôi lúc là cho yên lành.
Nợ dù nhỏ, trả cho nhanh
Đừng chờ nhắc đến mới đành mở miệng
Ân nhân hóa kẻ đòi tiền
Chỉ vì chậm một chữ “quên” tự lòng.
Giữ dùm cánh cửa sau lưng
Già hay trẻ nhỏ, nữ – nam cũng cần
Không hề thấp kém bản thân
Chỉ là phép học làm người văn minh.
Đùa vui cốt ở nụ cười
Một người khó chịu, một người hả hê
Biết dừng đúng lúc, đừng mê
Lời đùa quá trớn thành chê rất buồn.
Cảm ơn, xin lỗi đôi lời
Không mua bằng bạc mà mời được tâm
Tiết kiệm chi những âm trầm
Hai từ nhỏ ấy nuôi mầm thiện duyên.
Khen người nên khen trước đông
Chê thì góp ý kín trong riêng người
Hạ ai giữa chốn đông vui
Chẳng làm mình lớn, chỉ lòi kém sang.
Mượn xem điện thoại đôi hàng
Xin đừng lướt ảnh trái sang, phải tùy
Đời riêng có ranh giới kia
Xâm vào là đã vụng về rất sâu.
Người đi khám bệnh ốm đau
Đừng tra hỏi kỹ trước sau làm gì
“Mau lành nhé” đủ từ bi
Muốn kể hay không, họ thì tự hay.
Cách ta đối xử hằng ngày
Với người phục vụ, bảo vệ quanh mình
Nói lên bản chất thật tình
Chứ không phải lúc giao minh đối hàng.
Ngồi cùng mà mắt dán màn
Điện thoại che mặt, lời vàng hóa rơm
Ấy là sỉ nhục không lời
Một sự lặng lẽ khiến người tổn thương.
Đừng làm thầy dạy giữa đường
Khi chưa ai hỏi, chớ thường lên tiếng
Nhiều khi người chỉ cần nghe
Chứ không cần kẻ giảng mê cao đàm.
Khoe sao cho khéo, cho vừa
Xe sang trước kẻ đang mùa nợ vay
Than con quấy khóc hôm nay
Trước người hiếm muộn – có hay chăng buồn.
Đúng giờ là một đẳng sang
Đến muộn là trộm thời gian của người
Không kịp, hãy báo một lời
Tôn trọng nhau đã sáng ngời nhân tâm.
Mượn xe nhớ đổ xăng đầy
Trả sao cho trọn nghĩa dày đã vay
Lòng tốt xin chớ hao gầy
Vì thêm chi phí chẳng hay chút nào.
Hẹn rồi chớ hủy phút sau
Trừ khi biến cố, đừng vì “ngại đi”
Người kia dành trọn thời thì
Chờ ta, hủy hẹn là khiếm nhã nhiều.
Nghe cho trọn ý người trao
Đừng ngắt nửa chừng câu nói đang dang
Tôn trọng từ việc lắng nghe
Là nền giao tiếp tâm sang lâu bền.

Thứ Sáu, 9 tháng 1, 2026

ĐỊA CHÍ HUYỆN QUAN HÓA THANH HOÁ


I. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ – ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH

Quan Hóa là huyện miền núi cao nằm ở phía tây bắc tỉnh Thanh Hóa, thuộc vùng thượng lưu sông Mã. Trước khi thực hiện Nghị định số 72/CP ngày 18 tháng 11 năm 1996 của Chính phủ về điều chỉnh địa giới hành chính, Quan Hóa là huyện có diện tích lớn nhất tỉnh Thanh Hóa và thuộc nhóm những huyện có diện tích lớn nhất cả nước, với tổng diện tích tự nhiên 2.741 km², gần gấp đôi diện tích tỉnh Thái Bình cũ (1.585 km²).

Sau khi chia tách thành ba huyện: Quan Hóa, Quan Sơn và Mường Lát, huyện Quan Hóa còn lại diện tích 990,70 km². Dân số toàn huyện là 49.765 người, trong đó:
• Dân tộc Thái: 32.687 người
• Dân tộc Mường: 12.489 người
• Dân tộc Kinh: 4.002 người
• Dân tộc Mông: 475 người
• Các dân tộc khác chiếm tỷ lệ nhỏ

Trước ngày 1/7/2025, thời điểm thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, huyện Quan Hóa có 14 xã và 1 thị trấn.

Về địa giới:
• Phía Bắc giáp tỉnh Sơn La và Hòa Bình (nay thuộc tỉnh Phú Thọ)
• Phía Nam giáp huyện Quan Sơn
• Phía Đông giáp huyện Bá Thước
• Phía Tây giáp huyện Mường Lát, tỉnh Sơn La và tỉnh Hủa Phăn (CHDCND Lào)

Trục giao thông chính là Quốc lộ 15A chạy dọc theo thung lũng sông Mã, nối Quan Hóa với vùng đồng bằng Thanh Hóa và các tỉnh Tây Bắc.

II. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
1. Địa hình
Quan Hóa là huyện miền núi cao, với khoảng 95% diện tích là đồi núi. Địa hình bị chia cắt mạnh, núi cao, sông sâu, nhiều vực thẳm, ghềnh thác, giao thông đi lại khó khăn.

Dãy núi Pha Luông là trục địa hình chính, kéo dài từ Sơn La – Hòa Bình – Tam Điệp – ra ven biển Đông, tạo thành bức tường tự nhiên phân cách Thanh Hóa với vùng Tây Bắc. Trên địa bàn Quan Hóa có nhiều đỉnh núi cao, hiểm trở, tiêu biểu như:
• Đỉnh Pha Phu Phong: cao 1.587 m, cao nhất tỉnh Thanh Hóa
• Núi Mú Mường
• Dãy Pù Hu
• Dãy Pha Ú Hò
• Dãy Pù Luông

2. Sông ngòi

Sông Mã là hệ thống thủy văn chủ đạo. Sông dài 512 km, trong đó đoạn chảy trên lãnh thổ Việt Nam dài 410 km, riêng đoạn qua Thanh Hóa dài 270 km. Đoạn sông Mã chảy qua Mường Lát và Quan Hóa dài khoảng 80 km, uốn lượn, lòng sông hẹp, nhiều ghềnh thác dữ dội, tạo nên cảnh quan hùng vĩ nhưng cũng đầy hiểm trở.

Ngoài sông Mã, Quan Hóa còn có các sông lớn như sông Luồng, sông Lò – những con sông gắn liền với quá trình hình thành bản mường, đời sống kinh tế và văn hóa của cư dân nơi đây từ hàng nghìn năm trước.

III. KHÍ HẬU
Quan Hóa thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa núi cao, đặc trưng bởi:
• Nhiều sương mù, khí lam chướng
• Mùa đông lạnh kéo dài
• Mùa mưa tập trung từ tháng 7–9

Theo ghi chép của Đồng Khánh địa dư chí, vào buổi sáng thường đến cuối giờ Mão mới thấy ánh mặt trời, chiều tối từ cuối giờ Thân sương mù đã bao phủ. Mùa đông rét đậm, mùa hè nắng nóng kèm gió Lào.

IV. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ BIẾN ĐỔI HÀNH CHÍNH
Theo Đồng Khánh địa dư chí (1887–1888), Quan Hóa là châu thuộc phủ Quảng Hóa, gồm 6 tổng và 28 xã. Dân cư chủ yếu là người Thái (khi đó gọi chung là người Thổ).

Theo Đại Nam nhất thống chí (1909), vùng đất Quan Hóa:
• Nguyên là đất Ai Lao
• Thời Lý – Trần gọi là trại Quan Du, sách Da Quan
• Thời Lê đổi thành châu Quan Da
• Năm Minh Mạng thứ 16 (1835) hợp châu Tàm với châu Quan Da, lập châu Quan Hóa
• Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đổi châu Quan Hóa thành huyện Quan Hóa

V. DÂN CƯ – DÂN TỘC – VĂN HÓA
Quan Hóa là địa bàn cư trú tập trung nhất của người Thái tại Thanh Hóa, chiếm gần 70% dân số. Người Thái Quan Hóa tự gọi là Tày hoặc Táy. Hình thức tổ chức xã hội truyền thống là mường – đứng đầu là Tạo mường, đại diện cho cả quyền lực thế tục và thần quyền.

Các mường lớn như mường Ca Da, mường Áng giữ vai trò trung tâm về chính trị, kinh tế và văn hóa. Người Thái sinh sống dọc các sông suối, làm ruộng nước, kết hợp chăn nuôi, săn bắt và các nghề thủ công truyền thống như dệt thổ cẩm, đan lát, nấu rượu cần.

Đời sống tinh thần phong phú với dân ca Khặp (Khắp), lễ hội, tín ngưỡng thờ thần núi, thần sông, thờ tổ tiên. Người Thái là một trong số ít các dân tộc thiểu số có hệ chữ viết riêng; hiện nay chữ Thái đang được phục hồi và truyền dạy rộng rãi.

VI. DI TÍCH – DANH THẮNG – CẢNH QUAN
Quan Hóa có hệ thống di tích và danh thắng phong phú:
• Động Lô Sơn
• Hang Lũng Mu – di chỉ động táng lớn, có niên đại thế kỷ VIII–XI
• Hang Co Luồng
• Hang Phi (hang Ma)
• Động Bà – Bà Chúa Thượng Ngàn
• Đền thờ Thống lĩnh tướng quân Lò Khằm Ban
• Hồ Pha Đây
• Suối Bó Địp

Đặc biệt, Lễ hội Mường Ca Da là lễ hội lớn nhất của cộng đồng người Thái Quan Hóa, gắn với huyền tích lập mường và công lao của các vị thủ lĩnh cổ.

VII. TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN – BẢO TỒN
Quan Hóa cùng Mường Lát có Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu với diện tích gần 24.000 ha, hệ sinh thái rừng núi đất và núi đá vôi còn khá nguyên sinh, đa dạng sinh học cao. Ngoài ra còn có Khu bảo tồn loài hạt trần Nam Động – nơi bảo tồn nhiều loài cây quý hiếm trong Sách đỏ Việt Nam.

VIII. CON NGƯỜI – TRUYỀN THỐNG
Quan Hóa là vùng đất sinh ra nhiều dòng họ lớn, nhiều cán bộ lãnh đạo có uy tín, tiêu biểu là đồng chí Hà Văn Ban, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa – người để lại dấu ấn sâu đậm về đạo đức và phong cách lãnh đạo.

IX. BIẾN ĐỔI HÀNH CHÍNH HIỆN NAY
Thực hiện chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính, huyện Quan Hóa từ 14 xã và 1 thị trấn được tổ chức lại còn 8 xã gồm: Hồi Xuân, Nam Xuân, Thiên Phủ, Hiền Kiệt, Phú Lệ, Trung Thành, Phú Xuân và Trung Sơn.

X. KẾT LUẬN
Dù tên gọi hành chính Quan Hóa không còn, nhưng vùng đất cổ mường Ca Da xưa vẫn hiện hữu trong không gian địa lý, lịch sử và tâm thức cộng đồng. Quan Hóa là minh chứng sinh động cho sự giao thoa giữa thiên nhiên – lịch sử – văn hóa dân tộc, một miền đất phên dậu, giàu bản sắc, đang cùng đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới. 

HUYỆN QUAN HÓA

 



Bài của Ngo Hoai Chung

         Trước khi có Nghị định số 72/CP ngày 18/11/1996 của Chính phủ về điều chỉnh địa giới hành chính, Quan Hóa là huyện lớn nhất tỉnh Thanh Hóa và là một trong những huyện lớn nhất Việt Nam với tổng diện tích lên đến 2.741km2, gần gấp đôi diện tích của tỉnh Thái Bình cũ (1.585km2).

         Sau khi chia tách thành 3 huyện: Quan Hóa, Quan Sơn và Mường Lát, Quan Hóa có diện tích 990,70km2, dân số là 49.765 người. Trong đó dân tộc Thái là 32.687 người, dân tộc Mường là 12.489 người, dân tộc Kinh là 4.002 người, dân tộc Mông là 475 người, còn lại là các dân tộc khác. Đến trước ngày 1/7/2025, thời điểm sắp xếp chính quyền địa phương theo mô hình 2 cấp, huyện Quan Hóa có 14 xã và 1 thị trấn.

        Là huyện vùng núi cao của tỉnh Thanh Hóa, Quan Hóa giáp tỉnh Sơn La và Hòa Bình (nay là Phú Thọ) về phía bắc, huyện Quan Sơn về phía nam, huyện Bá Thước về phía đông, huyện Mường Lát, Sơn La và tỉnh Hủa Phăn (nước CHDCND Lào) về phía tây. Đường bộ có quốc lộ 15A chạy qua nối Quan Hóa với miền xuôi Thanh Hóa và các tỉnh Tây Bắc Việt Nam

         Quan Hóa có tới 95% diện tích là đồi núi, địa hình chia cắt phức tạp, núi cao sông sâu hiểm trở, đi lại khó khăn, kinh tế chậm phát triển. Dãy Pha Luông là mạch núi chạy từ Sơn La về Hòa Bình kéo đến Tam Điệp chạy ra mép nước biển đông như bức tường thành ranh giới tự nhiên ngăn cách Thanh Hóa với Sơn La và Hòa Bình, Ninh Bình, trong đó có Quan Hóa. Các ngọn núi lớn cao hiểm trở nổi tiếng của Quan Hóa có đỉnh Pha Phu Phong cao nhất tỉnh Thanh Hóa là 1.587m; núi Mú Mường, dãy Pù Hu, dãy Pha Ú Hò, dãy Pù Luông… 

        Sông Mã, con sông lớn nhất của Thanh Hóa, có chiều dài 512km, trong lãnh thổ Việt Nam 410km, đoạn qua Thanh Hóa 270km, bắt nguồn từ Vân Nam Trung Quốc chảy vào Việt Nam qua Điện Biên, Sơn La, vắt mình sang Hủa Phăn (Lào) rồi đổ vào Mường Lát, chảy về Quan Hóa. Đoạn sông Mã qua Mường Lát và Quan Hóa dài 80km, quanh co, hẹp và nhiều ghềnh thác “gầm lên khúc độc hành” giữa núi rừng thâm u. Cùng với sông Mã, Quan Hóa còn có sông Luồng, sông Lò là những con sông được cư dân nơi đây hàng ngàn đời nay dựa vào để lập bản, dựng mường, tạo nên không gian văn hóa đa dạng và độc đáo, là vùng đất gốc của mường Ca Da xưa, Quan Hóa nay.

        Theo “Đồng Khánh địa dư chí” được viết vào những năm 1887 – 1888, “Quan Hóa là châu thuộc phủ Quảng Hóa, do phủ kiêm lý. Châu hạt phía đông giáp huyện Cẩm Thủy, phía tây giáp huyện Trình Cố, phía nam giáp châu Lang Chánh, phía bắc giáp Mai Châu tỉnh Hưng Hóa. Đông tây cách nhau 154 dặm. Nam bắc cách nhau 131 dặm. Toàn châu có 6 tổng: tổng Phú Lệ, 6 xã; tổng Lực Canh, 4 xã; tổng Cổ Nam, 5 xã; tổng Đặc Kiệt, 4 xã; tổng Hữu Thủy, 5 xã và tổng Quang Chiêm, 4 xã.

        Phong tục: Trong châu đều là người Thổ (Thái) ở nhà sàn, viết chữ liền một mạch hàng ngang. Tính tháng thì cứ 30 ngày là một tháng, không phân biệt tháng thiếu, tháng đủ. Đàn ông cày ruộng chặt củi, đàn bà dệt vải thô.  Cha mẹ chết thì để quan tài trong nhà 1 năm hoặc 2, 3 năm rồi mới chôn. Khi chôn cất thì cùng không có lễ tế ngu tế điện gì cả, chỉ mời thầy mo đến cúng, đọc chú chừng nửa ngày mà thôi.

        Sản vật: Lúa, khoai, đậu đều có cả, nhưng không được bao nhiêu. Các loại gỗ màu, tre, nứa, sa nhân, sáp ong, cánh kiến thì có khá nhiều. Nhục quế dùng làm thuốc, nhưng không được thơm tốt bằng quế ở Thường Xuân, Lang Chánh.

         Khí hậu: Nhiều khí lam chướng, ít khí trong lành. Hàng ngảy đến cuối giời Mão mới thấy ánh mặt trời, cuối giờ Thân sương mù đã âm u che trời. Tháng giêng, tháng hai còn lạnh. Tháng 3, 4 thời tiết ấm áp. Tháng 5,6 gió nam thổi mạnh, nắng nóng. Tháng 7.8 gió thu mưa lụt. Tháng 9. 10 trời bắt đầu lạnh. Tháng 11, 12 rét căm căm.

       Sông núi: Trong châu khắp nơi đều là núi đá. Liên tiếp bên trái, bên phải, đằng trước đằng sau, san sát không thể phân biệt để gọi tên núi, chỉ theo tên các xã dân cư để gọi tên núi mà thôi. Một đoạn sông Mã: từ xã Vân Lung ở phía tây chảy đến xã Phú Nghiêm ở phía đông, dài 160 dặm, rộng 20 trượng, sâu 5,6 thước. Thủy triều không lên đến.

        Danh thắng: Động Lô Sơn: đá núi đều màu trắng, cây cối xanh tươi. Dưới núi có dòng sông nhỏ, trong núi có động đá, trong động có ngôi đền của dân xã thờ thần núi, rất linh thiêng. Cây cối xanh tốt, cảnh trí thanh u”.

        Tại sách “Đại Nam nhất thống chí tỉnh Thanh Hóa”, tập thượng, được hoàn thành vào đời Duy Tân thứ 3, năm 1909, có ghi: “Châu Quan Hóa ở phía tây bắc tỉnh, cách 218 dặm. Phía đông tới huyện Cẩm Thủy phủ Quảng Hóa; phía tây tới huyện Trình Cố phủ Trấn Man; phía nam giáp châu Lang Chánh; phía bắc liền Mai Châu tỉnh Hưng Hóa. Nguyên trước là đất của Ai Lao. Đời Lý, đời Trần tới đầu triều Lê, gọi là trại Quan Du, lại gọi là sách Da Quan. Năm Quang Thuận triều Lê đổi ra Da Châu (có chỗ gọi là Quan Da), thuộc vào Thanh Đô phủ, do thổ tù họ Phạm nối quyền quản trị. Khoảng năm Gia Long triều Nguyễn vẫn để theo cũ. Năm Minh Mạng 16, đem Tàm Châu cho nhập vào, đặt ra tên châu ngày nay, và đặt chức tri châu cai trị, mà vẫn thuộc vào phủ Thọ Xuân (nguyên trước là Thanh Đô mới đổi ra). Năm Tự Đức thứ 3, bỏ bớt tri châu, đổi sang thuộc phủ Quảng Hóa kiêm nhiếp. Nguyên cũ lãnh 6 tổng. Năm Thành Thái thứ 5 đổi đặt châu úy. Năm 14 trích thêm tổng Cổ Lũng trong huyện Cẩm Thủy, năm 16 lại trích thêm tổng Thiết Ứng (Ống) trong châu Lang Chánh cùng 2 tổng Điền Lô, Sa Lung trong huyện Cẩm Thủy cho thuộc thêm vào. Hiện nay lãnh 10 tổng, 49 xã, thôn”.

       Sách “Địa chí Thanh Hóa, tập I, Địa lý và Lịch sử” chép Quan Hóa: “Là miền núi cao giáp nước Lào, xa xưa ít được khai phá, việc quản lý hành chính thời Lê – Trịnh về trước còn lỏng lẻo, hầu như chưa vươn tới. Thời thuộc Hán là miền đất cực tây huyện Đô Lung; thời Tề, đổi tên Đô Lung thành Cát Lung. Thời Đường thuộc huyện Trường Lâm. Thời Đinh, Lê, Lý không thay đổi. Thời Trần – Hồ: có thể thuộc huyện Nga Lạc châu Thanh Hóa. Thời  Lê – Nguyễn: huyện Quan Hóa thực tế hình thành từ thời Lê – Nguyễn. Quá trình hình thành như sau:  Thời Lê có tên châu Quan Da (bởi có mường Ca Da) thuộc phủ Thanh Đô (bên cạnh các châu khác là: châu Lang Chánh, châu Tàm, châu Sầm). Minh Mệnh 16 (1835) cho hợp châu Tàm với châu Quan Da để lập ra châu Quan Hóa (châu Quan Hóa có từ đây). Sau cách mạng tháng  Tám 1945, châu Quan Hóa đổi thành huyện Quan Hóa với 32 xã và 1 thị trấn”..

      Trong các huyện miền núi Thanh Hóa, Quan Hóa là địa bàn có người Thái sinh sống tập trung, là dân tộc chiếm tỷ lệ gần 70% thành phần dân số của huyện, văn hóa dân tộc Thái có vai trò chủ đạo trong dòng chảy văn hóa nơi đây. Người Thái Quan Hóa tự gọi là Tày (hoặc Táy) theo phát âm của từng địa phương. Trước đây, các họ lớn ở Quan Hóa có họ Hà, họ Phạm Bá là các họ đứng đầu các mường theo chế độ thế tập, gọi là Tạo mường. Tạo có quyền rất lớn, đại diện cho cả thế quyền và thần quyền trong cai trị mường. Ở Quan Hóa có Mường Ca Da, mường Áng là các mường lớn, có ảnh hưởng quan trọng về chính trị, kinh tế đối với cả vùng. Mường là hình thức tổ chức xã hội truyền thống của người Thái, một đơn vị cộng đồng tự quản mang tính lãnh địa song song với đơn vị hành chính nhà nước. To nhất là mường, dưới mường là các pọong, dưới pọong là các bản, đơn vị cơ sở của người Thái. Người Thái có tập quán quần cư theo sông, suối (nặm) để làm ruộng (na) và ao hồ (noong), từ đó tạo lập bản mường. Người Thái kết hợp cả làm ruộng, chăn nuôi và săn bắt  hái lượm nhưng trồng lúa nước vẫn là chính. Ngoài ra người Thái còn có các nghề dệt thổ cẩm, đan lát, làm rượu cần, mộc…

       Với hình thức quần cư ở các bản, tính cộng đồng cao nên đời sống tinh thần của người Thái rất phong phú. Người Thái có dân ca gọi là Khặp (khắp) rất độc đáo có các nội dung đa dạng, phong phú về lời ca, được phổ biến rộng rãi trong các mường bản về lịch sử, dân tộc, quan niệm tín ngưỡng, nghi lễ, giao tiếp, tình yêu trai gái, sinh hoạt vui chơi. Kiến trúc nhà ở của người Thái là nhà sàn, quây quần đầu hồi nhà nọ sát đầu hồi nhà kia, được làm bằng gỗ tốt, rất chắc chắn và hình dáng đẹp, trong nhà ít khi ngăn vách nên rộng rãi, có cầu thang lên xuống trước nhà và sau nhà. Trong ẩm thực người Thái chủ yếu ăn cơm nếp, món ăn có măng rừng, rau củ rừng, thịt gà, vịt, lợn, bò, cá sông... Người Thái dùng rượu trắng (siêu) và rượu cần làm bằng ngô, sắn và ủ bằng men lá trong rừng. Rượu cần chỉ dùng khi có khách quý, khi uống có ông Trám để làm chủ cuộc vui. Các lễ hội, lễ tục, tín ngưỡng tập quán của người Thái về trang phục, âm nhạc, tang ma, cưới xin, rất phong phú và đậm bản sắc tộc người. 

      Quan Hóa cùng chung với huyện Mường Lát khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu với tổng diện tích rừng đặc dụng lên tới 23.835,96 ha. Đặc trưng nổi bật của khu bảo tồn là kết hợp giữa hệ sinh thái núi đá vôi với hệ sinh thái núi đất và hệ sinh thái rừng. Nằm ở phía tây của vành đai núi đá vôi từ Hòa Bình chạy về theo hướng tây - nam, từ Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông đến Vườn quốc gia Cúc Phương là hệ sinh thái núi đất. Đỉnh của Pù Hu nằm ở phía tây bắc là núi Pù Học, cao 1.442m. Phía đông và phía nam có một số đỉnh cao trên 1.300m rồi giảm dần cho tới các sườn đồi ven sông Mã, sông Luồng. Do địa hình hiểm trở bị chia cắt dữ dội, với độ cao trung bình khoảng 800 - 1.000 m, độ dốc trung bình từ 250 - 300 nên Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hu vẫn còn giữ được sự nguyên sơ của hệ sinh thái rừng núi đất cao. Trong Khu bảo tồn còn nhiều cánh rừng tương đối nguyên sinh, cảnh quan thiên nhiên hoang sơ với nhiều suối nước đẹp như: Suối Long, suối Quýt, suối Sang, nhiều thác nước hùng vĩ như Thác Sơn Dương (cao 70 m), Thác Xặt (cao 40 m)… Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu có một hệ động vật phong phú về chủng loài, một số loài tập trung với mật độ cao. Theo điều tra đã ghi nhận được tổng số 915 loài động vật, trong đó có nhiều loài được ghi nhận trong sách Đỏ Việt Nam. Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hu cũng có hệ thực vật phong phú, đa dạng. Kết quả điều tra lập danh lục hệ thực vật đã có tổng số 1.725 loài thực vật thuộc 696 giống, 170 họ và 71 bộ, 12 lớp và 6 ngành. Phần lớn các loài thực vật bậc cao tập trung ở khu bảo vệ nghiêm ngặt của Khu bảo tồn.

       Huyện Quan Hóa còn có khu bảo tồn các loài hạt trần quý hiếm Nam Động với diện tích 646,95ha, hiện đang bảo tồn 6 loài cây hạt trần đặc hữu quý hiếm có tên trong Sách đỏ Việt Nam. Bên cạnh 6 loài cây hạt trần tạo nên tầng ưu thế sinh thái, trong khu bảo tồn còn hiện hữu các loài lá thông, thông đất, dương xỉ, ngọc lan với 373 loài thuộc 276 chi, 116 họ thực vật. Khu bảo tồn hạt trần Nam Động và rừng Pha Phanh nơi đây  còn là nơi sinh sống của nhiều loài động vật quý hiếm như gấu ngựa, sơn dương.

       Hồ Pha Đây thuộc địa phận bản Bút, xã Nam Xuân, nằm trên đỉnh ngọn núi Bút có độ cao 700m so với mực nước biển. Hồ Pha Đây có hình lòng chảo, rộng 10ha, sâu 7 – 8m, nước trong xanh, là nguồn cung cấp nước cho sản xuất, sinh hoạt và điều hòa không khí trên địa bàn. Trong tiếng Thái, “Pha Đây” có nghĩa núi hình bậc thang. Hồ Pha Đây còn giữ được vẻ đẹp hoang sơ, mộc mạc, đường lên hồ chênh vênh, khúc khuỷu, nhiều đoạn đường uốn lượn trong lớp lớp mây mù.

         Suối Bó Địp (còn có tên khác là suối Bái) thuộc thuộc địa phận bản Mỏ, xã Phú Xuân. Suối bắt nguồn từ chân núi Pha Nàng Mọn (thuộc khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông) chảy qua địa phận bản Tân Phúc, xã Phú Lệ qua núi đá vào địa phận bản Mỏ xuôi về hướng tây đổ ra sông Mã. Suối Bó Địp (Huối Bái) gọi theo tiếng Thái nghĩa là bơi thuyền (mảng) qua sông, suối. Nguồn gốc của tên này là ngày xưa có nhóm người họ Lò từ bản Khoa, xã Phú Lệ xuống canh tác ở Piềng Dớng thuộc bản Chiềng xã Phú Lệ, giáp với bản Phé xã Phú Xuân hiện nay. Tận dụng nguồn nước suối Bó Địp, bà con canh tác, khai hoang ruộng nước và thường ngày đi lại bằng thuyền (mảng) nên gọi tên khu ruộng đó là Nà Bái.

       Hang Lũng Mu (còn có tên khác là hang Phi Bài, hang Ma), nằm trên đỉnh núi Pha Lý thuộc địa bàn hai xã Hồi Xuân và Nam Xuân. Hang Lũng Mu cao khoảng 150m so với mặt nước sông Mã, đường lên hang khó khăn, hiểm trở, người đi phải bám chặt tay vào đá tai mèo sắc nhọn, nhiều đoạn phải đu người trên vách núi dựng đứng. Cửa hang trổ hướng tây rộng 5m, hang sâu 30m, cao khoảng 10m. Ngoài khu vực hang chính rộng khoảng 100m2 còn có các hốc, lòng hang trổ ra bên cạnh, mỗi nơi rộng khoảng 30 - 40m2. Điều đặc biệt, hang Lũng Mu chính là một trong những động táng lớn nhất miền Tây Thanh Hóa cũng như của cả nước. Vào thời điểm được các nhà khảo cổ khảo sát lần đầu vào năm 1998, trong hang có khoảng 70 cỗ quan tài, khu vực hang chính có hơn 30 quan tài, phần lớn đặt dưới nền hang. Theo các nhà khoa học, niên đại của các quan tài này từ thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ XI. Phía sâu trong hang có một giá gỗ gồm các xà gỗ gác ngang qua hai vách hang và có cột chống trên xà được lát ván gỗ lớn tạo thành sàn. Trên sàn là những chiếc quan tài lớn. Quan tài làm bằng thân cây nguyên khối (độc mộc) khoét hình lòng thuyền, có chiếc khoét hình chữ nhật, hai phần đầu - cuối đều có tai và chốt hãm. Kích thước các quan tài không đồng dạng, trong đó chiếc lớn nhất dài 2,8m rộng 0,48m; chiếc nhỏ nhất dài 1,4m rộng 0,28m. Chất liệu làm quan tài thuộc loại gỗ quý, bền chắc. Mặc dù chủ nhân của các quan tài và cách thức động táng tại hang lũng Mu vẫn còn là điều bí ẩn nhưng hang Lũng Mu cho thấy đây là di chỉ rất có các giá trị về  khảo cổ học, dân tộc học và văn hóa, lịch sử.

       Hang Co Luồng trên địa bàn bản Khằm, xã Hồi Xuân, cách đường quốc lộ 15A về phía Pù Cặp - Pù Cọ khoảng nửa cây số. Hang có độ cao gần 250m so với mặt đường 15A, Cửa hang cao 80cm, rộng 1,8m, lòng hang cao 20m, chỗ rộng nhất khoảng 50m. Hang này trước đây chưa có tên, sau có nhiều luồng được trồng xung quanh nên dân bản Khằm đặt tên hang Co Luồng (hang Cây Luồng). Đây là một trong những hang động tự nhiên có cảnh quan đẹp nhất ở Quan Hóa. Hang có ba tầng, riêng tầng thứ hai có độ sâu khoảng 25m, tầng ba có độ sâu khoảng 35m, tạo thành một quần thể hang động có tổng chiều dài khoảng hơn 600m.

        Hang Phi, còn gọi là hang Ma, nằm ở Bản Cốc, xã Nam Xuân bên đường Quốc lộ 15 hướng đi Hồi Xuân - Mường Lát. Trước mặt hang Phi là dòng sông Luồng chảy qua, xung quanh là núi đá vôi, rừng nguyên sinh, rừng trồng, màu xanh cây cối. Dưới mái vòm hang Phi có bãi sỏi lớn, diện tích lên đến 5000m2. Đi sâu vào hang Phi ta bắt gặp nhiều nhũ đá có hình thù kì thú, lạ mắt, có nhiều hốc đá to nhỏ là nơi nhiều loại chim đến làm tổ. Theo các cụ cao niên trong vùng, hang Phi có thể là nơi chôn cất những binh sĩ đã tử trận từ thời quân Lam Sơn khởi nghĩa chống giặc Minh. Khoảng năm 1946 - 1947, đoàn quân Tây Tiến cũng từng mai phục, tiêu diệt giặc Pháp tại đây. Vì vậy, chính quyền địa phương đã xây một ngôi đền để có nơi thờ cúng và hương khói cho những người đã ngã xuống. Năm 2008 UBND huyện Quan Hóa đầu tư, xây dựng nơi đây thành khu du lịch sinh thái phục vụ nhu cầu thăm quan của du khách thập phương.

       Động Bà, còn có tên khác là động Bà Chúa Thượng Ngàn, nằm ngay dưới chân núi Chùa, thuộc xã Hồi Xuân, là nơi thờ khối đá hình người phụ nữ trong động. Xung quanh sự ra đời của động Bà (gần đó là chùa Ông – Thiên Sơn tự) có nhiều truyền thuyết của đồng bào dân tộc Thái. Tục thờ đá ở động Bà gắn với huyền tích về câu chuyện tình đẫm nước mắt của chàng trai Việt làm rể vua Lào cùng cô công chúa Xao La và đứa con thơ. Khối đá hình người ở động Bà trên vùng đất mường Ca Da huyền thoại luôn chứa đựng những điều huyền bí, từ khối đá vô tri, dân gian đã dựng lên đền thờ để thờ phụng… Động Bà là nơi linh thiêng đối với đồng bào các dân tộc ở huyện Quan Hóa. Những người mong cho tình cảm vợ chồng, gia đình hoà thuận thường đến động Bà cầu xin. Đây là một trong những hoạt động tín ngưỡng gắn với đời sống tâm linh có sức sống trường tồn của đồng bào Thái.

        Đền thờ Lò Khằm Ban nằm ở Pom Kéo, bản Khằm, xã Hồi Xuân là nơi thờ Thống lĩnh tướng quân Lò Khằm Ban. Theo lời ghi trong gia phả dòng họ Phạm Bá, Lò Khằm Ban thuở nhỏ sống ở mường Bua Sa. Khi trưởng thành ông chăm chỉ học hành, chú tâm tập luyện võ nghệ, tìm hiểu binh pháp. Gặp lúc Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa chống giặc Minh, ông mang theo binh mã của mình gia nhập nghĩa quân Lam Sơn, giải phóng đất nước. Trong đội quân của Lò Khằm Ban có cả người Lào, người Thái, người Kinh và đều thành thạo binh khí, từ dao, kiếm, nỏ đến chông, bẫy đá… Trong đánh trận, dưới sự chỉ huy gan dạ của ông, đội quân của ông thắng nhiều trận. Những chiến công của quân Lò Khằm Ban đã góp phần vào thắng lợi chung cuộc của nghĩa quân Lam Sơn, chấm dứt ách đô hộ tàn bạo của giặc Minh trên đất Đại Việt. Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi vua, Lò Khằm Ban được nhà vua ban thưởng chức Thượng tướng Thống lĩnh quân. Ông cũng được vua tin tưởng giao cho chốt giữ dải đất phên dậu phía tây đất nước, kéo dài từ Nghệ An đến mường Thanh (Điện Biên), mường Lò (Yên Bái). Lò Khằm Ban đã chọn mường Ca Da làm nơi đóng quân và mường này trở thành quê hương thứ hai của ông. Tướng quân Khằm Ban mất tại mường Ca Da. Thương tiếc, quý mến đức độ công lao của ông, triều đình đã cho phép dân bản nơi đây lập đền thờ tại Pom Kéo bản Chiềng Khăm để hương khói thờ phụng. Gần bốn trăm năm sau, hậu duệ đời thứ 10 của ông là Tri châu Quan Hóa Phạm Quang Vinh cùng Bang biện bản châu Phạm Bá Út (Ót) đã vận động con cháu và nhân dân trong vùng xây dựng lại đền thờ bằng gạch ngói ba gian, dài 9m rộng 3m và dựng bia đá ghi nhớ công ơn của ông. Ngôi đền tọa lạc trên gò đất cao, phong quang, hai mặt là khu dân cư bản Khằm. Tháng 10 năm Canh Tuất (1910) đời Duy Tân, ngôi đền hoàn thành. Tháng 3 năm 1917, vua Khải Định ra sắc phong Lò Khằm Ban là Thành hoàng và giao cho dân các xã Phú Nghiêm, Phú Tấn, Phú Lợi, Hồi Xuân, Phú Lệ, Phú Nam (thuộc tổng Phú Lệ), Cổ Nam, Cổ Động (thuộc tổng Cổ Động) ở châu Quan Hóa cùng phụng thờ. Theo sắc phong, Tướng quân được ban mỹ tự “Quang Ý dực bảo trung hưng Trung đẳng thần”. Khu vực đền thờ hiện nay có nhà bia, bia đá, lư hương. Đặc biệt, trong đền còn lưu giữ một tấm bia kí rất có giá trị. Thân bia cao 2,07m; trán bia cao 0,44m; mũ bia cao 0,36m; chóp bia cao khoảng 0,25 - 0,3m (phần này đã bị mất). Toàn bia cao khoảng 3,12m; rộng 0,81m; dày 0,195m. Bia đặt trên bệ đá hình chữ nhật dài 1,5m; rộng 0,8m; dày 0,5m. Bia được dựng vào năm Đinh Mùi (tháng 10/1907) dưới thời vua Duy Tân. Mặt chính trên trán bia có 9 chữ “Quan Hóa Hồi Xuân Phạm tộc thần từ bi” (Bia đền thờ thần họ Phạm ở Hồi Xuân, Quan Hóa). Bia do Tri châu Quan Hóa bấy giờ là Phạm Quang Vinh (hậu duệ dòng họ Lò Khằm Ban) viết. Nội dung bia xoay quanh lai lịch và công lao của ông tổ họ Phạm. Bia kí đền thờ Thống Lĩnh tướng quân Lò Khằm Ban là di sản tư liệu có giá trị lịch sử, góp phần làm rõ nguồn gốc, hành trạng và sự nghiệp Lò Khằm Ban. Đây cũng là di tích bia ký chữ Hán duy nhất được giữ gìn khá tốt ở Quan Hóa.

        Lễ hội Mường Ca Da là lễ hội lớn nhất của mường Ca Da và huyện Quan Hóa cũng như của cả cộng đồng người Thái quanh vùng. Theo truyền thuyết kể lại, Tạo mường ở Luông Pha Bàng (cố đô Luôngphrabăng - Lào) sinh được 2 người con trai, anh là Lò Y, em là Ló Ai. Cả hai anh em đều khôi ngô, tuấn tú hơn người. Khi biết người cha có ý định nhường ngôi cho anh, người em tham lam và độc ác đã giết anh rồi vứt xác xuống dòng sông. Xác Lò Y cứ trôi theo dòng nước sông Mã và bị mắc kẹt ở một khúc sông trên đất Quan Hóa. Do Lò Y bị chết oan ức nên Trời sai con quạ mang thuốc tiên đến cứu Lò Y sống lại. Lò Y đã chọn nơi đây để sinh sống, giúp dân làng đánh đuổi thú dữ, xây dựng bản mường yên vui. Người dân nơi đây thấy Lò Y khỏe mạnh, nguồn gốc dòng dõi, lại có công đánh đuổi thú dữ, nên đã tôn làm Tạo. Nhớ ơn con quạ đã cứu sống mình, Lò Y đặt tên cho mường của mình là mường Ca Da (tức là mường Quạ Cứu). Lễ hội mường Ca Da xưa được tổ chức với ý nghĩa chính là tưởng niệm tướng quân Khằm Ban và tiên tổ họ Phạm Bá (Lo Khăm), người có công lập mường, mở đất nơi đây. Địa điểm chính diễn ra lễ hội là đền thờ tướng quân Khằm Ban ở đỉnh đồi Poom Kéo.

    Quan Hóa còn có các làng bản nổi tiếng, hiện nay đang là điểm đến hấp dẫn khách du lịch như Bản Bút, bản Ban, bản Hang là những bản có cảnh quan đẹp, người dân mến khách, lưu giữ được các nghề truyền thống. Đây sẽ là chốn dừng chân lí tưởng cho những ai muốn bắt đầu hành trình khám phá đất mường Ca Da xưa, Quan Hóa nay. 

        Quan Hóa là vùng đất giàu truyền thống văn hóa của dân tộc Thái, có những dòng họ nổi tiếng và nhiều người tài giỏi, Quan Hóa có những người giữ cương vị lãnh đạo cao của tỉnh Thanh Hóa, tiêu biểu là Chủ tịch tỉnh Hà Văn Ban. Chủ tịch tỉnh Hà Văn Ban, sinh năm 1929, mất năm 1995. Ông giữ trọng trách Phó chủ tịch UBND tỉnh từ 1971, đến 1984 được bầu là Chủ tịch UBND Tỉnh và nghỉ hưu năm 1990. Ông là tấm gương tiêu biểu cho tinh thần làm việc chí công vô tư, mẫu mực về đạo đức. Không những thế ông còn để lại trong trí nhớ nhiều người là mẫu lãnh đạo cao cấp thông minh, hóm hỉnh, thích hài hước và giản dị.

       Thực hiện cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức, sắp xếp lại các đơn vị hành chính của đất nước, huyện Quan Hóa từ 14 xã và 1 thị trấn sau sắp xếp còn 8 xã, trong đó có 6 xã hình thành sau sắp xếp và 2 xã không thực hiện sắp xếp. Đó là các xã: Hồi Xuân, Nam Xuân, Thiên Phủ, Hiền Kiệt, Phú Lệ, Trung Thành, Phú Xuân và Trung Sơn.

       Trong những năm còn làm việc ở tỉnh tôi thường xuyên đi công tác ở các huyện vùng cao, nhất là Mường Lát, Quan Hóa, Quan Sơn. Xã Hồi Xuân luôn là nơi được lựa chọn dừng chân hoặc nghỉ qua đêm mỗi khi đi Mường Lát. Hồi Xuân là nơi gặp gỡ của 3 dòng sông lớn: sông Mã, sông Luồng và sông Lò, nép mình bên dãy núi đá vôi cao ngất, là trung tâm của mường Ca Da xưa, cảnh đẹp của nơi quần sơn, tụ thủy, hội nhân. Dù không gian không bằng phẳng rộng lớn nhưng sự yên ả, tĩnh lặng hiền hòa của vùng đất và lòng mến khách, đôn hậu của con người nơi đây đã giữ chúng tôi lại. Giờ đây ngồi viết lại vùng đất đã một thời gắn bó, nhất là khi địa danh Quan Hóa không còn, quả thật không thể không ngậm ngùi, luyến tiếc. Nhưng cuộc đời là thế, dẫu có buồn vui, mất mát nhưng cuộc sống vẫn luôn hướng về phía trước. Và dẫu không còn Quan Hóa nhưng vùng đất cổ mường Ca Da xưa vẫn đang đồng hành cùng đất nước bước vào kỷ nguyên mới.

   Ps: Một số hình ảnh huyện Quan Hoá