XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG

Chủ Nhật, 6 tháng 12, 2015

Những cổ vật quý giá còn lại ở cố đô Huế

Triều đại phong kiến vua Nguyễn cuối cùng tại Huế đã trải qua với bao biến cố lịch sử. Hàng vạn cổ vật quý hiếm đi cùng triều đại này hiện đã mất mát quá nhiều, không còn “ở lại” được trên mảnh đất nó đã từng tồn tại.
Theo TS.Phan Thanh Hải, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, ngay từ thế kỷ XVIII, giới quý tộc Huế đã có thú sưu tầm đồ cổ và mua sắm các vật dụng quý giá làm của riêng. Trong tác phẩm “Phủ biên tạp lục”, Lê Quý Đôn đã ghi chép về đời sống xa hoa và sự giàu có của quý tộc Huế như sau:
“Thuận Hóa được bình yên đã lâu, công tư đều dồi dào, mặc dùng tươi đẹp, lại trải qua thời Nguyễn Phúc Khoát hào phóng bắt chược nhau, làm thành thói quen, quan viên lớn nhỏ không ai không dùng nhà cửa chạm gọt, tường vách gạch đá, the màn trướng đoạn, đồ đạc đồng thau, bàn ghế gỗ đàn gỗ trắc, chén mâm đồ sứ đồ hoa, yên cương vàng bạc, y phục gấm vóc, chiếu đệm mây hoa, đua nhau khoe đẹp”.
Đến khi trở thành kinh đô của cả nước thống nhất thì Huế càng trở thành nơi tập trung của báu vật. Ngoài các loại vàng bạc ngọc ngà trong kho tàng hoàng gia còn có rất nhiều thứ quý giá thuộc về giới quý tộc, quan lại, thương nhân… sống tại kinh đô.
Toàn cảnh Tử Cấm Thành trong Kinh thành Huế chụp bằng không ảnh lúc xưa, khi mà chiến tranh chưa tàn phá một số công trình quan trọng ở đây (ảnh: internet)
Toàn cảnh Tử Cấm Thành trong Kinh thành Huế chụp bằng không ảnh lúc xưa, khi mà chiến tranh chưa tàn phá một số công trình quan trọng ở đây (ảnh: internet)
“Mục sở thị” cổ vật cung đình Huế cách đây hơn 100 năm trước
Theo nhà nghiên cứu Phan Thuận An, thuở vàng son triều Nguyễn (1802-1945), nội thất các cung điện và đền miếu ở kinh thành cũng như các lăng tẩm đều được trang hoàng, trang trí và tàng trữ rất nhiều của quý vật lạ có giá trị nhất nước. Một cách hay nhất minh chứng điều đó là trưng dẫn những nhận xét và đánh giá về cổ vật cung đình Huế dưới nhãn quan của một số người đã từng “mục sở thị”.
Từng làm việc lâu năm tại xứ thuộc địa, Robert R.de la Susse, một quan chức Pháp hiểu biết sâu sắc và yêu mến nền văn hóa Việt. Trong một dịp tham quan Hoàng cung Huế vào những năm đầu thập niên 1910, khi được xem cổ vật ở điện Cần Chánh và điện Phụng Tiên, sự phong phú và đa dạng khiến ông gọi đây là những “bảo tàng”.
Trong một cuốn sách mang tên “Guide de l’Annam” (Hướng dẫn du lịch Trung Kỳ) xuất bản tại Pháp năm 1914 của Philippe Eberhartd, vị thầy phụ đạo cho vua Duy Tân tỏ ra đồng tình hoàn toàn với tác giả Robert về số lượng và chất lượng của các bảo vật trong Hoàng cung Huế, nơi mà ông hay lui tới trong thời gian làm việc tại Kinh đô triều Nguyễn.
Robert R.de la Susse đã mô tả tại điện Cần Chánh: “Ngôi điện rộng mênh mông này là ngôi điện đẹp nhất trong Hoàng cung. Các cột trụ, các bức vách và nhất là các trần nhà toàn làm bằng gỗ lim nguyên khối được chạm trổ và khảm cẩn xà cừ cùng ngà voi. Ở các phía nội thất ngôi điện đặt 6 tủ đứng bằng gỗ chạm trổ chứa đựng những vật quý nhất trong vương quốc, giá trị vô lượng: Những bảo ấn bằng vàng khối, trong đó có một cái nặng 18kg; những lá cờ hiệu bằng lụa của các tùy tướng vua Gia Long có từ hồi vua thu phục sơn hà; những đồ ngọc quý báu đặc biệt…”
Một buổi thiết triều giữa vua và các quan tại điện Cần Chánh. Ngôi điện này giờ chỉ còn nền móng do bị bom đạn phá hủy (ảnh: internet)
Một buổi thiết triều giữa vua và các quan tại điện Cần Chánh. Ngôi điện này giờ chỉ còn nền móng do bị bom đạn phá hủy (ảnh: internet)
Các cổ vật tại điện Cần Chánh (ảnh: blog Ngoan Công Trương)
Các cổ vật tại điện Cần Chánh (ảnh: blog Ngoan Công Trương)
Ở điện Phụng Tiên: “Bảo tàng này chứa nhiều nhất là những đồ bằng ngọc thạch. Người ta thấy ở đây có rất nhiều độc bình, tách uống nước, chén ăn, những bộ đồ trà, bút nghiên, những món đồ đủ loại và đủ hình dạng bằng ngọc thạch màu trắng, màu xanh, màu xám, có vân, không vân, được mài dũa, đôi khi được chạm lọng một cách tinh xảo.
Những chậu lung đựng những “cây vàng”, cành bằng san hô và ngọc bích, lá, hoa và trái bằng ngọc bích, bằng vàng, bằng các thứ đá quý hoặc ngọc trai. Những cây này đáng quan sát tỉ mỉ vì ngoài giá trị của chúng, các chi tiết thường là mỹ diệu.
Về các bảo vật bằng vàng thì nhiều nhất là Kim Bửu và Kim Sách. Loại thứ nhất gồm những ấn của các vua, những công ấn bằng vàng khối, mỗi cái nặng từ 3 đến 4kg. Những chiếc ấn khác bằng bạc mạ vàng là của các bà hoàng hậu ngự trị… Các quyển “Kim Sách” thì gồm những tờ giấy bằng vàng ròng.
Người ta cũng có thể thấy những cái lồng ấp, những bình trà, những miếng che tay nơi cán gươm bằng vàng khối nguyên chất, người An Nam chỉ ưa thích những quý kim này nếu không có sự pha trộn nào. Cũng nên lưu ý đến cái vương miệng dệt bằng vàng của vua Tự Đức, cái đai của Ngài được khảm nổi bằng ngọc thạch, san hô, ngọc trai và khép lại nơi một viên kim cương lớn; một loạt đồ bằng thạch anh rất đẹp, nhiều cán gươm bằng sừng tê giác…”
Nội thất điện Phụng Tiên lúc xưa (ảnh: internet)
Nội thất điện Phụng Tiên lúc xưa (ảnh: internet)
Điện Phụng Tiên nay giờ chỉ còn cổng Tam quan (ảnh: blog Thanh Nhan Tran)
Điện Phụng Tiên nay giờ chỉ còn cổng Tam quan (ảnh: blog Thanh Nhan Tran)
Theo tác giả Philippe Eberhartd thì thực tế tại nhà Tả Vu và Hữu Vu có nhiều đồ ngự dụng và trang trí quý hiếm. Như hai độc bình lớn thuộc loại men lam Huế và ba cái tủ chạm và khảm cẩn xà cừ tuyệt đẹp; các bộ triều phục, mão trang sức bằng ngọc thạch; nhiều đồ trang trí do các quốc gia tặng…
Những báu vật quý nhất tại điện Càn Thành
Nhìn chung các bảo vật ở các điện trên tuy đã được nhận định là quý báu, đa dạng và phong phú nhưng đó chưa phải là tất cả những di sản thuộc loại quốc bảo trong toàn bộ hệ thống cung điện Huế vì có một số cung điện và kho tàng khác mà hai tác giả trên chưa được phép đặt chân đến như điện Càn Thành (nơi vua ở) - tọa lạc tại trung tâm điểm của Tử Cấm Thành. Ngoài chức năng đó, ngôi điện này còn là nơi tàng trữ những bảo vật cao nhất về lịch sử và văn hóa nhà Nguyễn.
Trong Nội các triều Nguyễn tập 14 đã từng mô tả bản dịch của Viện Sử học ở đoạn ghi lời dụ của vua Minh Mạng về quy chế cất giữ bảo vật tại điện này như Bảo Tỷ - khí cụ quan trọng nhà nước, Kim Sách, Kim Bài, Phù Tín.
Các ấn vàng thời vua Nguyễn
Các ấn vàng thời vua Nguyễn
Một nhân chứng người Pháp khác là Paul Boudet (nhà Lưu trữ - Cổ tự học) làm phụ trách ngành lưu trữ và thư viện tại Đông Dương, vào khoảng năm 1942 đã may mắn được Nam triều cho hưởng một ân huệ đặc biệt là có thể tiếp cận với tất cả các thư viện và kho lưu trữ tại Kinh đô Huế, kể cả kho tàng nói trên ở điện Càn Thành. Vua Bảo Đại đã cho phép ông tìm hiểu, kê cứu tất cả các bảo vật được cất giữ ở ngôi điện này. Các món đồ quý được di chuyển ra khỏi tủ, khỏi hòm, khỏi hộp để ông đọc, ghi chép, chụp ảnh.
Theo một bài viết khá dài và có giá trị học thuật rất cao của ông, Paul Boudet đã cho chúng ta biết rằng bấy giờ chỉ riêng ở điện Càn Thành đã có đến 26 quyển Kim Sách liên quan đến những dịp lễ đăng quang của các vua Gia Long, Thiệu Trị, Tự Đức, Hàm Nghi, Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân, Khải Định và những dịp lễ tuyên phong của các Hoàng hậu, Hoàng thái tử. Cũng tại ngôi điện này, ông đã liệt kê được 46 cái ấn bằng ngọc và bằng vàng của các Hoàng đế và Hoàng hậu.
Những báu vật quý nhất được xem được để tại điện Càn Thành. Đến nay ngôi điện cực đẹp này cũng không còn do bom đạn chiến tranh đã phá hủy sau năm 1945 (ảnh: internet)
Những báu vật quý nhất được xem được để tại điện Càn Thành. Đến nay ngôi điện cực đẹp này cũng không còn do bom đạn chiến tranh đã phá hủy sau năm 1945 (ảnh: internet)
“Ngoài tư liệu khả tín ấy ra, chúng tôi cũng may mắn đang có được trong tay nguyên bản một quyển “Thủ sách” bằng chữ Hán viết tay được Viện Cơ Mật thực hiện trong dịp lễ “Phất thức” (còn gọi là ngày “Phong ấn” vào cuối năm Bảo Đại nguyên niên 1926). Viện đã liệt kê hàng trăm của báu bấy giờ được lưu trữ tại điện Càn Thành, bao gồm những ấn bằng vàng, bằng ngọc, những sách bằng vàng, bằng bạc và những bảo vật thuộc các loại chất liệu khác. Hy vọng khi nào có điều kiện và cơ hội tốt, chúng tôi sẽ biên dịch toàn bộ và công bố để mọi người tham khảo” – nhà nghiên cứu Phan Thuận An tiết lộ.
Kho cất giữ vàng, bạc, đồ quý thời vua Nguyễn
Đi tham quan Kinh thành Huế nhưng ít ai biết nơi cất giữ nhiều đồ quý từ các địa phương dâng hiến nằm chỗ nào. Nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Hoa, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa và Thông tin tỉnh Thừa Thiên Huế đã “giải mã” vấn đề này một cách rất chi tiết.
Theo ông Hoa, Phủ Nội Vụ trong cung vua Nguyễn là nơi quản lý (cất giữ, chế tác, nghiệm thu, dâng tiến, cấp phát…) các loại vàng bạc, châu ngọc, gấm vóc, tiền bạc và vật dụng quý, phục vụ cho sinh hoạt của hoàng gia và triều đình. Đây là một cơ sở hậu cần trực tiếp của nhà vua, đồng thời là một dạng ngân khố của nhà nước quân chủ cuối cùng ở Việt Nam.
Từ thời vua đầu tiên Gia Long đã thành lập Phủ với 6 kho. Đến đời vua Minh Mạng trở đi được nâng lên con số 10 kho gồm kho vàng bạc (giữ các phiến đỉnh và đồ vật bằng vàng bạc), kho gấm đoạn (, kho sa lĩnh, kho lụa nam, kho đồ sứ, kho dược phẩm, kho dầu nến, kho quần áo, kho pha lê, kho đồ làm trò (diễn tuồng, tấu nhạc, múa hát).
Khi chuyển về địa điểm mới và hiện tại bây giờ, Phủ Nội Vụ (gần cửa Hiển Nhơn) đã được vua Minh Mạng giao tổ chức nấu đúc các đĩnh bạc, đồng thời vua cho “xây hầm chứa bạc ở kho vàng trong phủ chứa 200.000 lạng bạc, cứ 1.000 lạng bạc chứa vào 1 hòm”. Các năm sau lần lượt tổ chức đúc mẫu vàng “Việt Nam nguyên bảo” loại 100 lạng, 50 lạng, vàng “Tân thức lưỡng đĩnh nhất bách đĩnh”.
Phủ Nội Vụ hiện tại đang để trống
Phủ Nội Vụ hiện tại đang để trống
Quốc Sử Quán triểu Nguyễn cho biết tại Phủ Nội Vụ vào năm 1885 ở tầng dưới cất giữ 91.424 thỏi bạc đĩnh 10 lạng, 78.960 thỏi bạc đĩnh 1 lạng; tầng trên cất giữ khoảng 500 lạng vàng, khoảng 700.000 lạng bạc. Ngoài ra còn có một số kho nhỏ trong Hoàng thành cũng như thời vua Minh Mạng, Thiệu Trị đã cho đào chôn nhiều bạc tại Đại Nội

Những biến cố của lịch sử đã khiến cho một lượng cổ vật lớn và quý hiếm đã “biến mất” khỏi cố đô Huế. Hãy cùng lật lại những điểm mốc ấy.

“Thất thủ kinh đô” và lần mất cổ vật gần như lớn nhất
Qua các biến cố lớn trong lịch sử, tiêu biểu nhất là các đợt chiến tranh đã làm cho cổ vật cung đình tại Huế bị mất mát rất lớn. Theo TS. Phan Thanh Hải, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, nhiều cổ vật ấy hiện đang ở trong các bộ sưu tập lớn của các tổ chức chính phủ, tư nhân trong và ngoài nước hoặc đã “bặt vô âm tín” không ai hay. Căn cứ vào tư liệu lịch sử, những đợt mất mát lớn của Huế đã từng xảy ra không ít lần, tiêu biểu vào các năm 1775, 1862, 1885, 1945, 1947, 1972…
Năm 1775, quân đội Lê - Trịnh do quận công Hoàng Ngũ Phúc tấn công và chiếm giữ Thuận Hóa - đô thành của chúa Nguyễn. Sau khi chiếm đóng, đội quân này đã mặc sức vơ vét của cải trong kho tàng hoàng gia và gia đình quý tộc, quan lại triều đình.
Năm 1862, sau khi để mất 3 tỉnh miền Đông Nam bộ vào tay thực dân Pháp, vua Nguyễn phải huy động rất nhiều vàng bạc và cổ vật trong kho tàng của mình để đền trả số chiến phí mà Pháp đòi là 4 triệu piastre (quy đổi thành hơn 2,8 triệu lượng bạc).
Nhiều tư liệu cho biết nhà vua đã phải lấy rất nhiều đồ vật quý chế tác bằng vàng ngọc, thậm chí tận thu những kim ấn, kim sách của hoàng tử, công chúa, thân vương; các tư trang bằng vàng, bạc của cung phi để trả nợ. Vì lý do này, phần lớn cổ vật chế tác bằng vàng bạc của Huế trở nên khan hiếm, thậm chí cả cây lá ngọc cành vàng trong cung điện, lăng tẩm, miếu đền của triều Nguyễn cũng đã bị thay bằng loại lá ngọc cành gỗ nhũ vàng.
Gian thiết triều tại điện Cần Chánh. Có nhiều chậu sứ quý trong cắm các cây cành vàng lá ngọc (ảnh: blog Ngoan Trương Công)
Gian thiết triều tại điện Cần Chánh. Có nhiều chậu sứ quý trong cắm các cây "cành vàng lá ngọc" (ảnh: blog Ngoan Trương Công)
1 trong 3 bộ cây cành vàng lá ngọc còn lại hiếm hoi tại Huế thuộc sở hữu của nghệ nhân thêu Lê Văn Kinh (ảnh: Thế Nam)
1 trong 3 bộ cây "cành vàng lá ngọc" còn lại hiếm hoi tại Huế thuộc sở hữu của nghệ nhân thêu Lê Văn Kinh (ảnh: Thế Nam)
TS. Hải cho biết, những vụ mất mát lớn nhất của Huế trong lịch sử gắn liền với sự kiện “Thất thủ kinh đô”. Ngày 5/7/1885 (23/5 năm Ất Dậu), khi tấn công vào kinh đô Huế, quân đội Pháp đã cướp bóc, đốt phá và giết hại người dân một cách vô cùng dã man. Trong sự kiện đẫm máu này, không chỉ hàng vạn người bị giết hại mà Huế còn bị cướp đi phần lớn những gì quý báu nhất.
Linh mục Père Siefert, người chứng kiến sự kiện thảm khốc này đã ghi lại: “Kho tàng trong hoàng cung đã mất đi gần 24 triệu quan vàng và bạc… Cuộc cướp cạn ấy kéo dài trong 2 tháng còn gây tai tiếng hơn cuộc cướp phá Cung điện Mùa Hè của Thanh Đế ở Bắc Kinh”.
Quân Pháp đánh chiếm Kinh thành Huế năm 1885 (tranh tư liệu của Pháp, nguồn internet)
Quân Pháp đánh chiếm Kinh thành Huế năm 1885 (tranh tư liệu của Pháp, nguồn internet)

Cũng theo Père Siefert, khi đối chiếu với bảng kiểm kê tài sản của hoàng gia lập trước ngày 5/7/1885 với những gì đã mất, thì quân Pháp đã cướp: “228 viên kim cương, 266 món nữ trang có nạm kim cương, hạt trai, hạt ngọc, 271 đồ bằng vàng trong cung của bà Từ Dũ. Tại các tôn miếu thờ các vua… thì hầu hết các thứ có thể mang đi… đều bị cướp”
Ngay bản thân tướng De Courcy, người chỉ huy cuộc tấn công vào kinh đô Huế ngày 24/7/1885 (tức 20 ngày sau khi khởi đầu cuộc tấn công) đã gửi cho chính phủ Pháp một bức điện với nội dung sau: “Trị giá phỏng chừng các quý vật bằng vàng hay bằng bạc dấu kỹ trong các hầm kín là 9 triệu quan. Đã khám phá thêm nhiều ấn tín và kim sách đáng giá bạc triệu. Xúc tiến rất khó khăn việc tập trung những kho tàng mỹ thuật. Cần cử sang đây một chiếc tàu cùng nhiều nhân viên thành thạo để mang về mọi thứ cùng với kho tàng”.

Một số cung điện tại Huế đã gần như sạch trơn sau khi Pháp chiếm Kinh thành (ảnh: internet)
Một số cung điện tại Huế đã gần như "sạch trơn" sau khi Pháp chiếm Kinh thành (ảnh: internet)

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Hoa, Quốc Sử quán triều Nguyễn ghi: riêng tại Phủ Nội Vụ ở tầng dưới cất giữ 91.424 thỏi bạc đỉnh 10 lạng, 78.960 thỏi bạc đỉnh 1 lạng; tầng trên cất giữ khoảng 500 lạng vàng, khoảng 700.000 lạng bạc; kho gần cửa Thọ Chỉ cất giữ 898 lạng vàng, 3.400 lạng bạc; toàn bộ số vàng bạc này đã bị mất khi Pháp chiếm kinh thành.

Phủ Nội Vụ bị mất hết vàng bạc khi Pháp chiếm Kinh thành
Phủ Nội Vụ bị mất hết vàng bạc khi Pháp chiếm Kinh thành

Song song với đó, một phần của cải “có lẽ cũng không nhỏ” đã được phe chủ chiến của nhà vua đứng đầu là Tôn Thất Thuyết đã cho đem ra chiến khu Tân Sở - Quảng Trị để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài. Số vàng bạc ngân lượng này về sau cũng thất tán hoàn toàn.
Nhưng trong quá trình quân Pháp truy đuổi Tôn Thất Thuyết từ tháng 7/1885, tỉnh Quảng Trị đã thu giữ 34 hòm bạc chứa 36.557 tiền bạc và 6 hòm bạc do ông Thuyết chưa kịp mang đi chứa 196 thỏi bạc, mỗi thỏi 10 lạng và 18.696 tiền bạc.. tất cả hòm bạc này khi đệ nạp về kinh đã bị quân Pháp giữ.
Trong quá trình quản lý, tòa Khâm sứ Trung Kỳ của Pháp nắm rất rõ kho vàng bạc trong kinh thành Huế. Tháng 6/1899, Pháp đã phái đại diện cùng thượng thư bộ Công, bộ Lễ đào tìm, phát hiện một gầm bạc. Dưới thời vua Duy Tân năm 1915 đào được hai lần tại cửa Tường Loan. Lần một được 60 hòm gỗ chứa 10.000 hốt bạc và lần hai được 70 hòm gỗ chứa 10.000 hốt bạc thỏi.

Dưới sự quản lý rất chặt chẽ của Pháp, nhiều lần đã đào lấy vàng bạc trong Kinh thành để dùng vào nhiều mục đích có lợi cho riêng mình (ảnh: internet)
Dưới sự quản lý rất chặt chẽ của Pháp, nhiều lần đã đào lấy vàng bạc trong Kinh thành để dùng vào nhiều mục đích có lợi cho riêng mình (ảnh: internet)

Các số bạc này phần lớn Pháp “chỉ đạo” triều đình nộp ở ngân hàng Thượng Hải (chi nhánh ngân hàng Đông Dương) để lấy lãi hàng năm cho triều đình, mua trái phiếu quân dụng ủng hộ Pháp trong chiến tranh thế giới thứ nhất hay chuyển tiền triều đình đã gửi ở ngân hàng Đông Dương góp vốn với 1 công ty do người Pháp làm chủ để thành lập thương cục mới. “Từ đó đến nay, chưa ai rõ việc góp vốn này đưa đến kết quả ra sao? Có chăng gần như triều đình Việt Nam đã mất trắng” - ông Hoa nhận định.
Kho báu vẫn còn và việc mất tiếp diễn
Tuy bị mất mát nhiều những báu vật và của cải do họa mất nước, nhưng triều Nguyễn vẫn giữ lại được một phần báu vật rất có giá trị. Hầu hết các báu vật này là Kim Bảo, Ngọc Tỷ gắn với các đời hoàng đế, hoàng hậu, và các đồ “ngự dụng” vốn gắn liền với cuộc sống của họ, sau được dùng như những vật thờ tự.
Tháng 8/1945 khi Bảo Đại - vị hoàng đế cuối cùng thoái vị, triều Nguyễn đã bàn giao hầu hết các báu vật còn lại của vương triều cho chính phủ Cách mạng lâm thời, trong đó có cả bộ ấn kiếm tượng trưng cho quyền lực của hoàng đế. Toàn bộ số của cải này gồm gần 3.000 món, được đem ra Hà Nội và được bảo quản đặc biệt qua 2 cuộc kháng chiến của dân tộc.
Duy chỉ có điều đáng tiếc là bộ ấn kiếm tượng trưng cho quyền lực của hoàng đế gồm kim ấn Hoàng đế chi bảo nặng gần 10,5kg và chiếc kiếm chuôi vàng nạm ngọc, do sơ suất trong việc bảo vệ nên chúng ta để lọt vào tay người Pháp. Năm 1952, người Pháp đã tổ chức một buổi lễ “trang trọng” tại Đà Lạt để trao lại ấn kiếm cho Quốc trưởng Bảo Đại. Bộ ấn kiếm này về sau được hoàng hậu Nam Phương mang qua Pháp và gửi tại ngân hàng Châu Âu.

Đại diện chính phủ Pháp trao lại ấn, kiếm cho Quốc trưởng Bảo Đại năm 1952 tại Đà Lạt. Hiện bộ ấn kiếm tượng trưng cho quyền lực của triều đại phong kiến cuối cùng này không có tại Việt Nam
Đại diện chính phủ Pháp trao lại ấn, kiếm cho Quốc trưởng Bảo Đại năm 1952 tại Đà Lạt. Hiện bộ ấn kiếm tượng trưng cho quyền lực của triều đại phong kiến cuối cùng này không có tại Việt Nam

Về những cổ vật được bảo quản, trưng bày tại Tàng Cổ Viện (sau năm 1958 là Bảo tàng Huế) cũng bị thất thoát ít nhiều trong thời gian từ 1945-1975. Có những cổ vật rất quý như chiếc nghiên mực Tức Mạc Hầu của vua Tự Đức đã bị lấy làm tài sản riêng của Ngô Đình Diệm, rồi không cánh mà bay sau khi chính quyền Diệm bị lật đổ.

Nghiên mực quý Tức Mạc Hầu của vua Tự Đức bị mất sau khi Ngô Đình Diệm lấy và đến nay không còn tung tích gì
Nghiên mực quý Tức Mạc Hầu của vua Tự Đức bị mất sau khi Ngô Đình Diệm lấy và đến nay không còn tung tích gì
Một sự thất thất thoát đáng kể khác đã xảy ra vào trong năm 1972 do việc đưa cổ vật vào Sài Gòn...
“Cũng cần nói rằng có không ít cổ vật quý hiếm của Huế đã được đưa đi nơi khác do chủ nhân của chúng (đa số là các gia đình quý tộc cũ) di chuyển nơi ở hoặc bán đi do hoàn cảnh khó khăn. Một số nhà sưu tầm cổ vật tại miền Nam lúc bấy giờ đã có được rất nhiều cổ vật có giá trị từ Huế.
Sau này, một dạng thất thoát đáng nói khác là những cổ vật do người dân tình cờ phát hiện nhưng không báo với chính quyền mà bán cho những người buôn bán phế liệu hoặc buôn bán cổ vật. Hầu hết những cổ vật này đều “lặng lẽ” ra đi khỏi Huế, số ít khác thì “ở lại” nhưng là trong các sưu tập tư nhân chứ rất hiếm khi vào các bảo tàng nhà nước” – TS Hải cho biết thêm.
Cũng sau năm 1975, đặc biệt trong thập niên 1980, ở tại TP Huế và vùng phụ cận, hàng loạt cổ vật quý lại bị đánh cắp do kẻ gian bất chấp mọi luân thường, đạo lý, đào phá hàng chục lăng mộ của ông hoàng bà chúa để hôi của. Lăng Kiên Thái Vương (thân sinh của 3 vị hoàng đế Đồng Khánh, Hàm Nghi và Kiến Phúc), lăng thái hậu Từ Dũ (thân mẫu vua Tự Đức) và lăng hầu hết các chúa Nguyễn đều bị kẻ gian đào bới, lấy đi rất nhiều đồ tùy táng có giá trị.
Trong các năm 2012, 2013, kẻ gian đã đột nhập đánh cắp cổ vật tại điện Khải Thành - lăng Khải Định, điện Hòa Khiêm - lăng của Tự Đức lấy đi một số cổ vật có giá trị…
Lăng Kiên Thái Vương bị kẻ gian đào lấy đi nhiều cổ vật tùy táng giá trị sau thời điểm năm 1975 (ảnh: internet)
Lăng Kiên Thái Vương bị kẻ gian đào lấy đi nhiều cổ vật tùy táng giá trị sau thời điểm năm 1975 (ảnh: internet)
Điện Khải Thành - Lăng vua Khải Định, nơi bị kẻ trộm đột nhập lấy cắp cổ vật
Điện Khải Thành - Lăng vua Khải Định, nơi bị kẻ trộm đột nhập lấy cắp cổ vật

Tại Huế, toàn bộ các ấn quý bằng vàng, bạc, ngọc hay còn gọi là Kim Ngọc Bảo Tỷ đến nay không còn một chiếc nào. Có lẽ thật sự đây là điều đáng tiếc nhất khi xuất xứ những chiếc ấn quý đó đều từ Huế mà ra.

Có hơn 100 chiếc ấn quý báu với nhiều công năng
“Hoàng đế triều Nguyễn cũng như các vua chúa phong kiến Việt Nam trước đó đều lấy Bảo tỷ để biểu thị cho quyền lực tối cao của mình và cả vương triều. Kim ngọc Bảo tỷ là ấn của nhà vua dùng với ý nghĩa quốc gia trọng đại. Ấn được làm bằng ngọc gọi là Ngọc tỷ, ấn được đúc bằng vàng, bằng bạc, bằng bạc mạ vàng gọi là Kim Bảo tỷ. Vì vậy, Kim Ngọc Bảo Tỷ là bảo vật quốc gia tượng trưng của Đế quyền.” - theo nhà sử học Lê Văn Lan định nghĩa cho cổ vật quan trọng nhất của triều Nguyễn.
“Đối với hầu hết du khách thật khó chấp nhận với cảm giác đến Huế nhưng lại không được nhìn thấy những cổ vật quý nhất của Huế. Huế đang được nhà nước đầu tư để xây dựng thành một trong những trung tâm văn hóa lớn của đất nước và khu vực, vì thế cần phải trả lại những gì mà nó vốn có, đặc biệt là các di sản văn hóa” - TS. Phan Thanh Hải, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế trăn trở.
Theo TS. Hải, đối chiếu các tài liệu lịch sử, trong 143 năm tồn tại, triều Nguyễn đã cho làm hơn 100 chiếc ấn báu; thường đúc bằng vàng, bạc thì gọi là kim bảo, chế tác từ ngọc quý, thì gọi là ngọc tỷ, nhưng về sau không phân biệt rõ.
Còn theo nhà nghiên cứu Phan Thuận An, triều Nguyễn đã cho chế tác và đưa vào sử dụng hơn 100 Kim Ngọc Bảo Tỷ bằng vàng và bằng ngọc - chưa kể số ấn tín quý riêng được tấn phong của các vương công. Ngoài hệ thống Ngọc Tỷ của vua ra, Thái Hoàng Thái hậu (bà nội của vua), Hoàng Thái hậu (mẹ của vua) và Hoàng hậu, Hoàng phi (vợ vua) tùy thứ bậc mà sẽ có ấn vàng, ấn bạc mạ vàng hay ấn bạc. Có cả Ngọc Tỷ chế tác riêng cho từng vua sau khi qua đời mang tên vua…
Ấn Hoàng Đế chi bảo nặng nhất (10,5kg vàng) hiện đang ở tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
Ấn Hoàng Đế chi bảo nặng nhất (10,5kg vàng) hiện đang ở tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
TS Hải cho biết thêm, trong 93 chiếc kim bảo, ngọc tỷ của triều Nguyễn, thời các chúa có 2 chiếc, đều đúc vào năm 1709, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu; thời Gia Long (1802-1820) có 12 chiếc; thời Minh Mạng (1820-1840) có đến 15 chiếc; thời Thiệu Trị (1841-1847) có 10 chiếc; thời Tự Đức (1848-1883) cũng có 15 chiếc, thời Kiến Phúc (1884) và Hàm Nghi (1885) đều chỉ có một chiếc; thời Đồng Khánh (1885-1888) có 5 chiếc; thời Thành Thái (1889-1907) có 10 chiếc; thời Khải Định (1916-1924) có 12 chiếc; và thời Bảo Đại (1925-1945) có 8 chiếc. Trong 13 vị vua triều Nguyễn có 3 đời vua Dục Đức, Hiệp Hòa và Duy Tân là không có bảo tỷ riêng.
Trong các kim bảo của triều Nguyễn, chiếc Hoàng Đế chi bảo là có trọng lượng lớn nhất, đến hơn 280 lạng (gần 10,5kg). Chiếc Sắc mệnh chi bảo tuy trọng lượng bé hơn (hơn 223 lạng) nhưng mặt ấn lại lớn nhất (14 cm x 14cm. Các ngọc tỷ thì mặt ấn lớn nhất cũng không quá 10,5cm x 10,5cm.
Kim Ngọc Bảo Tỷ “Sắc mệnh chi bảo” thời vua Minh Mạng (ảnh chụp lại từ sách “Kim Ngọc Bảo Tỷ của hoàng đế và vương hậu triều Nguyễn Việt Nam”)
Kim Ngọc Bảo Tỷ “Sắc mệnh chi bảo” thời vua Minh Mạng (ảnh chụp lại từ sách “Kim Ngọc Bảo Tỷ của hoàng đế và vương hậu triều Nguyễn Việt Nam”)
Kim bảo, ngọc tỷ đều có chức năng riêng. Chiếc Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo có từ thời các chúa được dùng như báu vật lưu truyền của họ Nguyễn; chiếc Phong Tặng chi bảo và Sắc mệnh chi bảo dùng đóng các bản sắc, cáo phong tặng quan lại văn võ, thần kỳ trong nước; chiếc Khâm văn chi tỷ chỉ đóng trên các văn kiện về văn hóa như cầu hiền tài, mở khoa thi, làm sách; chiếc Trị lịch minh thời chi bảo chỉ dùng đóng trên các bản lịch, bản chính sóc ban hành hằng năm; chiếc kim bảo số một của vương triều là Hoàng đế chi bảo chỉ đóng trên các văn kiện đối nội, văn bản ngoại giao quan trọng nhất; chiếc ngọc tỷ Hoàng đế chi tỷ chỉ dùng đóng trong các dịp đại xá thiên hạ, cải niên hiệu...
Ngoài các kim bảo ngọc tỷ dùng trong chính sự cũng có loại dùng để tấn tôn tước hiệu (thường kèm với kim sách), để thờ cúng (đối với hoàng đế đã băng hà), hay chỉ để đóng trên thi phú, tranh họa sáng tác khi nhàn rỗi, như Tự Đức thần hàn, Khải Định thần hàn... Khác biệt hơn cả là chiếc Triều đình lập tín do người Pháp đúc tặng vua Đồng Khánh năm 1887, dùng để đóng trên các văn bản trao đổi giữa hai nước. Trên mặt ấn có khắc cả dòng chữ “Le Governement de la Republique Francaise A S. Dong Khanh Roi D’ Annam” (Chính phủ Pháp tặng ngài Đồng Khánh, vua nước An Nam).
Ngọc Tỷ xưa nhất “Đại Việt quốc Nguyễn Chúa vĩnh trấn chi bảo” còn giữ lại ở Bảo tàng lịch sử Việt Nam
Ngọc Tỷ xưa nhất “Đại Việt quốc Nguyễn Chúa vĩnh trấn chi bảo” còn giữ lại ở Bảo tàng lịch sử Việt Nam
Tấm sắc phong thời Khải Định của gia đình ông Phan Thuận An được đóng bằng chiếc Kim Ngọc Bảo Tỷ “Sắc mệnh chi bảo”
Tấm sắc phong thời Khải Định của gia đình ông Phan Thuận An được đóng bằng chiếc Kim Ngọc Bảo Tỷ “Sắc mệnh chi bảo”
Tất cả ấn quý đã không còn ở Huế
Nhà nghiên cứu Phan Thuận An cho hay, những cổ vật vô giá mà nhà Lưu trữ - Cổ tự học Paul Boudet đã “mục sở thị” tại điện Càn Thành vào năm 1942 như trên, ngay sau khi vua Bảo Đại thoái vị vào tháng 8/1945, các cổ vật ở điện và một số bảo vật khác trong Hoàng thành đã được di chuyển ra Hà Nội (Thủ đô của Chính phủ mới) và lưu trữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.
Vào năm 1962, để đảm bảo an toàn cho bộ sưu tập quý giá này, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia đã chuyển giao sang bảo quản tại kho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Năm 2007, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã bàn giao toàn bộ số hiện vật quý giá triều Nguyễn lại cho Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, trong đó có cả 85 chiếc kim bảo, ngọc tỷ (ấn đúc bằng vàng, bạc, bạc mạ vàng, hay bằng ngọc của vua Nguyễn - PV) được chế tác dưới thời chúa Nguyễn và vua Nguyễn.
“Đây là sưu tập Bảo vật Quốc gia được Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp nhận từ triều đình Huế… Bộ sưu tập chủ yếu là của Vua và Hoàng tộc, mỗi bảo vật mang tính cung đình và độc bản bao gồm: Mũ vua, Kim Bảo, Kim Sách, Bảo kiếm, đồ ngự dụng, đồ thờ tự trong cung đình Nguyễn… với nhiều văn tự, chứa đựng những giá trị văn hóa của triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam” - trích lời giới thiệu ở Cuốn sách Kim Ngọc Bảo Tỷ của Hoàng đế và Vương hậu triều Nguyễn Việt Nam của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia xuất bản năm 2009 nhân kỷ niệm đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội.
Cũng sau khi chỉnh lý, tháng 10/2010, một sưu tập gồm 17 hiện vật vàng ngọc đã được mang trung bày nhân kỷ niệm Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Sưu tập này đã dành được sự quan tâm đặc biệt của công chúng.
Chiếc ấn “Hoằng Tông Tuyên Hoàng Đế chi bảo” đúc thời vua Khải Định năm 1925 nay không còn ở Huế
Chiếc ấn “Hoằng Tông Tuyên Hoàng Đế chi bảo” đúc thời vua Khải Định năm 1925 nay không còn ở Huế
Theo ông An, cuốn sách trên mới chỉ công bố một phần trong khối lượng bảo vật nặng đến 800kg mang từ Hoàng cung Huế. Bấy giờ, người ta đã chọn lựa các bảo vật nhỏ nhắn gọn nhẹ dễ di chuyển, còn các thư to lớn cồng kềnh như ngai vàng, quả cầu chạm lọng hình cửu long, bức trấn phong bằng đá thời Minh Mạng, kiệu vua… thì để lại.
Vì vậy hiện nay, Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế cũng còn bảo lưu được một số bảo vật các loại với nhiều chất liệu khác nhau do triều Nguyễn để lại. Tuy nhiên, tại đây không có được một Kim Ngọc Bảo Tỷ nào, cũng không có được một kim sách hoặc ngân sách nào cả. Theo ông An, đây là một trong những cổ vật thuộc dạng quý nhất.
Ngoài ấn vàng bạc ngọc thì ở Huế hiện cũng không còn 1 cuốn kim sách nào. Ảnh là Kim sách Đế hệ thi thời vua Nguyễn
Ngoài ấn vàng bạc ngọc thì ở Huế hiện cũng không còn 1 cuốn kim sách nào. Ảnh là Kim sách Đế hệ thi thời vua Nguyễn
Th.s. Huỳnh Thị Anh Vân, Giám đốc Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế cũng nhận xét, các cổ vật bằng chất liệu vàng còn lại ở Huế rất ít. Hiện tại, phần lớn các bảo vật này đang đươc lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc Gia. Việc hợp tác để đưa cổ vật quý về Huế trưng bày cũng nằm trong kế hoạch đã được ký kết giữa Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và Bảo tàng Lịch sử Quốc Gia. Tuy nhiên để đưa về Huế lưu giữ một số cổ vật, trong đó có những chiếc Kim Ngọc Bảo Tỷ sẽ là cả một chặng đường dài.
Hiện nay, tại Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế cũng đang trưng bày một số bộ sưu tập ấn triện triều Nguyễn, trong đó có một số ấn bằng ngà thời vua Tự Đức; 1 chiếc ấn phục chế bằng gốm mạ vàng theo tỷ lệ 1:1 của ấn Sắc Mệnh Chi Bảo đời vua Minh Mạng (ấn thật bằng vàng ròng nặng 8,3 kg hiện đang nằm ở Bảo tàng Lịch sử Quốc gia) và một số sách bằng đồng, sách bằng lụa …
Hiện ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế chỉ trưng bày 1 chiếc ấn Sắc Mệnh Chi Bảo nhưng làm theo phiên bản 1:1 bằng gốm mạ vàng. Chiếc nguyên gốc đang nằm tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ở Hà Nội
Hiện ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế chỉ trưng bày 1 chiếc ấn Sắc Mệnh Chi Bảo nhưng làm theo phiên bản 1:1 bằng gốm mạ vàng. Chiếc nguyên gốc đang nằm tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ở Hà Nội
Một số ấn ngà thời Tự Đức hiện đang trưng bày ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế
Một số ấn ngà thời Tự Đức hiện đang trưng bày ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế
Việc cố đô Huế một thời đang lưu giữ gần như đầy đủ các công trình kiến trúc cung điện, đền đài, lăng tẩm nhưng lại thiếu 1 trong các bảo vật như Kim Ngọc Bảo Tỷ là một điều thật đáng tiếc.

Theo ThS. Huỳnh Thị Anh Vân, Giám đốc Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế (thuộc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế), hiện tại Bảo tàng đang quản lý hơn 13.000 hiện vật. Trong số này, nhiều cổ vật rất có giá trị về ý nghĩa biểu tượng, tinh thần của triều Nguyễn.

“Để xác định khái niệm “cổ vật quý” thì có nhiều cách. Xét về giá trị vật chất như các loại Kim Ngọc Bảo Tỷ hay kim sách thì ở Huế không còn nữa nhưng nếu nói Huế không có cổ vật quý thì là chưa hẳn. Với số lượng cổ vật cung đình mà Huế đang lưu giữ gần như nhiều nhất nước; đặc biệt có đến 3 bảo vật quốc gia thuộc về thời Nguyễn gồm Cửu vị thần công, Cửu đỉnh và Đại hồng chung chùa Thiên Mụ, Huế vẫn còn nhiều cổ vật quý để du khách tìm hiểu, chiêm ngưỡng” – ThS Vân mở đầu câu chuyện.
Điều quan trọng nhất theo bà Vân, đó là nếu cổ vật được đặt đúng chỗ trong không gian nguyên thủy của nó, người xem mới cảm nhận được chiều sâu văn hóa của một vùng đất.
Dù các cổ vật quý bằng vàng vì nhiều lý do đã không còn ở cố đô, nhưng phần hồn kinh đô vàng son một thuở vẫn chỉ ở Huế mới có. Du khách phải đến Huế mới cảm nhận được hơi thở cung đình xưa cũ hòa quyện trong những đền đài, thành quách cổ kính. Và vẫn còn rất nhiều cổ vật cực kỳ giá trị để cho du khách thưởng thức.
Ngai vàng trong điện Thái Hòa
Chiếc ngai vàng nằm ở gian giữa của điện Thái Hòa, Đại Nội Huế hiện là một cổ vật độc bản cực kỳ quý giá, chứng kiến sự thăng trầm của vương triều phong kiến cuối cùng ở Việt Nam. Biết bao biến cố đã xảy ra ở nơi này, từ một nghi lễ huy hoàng khi một vị vua uy mãnh đăng quang hay sự hoang mang của triều đình khi một vị vua bị truất phế.
Ngai vàng các đời vua trong điện Thái Hòa (ảnh: blog Nguyen Ngoc Vien)
Ngai vàng các đời vua trong điện Thái Hòa (ảnh: blog Nguyen Ngoc Vien)
Cận cảnh ngai vàng (ảnh: Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế cung cấp)
Cận cảnh ngai vàng (ảnh: Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế cung cấp)
Chiếc ngai không biết làm từ bao giờ và ai làm nhưng căn cứ qua nhiều tư liệu lịch sử và các bức ảnh tư liệu chụp từ thời vua Đồng Khánh trở đi thì vẫn là chiếc ngai vàng nguyên gốc đó. Chỉ có thay đổi là thêm chiếc bửu tán trang trí ở phía trên ngai vàng. Có thể thấy triều đình thay vua chứ không thay ngai.
Chiếc ngai này, cùng với chiếc bửu tán bên trên được mạ vàng và chạm trổ tinh xảo, hiện đang được Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đưa vào hồ sơ đề cử Bảo vật quốc gia đợt năm 2015” - ThS. Anh Vân cho biết.
Ngai vàng nằm phía dưới các bửu tán. Tất cả đều được mạ vàng ta rất kỳ công (ảnh: blog Nguyen Ngoc Vien)
Ngai vàng nằm phía dưới các bửu tán. Tất cả đều được mạ vàng ta rất kỳ công (ảnh: blog Nguyen Ngoc Vien)
Uy nghi ngai vàng của các vua Nguyễn (ảnh: Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế cung cấp)
Uy nghi ngai vàng của các vua Nguyễn (ảnh: Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế cung cấp)
Áo tế Trời của các vua Nguyễn
Hiện nay, Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế còn đang giữ một cổ vật độc bản vô cùng giá trị về mặt văn hóa, chính trị và mỹ thuật. Đó là chiếc áo để vua nhà Nguyễn mặc để tế Trời ở đàn Nam Giao. Đây là lễ tế quan trọng nhất thuộc hàng Đại tự dưới thời Nguyễn bao gồm: lễ tế Giao, tế Miếu, tế Xã Tắc.
Chính vì vậy, chiếc áo tế Trời cũng giúp nhà vua kết nối với trời đất, thần linh, đại diện cho toàn dân cầu trời ban cho quốc gia sự thái bình thịnh vượng, người dân no đủ, bội thu.
Chiếc áo tế Trời của các vua Nguyễn
Chiếc áo tế Trời của các vua Nguyễn
ThS. Anh Vân cho hay: “Theo quan điểm của Nho giáo, nhà vua là người duy nhất có đủ quyền linh để đại diện toàn dân cầu nguyện Trời đất và các vị thần linh. Vì thế, mọi yếu tố gắn với lễ tế này đều có ý nghĩa biểu trưng đặc biệt.
Chiếc áo mà các vua Nguyễn từng mặc tế đàn Nam Giao hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng trong điều kiện ổn định về độ ẩm, ánh sáng, nhiệt độ nhằm đảm bảo môi trường tốt cho việc giữ gìn, bảo quản áo. Chỉ khi nào có các sự kiện trọng đại mới đưa ra trưng bày”.
Vua Khải Định mặc chiếc áo tế Trời (ảnh: Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế cung cấp)
Vua Khải Định mặc chiếc áo tế Trời (ảnh: Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế cung cấp)
2 mặt trước, sau chiếc áo tế Trời (ảnh: Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế cung cấp)
2 mặt trước, sau chiếc áo tế Trời (ảnh: Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế cung cấp)
Cửu vị thần công
Chín khẩu súng thần công mang tên “Xuân, Hạ, Thu, Đông” và “Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ” đặt hai bên đường đi vào Hoàng thành Huế cũng là một trong số các bảo vật quốc gia mà Huế đang lưu giữ. Điều đặc biệt là các vua triều Nguyễn đã phong cho cả 9 khẩu súng làm “Thần oai vô địch thượng tướng quân”.
Cửu vị thần công (trong ảnh là 4 khẩu Xuân, Hạ, Thu, Đông)
Cửu vị thần công (trong ảnh là 4 khẩu Xuân, Hạ, Thu, Đông)
Thân của Cửu vị thần công được chạm trổ tinh xảo
Thân của Cửu vị thần công được chạm trổ tinh xảo
Cả chín cỗ súng thần công đều được trang trí hoa văn cực kỳ tinh xảo. Các vị “thần súng” này còn được vua cho làm lễ cúng hàng năm. Đây là một nét văn hóa tâm linh rất Huế, thể hiện đời sống tâm linh đa dạng và phong phú thời Nguyễn.
Lễ cúng cho Cửu vị thần công lần đầu tiên được tái hiện ở Festival Huế 2014 (ảnh: Hoàng Diệu)
Lễ cúng cho Cửu vị thần công lần đầu tiên được tái hiện ở Festival Huế 2014 (ảnh: Hoàng Diệu)
Cửu đỉnh
Theo ThS. Huỳnh Thị Anh Vân, Giám đốc Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế, cùng với Cửu vị thần công thì một cổ vật rất quý nữa tại Huế là bộ Cửu đỉnh nằm trong Thế Miếu, Đại Nội - cũng đã được công nhận là Bảo vật quốc gia. So với các thời trước thì thời vua Nguyễn tại Huế là giai đoạn đất nước Việt Nam có đường biên giới rộng nhất trải dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau. Bộ chín đỉnh đồng này không ở đâu có, được làm từ đời Minh Mạng với ý nghĩa như một tuyên ngôn của vua “chú cửu đỉnh dĩ tượng thành công” (đúc chín đỉnh đồng tượng trưng cho sự thành công của triều đại).
Mỗi đỉnh có 2 quai, 3 chân và khắc nhiều hình ảnh khác nhau như các địa danh quan trọng đất nước, vũ trụ, thiên nhiên, văn hóa… mang nhiều ẩn ý của nhà vua về một vương triều có sự đa dạng trong sự thống nhất nhưng bền vững như kiềng 3 chân.
Cửu đỉnh
Cửu đỉnh
Nhiều biểu tượng mang ý nghĩa sâu sắc được vua Nguyễn cho khắc trên Cửu đỉnh (ảnh: Internet)
Nhiều biểu tượng mang ý nghĩa sâu sắc được vua Nguyễn cho khắc trên Cửu đỉnh (ảnh: Internet)
Ngoài các cổ vật trên thì ở tại Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế (số 3 đường Lê Trực, TP Huế) hiện đang trưng bày hơn 200 cổ vật cung đình quý xứng đáng được chiêm ngưỡng như: Quả cầu chạm lọng hình cửu long, bộ khánh đá, chuông đồng - nhạc khí cho lễ tế đàn Nam Giao; bức phù điêu bằng đá chạm phong cảnh, điển tích, ngự chế vua Minh Mạng; Thẻ lục đầu (một loại thẻ tâu việc các quan khi hội kiến với vua); Long sàng, Kiệu vua, bộ phản, bàn làm việc của vua; các loại áo bào của vua, hoàng tử, hoàng hậu, công chúa; các cây cành vàng lá ngọc; bộ sưu tập đồ bạc; ấn ngà; các vạc thời chúa Nguyễn…
Một số hình ảnh các cổ vật quý ở Bảo tàng cổ vật Cung đình Huế:
Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế đang lưu giữ số lượng lớn cổ vật quý triều Nguyễn
Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế đang lưu giữ số lượng lớn cổ vật quý triều Nguyễn
Quả cầu chạm lọng Cửu long đặt trang trọng ở gian giữa
Quả cầu chạm lọng Cửu long đặt trang trọng ở gian giữa
Kiệu vua
Kiệu vua
Long sàng
Long sàng
Bộ phản và bàn làm việc của vua
Bộ phản và bàn làm việc của vua
Bộ sưu tập cổ vật bằng bạc
Bộ sưu tập cổ vật bằng bạc
Cây mai cành vàng lá ngọc
Cây mai "cành vàng lá ngọc"
Bức phù điêu bằng đá chạm phong cảnh, điển tích, ngự chế vua Minh Mạng đặt giữa tủ trưng bày cùng các cây cành vàng lá ngọc
Bức phù điêu bằng đá chạm phong cảnh, điển tích, ngự chế vua Minh Mạng đặt giữa tủ trưng bày cùng các cây "cành vàng lá ngọc"
Đại Dương


Thứ Ba, 24 tháng 11, 2015

Chiều 23.11, Bộ chính trị ĐCS TQ học tập thể môn chính trị kinh tế học Macxit.

23 Tháng Mười Một buổi chiều Bộ Chính trị của 28 học tập về các nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác về kinh tế chính trị và phương pháp luận. CPC Ủy ban Trung ương Tổng Bí thư Tập Cận Bình chủ trì nghiên cứu nhấn mạnh rằng sự phát triển của Trung Quốc cần phải dựa trên các điều kiện và thực tiễn của nước ta quốc gia, tiết lộ tính năng mới của pháp luật mới, tinh chế và tóm tắt các kết quả của thực hành thường xuyên của sự phát triển kinh tế của Trung Quốc, sự nổi lên của một thực hành hệ thống kinh tế, liên tục khám phá hiện đại chủ nghĩa Mác Trung Quốc một lĩnh vực mới của nền kinh tế chính trị.
Bộ Giáo dục và Khoa học Xã hội Giáo sư Gu Ủy ban Hailiang về vấn đề này để giải thích và nói về các ý kiến ​​và đề nghị đồng chí Bộ Chính trị cẩn thận lắng nghe lời giải thích của mình.
 

Khi Tập Cận Bình phát biểu tổ chức học tập. Ông chỉ ra rằng khuôn mặt của tình hình kinh tế vô cùng phức tạp trong nước và quốc tế, bộ mặt của rất nhiều và đa dạng các hiện tượng kinh tế, tìm hiểu các nguyên tắc cơ bản của kinh tế chính trị Mác-xít và phương pháp luận, phân tích kinh tế sẽ giúp chúng ta nắm bắt các phương pháp khoa học, sự hiểu biết phong trào kinh tế, để nắm bắt được xã hội và kinh tế các quy luật phát triển, nâng cao khả năng của chúng ta để nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, và tốt hơn trả lời những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế, nâng cao năng lực lãnh đạo và mức độ phát triển kinh tế.
Xi Jinping nhấn mạnh rằng nền kinh tế chính trị Mác-xít là một phần quan trọng của chủ nghĩa Mác, nhưng chúng tôi cũng duy trì và phát triển chủ nghĩa Mác bắt buộc. Đảng của chúng tôi đã luôn luôn coi trọng đến nền kinh tế chính trị Mác-xít của học tập, nghiên cứu, sử dụng của thời đại dân chủ mới trong sáng tạo đưa ra các chương trình kinh tế mới-dân chủ, khám phá con đường của quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa của sự phát triển của nền kinh tế của Trung Quốc trình bày quan điểm ban đầu , như đưa ra các mâu thuẫn cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa, đưa ra cân bằng, lưu ý sự cân bằng tổng thể, dựa vào nông nghiệp, ngành công nghiệp dẫn đầu, điều quan trọng là phối hợp phát triển nông nghiệp, xem nhẹ. Đây là những phát triển sáng tạo của chúng tôi bên của các nền kinh tế chính trị Mác-xít.
Xi chỉ ra rằng kể từ khi Thứ ba Phiên họp toàn thể của Đảng, kinh tế chính trị đảng Marxist của chúng tôi với các nguyên tắc cơ bản của cải cách và mở một thực tế mới với nhau, không ngừng làm phong phú và phát triển nền kinh tế chính trị Mác-xít, sự hình thành của nền kinh tế chính trị của chủ nghĩa Mác Trung Quốc đương đại Nhiều kết quả lý thuyết quan trọng để tìm hiểu, ví dụ, liên quan đến bản chất của lý thuyết chủ nghĩa xã hội, lý thuyết về các giai đoạn chính của hệ thống kinh tế cơ bản chủ nghĩa xã hội của, liên quan đến việc thành lập và triển khai thực hiện đổi mới, phối hợp, màu xanh lá cây, cởi mở, chia sẻ lý thuyết khái niệm phát triển với với, về sự phát triển của chủ nghĩa xã hội nền kinh tế thị trường, để thị trường đóng một vai trò quyết định trong việc phân bổ các nguồn lực và chơi tốt hơn vai trò của lý thuyết của chính phủ, các lý thuyết về phát triển kinh tế của Trung Quốc đã bước vào một mới bình thường, và đẩy mạnh công nghiệp hóa mới, tin học hóa, đô thị hóa, lý thuyết hiện đại hóa nông nghiệp phối hợp trên với hai thị trường trong nước và quốc tế tốt và nguồn lực của các học thuyết, về thúc đẩy công bằng xã hội, và dần dần đạt được sự thịnh vượng chung của tất cả những người của lý thuyết này, và như vậy. Những kết quả lý thuyết, là để thích nghi điều kiện quốc gia và đặc điểm của thời đại của nền kinh tế chính trị đương đại của Trung Quốc, đã không chỉ hướng dẫn việc thực hành phát triển kinh tế của Trung Quốc, mà còn mở ra một lĩnh vực mới của nền kinh tế chính trị Mác-xít.
Xi chỉ ra rằng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác-xít, để hướng dẫn tốt hơn sự phát triển của thực tiễn của nền kinh tế của Trung Quốc, nó là cần thiết để tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cơ bản, nhưng để thực sự được kết hợp với phát triển kinh tế của Trung Quốc, tiếp tục hình thành kết quả lý thuyết mới. Để tuân thủ các tư duy phát triển con người làm trung tâm, đó là vị trí cơ bản của chủ nghĩa Mác Chính trị Kinh tế. Để tuân thủ các khuyến mãi của các phúc lợi của người dân và thúc đẩy sự phát triển toàn diện của con người, tiến dần về phía hướng của sự thịnh vượng chung như sự phát triển kinh tế của các điểm khởi đầu và điểm kết thúc, việc triển khai các công tác kinh tế, việc xây dựng các chính sách kinh tế để thúc đẩy phát triển kinh tế vững phải tuân thủ các vị trí cơ bản này. Để tuân theo sự phát triển của những ý tưởng mới, sáng tạo, phối hợp, màu xanh lá cây, mở, triết lý phát triển chia sẻ là chúng tôi có được nhận thức trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế trong sự thăng hoa, nó là thúc đẩy sự phát triển kinh tế của bản tóm tắt lý thuyết của chúng ta về thực hành, gắn bó với các mới Khái niệm phát triển để hướng dẫn và thúc đẩy phát triển kinh tế của Trung Quốc, và liên tục phá vỡ các vấn đề phát triển kinh tế, và tạo ra một tình hình mới của sự phát triển kinh tế.
Xi Jinping nhấn mạnh sự cần thiết phải duy trì và cải thiện hệ thống kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội, kiên định củng cố và phát triển nền kinh tế công cộng, và kiên định khuyến khích, hỗ trợ và hướng dẫn phát triển kinh tế ngoài công lập, và thúc đẩy các hình thức bổ sung quyền sở hữu, xúc tiến lẫn nhau và phát triển chung, và sở hữu công cộng tình trạng không thể bị lay động, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước không thể bị lay chuyển, mà là để bảo đảm sự phát triển của dân tộc chúng ta chia sẻ các kết quả của việc bảo đảm chế để củng cố địa vị cầm quyền của đảng, quan trọng để đảm bảo rằng tuân thủ các hệ thống xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc. Để duy trì và cải thiện hệ thống phân phối của chủ nghĩa xã hội cơ bản, những nỗ lực để thúc đẩy tăng trưởng thu nhập và tăng trưởng kinh tế đồng thời, tăng bồi thường lao động và cải thiện năng suất lao động, và liên tục cải thiện các cơ chế thể chế và chính sách cụ thể để điều chỉnh mô hình phân phối thu nhập quốc dân, thu nhập của cư dân đô thị và nông thôn tiếp tục tăng, liên tục thu hẹp khoảng cách thu nhập.
Xi Jinping nhấn mạnh sự cần thiết phải tuân thủ các hướng cải cách nền kinh tế thị trường xã hội, tuân thủ các biện chứng, hai điểm, kết hợp với nỗ lực liên tục trong hệ thống cơ bản của chủ nghĩa xã hội và nền kinh tế thị trường, hai ưu điểm phải chơi tốt. Để tuân thủ các chính sách nhà nước cơ bản của mở cửa, tốt phối trong nước và các tình huống quốc tế, tận dụng tốt cả hai thị trường và nguồn lực quốc tế và trong nước, sự phát triển của một cấp độ cao hơn của nền kinh tế mở và tích cực tham gia quản trị kinh tế toàn cầu, trong khi kiên quyết bảo vệ lợi ích của sự phát triển của chúng tôi, và tích cực phòng ngừa rủi ro và đảm bảo an ninh kinh tế quốc gia.
Xi chỉ ra rằng việc thực hành là một nguồn gốc của lý thuyết. Quá trình phát triển kinh tế của Trung Quốc tuyệt đẹp, những thành tựu đáng ghi nhận, tạo lý thuyết động lực to lớn, sức sống, nhu cầu tiềm năng để nghiên cứu kỹ tình huống mới và các vấn đề phải đối mặt với nền kinh tế thế giới và nền kinh tế của Trung Quốc, sự đóng góp của trí tuệ Trung Quốc kinh tế chính trị Mác-xít của sự đổi mới và phát triển.

Theo: http://www.guancha.cn/politics/2015_11_24_342452.shtml

Bài thu hoạch đạo đức HCM chủ đề năm 2015: “Trung thực, trách nhiệm, gắn bó với nhân dân, đoàn kết, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh”

      ĐẢNG BỘ CÔNG TY                             ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
TNHH MTV KTCT THỦY LỢI

BÀI THU HOẠCH
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chuyên đề năm 2015-2016

Họ và tên                           :   
Chức vụ - đơn vị công tác :   
Sinh hoạt tại chi bộ            : Văn phòng
     Sau khi học tập chuyên đề tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chủ đề năm 2015: “Trung thực, trách nhiệm, gắn bó với nhân dân, đoàn kết, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi xin trình bày những vấn đề thu hoạch được về nhận thức, tự liên hệ bản thân và phương hướng phấn đấu rèn luyện của bản thân như sau :
I.VỀ NHẬN THỨC :
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về trung thực, “nói thì phải làm”
- Trung thực là thành thực với chính mình, với mọi người, với công việc; luôn tuân thủ từng lời nói và hành động. Đó là một trong những phẩm chất quan trọng nhất, tạo nên định hướng giá trị nhân cách chân chính. Tính trung thực giúp con người được tin cậy. Người trung thực không chấp nhận gian dối trong bất kì việc gì. Trung thực làm nên tính tự trọng, thẳng thắn của cá nhân; tạo nên uy tín, sức mạnh cho tập thể. Sống trung thực đòi hỏi phải dũng cảm và nghiêm khắc với chính bản thân. Do đó, trung thực luôn gắn liền với trách nhiệm.
- Trung thực, trước hết là sự trung thực với chính mình, nghiêm túc với chính mình, trung thực với người khác, không được “nói mà không làm”, “hứa mà không làm”. Lời nói, lời hứa chỉ có giá trị khi đi liền với việc làm cụ thể. “Làm” ở đây là hành động từ việc nhỏ đến việc lớn, là hoạt động thực tiễn tổ chức thực hiện, đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống. Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, Đảng viên” Nói ít, bắt đầu bằng hành động”; “tốt nhất là miệng nói, tay làm, làm gương cho người khác bắt chước”. Cán bộ, Đảng viên “cần phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm. Chứ không phải chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh (…), phải thật thà nhúng tay vào việc”. Đối với Đảng, Hồ Chí Minh yêu cầu: “Đảng phải luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành như thế nào. Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hóa ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đàng”. Đảng phải luôn tự đối mới, tự chỉnh đốn để hoàn thành trách nhiệm trước nhân dân. Khi mắc sai lầm, khuyết điểm thì dũng cảm nhận lỗi trước dân và kiên quyết dựa vào dân để sửa chữa khuyết điểm.
- Trung thực trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh mang nội dung đạo đức cao quý của người Cộng Sản, những người đã công khai nói về sự tự nguyện hi sinh, cống hiến cả cuộc sống của mình cho mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Trong công việc, trung thực phải luôn gắn bó với trách nhiệm.
2.Tư tưởng Hồ Chí Minh về trách nhiệm
- Trách nhiệm là điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi trách nhiệm là việc phải làm, không thể thoái thác. Trách nhiệm là bổn phận của mỗi người, dù ở cương vị nào. Ý thực trách nhiệm của mỗi cá nhân là sự tự ý thức về các công việc phải làm, “Nhận rõ trái, phải, đúng sai”, tự mình xác định việc cần làm. Trên cơ sở có ý thức đúng đắn, tự giác, tích cực thực hiện trách nhiệm của mình là “ Có tinh thần trách nhiệm cao”.
- Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, biểu hiện cụ thể của trung thực và trách nhiệm là lời nói đi đôi với làm. Đó là nguyên tắc thực hành đạo đức, là phương châm hoạt động, là biểu hiện sinh động, cụ thể của việc quán triệt sâu sắc nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, giữa suy nghĩ và hành động trong một con người. Trung thực, trách nhiệm là phải nói và làm đúng chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, chống chủ nghĩa cá nhân, không được vì lợi ích cá nhân mà nói sai, làm sai. Nắm vững mục tiêu lý tưởng của Đảng trong toàn bộ tiến trình cách mạng và được cụ thể hóa thanh đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong từng giai đoạn để thực hiện cho đúng; để tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân làm theo cho đúng. Trung thực, trách nhiệm cũng có nghĩa là kiên quyết bảo vệ chân lý, bảo vệ cái đúng, cái tích cực; dũng cảm đấu tranh với những cái sai, khuyết điểm, cái tiêu cực; nghiêm khắc tự phê bình, phê bình, thẳng thắn nhìn nhận khuyết điểm của cá nhân và tổ chức mình, cầu thị, tích cực sửa chữa hạn chế, khuyết điểm.
2.Tư tưởng Hồ Chí Minh về gắn bó với nhân dân
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về gắn bó với nhân dân bắt nguồn từ quan niệm của Người coi nhân dân là nguồn gốc của mọi sức mạnh. Người viết: "Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân". " Cách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc của một hai người".
- Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về gắn bó với nhân dân có nguồn gốc từ truyền thống dân tộc, từ những tình cảm tự nhiên, triết lý nhân sinh, phép ứng xử và tư duy chính trị của dân tộc Việt Nam, từ những quan niệm: "Trên dưới đồng lòng, cả nước chung sức", "tướng sĩ một lòng phụ tử", "khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc", "chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân". Phát huy truyền thống dân tộc, năm 1955, Người viết: "...với sự đoàn kết nhất trí của tất cả những người xứng đáng là con Lạc cháu Hồng - Mặt trận nhất định sẽ thành công trong việc đánh tan âm mưu Mỹ và bè lũ tay sai của chúng và thực hiện hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước Việt Nam yêu quý của chúng ta".
- Tư tưởng gắn bó với nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn bắt nguồn từ tổng kết kinh nghiệm của phong trào cách mạng Việt Nam và thế giới. Người chỉ ra nguyên nhân không thành công của các phong trào yêu nước, chống thực dân Pháp cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX là do chưa tập hợp đông đủ quần chúng nhân dân tham gia. Trong quá trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh chỉ rõ cách Mỹ và cách mạng Pháp là cuộc cách mạng "không đến nơi", bởi kết quả cuối cùng là chính quyền rơi vào tay một thiểu số người và bảo vệ lợi ích của một nhóm ít người đó. Hồ Chí Minh nghiên cứu về cách mạng Nga và rút ra nhiều bài học về huy động, tập hợp lực lượng từ nhân dân, gắn bó với nhân dân và luôn bảo vệ lợi ích của đa số quần chúng nhân dân.
- Với cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh khẳng định phải bắt đầu từ giác ngộ, tổ chức tập hợp quần chúng. Truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, khơi dậy chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, tập hợp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng là những nhân tố vô cùng quan trọng, quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Khi nói về thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh khẳng định: "Nhất là vì lực lượng của cuộc toàn dân đoàn kết. Tất cả các dân tộc, các giai cấp, các địa phương, các tôn giáo đều nổi dậy theo lá cờ Việt Minh để tranh giành lại quyền độc lập cho Tổ quốc.
- Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết. Không ai chiến thắng được lực lượng đó". Khi nói về công việc "Kháng chiến kiến quốc", Người hỏi: "Ai thực hiện kháng chiến kiến quốc?" Và trả lời: "Trong công cuộc kháng chiến kiến quốc, lực lượng chính là ở dân".
- Sự gắn bó với nhân dân trong những năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài và sau khi về nước không chỉ thể hiện quan điểm xuyên suốt gần dân, gắn bó với dân của Hồ Chí Minh, mà còn là một trong những nguyên nhân thành công trong cuộc đời cách mạng rất phong phú và nhiều gian nan của Người. Hai lần bị địch bắt và bị giam trong tù, Người chia sẻ những nỗi đau của bạn tù, của người nhà họ, của người dân những nơi Người bị áp giải đi qua. Tập thơ Nhật ký trong tù đã thể hiện rất sâu sắc điều đó. Trong những năm đầu đấu tranh giành chính quyền, bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đầy hi sinh, gian khổ, Người sống cùng dân, được nhân dân hết lòng hết sức giúp đỡ, chở che, nhân dân luôn ở bên Người, là nguồn lực, niềm tin vào lý tưởng vào cách mạng.
- Khi trở thành lãnh tụ của Đảng và Nhà nước, Người vẫn sống cuộc sống bình thường, ở trong ngôi nhà dành cho những người lao động. Dù bận giải quyết nhiều công việc hệ trọng, Người vẫn quan tâm sâu sắc trong cuộc sống hằng ngày của các tầng lớp nhân dân, phát hiện và thưởng hơn 5.000 huy hiệu Hồ Chí Minh cho những người tốt, việc tốt. Trong 10 năm (1959 - 1969), ở độ tuổi 70, Người đã có trên 700 lần đi xuống cơ sở thăm và tìm hiểu cuộc sống của nhân dân.
- Sự quan tâm đến con người, đến mọi tầng lớp nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện tập trung trong bản Di chúc, lời căn dặn và tâm nguyện cuối cùng của Người. Trong những lời căn dặn, Người yêu cầu Đảng, Nhà nước quan tâm thường xuyên đến mọi tần lớp nhân dân, không quên một ai, kể cả những người "lầm đường, lạc lối" hay những người là "hậu quả của chế độ cũ để lại". Người dặn Đảng, Nhà nước phải dựa vào dân để xây dựng đất nước, xây dựng xã hội mới, bởi đây là "cuộc chiến khổng lồ", chỉ có thể thực hiện được khi dựa vào dân.
- Tấm gương suốt đời gắn bó với nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện một tư tưởng lớn, một nhân cách lớn của một anh hùng giải phóng dân tộc, chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cách mạng thế giới, một nhà văn hóa kiệt xuất.
3.Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh
- Trong các tác phẩm của mình, Hồ Chí Minh có tới 400 bài nói và viết về đoàn kết. Tư tưởng đoàn kết nổi bật của Người là: "Đoàn kết làm ra sức mạnh"; "Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta"; "Đoàn kết là thắng lợi"; "Đoàn kết là then chốt của thành công". Đoàn kết là điểm mẹ. "Điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt". "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công".
- Theo Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc là một mục tiêu, một nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng; phải được quán triệt trong mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong mọi giai đoạn cách mạng.
- Đoàn kết toàn dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh là đoàn kết chặt chẽ, đoàn kết thực sự, chân thành, thân ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Người nhấn mạnh, phải "thật thà đoàn kết". Với phương châm "cầu đồng tồn dị", Người nêu rõ: "Chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ, tầng lớp nhân dân" (...).
- Phải đoàn kết tốt các đảng phái, các đoàn thể, các nhân sĩ trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thực hiện hợp tác lâu dài, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau tiến bộ.
- Phải đoàn kết các dân tộc anh em, cùng nhau xây dựng Tổ quốc (...).
- Phải đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào lương và đồng bào các tôn giáo, cùng nhau xây dựng đời sống hào thuận ấm no, xây dựng Tổ quốc.
- "Đoàn kết thực sự nghĩa là mục đích phải nhất trí và lập trường cũng phải nhất trí. Đoàn kết thực sự nghĩa là vừa đoàn kết, vừa đấu tranh, học những cái tốt của nhau, phê bình những cái sai của nhau, phê bình trên lập trường thân ái, vì nước, vì dân".
- Đảng Cộng sản vừa là thành viên của Mặt trận dân tộc thống nhất, vừa là lực lượng lãnh đạo Mặt trận, có trách nhiệm xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân ngày càng vững chắc.
Nội dung đoàn kết xây dựng Đảng trong tư tưởng Hồ Chí Minh tập trung ở các điểm sau:
+ Vấn đề đoàn kết có tầm quan trọng hàng đầu của công tác xây dựng Đảng. Những thắng lợi của cách mạng Việt Nam trước hết là do sự đoàn kết trong Đảng đem lại, bởi nhờ đoàn kết trong Đảng mà dẫn tới đoàn kết toàn dân. Người viết: "Nhờ đoàn kết chặt chẽ" mà "Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác".
+ Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân tộc ta. Khi đã trở thành truyền thống thì mọi thế hệ cách mạng đều phải có trách nhiệm duy trì và bảo vệ. Trong Di chúc, Người căn dặn: "Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.
+ Để thực hiện đoàn kết, thống nhất trong Đảng, Hồ Chí Minh yêu cầu phải thực hiện các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng, đặc biệt là dân chủ và phê bình, tự phê bình. Người căn dặn: "Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình". Theo Người, đó là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng.
+ Để có sự đoàn kết thực sự, không chỉ cần thực hiện nguyên tắc, bản lĩnh, lý trí mà cần tình thương yêu, sự đồng cảm và chia sẻ với nhau. Năm 1966, Người bổ sung vào bản Di chúc cụm từ: "Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau".
+ Trong điều kiện đảng cầm quyền Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh yếu tố đạo đức trong Đảng, chống lại can bệnh "quan liêu", tham nhũng, lãng phí", "xa dân". Theo Người, đảng cầm quyền có nhiệm vụ to lớn là lãnh đạo nhân dân xây dựng xã hội mới, tiến hành một "cuộc chiến đấu khổng lồ", xóa đi những gì đã cũ kỹ hư hỏng, xây dựng những cái mới mẻ, tốt tươi. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn với bốn chữ "thật": "Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm kiêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật sự trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân".
II.VỀ LIÊN HỆ BẢN THÂN :
Là một đảng viên bản thân tôi phải thực hiện việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh như sau :
1 Ưu điểm
* Về ý thức tự rèn luyện, tu dưỡng đạo đức thường xuyên
Trong công tác, trong cuộc sống hàng ngày cũng như tại nơi cư trú tôi luôn luôn có ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng trong sáng, chân chính; luôn làm gương cho gia đình , quần chúng nhân dân noi theo.
* Về ý thức trách nhiệm, tâm huyết với công việc
Luôn tận tâm và trách nhiệm nhằm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, chấp hành tuyệt đối sự phân công của tổ chức; luôn tự giác học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, lí luận chính trị để đáp ứng tốt  nhất yêu cầu nhiệm vụ được giao nhất là trong thời hội nhập, WTO...
* Về chống chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, thực hiện theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh
Về chủ nghĩa cá nhân và nâng cao đạo đức cách mạng, tôi đã và đang tránh được các bệnh nguy hiểm như: lười biếng, ngại gian khổ, khó khăn, tham danh, trục lợi, thích địa vị quyền hành, tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa, mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tích kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, làm hại lợi ích của cách mạng, của nhân dân, chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích của tập thể, suy bì, kiêu căng, kèn cựa, lãng phí, tham ô, trục lợi, thích địa vị, quyền hành...
Về tính trách nhiệm tôi luôn làm việc siêng năng, sáng tạo, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm, tiết kiệm thì giờ và tiền của dân, , luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công, không tham địa vị, tiền tài, sung sướng, không ham người tâng bốc mình, thích quang minh chính đại, thẳng thắn, không tự cao tự đại, luôn học tập cầu tiến bộ, không nịnh hót người trên, không xem khinh người dưới; khiêm tốn, đoàn kết, không dối trá lừa lọc...
* Giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống người đảng viên, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí, giải quyết tốt mối quan hệ giữa cá nhân với  tập thể, với đồng chí, đồng nghiệp và nhân dân nơi cư trú
Về bệnh quan liêu, tôi đã tránh được các bệnh như: nói nhiều hơn làm, kém kiến thức và năng lực đối với công việc được giao, chỉ quan tâm đến lợi ích riêng, tạo ra và tìm ra cách hưởng quyền lợi...
Về tham nhũng, tôi không ăn cắp của công làm của tư, không đục khoét của dân, chi tiêu ít mà khai nhiều, tham ô, lãng phí tài sản của Nhà nước, của tập thể.
* Ý thức tổ chức, kỷ luật, thực hiện tự phê bình và phê bình theo tấm gương Hồ Chí Minh
Bản thân đã thực hiện tốt tự phê bình và phê bình ở chi bộ một cách thẳng thắn, trung thực với tư cách là đảng viên có tinh thần tự phê bình và phê bình cao, luôn ý thức xây dựng được một tập thể vững mạnh có sự thẳng thắn trong phê bình - tự phê bình, từng cá nhân đều sống và làm việc theo pháp luật.
* Gương mẫu và giáo dục các thành viên trong gia đình giữ gìn đạo đức, lối sống, xây dựng gia đình văn hoá
Đối với gia đình, tôi luôn tâm niệm là một người luôn có đạo đức chân chính, luôn phấn đấu là một tấm gương tốt để hoàn thiện mình theo lý tưởng Chân, Thiện, Mỹ cho con cái học tập, luôn nêu gương từ việc lớn đến việc nhỏ, từ  đạo đức trong công việc tới đạo đức hàng ngày...
2. Nhược điểm
Đấu tranh phê bình chưa khôn khéo nên hiệu quả không cao; chưa mạnh dạn và kiên quyết trong công tác đấu tranh chống tham nhũng lãng phí, quan hệ quần chúng chưa thường xuyên, ……
3. Phương hướng phấn đấu, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, lối sống của bản thân theo tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh
+ Nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức -  Phải luôn phấn đấu cho lời nói phải đi đôi với việc làm, tránh nói nhiều làm ít, nói mà không làm, nói một đằng, làm một nẻo, phải phấn đấu góp phần nhỏ của mình để làm sao cho xã hội ta không còn những kẻ đạo đức giả, và càng không cho phép những kẻ đạo đức giả đi dạy dỗ người khác về đạo đức. Về việc nêu gương, phải tự đặt ra cho mình một nguyên tắc rất cơ bản là phải nêu gương về đạo đức như tôi đã  thấy ở Chủ tịch Hồ Chí Minh - một tấm gương đạo đức trong sáng tuyệt vời.        
+ Xây đi đôi với chống. Muốn xây dựng đạo đức cùng với việc rèn luyện, bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, nhất thiết phải chống những biểu hiện sai trái xấu xa, trái với những yêu cầu của đạo đức mới. Do đó  bản thân tôi phải kiên quyết tránh xa các tệ nạn, những tiêu cực, những sự thái hóa biến chất, v.v...đang diễn ra hàng ngày trong một bộ phận cán bộ đảng viên công chức hiện nay.
            Là một cán bộ, Đảng viên, tôi nghĩ rằng rèn luyện theo tấm gương đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh cô đọng bằng các tiêu chí sau đây:
- Yêu nước, đoàn kết
- Cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư
-Tích cực hội nhập và hội nhập với kết quả thiết thực.
- Đấu tranh với chính mình.
- Học phải đi đôi với hành.
- Cần học tập thường xuyên, lâu dài.
- Dũng cảm tự phê bình và biết phê bình.
- Luôn phải tự soi lại chính mình.
- Dân chủ và kỷ luật, phục vụ hiệu quả hơn cho sự nghiệp xây dựng giáo dục mà trước tiên là thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Công ty TNHH MTV Khai thác công trình rthuyr lợi Gia Lai đã đề ra .
Học tập gương đạo đức của Người trước hết cần đấu tranh với chính mình trước những cám dỗ của cuộc sống thường nhật, của những ham muốn bẩm sinh của con người. Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chiến thắng chủ nghĩa cá nhân là rất khó khăn, nhưng nếu thấm nhuần đạo đức của Bác Hồ thì chúng ta sẽ dần dần khắc phục và chiến thắng. Cùng với tập thể, với đồng chí, đồng nghiệp, với quần chúng, thông qua sinh hoạt, học tập, phê bình và tự phê bình, chúng ta phải thẳng thắn chân tình, trên tinh thần xây dựng tập thể, không vì lợi ích riêng của bản thân mình mà ảnh hưởng tới toàn bộ tập thể. Thực hiện Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" mỗi chúng ta phải có một chương trình hành động cụ thể, gắn học những lời Bác dạy, với sửa chữa, tu dưỡng phẩm chất, hành động hằng ngày. Mỗi cán bộ, đảng viên, người giữ những chức vụ quan trọng càng cần phải thực hiện nghiêm túc hơn, chuyển biến rõ rệt hơn và thực sự là tấm gương sáng cho quần chúng noi theo./.
                                                                        Gia Lai, ngày 7 tháng 12 năm 2015
                                                                                    Người viết thu hoạch