XIN CHÀO VÀ CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI BLOGSPOT.COM CỦA LUU VAN CHUONG

Thứ Năm, 3 tháng 9, 2026

Hội Bính Thân 1956 Sai Gòn kỷ niệm ngày Quốc khánh Việt Nam lần thứ 81 (31/8/2026)

 











































Số phận truân chuyên của ca khúc 'Bài ca hy vọng'

 

Ca khúc "Bài ca hy vọng" của Văn Ký là một trong những tác phẩm âm nhạc nổi tiếng nhất trong thời kháng chiến chống Mỹ nhưng ít người biết số phận truân chuyên của nó. Tác phẩm từng bị từ chối in ấn và nhờ sự kiên định của tác giả mà tác phẩm đến được với người nghe.

Nhạc sĩ Văn Ký viết tác phẩm "Bài ca hy vọng" năm 1958 từ trái tim của mình, từ khát khao và hy vọng vào sự thống nhất hai miền Bắc - Nam mà không theo chủ đề hay nội dung sáng tác nào được khởi xướng vào lúc đó.

Nhạc sĩ, nhà phê bình Trần Lệ Chiến là người nhiều lần gặp gỡ viết bài về nhạc sĩ Văn Ký cho biết ông từng tâm sự với nhà phê bình Trần Lệ Chiến như sau:

“ Mùa xuân năm 1958, từng ca từ của bài “Bài ca hy vọng” được bật ra trong tôi một cách tự nhiên. Tình hình đất nước thời điểm đó nhiều khó khăn. Dù vậy, tôi cũng như nhiều người cùng thời có một niềm tin mãnh liệt, chắc chắn vào ngay mai tốt đẹp, tương lai đón chờ. Thậm chí tôi muốn bay lên cùng với đàn chim đi về tương lai mà tôi viết:

Về tương lai! Ngày quê hương màu xanh áo mới, chứa chan niềm tin

Đường ta đi xanh thắm mộng đời

Về tương lai! Đàn chim ơi! cùng ta cất cánh".

Nhạc sĩ Văn Ký là một con người đầy lãng mạn, ca khúc như mở ra một tương lai tươi sáng trước mắt, với niềm tin rất mãnh liệt.

Hai tháng sau, ông đem bài hát tới Nhà xuất bản Âm nhạc để in. Chúng ta đều biết nhạc sĩ Văn Ký là một trong những người sáng lập ra Hội nhạc sĩ Việt Nam năm 1957 và bài hát này được ông chỉnh sửa 2 tháng rồi mới đem đi in.

Tuy nhiên, trong không khí sáng tạo rất bay bổng ấy, ông đã nhận được một cái kết không ngờ, Nhà xuất bản âm nhạc đã từ chối xuất bản "Bài ca hy vọng".

Lý do Nhà xuất bản từ chối, không phải là vì chất lượng tác phẩm mà nặng nề hơn đó là lỗi về nhãn quan chính trị, một điều hết sức nhạy cảm vào thời điểm ấy. Theo tác giả kể lại thì: "Ban biên tập nói bài hát lạc quan quá, lãng mạn quá, không phù hợp với giai đoạn cách mạng hiện thời".

Lý giải việc "Bài ca hy vọng" từng bị từ chối xuất bản, nhạc sĩ nhà phê bình Trần Lệ Chiến nói với phóng viên Tiền Phong: "Vào thời điểm chiến tranh, nhiều bài hát bị từ chối xuất bản và phổ biến với lý do không phù hợp. Chẳng hạn nhạc sĩ Hữu Xuân phổ thơ bài Thuyền và Biển nhưng không được phát". Theo tác giả Hữu Xuân thì biên tập yêu cầu sửa nhân vật trong bài "Thuyền và Biển" thành người lính hải quân và người em hậu phương thì mới phát được. Nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha cũng cho biết trước đó ca khúc "Gửi người em gái miền Nam của Đoàn Chuẩn do Ngọc Bảo thu thanh và phát trên làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam năm 1956 chịu ngay bao điều tiếng, phê phán là “lạc quan tếu”, nguyên do là Đoàn Chuẩn viết những câu như "Rồi ngày thống nhất đến rất nhanh...".

Bị từ chối xuất bản, nhạc sĩ Văn Ký đem "Bài ca hy vọng" về nhà. Rõ ràng, theo ý của Nhà xuất bản, nếu muốn được in ấn và tác phẩm đến với công chúng, Văn Ký buộc phải sửa đổi ca từ, giảm bớt sự "lạc quan quá" của ông trong tác phẩm này.

Nhạc sĩ Văn Ký kể lại với nhà phê bình Trần Lệ Chiến: "Tôi đọc lại bản nhạc của mình, nhưng thấy không thể khác được nên đã mang đến Đài Tiếng nói Việt Nam. Giám đốc Đài lúc ấy là ông Trần Lâm đã giao cho nhạc sĩ Phạm Tuyên - Trưởng ban Âm nhạc bố trí để tôi trực tiếp dàn dựng".

Không rõ nhạc sĩ Văn Ký có kể lại chuyện tác phẩm bị Nhà xuất bản Âm nhạc từ chối in hay không? hay Nhà báo Trần Lâm và nhạc sĩ Phạm Tuyên có cái nhìn cởi mở hơn đối với "bài hát lạc quan quá" của Văn Ký? Tác phẩm "Bài ca hy vọng" đã được thu âm với giọng hát của Khánh Vân và lập tức tạo nên một cơn sốt trong người nghe nhạc.

Khắp nơi mọi người hát "Bài ca hy vọng". Ca khúc được phát trên đài nhanh chóng lan truyền vào chiến khu vào với chiến trường. Bài hát rung động cả những chốn lao tù nơi các chiến sĩ bị địch đàn áp, hành hạ.

Bà Trương Mỹ Hoa, nguyên Phó chủ tịch nước từng kể rằng trước cảnh bị địch hành hạ nơi địa ngục trần gian Côn Đảo, những người tù chính trị ở Côn Đảo đã hát vang "Bài ca hy vọng" đến mức bọn cai tù đổ vôi bột xuống hầm không cho hát nữa.

Từ chỗ bị từ chối xuất bản, "Bài ca hy vọng" đã xuất hiện trên sóng và lay động triệu triệu con người. "Bài ca hy vọng" là một trong những tác phẩm được chuyển soạn cho rất nhiều nhạc cụ nhất trong lịch sử các ca khúc Việt Nam, Theo nhà phê bình Trần Lệ Chiến thì tác phẩm này đã được chuyển soạn cho violin cello, piano, phối khí cho dàn nhạc dân tộc, dàn nhạc giao hưởng và được đưa vào làm nhạc nền trong phim phim Đừng đốt".

Có một sự trùng hợp, hội tụ phía sau "Bài ca hy vọng" đó là câu chuyện những người lao tù. Nhạc sĩ Văn Ký tham gia cách mạng năm 1943, đến năm 1944 ông bị Pháp bắt và chỉ được Nhật thả ra. Trong cảnh tù đầy, ông vẫn không phai nhạt ý chí và sau khi ra tù, năm 1945 ông đã cùng nhân dân giành chính quyền tại Thanh Hóa. Ca sĩ thể hiện bài hát "Bài ca hy vọng" đầu tiên là ca sĩ Khánh Vân. Cô tham gia biểu diễn nghệ thuật và hoạt động cách mạng tại Sài Gòn từ thủa thanh niên và năm 1946 cô cũng bị địch bắt giam. Chính trong tù Khánh Vân đã hát và dạy các bạn hát để giữ vững chí khí. Khánh Vân được bầu làm trưởng ban văn nghệ trong trại tù. Sau khi ra tù, cô được đưa tập kết ra Bắc và công tác tại Đài Tiếng nói Việt Nam.

Phải chăng, chính trải qua những giây phút sinh tử cùng cực trong cảnh lao tù mà Văn Ký và Khánh Vân đã hiểu hơn ai hết ý nghĩa và giá trị của niềm tin, của hy vọng?

Nhà phê bình Trần Lệ Chiến nhận xét rằng: "Cuộc đời làm nghề, tôi may mắn được trò chuyện với nhạc sĩ Văn Ký nhiều lần. Song ở bất cứ thời điểm nào, chuyện đời, chuyện nghề ở ông luôn tiếp thêm năng lượng cho người đối diện bằng một phong thái an nhiên, tự tại".

Nhạc sĩ Văn Ký đã ra đi nhưng và tác phẩm "Bài ca hy vọng" vẫn mãi đem đến năng lượng cho con người, chắp cánh cho những niềm tin vào ngày mai.

Tg. Trần Nguyên Anh

PHỞ KHÔ HAI TÔ – HƯƠNG VỊ ĐỘC ĐÁO CỦA PHỐ NÚI PLEIKU


Nếu có dịp đến Pleiku, Gia Lai, du khách không nên chỉ tìm đến những thắng cảnh của phố núi như Biển Hồ, núi lửa Chư Đăng Ya hay những đồi chè xanh mướt. Hãy dành một buổi sáng để thưởng thức một món ăn rất riêng của nơi này: phở khô hai tô.
Nghe tên có vẻ lạ: phở mà lại khô, nhưng ăn đến hai tô?
Thực ra, đây chính là nét độc đáo làm nên thương hiệu ẩm thực Pleiku.
Một phần phở được dọn thành hai tô: một tô đựng sợi phở trộn cùng thịt và gia vị; tô còn lại là nước lèo nóng hổi, trong veo, thơm ngọt được nấu từ xương và các nguyên liệu đặc trưng.
Không trộn tất cả vào một tô như phở truyền thống, người ăn thưởng thức từng đũa phở khô rồi lại húp một thìa nước lèo nóng. Hai hương vị tưởng như tách biệt nhưng lại bổ sung cho nhau một cách hài hòa.
Một tô phở khô. Một tô nước lèo. Hai cách thưởng thức trong cùng một món ăn.
Đó chính là “phở hai tô” – một sáng tạo bình dị nhưng rất đặc trưng của phố núi Pleiku.

TỪ MỘT TIỆM ĂN BÌNH DÂN ĐẾN ĐẶC SẢN PHỐ NÚI
Câu chuyện về phở khô Pleiku thường được nhắc đến với tiệm ăn Đại Hưng của ông Nguyễn Thành Mỹ, trước đây ở số 41 đường Hoàng Diệu, nay thuộc khu vực đường Hùng Vương.
Theo những câu chuyện được lưu truyền trong giới ẩm thực địa phương, ông Mỹ là một trong những người đầu tiên tạo nên cách ăn phở tách riêng sợi và nước lèo ở Gia Lai.
Từ một tiệm ăn bình dân, cách thưởng thức mới dần được thực khách đón nhận.
Sợi phở trắng mềm được trộn với gia vị, hành phi và các thành phần đi kèm. Thịt bò được chế biến tùy theo phần ăn, trong khi nước lèo được nấu riêng, nóng hổi và đậm đà.
Cách ăn ấy vừa lạ vừa thú vị.
Gắp một đũa phở khô, cảm nhận vị đậm đà của gia vị và thịt; sau đó húp một thìa nước lèo thanh ngọt. Cứ thế, hai phần ăn bổ trợ cho nhau, tạo nên một trải nghiệm rất khác với phở nước truyền thống.
Sau này, con gái ông Nguyễn Thành Mỹ là chị Hồng tiếp tục nghề của gia đình. Quán chuyển về đường Nguyễn Văn Trỗi và mang tên Phở Hồng.
Từ đó, cái tên Phở Hồng trở thành một địa chỉ quen thuộc của người yêu phở ở Pleiku.

PHỞ HỒNG – ĐẶC TRƯNG PHỞ KHÔ BÒ
Nếu muốn khám phá trường phái phở khô bò, Phở Hồng là một cái tên thường được người Pleiku nhắc đến.
Sợi phở trắng, mềm nhưng không nát, được trộn vừa vị. Phía trên là thịt bò với nhiều lựa chọn như tái, nạm, gầu tùy khẩu vị.
Điểm quan trọng của món ăn nằm ở sự cân bằng.
Sợi phở phải đủ đậm đà nhưng không quá mặn. Thịt bò phải giữ được vị thơm. Nước lèo phải trong, nóng và có vị ngọt tự nhiên.
Đối với nhiều người Pleiku, Phở Hồng không chỉ là một quán ăn. Đó còn là một địa chỉ gắn với ký ức của nhiều thế hệ.
Một buổi sáng se lạnh của phố núi.
Một tô phở nóng.
Một ly cà phê sau bữa sáng.
Những điều rất bình dị ấy lại trở thành một phần trải nghiệm mà du khách khó tìm thấy ở nơi khác.

PHỞ NGỌC SƠN – HƯƠNG VỊ PHỞ KHÔ GÀ
Nếu Phở Hồng gây ấn tượng bởi phở khô bò thì Phở Ngọc Sơn lại tạo dấu ấn với phở khô gà.

Câu chuyện của quán bắt đầu từ ông Nguyễn Văn Phan, người từ Sài Gòn lên Pleiku lập nghiệp vào năm 1968.
Tại góc đường Hùng Vương – Nguyễn Thái Học, ông mở quán phở mang tên Á Đông. Sau năm 1975, quán đổi tên thành Phở Ngọc Sơn và chuyển về số 15 Nguyễn Thái Học.
Qua nhiều năm, Phở Ngọc Sơn trở thành một địa chỉ quen thuộc của người dân địa phương.
Điểm hấp dẫn của món phở khô gà nằm ở sự kết hợp giữa sợi phở, thịt gà xé, da gà vàng, hành phi và nước lèo gà nóng hổi.
Khi đảo nhẹ đôi đũa, mùi thơm của hành phi quyện cùng thịt gà và gia vị tạo nên một hương vị rất đặc trưng.
Sau mỗi đũa phở, một thìa nước lèo lại làm dịu vị giác và khiến món ăn trở nên trọn vẹn hơn.
Đây cũng chính là điều thú vị của phở hai tô: ăn khô nhưng không khô; có nước nhưng nước không nằm chung trong tô phở.

PHỞ TÀU LÝ – MỘT SẮC THÁI KHÁC CỦA ẨM THỰC PLEIKU
Bên cạnh phở khô bò và phở khô gà, câu chuyện ẩm thực Pleiku còn có một màu sắc rất riêng với Phở Tàu Lý.
Quán do ông Lý Ngũ Nhâm, một người gốc Hoa, gây dựng sau năm 1975. Ban đầu quán nằm gần khu vực bến xe lam cũ của Pleiku.
Điểm nổi bật của Tàu Lý là phở bò viên.
Những viên bò viên lớn, chắc, dai giòn, mang đậm vị thịt trở thành dấu ấn riêng của quán. Bên cạnh đó là nước lèo thanh, thơm, tạo nên một phong vị khác với những quán phở khô bò hay phở khô gà.
Thành phố thay đổi, bến xe lam cũ không còn, những con phố cũng nhiều lần thay đổi diện mạo.
Nhưng nghề phở vẫn được tiếp nối.
Ngày nay, những thế hệ sau của gia đình vẫn duy trì thương hiệu Phở Tàu Lý, để một hương vị từng gắn với Pleiku xưa tiếp tục hiện diện trong đời sống phố núi hôm nay.

BA QUÁN PHỞ – BA CÂU CHUYỆN – MỘT HỒN ẨM THỰC PLEIKU
Phở Hồng, Phở Ngọc Sơn và Phở Tàu Lý có thể không giống nhau về nguyên liệu, cách chế biến hay phong vị.
Phở Hồng – nổi bật với phở khô bò.
Phở Ngọc Sơn – ghi dấu với phở khô gà.
Phở Tàu Lý – đặc sắc với phở bò viên và phong vị riêng của cộng đồng người Hoa.
Nhưng phía sau ba cái tên ấy là một điểm chung rất đáng quý: những gia đình làm nghề ăn uống đã bền bỉ giữ gìn hương vị qua nhiều thế hệ.
Đó cũng là một đặc điểm thú vị của văn hóa ẩm thực Pleiku.
Phố núi từng đón người từ nhiều vùng đất đến lập nghiệp. Họ mang theo nghề nghiệp, kinh nghiệm và khẩu vị của quê hương mình. Qua thời gian, những hương vị ấy hòa vào đời sống địa phương và tạo nên một diện mạo ẩm thực rất riêng.
Phở hai tô cũng được hình thành trong quá trình ấy.
Nó không phải một món ăn cầu kỳ được tạo ra để phục vụ du lịch.
Nó bắt đầu từ những quán ăn bình dân, những nồi nước lèo nấu từ sáng sớm và những người làm nghề muốn đem đến cho thực khách một cách ăn ngon hơn, lạ hơn.
Rồi chính thực khách đã giữ món ăn ấy lại.

DU LỊCH PLEIKU – ĐỪNG CHỈ NGẮM CẢNH, HÃY ĂN MỘT TÔ PHỞ HAI TÔ
Đối với du khách, khám phá một vùng đất không chỉ là đi đâu, nhìn gì mà còn là ăn gì và ăn như thế nào.
Một buổi sáng ở Pleiku có thể bắt đầu rất đơn giản.
Trời phố núi se lạnh.
Bước vào một quán phở lâu năm.
Gọi một phần phở hai tô.
Trước mặt là hai chiếc tô: một tô sợi phở trộn thịt, một tô nước lèo bốc khói.
Gắp một đũa phở.
Nếm vị thịt và gia vị.
Rồi húp một thìa nước lèo nóng.
Chậm rãi thưởng thức, bạn sẽ cảm nhận được cái duyên rất riêng của ẩm thực phố núi.
Và nếu có thời gian, hãy thử cả những biến thể khác nhau để cảm nhận sự phong phú của phở Pleiku.
Bởi đi du lịch đôi khi không cần tìm kiếm những trải nghiệm quá xa xôi.
Một món ăn ngon cũng có thể kể cho ta nghe lịch sử của một thành phố.
Phở hai tô kể câu chuyện về những người đến Pleiku lập nghiệp.
Kể về những quán ăn bình dân đã tồn tại qua năm tháng.
Kể về những gia đình truyền nghề từ cha sang con.
Và kể về những thế hệ người Pleiku đã lớn lên cùng hương vị ấy.

PLEIKU TRONG HAI CHIẾC TÔ
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua.
Pleiku hôm nay đã khác xa Pleiku của những năm 1960, 1970.
Những con đường thay đổi.
Những khu phố đổi thay.
Những thế hệ thực khách ngày trước giờ đã có người bạc tóc, có người đã rời xa phố núi.
Nhưng mỗi buổi sáng, ở đâu đó trong Pleiku, vẫn có những tô phở được dọn thành hai phần.
Một tô sợi phở.
Một tô nước lèo.
Và giữa hai chiếc tô ấy là cả một câu chuyện về con người, ký ức, nghề nghiệp và văn hóa ẩm thực của phố núi.
Vì vậy, nếu hành trình của bạn có một ngày ghé Pleiku, đừng chỉ hỏi:
“Pleiku có gì để xem?”
Hãy thử hỏi thêm:
“Pleiku có gì để ăn?”
Có thể câu trả lời sẽ bắt đầu bằng hai chiếc tô bốc khói trên một chiếc bàn nhỏ:
PHỞ KHÔ HAI TÔ – một món ăn độc đáo mà du khách nên thử ít nhất một lần khi đến phố núi Pleiku. 

Bình luận