Tác giả: Hồ Duy Diến
Biên soạn: Trịnh Trân
Kỹ thuật vi tính: Trịnh Trân
Thiết kế bìa và ảnh: Trịnh Trân
In tại nhà in: Hà Trân – Tây Đô – Thanh Hoá
LỜI NÓI ĐẦU
(Trò chuyện cùng các cháu)
Các cháu yêu quý!Ông biết làm thơ từ hồi học lớp 4 (cuối cấp 1 thời ông). Ông tập hợp lại thành tập “Dòng đời” thời gian cuối cấp II (lớp 7 hồi đó), suốt thời gian 3 năm học cấp III đều đều có thơ. Đó là thời chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ leo thang bắn phá ra miền Bắc. Đến khi vào đại học, được học lý luận văn học, thấy thơ của mình không ra gì, bỏ không làm nữa. Nhưng khi cảm xúc đến khôngkiềm chế đước cũng có được đôi bài. Đến khi đi dạy học thì bẵng đi. Tập thơ góp được khảng bốn, năm chục bài bị mất khoảng năm 1987 khi chuyển từ trường cấp 3 lên nhà mới. Bắt đầu nghỉ hưu mới lại làm nhiều và tham gia CLB, có thơ in ở nhiều tuyển tập, tham gia các cuộc thi từ địa phương đến trung ương và có giải, có kỷ niệm chương. Ông tập hợp lại giữ nguyên tên “Dòng đời”.
Phần I: Những đoạn, bài chép lại theo trí nhớ
Phần II: Thơ xướng hoạ
Phần III: Thơ dự thi
phần IV: Thơ tặng
Phần V: Thơ làm theo cảm hứng thông thường
Phần VI: Thơ chữ Hán và chữ Nôm
Tập thơ phản ánh được phần nào cuộc đời ông, với tư tưởng, tình cảm, vui, buồn, sướng, khổ một cách chân thực. Ông không mong các cháu noi gương ông, mà chỉ mong các cháu hiểu ông để sống, phấn đấu theo phương châm của vế câu đối ông treo ở nhà thờ chi họ ta: Tử tôn bách thế tạo vinh xương (con cháu ngàn đời tạo lập cuộc sống an lành và vinh hiển./.
PHẦN I: CHÉP LẠI THEO TRÍ NHỚ VÀ NHẬT KÝ
TRƯỜNG EM
Trường em tên gọi Vân Hồ
Dựng xây bên cạnh phố Tô Hiến Thành
Sân trường rợp bóng cây xanh
Ngày ngày bè bạn học hành vui chơi.
(1) Báo tường năm 1961, học lớp 3 trường Vân Hồ 1
ĐI BỐC HÀNG THUÊ
Ì ạch ì ạch, bốc bì lên xe
Kỳ cạch kỳ cạch, đẩy xuống thuyền ghe
Bì ngô, bì gạo mỗi bì hai hào
Mồ hôi ướt áo, bụng đói cồn cào
Mắt hoa đom đóm chân bước trộn rau
Mần răng vẫn muốn sống lâu?
Mà xem thế sự, dãi dầu tấm thân!
1964
ĐƯỜNG VỀ VĨNH LỘC
Đường về Vĩnh Lộc đỏ nắng trưa
Rộn ràng nhịp bước, nhịp ước mơ
Nhưng em Vĩnh Lộc này là huyện
Vĩnh Lộc không là thôn nữ xưa.
1970
TẾT GIÁP THÌN
Tết nhất năm nay có gì đâu
Cây hương, cốc nước với cơi trầu
Gắng kiếm bông hoa theo tục lệ
Quả bòng, nãi chuối đoạn mía...sâu.
Buồn 1
Tạo hoá sinh chi cái sự buồn
Như dòng nước lũ mãi mãi tuôn
Quanh năm nước cứ ào ra biển
Chỉ thoáng lòng ta mãi cứ buồn.
Buồn 2
Buồn tình ta hỏi bóng trăng lu
Mây bỗng bay qua chấn mịt mù
Thất vọng hỏi sao, sao hờ hững
quay sang hỏi gió, gió vi vu.
1964
NHỮNG ĐÊM
Ta từng thức suốt những đêm thâu
Ta đào thêm nữa tuyến chiến hào
Ta từng thức suốt bao đêm trắng
Nhiệt tình đắp công sự thêm cao.
Sướng vui ta thức nữa đêm nay
Trong nỗi mừng chuyển xác máy bay
Ta còn thức nữa đêm như thế
Chuyển xác quân thù tận sáng mai.
1966
* Đã đăng trên báo “Chiến thắng” – Nghệ An,
tiền thân của tạp chí “Sông Lam”.
GẶP
Tôi đã gặp em trên công trường An Ngãi
Từ buổi sơ khai dựng lán làm nhà
Tôi lại gặp em trên công trường Đảng(1)
Dẻo vai gánh đất rộn lời ca
Ta còn gặp nhau ở nơi nào nữa
Nơi đất nước cần gọi chúng ta.
1968
(1) Công trường An Ngãi – Đập Ba Tuỳ, đập Quỳnh Thắng
gọi là công trường Đảng 3/2
TIẾNG HÁT MỞ ĐƯỜNG
Em hát nữa đi – Cô gái mở đường
Giữa bom thù: Căm giận với yêu thương
Tiếng hát đưa xe vào mặt trận
Gửi niềm tin chiến thắng tới tiền phương.
1967
CÂU ĐỐI XUÂN 1972
- Hợi qua, lợn éc, trả khô
kêu bằng Tết
- Tý đến, chuột mò sương rỗng
gọi là xuân
NGHỀ HOM NỨA
Thuở trời đất nổi cơn gió bão
Trai anh hùng thiếu gạo mới gay
Rủ nhau lên rú chặt cây
Chặt dang, chặt nứa ban rầy sơn lâm
Khi nắng đốt cháy lưng sém mặt
Khi chiều buông lật đật ly sơn
Khi về trợt bổ đường trơn
Khi trèo lên dốc trong cơn đói lòng
Khi vất vả trong vòng bắt bớ
Chốn rừng hoang bỡ ngỡ lối đi
Khi nghe tiếng gáy “cu kỳ”
Rừng khuya vắng lặng rậm rì buồn tênh
Trải lên thác xuống ghềnh ngao ngán
Rồi nắng thiêu trên quãng đường dài,
Cỏ khô vơ bó làm hài
Chân đỡ bỏng rát một hai cung đường
Phải chịu cảnh ăn sương, nằm đất
Cắn răng chờ mở mặt ngày mai
Dẫu trăm năm hay một ngày
Thì nghề hom nứa cũng tray nhất đời.
1968
(Chuẩn bị cho đi đại học)
VÔ ĐỀ
Âm Hán Việt
Hồng hoa khai nhất đoá
Dục thái hán hứa đa
Hồng hoa niêm bí nhị
Dục thái vấn viên gia.
Dịch thơ
Hoa hồng nở một bông
Người muốn hái thì đông
Hoa hồng khép kín nhị
Muốn hái hỏi người trồng,
1964
NHẬT KÝ 02-3-1968
Đường xa lận đận bước đi thi
Đề ra sao mà khó ra ri
Nhức óc bừng tai mù tịt tịt
Đau đầu đỏ mặt bối rì rì
Viết nhắng, viết nhăng cho hết giấy
Nghĩ thầm nghĩ dại để giờ đi
Phen này chỉ có là ê mặt
Ba ngày ăn hại chẳng nên chi.
Kết quả: Vào đội tuyển của tỉnh đi thi
văn miền Bắc.
NHẬT KÝ THỨ 7 NGÀY 9-3-1968
(Tức 11 – 2 Mậu thân)
Ngẫm câu “khổ tận cam lai”
Mà lòng không biết đúng sai thế nào
Có người suốt kiếp khổ đau
“ Hữu sinh hữu khổ” biết nào sướng vui
Có người chỉ biết ngọt bùi
Không hề cay đắng , ngậm ngùi, vướng thân
Ngẫm ta trong lúc gian truân
“ Cam lai” ngày ấy còn gần hay xa
Mà lòng đau đớn xót xa
Từ trong chua xót thế mà vẫn tươi
Hỡi lòng quằn quại ta ơi
Ngẫng lên bước tới cõi đời ngay mai
Nếu không hy vọng tương lai
Thì trong hiện tại không ai sá gì
vui cười dấn bước lên đi!
19-8-1968
ĐƯỜNG ĐI NHẬP HỌC
Sáng nay xe đã lên đường
Xa nha làng xóm quê hương nặng tình
Đây đồng lúa mượt mà xanh
Qua đây xóm nhỏ tươi lành yên vui.
Lắng sâu trong dạ bùi ngùi
Cây đa giếng nước xa rồi Cầu Khanh
Nơi đây dưới bóng trăng thanh
Ta vui bè bạn trong lành tuổi thơ.
Trời màu xám rả rích mưa
Qua đây cầu Zát lòng ngơ ngẫn lòng
Vừa xốn xang giữa màu hồng
Vừa như ước hẹn xanh trông một màu.
Đường dài xa tắp phi lao
Xe đi vun vút ta chào quê hương
Mưa rơi mờ đục màu gương
Quỳnh Hồng, Quỳnh Hậu gió vờn mắt trông.
Quỳnh Hoa, Quỳnh Thạch rừng thông
Qua Quỳnh Văn vẫn mưa giông đầy trời
Quỳnh Vinh yêu dấu ta ơi
Bao nhiêu “quạ Mỹ” xác rơi đất này.
Nắng hừng Quỳnh Lập qua đây
Thù ba năm trước dạ đầy hờn căm
Những ngày xuân của sáu lăm (1965)
Trại phong giặc Mỹ cắn càn bệnh nhân.
Tưởng như xe chậm chậm dần
Biển đề “Thanh Hoá” xe gầm vút nhanh.
* *
*
Tỉnh Thanh ơi! Tỉnh Thanh ơi!
Đi qua đất ấy lòng tôi nghẹn ngào
Tĩnh Gia cây cối đổ nhào
Cây to trốc rễ, cây cao lộn đầu
Ngẫm xem phong cảnh mà rầu
Tình yêu bật rễ giá nào gây ra.
Trời thị xã vẫn mưa sa
Rừng thông rẽ lối chân ta bước dồn
Cầu Cáo qua đã bóng tròn
Tăng, Truyên, Hồng đó hỏi còn gì hơn.
Tìm bến xe Giũn chân bon
Đúng ra bến “Rũn” chân chồn dạ lo
Đến đầu cầu Vạn mưa to
Tưởng phà Thiệu Hoá tha hồ rũn chân.
Mưa tầm tả trượt đường trơn
Hỏi phà Thiệu Hoá lần sang kịp thời
Đồng không vắng bóng im hơi
Chiều buông sầm sậm dạ bồi hồi lo.
Sự đời không để yên cho
Lại găp thằng Thể tơ vò tâm can
Đành rằng gượng gạo hỏi han
Mà lòng uất hận dậy trần khí căm.
Đường đi không hỏi lại lầm
Về Thọ Xuân thật bần thần lắm thôi
Bến đò Thiệu Hoá đây rồi
Mênh mông nước chảy bè trôi cùng thuyền.
Thật là như đảo như điên
Xuống đò trượt ngã ướt nhèm còn chi
Ca nô máy nổ rầm rì
Đèn pha bật sáng xe đi qua phà.
Xuống phà trước ánh đèn pha
Hỏi xin tài xế thiết tha đi cùng
Xin không được lại phát khùng
Năm lần bảy lượt, kế cùng nằm đây.
Vô ngôi nhà nát rác đầy
Nặc mùi ô uế. Mặc thây cứ nằm
Áo quần ướt lạnh căm căm
Muỗi như trú quả là nằm không yên.
20/8/1968
Sáng ra tỉnh giấc đi liền
Hỏi đường Vĩnh Lộc gió vờn đồng xanh
Định vô Thành Thượng Thiệu Thành
Vu vơ đi quá, không đành, băn khoăn.
Quán Lào. Trưa. Tạm nghỉ chân
Tìm vô tổng hợp mua ăn cơm bù (bầu)
Hàng phi lao gió vi vu
Bên đường nằm nghỉ nắng như cháy trời.
Chiều buông phà Kiểu đến nơi
Qua phà gió mát thảnh thơi vùng Lèn
Đến Vĩnh Lộc trời nhá nhem
Định nghỉ nhưng lại đi thêm quãng đường
Đem khuya đẫm lạnh hơi sương
Bốn đứa ngủ lại bên đường kề sông (ven).
21/8/1968
Vươn vai trời đã rạng đông
Lại đi bốn đứa gánh gồng lại đi
Đầu phà Cổ Tế đường đê
Đường đi rộn rịp kẻ về người lên.
Cửa nhà san sát hai bên
Đê cao ta chạnh nhớ miền sông Lam
Nông trường bò sữa nắng tràn
Mồ hôi ướt áo mắt vàng chồn chân.
Giàu cái số, khổ cái thân
Thạch Bình nơi ấy đến lầm mới ngơ
Bóng tròn bốn đứa vu vơ
Tìm vào Thạch Định thì vưa tới chiều.
Đường đi lận đận bao nhiêu
Tay đau nhức nhối cũng liều mà đi
Giấy tờ xong chẳng còn chi
Còn lo chạy thuốc để đi tiếp đường.
22-8-1968
Đêm tan còn đọng giọt sương
Lại lo gồng gánh lên đường đến khoa
Chân chồn không quản đường xa
Qua làng, qua bản, ta qua núi rừng.
Cẩm Vân đây! Dạ reo mừng
Hành trình vất vả ta dừng ở đây
Ta đi không phải bốn ngày
Mà ta đi cả quãng đời mười năm.
Cũng hay khi bổng, khi trầm
Chung quy vẫn cứ gian truân đã từng
Lòng nay xen lẫn lo mừng
Cuộc đời tất chẳng phải dừng ở đây.
Mười năm mới có một ngày
Ta vào đại học nắng say thâm tình
Ta đi mở lối quang vinh
Bắt đầu tiếp cuộc hành trình thứ hai.
Đường ta đi cả cuộc đời
Tìm ra lẽ sống rạng ngời là đây
Núi rừng sông biển trời mây
Đẹp tươi trong ánh nắng mai huy hoàng.
Ta vui tiếp bước lên đường
Lòng ta lộng gió bốn phương đưa về
Khó khăn gian khổ chẳng nề
Lên đường quyết một lời thề đi lên.
Xong ngày 23/11/1968
PHẦN II: THƠ XƯỚNG HOẠ
Bài xướng: TIÊU GIAO
Tôi vẫn làm thơ những sớm chiều
Thổi hồn những chữ ghét và yêu
Công danh hờ hững đôi bờ trúc
Tiền bạc bâng quơ một cánh diều
Đã chẳng buồn thương thời tóc biếc
Làm gì ngơ ngác lúc răng xiêu
Tiêu dao ngâm vịnh quên rồi nhớ
Chén rượu mơ màng bóng tịch liêu
Văn Hội Tiên sinh
Hoạ:
KẾT GIAO
Tôi bác gặp nhau tuổi xế chiều
Tình ta muôn thuở ghét và yêu
Yêu nhân, yêu nghĩa – hàng tùng trúc
Ghét trọc, ghét tham – lũ quạ diều
Tuổi trẻ xông pha từng đứng vững
Về già sóng gió chẳng hề xiêu
Tiêu dao ngâm vịnh thành tri kỷ
Dang rộng vòng tay chấp tịch liêu
Cả 2 bài đều in trong tuyển tập
“ Thơ Đường xứ Thanh”.
Bài xướng:
KINH ĐÔ THĂNG LONG
Rồng bay Công Uẩn đội ơn trời
Sông Nhị ánh vàng nước nhẹ trôi
Văn hiến ngàn đời lừng sử sách
Anh linh muôn thuở vững lâu dài
Trung quân ý chí luôn ghi nhớ
Ái quốc trong lòng vẫn chẳng vơi
Thắng tích Hồ Gươm chùa Một cột
Thăng long văn hiến mãi muôn đời.
Hồ Bá Quỳnh 1939
Hoạ:
VỊNH THÁP BÚT
“ Tả thanh thiên” bút hướng nền trời
Thế đại theo dòng năm tháng trôi
Chép cả hùng bi dày sử sách
Chứng bao oanh liệt vững nghiên đài
Ngoại lai gió độc ngăn xâm phạm
Truyền thống tinh hoa chẳng để vơi
Viết tận trời xanh hồn đất nước
Đức – Nhân – Trí - Dũng sáng muôn đời.
Cả 2 bài in trong “ tuyển tập thơ Đường xứ Thanh.
Bài hoạ in trong tiếng vọng mai sau. Có kỷ niệm chương.
Bài xướng:
CUNG CHÚC TÂN XUÂN
AN KHANG THỊNH VƯỢNG
(Khoán thủ)
Cung chúc tấu đàn hát khúc ca
Chúc toàn gia tộc thắm tươi hoa
Tân niên xúc động ôn tình mẹ
Xuân mới bồi hồi nhớ nghĩa cha
An lạc cháu con cao mộng trẻ
Khang ninh chồng vợ rộng tình già
Thịnh hưng tài trí nêu tâm đức
Vượng phát công thành buổi chẳng xa.
Nguyễn Văn Hội
Đặc sắc: 8 chữ đầu câu là tên bài.
Hoạ:
CUNG CHÚC TÂN XUÂN
AN KHANG THỊNH VƯỢNG
Cung chùm bát thủ khúc thiền ca(1)
Chúc ý lời trong sáng gấm hoa
Tân nhật cầu kinh trên đất mẹ
Xuân tình “vung bút” giữa quê cha
An tâm tin tưởng đàn con trẻ
Khang kiện hoà vui đám bạn già
Thịnh vận lo gì chim mỏi cánh
Vượng thời thơ bác vẫn ngân xa.
(1) Ông Hội gửi 8 bài
Thơ thiền cung chúc là 1 trong 8 bài đó.
Xướng:
QUANG TRUNG THIÊN
Nguyễn Huệ hiên ngang đứng giữa trời
Anh hùng dân tộc của muôn đời
Mắt nhìn tựa chớp soi cùng chốn
Miệng nói như chuông vọng khắp nơi
Xoài Mút – Xiêm La hồn tán bạt
Đống Đa giặc Mãn xác tơi gời
Phân tranh Trịnh Nguyễn từ đây dứt
Thống nhất sơn hà dân sướng vui.
Hồ Bá Quỳnh
Hoạ:
HỒ XUÂN HƯƠNG
Cổ “nguyệt”(1) Hồ Tây giữa đất trời
Thơ nôm - Bà chúa của muôn đời
Tình thương thắm đượm sâu trăm chốn
Lòng giận trào dâng ngập khắp nơi
Phụ nữ - Liễu bồ hằng bảo vệ
Thói đời – Ô trọc đánh tơi bời
Khối tình khao khát không hề dứt
Chín suối nay bà hẳn ngậm vui.
(1) Xuân Hương dựng “cổ nguyệt đường” ở Hồ Tây
Đã in trên “Tuyển tập họ Hồ Việt Nam.
Xướng:
HÀNH QUÂN THẦN TỐC
Quân lính Quang Trung: Lực lượng dân
Cách đi nhanh chóng tựa như thần
Ba người trong tốp thay nhau võng
Hai cáng một nằm vẫn tiến quân
Nghi Đống biết thua đành tự vẫn
Chàng Tôn tháo chạy bỏ rối quân
Từ nay sạch bóng quân xâm lược
Kỷ Dậu sáng ngời trang sử xuân.
Hồ Bá Quỳnh
Hoạ:
HỒ QUÝ LY
Trần mạt ông vì nước trọng dân
Hàm oan: Mang tiếng kẻ gian thần
Bình Chiêm dẹp loạn(1) yên thời thế
Viết sách(2) canh tân sáng chí nhân
Cải cách chấn hưng cường đất nước
Xây thành thủ hiểm thịnh binh quân
“ Anh hùng di hận”(3) này càng rõ
Lịch sử công minh rạng sắc xuân.
(1) Đánh thắng Chiêm 4 lần, dẹp loạn sư phá giới
Nguyễn Ổn (2) Viết sách “ Minh đao” chống
khuôn phép Tống Nho, kêu gọi canh tân
(3) Thơ Nguyễn Trãi – bài “ Quan hải”.
Xướng:
NHÂN KIỆT ĐỊA LINH
Dũng Quyết đất này đẹp tựa tranh
Là nơi xứng đáng lập đô thành
Mắt thần Hoàng đế Quang Trung chọn
Tài thánh La Sơn Phu Tử hành
Ra Bắc vào Nam đều thuận tiện
Lên rừng xuống biển thật thông hanh
Kinh đô xây dựng trên nền phượng
Nguyễn Huệ anh hùng rạng sử xanh.
Hồ Bá Quỳnh
Hoạ:
THÀNH NHÀ HỒ
Vĩnh Lộc đất này đẹp tựa tranh
Núi sông hiểm trở hợp xây thành
Mắt thần Thái Uý Quý Ly chọn
Phép thánh(1) Thượng thư Đỗ Tĩnh hành
Thành đá phải đâu đà vững chắc
Thành tâm mới thực sự thông hanh
Lòng dân chưa thuận âu đành vậy
Bài học muôn đời tác sử xanh.
(1) Sách “ Đại Việt sử ký toàn thư” viết:
Thành xây trong 3 tháng.
In trong “Tuyển tập Thơ Đường xứ Thanh”,
“Lời ru non sông” và “Thơ Việt đương đại”.
Xướng:
CHIÊU HIỀN ĐÃI SỸ
Hoàng đế Quang Trung trọng đức hiền
Hạ minh để có những ông tiên
Ba lần tìm kiếm Ngô Thì Nhậm
Bảy lượt ra mời Nguyễn Khải Xuyên
Phương lược đánh thù gìn giữ nước
Chương Trình hoà hiếu giữ dân yên
Giang sơn cẩm tú phồn vinh đại
Khúc khải hoàn ca khắp mọi miền
Hồ Bá Quỳnh
Hoạ:
SÁCH MINH ĐẠO
Khuôn phép Tống Nho đạo thánh hiền
Sách này lên tiếng chống đầu tiên
Tầm chương trích cú không phù hợp
Thực tiễn thi hành phải suốt xuyên
Kinh tế mở mang phù nước thịnh
Ấm no hạnh phúc giữ dân yên(1)
Đặt nền cải cách thiên “Minh đạo”
Đáng tiếc ban chưa khắp mọi miền!
(1) Thể hiện rõ trong nội dung cải cách: Hạn điền, hạn nô, miễn thuế, mở trường, đắp đường, đào sông, mở chợ...
In trong “Tuyển tập Thơ Đường xứ Thanh” tập 1.
Xướng:
SƠN ĐỨC HẢI CÔNG
Nguyễn Huệ anh hùng rạng núi sông
Rõ ràng hải đức với sơn công
cầu hiền đức lớn tày non thái
Đuổi giặc công to tựa biển đông
Dẹp Trịnh phò Lê miền Bắc sáng
Xua Xiêm đánh Nguyễn phía Nam hồng
Cờ đào áo vải Quang Trung Đế
Xứng đáng là con lạc cháu hồng.
Hồ Bá Quỳnh
Hoạ:
QUÝ LY ĐÁNH THẮNG CHIÊM THÀNH
Thái uý anh hùng rạng núi sông
“ Quân thần đồng đức”(1) xứng sơn công
Thủ phòng chặn hướng từ Thanh Hoá
Ngăn giặc tràn vào mạn biển đông
Đóng cọc Lạch Trường giăng cạm bẫy
Xua voi sông Mã phất cờ hồng
Thắng Chiêm bốn trận liền giòn giã(2)
Xứng đáng là con lạc cháu hồng.
(1) Nghệ Hoàng ban cho Quý Ly lá cờ ghi: “ Văn võ
toàn tài, quần thần đồng đức”
(2) lần 1: 1380, lần 2: 1382, lần 3: 1383, lần 4: 1389
In trong “Tuyển tập Thơ Đường xứ Thanh” tập 1.
Xướng:
ỨC NIÊN TỒN
Mãi mãi muôn năm tiếng vẫn còn
Nặng lời thề với nước cùng non
Quang Trung Nguyễn Huệ anh hùng tại
Công chúa Ngọc Hân thục nữ tồn
Thì Nhậm,. La Sơn...lòng thanh bạch
Bùi Xuân, Quang Diệu... dạ vàng son
Cùng nhau góp sức phù dân tộc
Mãi mãi lừng danh với nước non.
Hồ Bá Quỳnh
Hoạ:
CẢI CÁCH CỦA HỒ QUÝ LY
Cải cách khách quan lẽ sống còn
Yêu cầu thực tiễn – dậy còn non
Hạn điền, miễn thuế, văn nôm...tại
Mở chợ, đào sông, thi cử... tồn
Kinh tế ngoại giao lời sáng tỏ
Quân binh văn hoá dạ vàng son
Buồn vị trăm họ chưa theo kịp
Nay vẫn hợp thời với nước non.
Bac Hồ Bá Quỳnh sinh năm 1938, quê gốc
Quỳnh Nghĩa, Quỳnh Lưu, Nghệ An, hiện ở 35,
Hồ Hán Thương, TP Vinh, Nghệ An. Tác giả
“ Hưu nông dân” từng kiến nghị 135 vấn đề
dân sinh XH lên Chính phủ được tiếp nhận nhiều
vấn đề.
Xướng:
BƯỚC VÀO XUÂN
Nước nhà đang độ bước vào xuân
Thiên tạo loài người đúng hội dần
Nhân kiệt trau dồi Đạo Hiếu Đức
Địa linh hun đúc Trí Tâm Nhân
Vang lừng bốn biển cương trung hiếu
Sáng chói năm châu thiên mỹ chân
Sung sướng nào hơn thời mở cửa
Nước nhà đang độ bước vào xuân.
Hồ Bá Quỳnh
Hoạ:
MỪNG THỌ BÁC QUỲNH
Em mừng thọ bác bảy hai (72) xuân
Nguyên đán năm nay đón Tết dần
Công tác cả đời ngời chữ Đức
Về hưu chung cục đẹp lòng Nhân
Giao lưu thơ phú khồng chùn gối
Kiến nghị chủ trương chẳng mỏi chân
Con cháu bạn bè đều ngưỡng mộ
Chúc mừng bác thọ bách niên xuân.
Xuân Canh Dần 2010
THƠ THỈNH HOẠ
1.000 NĂM THĂNG LONG
Canh dần mừng lễ hội rồng bay
Ngàn tuổi Thăng Long sắp tới đây
Nhớ bấy Hoa Lư nền móng cũ
Thương sao Hà Nội phố phường nay
Vung gươm giữ nước Trần, Lê, Nguyễn(1)
Động thổ xây nhà Nam, Bắc, Tây(2)
“ Tấc đất tiền nhân không để mất”(3)
Công, Nông, Doanh, Trí ... thảy vui vầy.
Mùa đông Kỷ Sửu – Nguyễn Văn Hàm(4)
(1) Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Huệ.
(2) Chỉ còn hướng đông, phải kiên quyết
giữ Hoàng Sa.
(3) Nguyên văn di chúc của Phật Hoàng
Trần Nhân Tông.
(4)Giáo sư Nguyễn Văn Hàm sinh năm 1936.
Hiện ở: 06, Thành Mỹ - phường 8 – quận Tân Bình
TP Hồ Chí Minh.
Bài hoạ 1:
HÀ NỘI
“ Điện Biên” hạ gục pháo đài bay
“ Mặt trận trên cao”(1) “ rồng lửa”(2) đây
Đổ nát tang thương đau lúc trước
“ Đàng hoàng to đẹp”(3) thoả hôm nay
Phòng không binh chủng xua quân Mỹ
Cảm tử trung đoàn đánh giặc Tây
Nhớ Bác Canh Dần hai hội thọ(4)
Thăng Long đại lễ thảy xum vầy.
(1) tên cuốn tiểu thuyêt của Nguyễn Đình Thị
(2) Cách gọi ca ngợi tên lửa
(3) Lời Hồ Chủ tịch
(4) Bác thọ 120 tuổi
In trong “Tôi yêu Hà Nội” nhà XB Hội nhà văn
và “Lời ru non sông” nhà XB Lao động
“Đất nước tình yêu” nhà XB Văn hoá
“ Thơ Việt đương đại” nhà XB Văn hoá.
Bài hoạ 2:
HÀ NỘI – THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH
Cờ đỏ sao vàng phấp phới bay
Hoà bình – thành phố ấy là đây
Bạch Đằng sóng cuộn vang từ trước
“ Biên Phủ”(1) trời bừng sáng đến nay
Hàn gắn vết thương chung giúp sức
Đơm hoa hạnh phúc chẳng riêng tây
Đi đầu cả nước cùng hoà nhập
Hà Nội thủ đô tươi sáng vầy.
(1) Điện Biên Phủ trên không: 12 ngày đêm
Hà Nội đánh trả B52 của giặc Mỹ, thắng lợi dẫn
đến hiệp định Pari.
(2) Cách gọi ca ngợi tên lửa.
In trong tuyển tập thơ “Tôi yêu Hà Nội”
nhà XB Hội nhà văn.
Bài hoạ 3:
CỘT CỜ HÀ NỘI
Trấn giữ Hoàng thành cờ đỏ bay
Cột cờ Hà Nội vút cao đây
Tri Phương, Hoàng Diệu(1) quên mình trước
Quốc Trị, Trần Hanh(2) tiếp bước nay
Đổi mới kế thừa hồn đất nước
Tiếp thu chọn lọc “gió”(3) trời Tây
Ngót hai thế kỷ cùng sông núi(4)
Biểu tượng thủ đô kiên cố thay.
(1) Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu
(Hoàng Kim Tích) khi thất thủ Hà Nội đều tuẩn tiết
dưới cột cờ Hà Nội.
(2) Anh hùng Nguyễn Quốc Trị chỉ huy trung đoàn
tiếp quản thủ đô, cũng là người trực tiếp kéo cờ tổ quốc
lên cột cờ Hà Nội 10/10/1954.
Anh hùng Trần Hanh cùng đồng đội cưỡi MIG 21
đánh giặc trời Mỹ, lấy cột cờ Hà Nội làm vật chuẩn
(3) Ý của nguyên tổng bí thư Nguyễn Văn Linh:
Mở cửa thì gió vào, gió thì có gió lành và gió độc,
phải biết chọn lọc.
(4) Gia Long cho xây cột cờ hà Nội năm 1812.
Tính đến 2010 gần 2 thế kỷ.
In trong tuyển tập thơ “Tôi yêu Hà Nội”
nhà XB Hội nhà văn.
THƠ MỜI HOẠ
ĐÓN XUÂN TÂN MÃO 2011
Mão sắp đến rồi chuẩn bị đi
Đón chào xuân mới tả tân thi
Trẻ thêm một tuổi thêm khôn lớn
Già cộng một năm công lão nghi
Đại hội đầu xuân toàn quốc Đảng
Đường lên xã hội vững chân đi
Gửi ai thi hữu lời mời hoa
Nâng chén xuân vui cạn bách ly
01/01/2010 (25-9- Canh Dần)
Tôn Quát Cao Huy Dĩnh 89 tuổi
Chùa Hang – Đồng Hỷ - Thái Nguyên
Bài hoạ 1:
ĐÓN XUÂN
Xuân đến tưng bừng xuân lại đi
“Khứ - Lai bất tận” trong ca thi
Xuân qua trước mắt sao neo lại?
Già đến trên đầu phải thích nghi(1)
Làng xóm văn minh chung sức góp
Cháu con phương trưởng vững chân đi
Vòng tay giang rộng thêm thi hữu
Trân trọng chân tình kính cụng ly.
(1) Ý thơ Mãn Giác Thiền sư trong bài
“Cáo tật thị chúng”; Sự trục nhãn tiền quá,
lão tòng đầu thượng lai (Việc chạy qua trước mắt,
già theo đến trên đầu).
Bài hoạ 2:
CHÚC THỌ BÁC CAO HUY DĨNH
Xuân đến chu hoàn xuân lại đi
Xưa nay vô số khúc ca thi
Xuân qua tám chín (89) mùa tươi thắm
Tết đến mỗi năm cộng lão nghi
Kháng chiến tiên phong chung sức góp
Hoà bình gương mẫu vững chân đi
Người nghe(1) cả nước đều ngưỡng mộ
Như thể thân gần dẫu cách ly
22-12-2010
(1) Thính giả đài tiếng nói VN nghe bài
“ Nghe hát thập ân phụ mẫu” và tập Kiều của cụ
Cao Huy Dĩnh.
CHÀO XUÂN CANH TÝ 2008
LÀM CÂY THÔNG ĐỨNG
(Thơ thất ngôn bát cú)
Mậu Tý đến nơi chuột nhảy tưng
Những tay tham nhũng bạc tiền rung
Tùng riêng một cõi thờ liêm chính
Linh chiếm tâm hồn yêu núi sông.
Lão trượng Hồ Cơ – 108 nhà D8
Thành Công – Q. Ba Đình – HN
(tuổi Quý Hợi 1923
In trên trang tin họ Hồ Việt Nam. Đặc sắc nói lái hai tiếng cuối câu trên thành hai tiếng đầu câu dưới.
Bài phỏng:
TRI TÚC
Thả mãi hồn theo tiếng trúc ty(1)
Tri túc – trọn đời chẳng chuyển di
Chỉ duyên hưu trí còn tươi thắm
Thăm tưới vườn xuân đúng nhật kỳ.
24-6-2008
(1) Trúc: Sáo, ty:đàn – Văn nghệ, văn chương.
Bài xướng:
HOÀI CỔ THI
(Cụ Nguyễn Tuân – Tác giả “Hồn quê”)
Chốc đã trải biết mấy thu đông
Chín khúc vò tơ vướng vít lòng
Uống nước nhớ nguồn sông nước biếc
Ăn cơm nhớ gốc ruộng nhà nông
Cảm tình giúp đỡ nơi làng xóm
Nhớ nghĩa sinh thành chốn tổ tông
Ngắm cảnh chiều tà chim mỏi cánh
Nghĩa tình còn nặng với non sông.
1999
Hoạ:
KÍNH TẶNG TÁC GIẢ “HỒN QUÊ”
( Hoạ bài “ Hoài cổ thi”)
Hồn quê ngót bảy chục thu đông(1)
Toả sáng nhân văn một tấm lòng
Từ Bắc vô Nam chiêm cảnh thắng
Lên rừng xuống biển ngẫm sâu nông
Tươi niềm thương nhớ tình bè bạn
Đẹp đạo tôn thờ nghĩa tổ tông
Cho dẫu chiều tà chim mỏi cánh
Khối tình ghi tạc với non sông.
12-11-2011
(1) Bài sớm nhất trong “Hồn quê” – 1942.
VHT Sinh xướng:
VUI SỐNG
Sống trên trần thế nặng hồn quê
Nợ đất ai ai cũng phải “về”
Khôn dại được trùm năm tấc cỏ
Phú vinh khéo chín mấy nồi kê
Chức quền đắc ý thôi vênh váo
Tiền của hư hao hết não nề
Tích thiện chơi thơ vui bạn hữu
Ấy là cầu thọ mặc khen chê.
27/6 Canh Tý
Hoạ:
CÙNG VUI SỐNG
Phố phường giao kết với thôn quê
Tôi bác cùng nhau cũng sẽ “về”
Tích thiện đã làm sao xiết kể
Tu nhân từng trải khó mà kê
“ Vô cầu” thanh thản công không quản
“ Trí túc” an nhiên sức chẳng nề
Sống khoẻ yên vui là có ích
Làm sao cho có ít người chê.
28/6 Canh Tý
Mời hoạ:
MƯA ĐẦU MÙA
(VHTiên Sinh)
May thay thuỷ giáng mát đêm hè
Mưa gió đùng đùng nước chảy nhoe
Táo tác ngan gà tìm chỗ nấp
Nghêu ngao ếch nhái ngoặc mồm khoe
Lúa xoè dé mỏng vươn mơn mởn
Cá thả vây dài thoả vẩy ve
Các bác nhà nông tìm xẻng cuốc
Ra đồng giữ nước nắng hoe hoe.
Bài hoạ:
MƯA MÙA HÈ
Cũng là nước xuống giữa đêm hè
Lợi hại đôi đường chẳng nói nhoe
Miền Bắc lũ trôi không chỗ trú
Miền Trung lửa tắt được đà khoe
Núi non sụt lở vùi trường học
Cây cối vươn lên rộn tiếng ve
Mới biết dở hay trong một sự
Anh cò chia sẻ với anh hoe.
Mời hoạ:
Tuổi thọ bảy ba (73) đã trải qua
Sống đời phạm hạnh nếp tăng già
Nâu sồng chạy lạc ngài Ca Diếp
Y pháp thanh bần phật Thích Ca
Phụng đạo góp phần xây giáo Hội
Giúp đời kiến tạo dựng sơn hà
Xét mình không thẹn trên trần thế
Nghiệp lực đeo theo cố vượt qua.
Hoạ:
NOI GƯƠNG THẦY
Sống vui sống khoẻ tháng ngày qua
Tuổi trẻ liên thông đến tuổi già
Khắc phục khó khăn vui nốt nhạc
Phat huy thuận lợi rộn lời ca
Góp phần sức nhỏ quanh làng xóm
Chẳng có mơ to chốn hải hà
Mong sống bình yên, không hổ thẹn
Tự hào nhìn lại quảng đời qua.
25/2/ Tân Sửu
Bài xướng:
MỪNG NHÀ MỚI
(Nguyễn Văn Hùng – Hà Nội)
Nhớ khách văn chương thảo mấy hàng
Cuộc đời vừa chuyển bước sang trang
Năm tầng mái lệch trông bề thế
Ba bức tranh hoa dệt mịn màng
Vẫn thấy hương cau báy phảng phất
Còn nghe khúc nhạc vọng ngân vang
Sớm hôn nối bút trông tin nhạn
Mở cửa tri âm đón bạn vàng.
Hoạ:
MỪNG NHÀ MỚI
Cảm mến tôn huynh gửi mấy hàng
Chúc mừng nhà mới thật khang trang
Hài hoà cây cảnh, không gian mát
Hiển đạt cháu con khúc nhạc vang
Bởi có chắt chiu tròn ước nguyện
Nếu không cần mẫn khó mơ màng
Nhà cao cửa rộng vui khôn xiết
Hội tụ tam đa gấp bội vàng.
15/4 nhuận – Canh Tý
Xướng:
LÒNG VUI
(VHT Sinh mời hoạ)
Ăn ngon ngủ kỹ tiểu thần tiên
Sống khoẻ bình yên thoả nỗi niềm
Tích cốc phòng cơ vui kẻ dưới
Dưỡng tâm nuôi trí xứng người trên
Nối dây hoan hỷ xe nhân ái
Cắt sợi sầu bi gỡ não phiền
Hai chữ phong lưu ai cũng mộ
Việc đời chân thiện vọng thanh thiên.
Hoạ:
VUI LÒNG
Chăm lo sức khoẻ phải ưu tiên
Phong thuỷ, tâm linh... lắm nỗi niềm
Kẻ tạo dinh cơ cho lớp dưới
Người xây phần mộ kính bề trên
Xem duyên chồng vợ cùng hoan hỷ
Chấm số đồng nhi khỏi muộn phiền
Cần mẫn ngày đêm chu đáo cả
Mong nhàn – Song chịu mệnh hoàng thiên.
8/4/2021
VHT Sinh xướng:
CHƠI VÀ HỌC
Ngóng đợi chùm thơ của bạn già
Tuổi nhiều trời nóng ngại đi xa
Cụ Du bà Huyện là thầy học
Anh gió chị trăng ấy khách nhà
Bạn cũ nâng niu trang cẩm tú
Thi đàn tưởng thưởng chữ đào hoa
Trường đàm khoát luận thơ đường luật
Tâm đắc cùng vui phụng thái hoà.
Hoạ:
HỌC VÀ LÀM
Hữu phúc cùng chung hưởng tuổi già
Không gian cách trở đạo không xa
Tử vi, phong thuỷ tầm từng mục
Thầy Tả thầy Ban dõi mỗi nhà
Giúp tạo dinh cơ cho thịnh vượng
Xem nên duyên phận đạt hài hoà
Chỉ mong thiên hạ đừng chê trách
Cuộc sống an bình vui cỏ hoa.
Thang 4 – Tân Sửu
Bản quốc ngữ trang 125
PHẦN III; THƠ DỰ THI
NHỮNG NGƯỜI NÓI DỐI TRONG “KIỀU”
Hỏi: Trong “Truyện Kiều” có bao nhiêu người nói dối?
“ Trăm năm trăm cõi người ta”
Nói dối tốt – xấu có ba bảy đường
1. Kim Trọng nói dối dễ thương
“ Mượn điều du học” tìm đường tình duyên
2. “bán tơ” nói dối vì tiền
Vu oan giá hoạ đảo điên hại người
3.Hạ Mã dối trá trần đời
Giả danh cưới vợ mua người lầu xanh
4. Tú bà sau trận tam bành
Mượn lầu Ngưng Bích giữ danh cho Kiều
5. Sở Khanh nói dối hạng siêu
“Sổ lồng tháo cũi” cứu Kiều như chơi
6. Thúc Sinh không nói ra lời
Dấu Hoạn Thư lại gặp “bài dấu cho”
Cũng là gian dối quanh co
Hậu quả cay đắng đòn no để đời
7. Họ Bạc dạ thú mặt người
Bày trò giả cưới hại đời Kiều nhi
Thoắt “ Cưới” về thoắt bán đi
Kiều gặp Từ Hải tưởng bề yên thân
8. Hồ Công lập kế chiêu an
Quả lừa thượng đẳng Kiều tan nát lòng
Đến đây đau khổ tột cùng
Trao thân gửi phận cho dòng Trường Giang
Tám người nói dối rõ ràng.
THAM DỰ CUỘC THI “NGƯỜI CAO TUỔI
NGHỊ LỰC VƯỢT KHÓ – BÁO NGƯỜI CAO TUỔI
GƯƠNG SÁNG
(Tặng thầy giáo Nguyễn Văn Thắng – Nghĩa Đàn)
Mười tám tuổi Thắng thành bại liệt
Tưởng vậy là tắt hết ước mơ
Nhưng nhờ nghị lực vô bờ
Cái đầu thông tuệ, học trò yêu thương
Trái tim thắm, phi thường trách nhiệm
Thúc dục anh cống hiến mê say
Trò nghèo đến học ngày ngày
Ba mươi năm lẻ lòng thầy nhả tơ
Người thành đạt: Kỹ sư, bác sỹ
Đi muôn phương yêu quý tri ân
Ngày nhà giáo với ngày xuân
Học trò muôn ngã về thăm ân tình
Đã đăng báo Người cao tuổi số 28(1345
thứ 3 ngày 18/2/2014.
THAM DỰ CUỘC THI THƠ CHỦ ĐỀ “TÌNH MẸ”
DO CLB THƠ VIỆT NAM TỔ CHỨC
CÓ MỘT NỖI BUỒN: TÌNH MẸ
Cha hy sinh từ thời chống mỹ
Con lên ba lòng mẹ tái tê
Đắng cay cơ cực trăm bề
Mẹ nuôi hy vọng hướng về tương lai
Mẹ chấp nhận sống đời cô quả
Dồn yêu thương tất cả vì con
Trãi bao chân cứng đá mòn
Đến ngày toại nguyện thấy con trưởng thành
Con xây dựng gia đình hạnh phúc
Mẹ theo con tiếp tục chăm nom
Cửa nhà bán hết chẳng còn
Đâu ngờ gặp phải dâu con vô nghì
Có lần chúng cùng đi dự tiệc
Chỉ cho bà vào bếp: Cơm rang
Béc zê tiêu chuẩn cao sang
Dành riêng tô phở đàng hoàng hẳn hoi
Mẹ tủi phận quyết rời thành phố
Tìm về quê đến chỗ bà con
Qua ngày chua xót héo hon
Mẹ về với đất mà con không tường
Cụ bà được dân làng chôn cất
Lo mộ phận chu tất mọi bề
Cỏ xanh con mới tìm về
Bái quỳ trước mộ dầm dề gió mưa.
17/5/2014
Theo nội dung báo Tiền Phong
THI ĐỐ “KIỀU” (Đài tiếng nói Việt Nam)
Câu đố: Thuý Kiều lưu lạc xa gần
Mấy lần kiệu rước mấy lần ngựa xe
Bài giải:
Thuý Kiều lưu lạc phong trần
Năm lần kiệu rước, một lần đi xe
Hai lần đi ngựa ê chề
Xin kể chi tiết bạn nghe tỏ tường
Từ nhà Kiều đến trú phường
Họ Mã rước kiệu(1) đoạn đường ngắn thôi
Lâm tri cách trở xa xôi
“ Như bay” xe(1) chạy “mù khơi hồng trần”
Sở Khanh lừa kế thoát thân
“ Ngựa(1) sau ngựa trước một đoàn song song
Thể tình sau kiện Thúc ông
“Kiệu(2) hoa cắt gió đuốc hồng ruổi sao”
Yên thân chưa được là bao
Hoạn Thư sắp sẵn mưu sâu “lửa nồng”
Khuyển Ưng bắt cóc bên sông
Vực ngay lên ngựa(2) xuống dong thuyền(1) buồm
Họ Bác dở thói con buôn
Bày trò giả cưới rước luôn xuống thuyền(2)
Châu Thai nhà chứa thẳng miền
Rồi đem kiệu(3) rước khỏi thuyền bán luôn
Hồ Công chút nhợt cho lươn
Ép Kiều phải lấy thổ quan tục huyền
“ Kiệu(4 hoa áp thẳng xuống thuyền
Trẫm mình Kiều gặp Giác Duyên sẵn chờ
Đem Kiều về chốn thảo lư
Bằng thuyền(4) của chính ông ngư cứu nàng
Kiều vừa tỉnh giấc mơ màng
Tái sinh từ chốn phật đàng từ bi
“ Kiệu”(5) hoa giục giã tức thì
Vương ông dạy rước cùng về một nơi
Giải câu đố có mấy lời
Kể thêm bốn lượt thuyền bơi sóng trào.
Dẫn giải:
Câu 2135 chỉ nói rước không nói rước bằng gì:
“ Thành thân mới rước xuống thuyền”.
Đến Châu Thai mới: “ Mượn người thuê kiệu rước nàng”.
I. Kiệu:
Lần 1: Họ Mã rước về trú phường ( câu 779).
Lần 2: Thúc ông đem kiệu rước về sau vụ “quan mặt sắt”
xử án (câu 1466).
Lần 3: Họ Bác rước từ thuyền lên nhà chứa ở Châu Thai
(câu 2143).
Lần 4: Thổ quan rước về làm vợ kế (câu 2601).
Lần 5: Vương ông rước về đoàn viên (câu 3033).
II. Xe:
Chỉ một lần đi ba lần tả. Câu 270: Lên xe “Vó câu khấp khểnh
bánh xe gập ghềnh.
Câu 894: “ Mé ngoài nghỉ đã dục liền ruổi xe”.
Câu 908: “ Một xe trong cõi hồng trần như bay”.
III. Ngựa:
- Sở Khanh lừa trốn (câu 1118).
- Khuyển – Ưng đưa xuống thuyền (câu 1647).
IV. Thuyền: Lâm trí vô tích
Khuyển- Ưng đưa từ L. Tri về V. Tích (câu 1609).
Họ Bạc đưa từ V.Tích đến Châu Thai (câu 2136).
Thổ quan đón về làm vợ kế (câu 2601).
Giác Duyên đưa dọc sông Tiền Đường về Thảo Lư
(câu 2732).
TÂM SỰ TUỔI GIÀ
Để phút lâm chung “chấm hết tròn”
Phải lo từ những sự con con
Việc làm, ăn uống cho chừng mực
Ứng xử nói năng gắng vẹn toàn
Chấp nhận khó khăn cùng thuận lợi
Thích nghi bùi ngọt, với tân toan
Khơi trong lắng đục tôn “tri túc”
Hy vọng lâm chung chết “chấm tròn”.
Báo người cao tuổi số 189 (2341) 27/11/2018
CA NGỢI NHÀ VĂN SƠN TÙNG
Bại liệt, vươn lên vượt chính mình
Sơn Tùng “không phế” dẫu thương binh
Đam mê văn nghiệp, dồn tâm huyết
Tôn kính Bác Hồ, dốc nhiệt tình
Bốn biến đón chào Nguyễn Ái Quốc
Năm châu xuất bản “Búp sen xanh”
Anh hùng lao động thời kỳ mới
Sự nghiệp Sơn Tùng mãi sáng danh.
Cả 2 bài in trên Báo Người cao tuổi số 189 (234)
ngày 27/11/2018
PHẦN IV: THƠ TẶNG
MỪNG ĐÁM CƯỚI HAI CHÁU
MINH - CƯƠNG
Mượt mà cây lá mùa xuân
In nền trời biếc thanh vân sáng ngời
Núi sông cách trở xa xôi
Hài hoà ý nguyện đẹp lời lương duyên
Cùng là rể thảo dâu hiền
Ươm vườn hạnh phúc giữ nền gia phong
Ơn sâu phụ mẫu tạc lòng
Nghĩa ân thân thích vẹn nồng bền lâu
Giữ tình chung thuỷ bạc đầu.
Đặc sắc: lấy con chữ Tên – đặt đầu chữ đầu câu
Viết đọc ứng tác tại hôn lễ 12h- 21/giêng Kỷ Sửu – 2009.
TẶNG HAI CHÁU THẮNG – NGỌC
Thắm hoa tươi lá mùa xuân
Hài hoà ý nguyện vẹn phần thương yêu
Ăn ở hiếu thảo đủ điều
Ngoài êm, trong ấm, dưới chiều, trên tôn
Gần xa trong họ ngoài thôn
Nội thân, ngoại thích cho tròn chữ tâm
Gia phong gìn giữ chuyên cần
O, gì, chú, bác góp phần tu thân
Chữ rằng” tương kinh như tân”
Làm đọc tại đám cưới 4/3/kỷ Sửu.
Ghép phụ âm đầu, từ đầu câu .
THƠ TẶNG ÔNG CHƠN
(Nhân đọc tập thơ “về quê” của ông)
Thơ ông gắn bó với đời thường
Thấu hiểu tình người rõ sắc hương
Phong phú đề tài, nhiều ý tứ
Sâu xa tình nghĩa, một niềm thương.
8/6/2010
TẶNG NHÀ VĂN XUÂN CHUẨN
Nhân đọc tập truyện ngắn “ Dòng sông chảy xiết”
của anh (Em nhà thơ Xuân Sách – chồng cô
Quỳnh - cầu Zát)
“ Dòng sông chảy xiết” nỗi niềm anh
Sống động làng quê những bức tranh
Bệnh tật đói nghèo và “nổi loạn”
“ Hận thù”, “lầm lẫn” thảy tâm thành
Sáng bừng tình nghĩa mà tươi mới
Thấm đẫm nhân văn mãi mát lành
Để lại cho đời bầu nhiệt huyết
Cháu con vinh hạnh nói về anh.
26/5/2009
TẶNG ANH VŨ HUY THÔNG
(Nhân đọc tập thơ “Gặp phía hư không” anh tặng)
1. Đường luật:
“Gặp phía hư không” – một tấc thành
Sự đời trải nghiệm thấu nhân tình
Thanh tâm sao xuyến niền yêu mến
Minh trí xét soi sự tốt lành
Hình ảnh chắt chiu thành chọn lọc
Câu từ sống động dệt nên tranh
Nhân văn toả sáng qua hình thượng
Con cháu tự hào thơ của anh.
01/6/2010
2. Lục bát:
Đọc thơ anh Vũ Huy Thông
Gặp hay không “gặp phía hư không” giữa đời
Thanh tâm thấm đẫm từng lời
Toả bừng minh trí sáng ngời nhân văn.
* *
*
“ Đã yêu” “ bên mộ thi nhân”
“ Đêm đền Cát” “rượu hoàn lương” “hồn làng”
“Ngày xưa kín hở kỳ cùng”
“ Chỉ mong” “về với bến sông” “ tình đầu”
“ Về quê” “biển hát” “mới hay”
“Thơ nơi ấy” “về làng Tây” “chợ Dần”
“ Nơi không ngủ” “thơ vui xuân”
“ Lạ chưa” “ về với Hoàng Long” “ muộn mằn”
“ Chòm Pít” “chỉ một” “ tình em”
“ Chợ Sy” “ông xẩm” “ chợ Viềng tìm tôi”
Sau xa sống động đầy vơi
Chân tình đánh giá, không lời đề cao.
27-5-2010
Đặc sắc: Ghép tên các bài thơ trong tập thơ.
VŨ HUY THÔNG HOẠ BÀI
Đường luật
ĐỌC “CẢM TÁC” GIỮA TÂY ĐÔ
Đối diện trời xanh giữa cổ thành
Đọc lời “cảm tác” thật chân tình
Gặp anh thấp thoáng từng lời phú
Hình bóng thanh cao mọi sự lành
Chọn lọc câu từ thành đắt giá
Chắt chiu hình tượng vẽ nên tranh
Mấy lời cảm tạ người trong chữ(1)
Chúc “Đức”, “Trí”, “Nhân”...con cháu anh
(1) Đoc bài “ Cảm tác” chưa gặp tác giả.
QUÀ CƯỚI TẶNG HAI CHÁU SƠN – THUỶ
Sắt son tình nghĩa vợ chồng
Ơn trời phúc tổ mặn nồng trăm năm
Nghĩa cha tình mẹ ghi tâm
Thân thích nội ngoại thảo thơm ân cần
Hoà vui làng – phố xa gần
Uyên ương đôi lứa mãn phần chăm lo
Yêu nhau biết nhận biết cho
Rạng ngời hạnh phúc tiền đồ cháu con.
Tháng 4 – Tân Mão – 2011
Ghép các phụ âm đầu theo chiều dọc thành tên.
TẶNG TÁC GIẢ “ HỒN QUÊ”
1.Thể song thất lục bát:
Đọc thơ cụ Nguyễn Tuân phà Vạn
Chuyện “ Đường đời” “Tặng bạn” “Hồn quê”
“Khó quên “ “Vịnh cảnh Lăng Lê”
“Lên quốc tử giám” “Về quê” “Kén chông”
“Cảnh nhà” “Chùa Vĩnh Long” “Từ Thức”
“Lên tiên” “Chùa Biểu đức” “Mùa xuân”
“ Tiên học lễ, hậu học văn”
“ Hoạ thơ nữ sĩ Ngọc Cầm”, “Tham quan”
“ Than cảnh nghèo” “Tiếng đàn ái oán”
“ Hoài cổ thi” “Nhớ bạn tri âm”
“ Xuân tri kỷ” “ Tiết thu sang”
“ Nghĩa phu thê” “ Hỏi mua hàng” “ Thanh minh”
“Cảnh làng” “Đồn Ba Đình” “Phụ lão”
“Trồng cây” “ Hiếu phụ mẫu”...vân vân
Ngót trăm thi phẩm nên vần
Lắng lòng tác giả bội phần thiết tha.
21/01/2011
2. Thể thơ lục bát:
Đọc thơ của cụ Nguyễn Tuân
“Hồ Tây cảnh đẹp” “ Vui xuân hai ngàn”
“ Thành Tây Giai” “ Chùa Vĩnh Long”
“ Xuân tri kỷ” “ Cô lái đò ngang” “Kén chồng”
“ Cá vàng” “ Nữ hữu” “ Tam tòng”.
“Đồng tiền” “Kiến thiết ruộng đồng” “Về quê”
“ Khó quên” “ Vịnh cảnh Lăng Lê”
“ Hỏi mua hàng” “ Nghĩa phu thê” “ Cảnh nhà”
“Thiệu Nguyên lịch sự diễn ca”
“ Đông Đô cảnh đẹp” “ Cây đa Tân Trào”
“ Thuyền không lái” “Than cảnh nghèo”
“ Mừng nhà mới” “ Cảnh Kim – Kiều gặp nhau
“ Hiếu phụ mẫu” “ Chơi trăng thu”
“ Hồ Gươm đền Ngọc” “ Biển hồ Tây nguyên”
“ Thanh minh” “ Từ Thức lên tiên”
“ Tặng bạn” “ Âm thuỷ tư nguyên” “Cảnh làng”
“ Thơ chúc thọ” “Tiết thu sang”
“ Tham quan” “ Cô gái bán hàng đêm xuân”
“ Tiên học lễ, hậu học học văn”
“ Hoạ thơ nữ sỹ Ngọc Cầm” ...”Thiết tha”
Ngót trăm tác phẩm thi ca
Bắc Nam một dãi sơn hà kết liên
Núi rừng sông biển đôi miền(1)
Thu đông bảy chục(2) nỗi niềm “Hồn quê”
Càng đọc càng thấy say mê
Trí minh, tâm sáng thơ đề thiện chân
Đọc xong ghi lại mấy vần
Chỉ mong nói được đôi phần tập thơ.
(1) Thơ “đi” khắp đất nước: Trong Nam, ngoài Bắc
(2) Bao quát thời gian gần 70 năm: 1942-2010.
THƠ TẶNG ÔNG HẢI
ĐÁP LỜI:
Tôi về anh cũng sắp về
Tuổi đời anh ít, tuổi nghề hơn tôi
Ta cùng lấy NGHIỆP làm vui
Gian nan vất vả qua rồi cả hai
Chữ tâm cùng với chữ tài
Mục tiêu phấn đấu dùi mài thường xuyên.
Có khi gợn chút buồn phiền
Việc này, việc nọ - tất nhiên ở đời
Cuối cùng hoa quả tốt tươi
Cái gì mình có mình vui thường tình
Mấy lời tâm huyết đinh ninh.
15/11/2006
ĐỌC TẬP THƠ TIẾNG LÒNG
CỦA VŨ THANH HẢI – ĐỀ TẶNG
Ngót trăm bài thơ của anh
“ Tiếng lòng” xúc cảm chân tình sáng tươi
“Thơ” “núi non bộ nhà tôi”
“Tình thông gia” “chuyện trái tai” “vô đề”
“Chiếc cầu huyền thoại” “đam mê”
“Vào mùa” “chia tay mùa hè” “tương tư”
“Tản mạn” “văn minh chung cư”
“Ơn thầy cô” “kỷ iệm xưa” “luật đời”
“Uôn – cúp hai không trăm mười”
“Sống vui, sống khoẻ” “vọng lời bà ru”
“Xin chừa” “khoảng lặng chiều thu”
“Nhớ lời Di chúc Bác Hồ” “sắc xuân”
“Tiễn bạn” “tuổi trẻ hải quân”
“Hoài cảm” “mừng Đảng mừng xuân” “lòng thầy”
“Nắng hè hai không trăm mười”
“Tâm tình của sóng” “cuộc đời bố tôi”
“Chấm phá kí ức cuộc đời”
“Đỉnh đồi hóng gió mát” “lời dặn con”
“Mắt người yêu” “vịnh mâm cơm”
“Câu đối Tết” “câu đối xuân Canh Dần”
“Cười mượn” “nhớ văn chỉ làng”
“Đôi lời nhắn nhủ” “nắng vàng tuổi xanh”
“Đà Lạt hòn ngọc long lanh”
“Anh tôi” “đi bộ dưỡng sinh” “không đề”
“Lời của sóng”, “Ký ức nghề”
Kết tinh tâm trí say mê một đời
Chắt chiu sáng ý, đẹp lời
Góp thêm hương sắc cho ngời vườn thơ.
19/8/2021
Đặc sắc của bài thơ: Lấy tên các bài thơ trong tập thơ,
ghép vần thành bài thơ tặng.
ĐỌC “NHẬT KÝ NHỮNG TRANG THƠ”
Của Phạm Nguyên Tiên – Cảm tác
1. Một trăm linh sáu bài thơ:
“Xuân” “Sau” “Chào hội” “Phố xưa” “Buổi đầu”
“Hỏi quan” “Vận nước về đâu”
“Chuyện xưa nay” “Mối tình đầu” “Vấn vương”
“Vì con” “Câu cá” “Quê hương”
“Vinh quang nối tiếp vinh quang” “Xuân về”
“Tình quê của đất” “Thăm quê”
“Dăn cháu gái” “Yêu làm chi” “Mặc đời”
“Mười năm đổi mới” “Bác ơi”
“Kinh đô xưa” “Tết” “ hỏi trời” “Thu sang”
“Viếng anh” “Lỡ hẹn” “Ngắm trăng”
“Nhớ “Kỷ niệm ngày tòng quân” “Đổi đời”
“Thương em” “Thi cử” “Trách đời”
“Tự bao giờ” “Huế” “Bá ơi” “Đời mình”
“Thăm trường xưa” “Đừng giận anh”
“Nhớ em” “Thu đến” “Lam kinh” “Ngỏ lời”
“Cảnh thu” “Sông Mã quê tôi”
“Bến xưa” “Ngày ấy” “Nhắc ai” “Vô đề”
“Cầu Mỹ Thuận” “Con đi thi”
“Tình em” “Duyên muộn” “Giá như” “Sai lầm”
“Viếng Tây Đô” “Mối tình cảm”
“Cô láng giềng” “Cảm xúc xuân” “Hạ về”
“Cái mặt thật” “Tình trang thơ”
24.“Yêu” “Thương” “Ghét”...tiếc, ước mơ, căm thù
Có tầm tâm lớn lo âu
Tương lai đất nước cơ đồ non sông
Câu từ hình ảnh tươi trong
Chất thơ toả sáng tấm lòng người thơ.
Tháng 10-2011
Đọc câu 1 nối câu 24 vẫn đủ ý nghĩa.
CHÚC LUÂN - QUỲNH
(Nhân dự lễ cưới hai cháu)
Lứa đôi hoà hợp duyên trời
Uyên ương chấp cánh trọn đời thuỷ chung
Ấm êm một mái trùng phùng
Nắng mưa chia sẻ lạnh lùng có nhau
Quý yêu nồng đượm cao sâu
Ung dung tự tại trước sau vẹn toàn
Yến anh xun họp cháu con
Nội ngoại hiếu thảo sắt son nghĩa tình
Hạnh phúc hai chữ đinh ninh.
12/02/ Ất Mùi – 2015
ĐỌC “TÌNH THƠ” CỦA CHU MẠNH LẬP
(Cảm tác- Gửi tặng bút danh Thanh Tùng
Đ/C: Phú Mỹ - Phú Sơn – Ba Vì – Hà Nội)
“Thơ tình” “ Tâm sự cùng thơ”
“Tiếng lòng” “Nỗi nhớ” “Đôi bờ” “Thuỷ chung”
“Gió lào” “Đêm trăng” “Bâng khuâng”
“Buồn” “Thương” “Chia sẻ” “Xuân yêu” “gửi tình”
“Vắng sao” “Tự hỏi” “giật mình”
“Suối vòng” “Núi biếc” “Mưa nguồn” “Mưa ngâu”
“Về Thanh Sơn” “Tiếng đàn bầu”
“Cà phê thức “Sáng” “Trưa” “Chiều” “Hoàng hôn”
“Sang sông” “Dòng nước” “gió nồm”
“Tình cờ” “Tin nhắn” “Trang buồn” “Vu vơ”
“Qua làn sóng” “ Chiều tâm tư”
“Kiếp sau” “Chim lạc” “Bao giờ” “Duyên thơ”.
“Hỏi chị Hằng” “Tình trong mơ”
“Tình yêu yên lặng” “Vương tơ” “kiếp này”
“Tiếng ru xa” “Giấc mơ bay”
“Hương đời muôn thuở” “Nhớ ai” “Đèo bòng”
“Bạn thơ” “Lắng lại” “Đêm đông”
“Ru em” “Thơ rượu” “Lửa lòng” “Tháng ba”
“Yêu” “Xuân” “Một chút tình thơ”
“Gió đông” “Mây gió” “Gió mùa” “Cầu mong”
“Xuân đa chiều” “Nghiêng” “Long đong”
“Bên kia sông Bứa” “Mênh mông” “Giao mùa”
“Vào đền” “Chờ đợi” “Vào chùa”
“Mà sao” “Trách” “Nhớ bạn thơ” “Độc huyền”
“Nhớ người trong mộng” “Trời nghiêng”
“Tình thơ trong mộng” “Cô đơn” “Thác ngà”.
Hơn trăm thi phẩm say mê
Câu từ hình tượng hướng về chữ TÂM
Sáng chữ TRÍ cao chữ TẦM
“TÌNH THƠ” để lại tri âm nỗi niềm
“Từ trái tim đến trái tim”.
23-11 Giáp Ngọ - 13/01/2015
TẶNG HAI CHÁU TOÀN – CHI
Nhân ngày cưới
Thuỷ chung đôi lứa duyên trời
Oanh tuỳ yến xướng trọn đời yêu thương
An khang phúc lộc thọ trường
Nghĩa ân nội ngoại đôi đường vẹn đôi
Cháu con hiển đạt với đời
Hoa thơm quả ngọt rạng ngời tổ tiên
In sâu tâm khảm lời nguyền
Toàn chí phấn đấu chí bền tâm kiên.
10/chạp Ất Mùi
ĐỌC TRƯỜNG CA ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH
Của anh Ngô Xuân Tiếu – ĐỀ TẶNG
Viết về một con đường huyền thoại
Về ngày qua để lại ngày mai
Chữ tâm cùng sánh chữ tài
Câu từ hình tượng sáng tươi mặn mà
Còn thiếu sót chẳng qua khó tránh
Cơ bản là điểm mạnh toát ra
Từ trong gai góc nở hoa
Góp thêm một bản trường ca cho đời.
Tháng 7/2011
ĐỌC CHÙM THƠ CỦA THẦY TRUY
GHI CẢM NHẬN
Chùm thơ “Chuyện vặt” của thầy
Ghi lại kỷ niệm những ngày học sinh
Sâu xa thấm thía nghĩa tình
Khó khăn gian khổ vượt mình tiến lên
Là những bài học đầu tiên
Vào đời chững chạc trên nền chữ TÂM.
01/4/2011
PHẦN V: SÁNG TÁC THÔNG THƯỜNG
TÂM SỰ TUỔI GIÀ
( Đọc bài viết của Chu Dung Cơ – cảm tác)
Để phút lâm chung “chấm hết tròn”(1)
Phải lo từ cái sự con con
Việc làm, ăn uống cho chừng mực
Ứng xử, nói năng Gắng vẹn toàn
Chấp nhận khó khăn cùng thuận lợi
Thích nghị bùi ngọt với tân toan
Khơi trong lắng đục tôn “tri túc”
Hy vọng lâm chung đạt “chấm tròn”
Xuân Nhâm Thìn
(1) Chu Dung Cơ – Thủ tướng Trung quốc kết luận:
Sinh lão bệnh tử là quy luật ở đời, không chống lại
được. Khi thần chết gọi thì thanh thản mà đi. Cốt sao
sống ngay thẳng không hổ thẹn với lương tâm và cuối
cùng ĐẤT cho mình dấu chấm hết thật TRÒN.
CÓ MỘT CHUYỆN BUỒN
Ông kể cổ tích cháu nghe
Ông cháu thủ thỉ say mê ngày ngày
Mẹ cháu chua chát tỏ bày
Ông làm khổ cháu - sự này cơ nguy
Ông buồn không nói được gì.
LẤY CHỒNG NGOẠI
“Cái gái đời nay gái mới ngoan” (Nguyễn Khuyến)
Vun đầy chữ HIẾU báo song thân
Đài Loan, Hàn Quốc không chùn gối
Trung Quốc, Ma Lai chẳng rụt chân
“Phục vụ” cha con đành chấp nhận
“Dùng chung” huynh đệ phải ân cần
Chiều dày lịch sở chưa từng có
So với Kièu nhi gấp vạn lần.
17-4-2011
Luật bằng: GHI CÔNG ĐỨC
Tổ tiên chứng giám tấm lòng thành
Cống hiến vô tư: Hồ Hữu Hành
Xây mới nhà thờ bền vững đẹp(1)
Trùng tu phần mộ sáng anh linh(2)+
Đầu tư đường sá mong thông thoáng(3)
Khuyến học con em ước hiển vinh(4)
Công đức đương thời gương sáng toả
Truyền đời dòng họ mãi lưu danh.
27-01 Tân Mùi
(1) Xây nhà thờ họ 2007 (toàn bộ).
(2) Tôn tạo 9 ngôi mộ 2009 (toàn bộ).
(3) Góp tiền làm đường 2011 (50%).
(4) Lập quỹ khuyến học cá nhân từ 2011
Cháu đậu ĐH 500.000đ, CĐ: 300.000đ
Cho đến khi học xong. HS giỏi: 100.000đ.
Luật trắc: GHI CÔNG ĐỨC
Công đức đời mười một: Hữu Hành
Tổ tiên chứng giám tấm lòng thành
Nhà thờ xây dựng to bền đẹp
Phần mộ tân trang sáng hiển linh
Đóng góp cho đường đi thoáng đạt
Khuyến tài mong lớp trẻ thành danh
Truyền đời ghi nhớ noi gương sáng
Dòng họ lưu tên cháu Hữu Hành.
Xuân 2011
BẾ TẮC
Các cháu hay so đo
Ông gấp đôi tờ giấy
Cắt hình chiếc ô tô
Cho mỗi đứa một chiếc.
* *
*
Anh bảo “xe em to”
Em nói “ xe em nhỏ”
Ông xử hoà trao đổi
Thế mà chúng vẫn nói
“Xe của cháu nhỏ hơn”.
15/10/2011
Đài tiếng nói Việt Nam giới thiệu tập thơ
làm bằng chữ Hán của cụ Cao Huy Dĩnh:
Đứng vai các nhân vật theo các sự kiện,
ví dụ: Câu nói về Kiều làm thơ: Câu 100:
“Vạch ra cây vịnh bốn câu ba vần”.
Cụ Cao Huy Dĩnh trong vai Kiều làm bài thơ đó.
Hay câu nói về Sở Khanh làm thơ: Cách tường
nghe có tiếng đâu hoạ vần”. Cụ Dĩnh trong vai
họ Sở làm thơ ( 22 bài). Cảm phục làm bài giao lưu:
TẶNG BÁC CAO HUY DĨNH
Xưa nay ngưỡng mộ trước trang “Kiều”
Tập, lẫy, ngâm, ru...kể đã nhiều
Nay thử làm thơ theo tiết mục (sự việc)
Đã thành thi phẩm sáng niềm yêu
Vô tiền khoáng hậu duy mình bác
Minh trí thanh tâm hội tụ siêu
Tôn kính cháu không ghi hết nỗi
Chúc mừng bác thọ với trang “Kiều”.
Bác Cao Huy Dĩnh tiếp nhận, giao lưu
Kết bạn vong niên. Bác là hậu duệ đời
thứ 6 của cụ Cao Bá Quát. Bác Dĩnh hoạ lại:
MỪNG THÊM TRI KỶ
Kho báu Việt Nam có truyện “Kiều”
Khắp nơi ngâm ngợi cảm thông nhiều
Xứ Thanh Duy Diến thư bày tỏ
Tôn quát Thái Nguyên rất đáng yâu
Máy chục bài thơ bằng chữ Hán
Bao người ca tụng tác gia siêu
Cám ơn tình cảm tân thi hữu
Xin kết kim lan xướng họ “Kiều”.
14/7/2010
Tôn Quat – Cao Huy Dĩnh
Chùa Hang – Đồng Hỷ - Thái Nguyên
ĐỀ ẢNH CỤ CAO HUY DĨNH
Ngắm hình cụ lão thành cách mạng
Tóc pha sương vầng trán thông minh
Mắt hiền đăm đắm đượm tình
Đôi tai trường thọ an bình nội tâm
Thẳng sống mũi vuông cằm rộng miệng
Hẳn nói lời vang tiếng ngân chuông
Ngực hồng lấp lánh huân chương
Như một vị tướng – đời thường tôn vinh.
28-10-2010
CẢM TƯỞNG ĐỌC
THƠ BÁC CAO HUY DĨNH
Đọc thơ “Tâm sự đầu xuân”
“Nàng Tô Thị” “Hữu nghị quan” “Thuý Kiều”
“Chan hoà tình cảm” “ xuân giao”
“Ông Đênh” “Đọc hoạ bạch đầu” “Xuân” “Vui”
“ Chào ngày mồng một tháng mười”
“Ca trù đôi khổ” “Làng tôi” “Bác Hồ”
“Kiều lấy chồng” “Khóc Nguyễn Du”
“Ngán anh chàng Thúc” “Hoạn Thư” một ngày.
Trăm bài càng đọc càng say
Bởi tâm – tài bác phô bày dịu êm
Hình ảnh sinh động tự nhiên
Câu từ chọn lọc dệt nên thơ – đời
Chân thành nhận xét mấy lời
Niệm tâm: Gương bác sáng ngời cháu noi.
7-10-2010
Nghe Đài tiếng nói Việt Nam giới thiệu bác Cao Huy Dĩnh
trực tiếp đọc bài thơ “Bà đi tôi ở lại” nhân xuân Nhâm Thìn,
gửu tặng bác bài “Cung chúc”vừa chúc Tết vừa chia sẻ
động viên (Hoạ bài “Cung chúc” của ông Nguyễn Văn Hội
trang 19.
CUNG CHÚC TÂN XUÂN
AN KHANG THỊNH VƯỢNG
Cung kính: Bài “bà đi tôi ở lại”
Chúc lời gan ruột cháy thăng hoa
Tân niên con cháu vui vầy lại
Xuân nhật, hiền thê nhớ thiết tha
An tâm tin tưởng đàn con trẻ
Khang kiện hoà vui các bạn già
Thịnh vận lo gì chim mỏi cánh
Vượng thời thơ bác vân vang xa.
6-01-2012
ĐẤT THÀNH NHÂN
Đất này cát vượng tụ thành nhân
Tiền bối sinh cơ thịnh bội phần
Con cháu đi ra đều hiển quý
Ông bà ở lại thảy trường xuân
Nông thôn tiến bộ, nhờ liêm chính
Làng xóm giàu sang, bởi kiệm cần
Đổi mới đi lên cùng đất nước
Gốc là đồng thuận Đảng và dân.
20-8 Quý Tỵ
24/9/2013- ngày động thổ làm cổng làng
Thành Nhân. Tặng làng Thành Nhân – đã in
Trong tập thơ “Vĩnh Lộc tình yêu và nỗi nhớ”.
LÀNG LÊ SƠN
Lê Sơn tên núi đẹp tên làng
Trải mấy thăng trầm thật vẻ vang
Lê tốt tươi cây phù vật thịnh
Sơn bền vững núi trợ nhân khang
Ông bà ở lại đều vui vẻ
Con cháu đi ra thảy giỏi giang
Nhịp bước đi lên cùng đất nước
Nông thôn đổi mới thật giàu sang.
21-3 Quý Tỵ (30-4-2013)
Ngày khánh thành cổng làng Lê Sơn.
Cổng làng đấp đôi câu đối ông Diến tặng:
“ Lê thơm muôn hoa, nhờ phúc tổ tiên
xây nền tảng
Sơn thắm ngàn lộc, có công con cháu
dựng tương lai
Ngưỡng mộ trước đền nàng Bình Khương
Bình Khương tiếp nối Mạnh Khương
Xây thành đắp luỹ đoạn trường giống mhau
Than rằng “đất thấp trời cao”
Hằn sâu dấu đá nỗi đau muôn đời.
21-6-2017
SUỐI CÁ THẦN CẨM LƯƠNG
Du lịch tham quan suối cá thần
Thiên nhiên kỳ vĩ giữa dương trần
Nước trong cá tụ quây tròn chậu
Bóng rợp cây cao tiếp bạch vân
Đền Ngọc tôn nghiêm thờ rắn trắng
Văn bia trang trọng kính Long ân
Môi trường xanh sạch bền sinh thái
Đệ nhất linh thiêng quý bội phần.
22-8-2010
HANG TRƯỜNG SINH CẨM LƯƠNG
Trường Sinh hang động thật cheo leo
Hứng thú cho nên phải gắng trèo
Thạch nhủ phô mây mưa khéo tạc
Rễ cây bám đá gió tài treo
Âm dương hoà hợp cùng thư thái
Trời đất linh thiêng đáng tự hào
Lên động một lần cho thoả nguyện
Ra về xúc cảm mãi dâng trào.
21-9-2010
Cả 2 bài đã đưa vào Wegsite huyện Cẩm Thuỷ.
THIỀN VIỆN TRÚC LÂM HÀM RỒNG
Trúc Lâm thiền viện giữa dương trần
Phật tử hướng về Mỹ Thiện Chân
Già trẻ dâng hương tròn ý nguyện
Gái trai vãn cảnh thoả tinh thần
Nghe kinh một dạ tu tâm đức
Niệm phật mười phương luyện trí nhân
Đẹp đạo tốt đời là chính quả
Xanh tươi cuộc sống tiếng chuông ngân.
Kỷ yếu “Thiền viện...” Tháng 7-2010
In trong tuyển tập “Tiếng vọng mai sau”
và “Thơ hay ba miền” tập 3.
HOÀ ĐỒNG NHỊP QUỐC CA
Lãnh thổ bao đời đất nước ta
Cực đông Tổ quốc đảo Trường Sa
Cao dày lịch sử ngời chân lý
Nhất thống giang sơn đẹp gấm hoa
“ Tấc đất tiền nhân không để mất”(1)
Tuổi xanh hậu thế quyết xông pha
Hồn thiêng sông núi ngăn xâm lược
Cả nước hoà đồng nhịp Quốc ca.
13/7/2014
(1) Đọc trực tiếp trên đài tiếng nói Việt Nam chương
trình “Viết tiếp bài ca người lính” 14h30 phút
ngày 30-8-2016.
ÔNG ĐI THÀNH PHỐ
Ông đi thành phố với con
Tiện nghị hiện đại hỏi còn gì hơn
Mấy ai thấu tỏ nguồn cơn
Rằng ông bị nhốt cô đơn nặng nề
Đến thăm bạn đứng ngoài hè
Chuyện trò, tai, miệng sát khe cửa dày
Ra về khoé mắt cay cay.
2012
CÂY NA CHẾT KHÔ
Vườn ông trồng mấy cây na
Cháu ăn quả ngọt na già chết khô
Tưởng đem làm củi hoá tro
Ai ngờ mộc nhĩ mọc cho mấy tầng.
2012
LỤC BÁT
Lục bát là lục bát ơi
Gieo vần lục bát dễ chơi thôi mà
Nhưng làm sao để thành thơ
Cả đời phấn đấu, ước mơ khó thành.
VẦN THƠ LẺ
1. Chuẩn bị ngày cưới con trai
Ông rằng: Ghi chép không được thiếu
Những ai đưa phong bì
Bà liền tiếng bấc tiếng chì
Đứa nào không đến thì ghi cho bà.
2011
2. Chưa lên tỉnh lấy một ngày
Hương đồng gió nội đã bay sạch rồi.
Trong bài “ “Thư gửi cả Chiêm” nhà báo
Trung Tuyến đọc trong chương trình
“Bạn hãy nói với chúng tôi” hệ VTV2
Đài tiếng nói Việt Nam 22h30 phút ngày 13-02-2009.
3. “ MẮT” TRỜI – Ý ĐẢNG – LÒNG DÂN
Ông trời ngàn đời có mắt
Lưới trời lồng lộng chụp bắt tham ô
Quan tham dù nhỏ dù to
Lòng dân ý Đảng quyết cho vào tù.
Phỏng thơ lục bát vần trắc “Tò vò mà nuôi con nhện”
THƠM DANH
(Nhớ ơn liệt sỹ Phạm Văn Hinh)
Thơm danh muôn thuở Phạm Văn Hinh
Tình huống nguy nan giữa tử sinh
Cách mạng cần an toàn lực lượng
Non sông ắt tiến tới hoà bình
Yêu cầu đồng chí cho siêu thoát
Lại khiến quân thù phải thất kinh
Hẳn cụ ngậm cười nơi chín suối
Dân nay hạnh phúc. Nước phồn vinh.
6-9-2013
In trong tập “Vĩnh Lộc tình yêu và nỗi nhớ”
Giải nhì cuộc thi thơ “Chào mừng 60 năm
thành lập chi bộ đầu tiên ở Vĩnh Lộc.
NHỚ ANH HỒ ĐỨC VIỆT
Thanh thản anh đi? Nhớ tiếc nhiều
Bâng khuâng hồi tưởng lễ cầu siêu
Quỳnh Lưu – Cầu Giát thời oanh liệt
Vĩnh Lộc – Tây Đô phút tự hào
Công tác anh đi vùng Đắc Lắc
Tâm linh lòng hướng chốn Nam giao
Trẻ già tuổi thọ do trời định
Quan trọng là ta sống thế nào.
2-9-2013
In trong “Bản tin họ Hồ Việt Nam”
số 37 trang 31.
GỬI QUẢNG BÌNH
(Theo gợi ý của Nguyễn Xuân Huế)
Đát lửa hiên ngang – Đất Quãng Bình
Tuyến đầu chấp nhận mọi hy sinh
Đạn bom – địch hoạ - ngời trung dũng
Hạn lụt – thiên tai – sáng nghĩa tình
Nhật Lệ sóng xô tan đói khổ
Đại Phong gió lộng đón phồn vinh
Đi lên hoà nhập cùng non nước
Truyền thống nêu cao mãi Quãng Bình.
Tháng 10-2013
NGHỈ VỀ VỤ XỬ VI – NA – LAI
Nghĩ về vụ xử Vi – na – lai
Xúc cảm giao hoà kỳ lạ thay
Căm lũ gian tham đua đục khoét
Thương người vô học cứ làm sai
Xót dân lương thiện lo chùng gối(1)
Mừng Đảng công minh trị thẳng tay
Hy vọng mau xua tan quốc nạn
Dân an nước thịnh đón tương lai.
Ngày tuyên án vụ Vi na lai 16-12-2013
(1) Người dân gánh nợ còng lưng
chùng gối vì quá nặng.
QUA SỞ GIÁO DỤC
Về hưu mới sáu bảy năm
Hôm nay có dịp ghé thăm sở nhà
Lên hè đưa mắt nhìn qua
Ra vào tấp nập toàn là ...không quen
Cầu thang mấy nhịp bước lên
Rảo chân sục sạo tìm thêm mấy phòng
Được nghe các cháu chào ông
Người quen quả thật là không ai còn.
9-4-2013
BUỒN VUI
(Về vụ xử án tham nhũng)
Buồn vui quy luật giữa dòng đời
Xét xử phân minh thoả dạ người
Buồn bởi quan tham đâu cũng có
Vui vì nghiêm trị khắp nơi nơi
Chỉ e phạm tội mà che lấp
Không sợ phanh phui mặt xấu phơi
Cắt bỏ khối u rồi khoẻ mạnh
Yên vui xã hội đẹp xây đời.
Tháng 4-2013
ĐẤT NƯỚC MÌNH
Cô giáo hỏi:
“ Đất nước mình ngộ quá phải không anh”?
Có người đáp:
“ Đất nước mình không ngộ đâu em”!
Cả hai bạn đều tỏ lòng yêu nước
Nhưng phiến diện - ở hai đầu thái cực
Người chỉ thấy màu đen - bế tắc
Người lại lạc quan tất cả...màu hồng
Hãy khách quan nhìn lịch sở cha ông
Có Ích Tắc và Lê Chiêu Thống
Nhưng kỳ vĩ bao trùm lên là Hưng Đạo, Quang Trung
Đứng trước biển có bình minh yên ả
Cũng có khi sóng dậy bão bùng
Sự vật là tổng hoà tốt xấu
Vấn đề là xu thế về đâu
Trước đền Hùng Vương ta rất đỗi tự hào
Ngắm “Cao Sơn cảnh hành” bốn chữ
(Thế hùng dũng đường đi rộng mở)
Dân tộc đi lên ngàn vạn thuở
Có thăng trầm lúc thịnh lúc suy
Trước “hôm nay” ta nghĩ và làm gì?
Xin hãy làm chị lao công quét rác
Xanh sạch môi trường đẹp lối ta đi.
21-6-2016
In trong tập “Thi đàn Việt Nam tiếng thơ vọng mãi”.
Vĩnh Lộc
Vĩnh Lộc vững thành nhà Hồ
Đẹp núi tiến sỹ thiêng chùa Tường Vân
Tôn nghiêm đền Trần Khát Chân
Chùa Giò thắng cảnh động Hồ Công “thanh kỳ”
Mã giang bờ bãi xanh rì
Sơn Phòng, nghè Vẹt, tiếp về Tiên Sơn
Một vùng tươi đẹp nước non
Văn hoá lịch sử- vàng son bao đời
“Ai về nhớ táo Phương Giai
Nhớ ổi Đa Bút nhớ khoai làng Bồng”
Ai về ai có biết không
Ai đi chín nhớ mười mong ngày về.
In trong “ Vĩnh Lộc tình yêu và nỗi nhớ”.
KỶ NIỆM 30 NĂM THÀNH LẬP
TRƯỜNG THPT TỐNG DUY TÂN
Trường mang tên Tống Duy Tân
Là niềm vinh hạnh muôn phần em ơi
Chung tay vun đắp vườn đời
“ Có tiền khó chuộc” sáng ngời sử xanh.
12-11-2013
Hoa nở đúng mùa
Nhớ thời huyện Uỷ, uỷ ban
Trụ sở không có việc làm nhà dân
Hà Lương, Cổ Đệp, Bái Xuân
Chở che giúp đỡ tình thân đậm đà
Khó khăn gian khổ vượt qua
Quân, dân, chính đảng xông pha đồng lòng
Núi Chè bừng dậy ngói hồng
Khu nhà cấp bốn một vùng khang trang
Từ đây cơ sở đàng hoàng
Lòng dân ý Đảng rộn ràng hoà ca
Đi lên hợp sức thuận đà
Nông thôn đổi mới nhà nhà ấm no
Cầu cứng thay thế bến đò
Trạm xá, trường học đẹp to vững vàng
Nhà tầng san sát phố - làng
Đường bê tông hoá nẻo gần nẻo xa.
Trụ sở Huyện Uỷ nguy nga
Trên bối cảnh ấy: Nở hoa đúng mùa.
Khởi thảo ngày khánh thành trụ sở Huyện Uỷ
ngày 18-11-2003. Hoàn thành ngày 02-9-2013
In trong tập thơ “ Vĩnh Lộc tình yêu và nỗi nhớ”.
VỀ THĂM LÀNG CŨ
(Hồn quê)
Về thăm làng cũ đượm sầu
Cây đa giếng nước còn đâu mà tìm
Bồi hồi nhói loạn nhịp tim
Ngước lên trời rộng: Cánh chim dật dờ
Điếm canh đâu? Lại ngẫn ngơ
Bạn chơi trận giả bây giờ ở đâu?
Mọc lên san sát lầu cao
Lanh lùng cổng sắt lối vào nhà ai?
Trãi bao ngày rộng tháng dài
Thời gian vật đổi sao dời – bề dâu
Quê hương tươi đẹp mạnh giàu
Mà sao trĩu nặng mối sầu trong ta
Mái đình giếng nước cây đa
Mãi trong ký ức đậm đà hồn quê.
In trong “ Đất nước tình yêu” và “Thi đàn Việt Nam –
tiếng thơ vọng mãi” . Tiếp in trong tạp chí
‘ Văn chương Việt Nam”.
THĂM BẠN ỐM
( Bạn Trần Đình Lan – Phong Hậu – Quỳnh Mỹ)
Tuổi trẻ cùng vui một mái trường
Lớn lên mỗi đứa một con đường
Bạn vào bộ đội, ra tiền tuyền
Tôi nhập trường Vinh, ở hậu phương
Tốt nghiệp, trồng người, tôi phấn đấu
Ra quân, trở lại, bạn mang thương
Bùi ngùi thăm bạn: Trên giường bệnh
Bạn vẫn cười tươi – đẹp vĩnh trường.
2010
In trong “ Tuyển tập thơ Đường xứ Thanh”
CỔ TÍCH
Cổ tích ngàn năm vẫn đậm đà
Kho tàng vô giá của ông cha
Ân cần cha kể - ươm mầm biếc
Hứng thú con nghe – hẹn thắm hoa
Hiện đại toàn cầu tin nối mạng
Cổ truyền dân tộc nhạc dân ca
Thị trường cơ chế cùng hoà nhập
Bản sắc tinh hoa vẫn mặm mà.
2010
Cả 2 bài in ở “ Tuyển tập thơ Đường
xứ Thanh- tập 2”.
CHIẾU DỜI ĐÔ – CẢM TÁC
Noi theo gương sáng tự Thương Chu
Thái Tổ anh minh định đế đô
Hổ phục – rồng chầu – nên thắng địa
Dân Yên nước thịnh đặng thiên thu
Thuận lòng dân, cháu con hưng phúc
Kính mệnh trời, tiên tổ phụng thờ
Gốc ở từ bi và quyết đoán
Ngàn năm bất hủ “chiếu dời đô”.
19-5-2017
In trong “ Thơ Đường xứ Thanh – tập 2”.
QUA CẦU HÀM RỒNG NHỚ TẢN ĐÀ
Yêu say thơ cụ Tản Đà
Trải sương theo gió mặn mà đến nay
Đã từng say tỉnh – tỉnh say
Đã từng muôn đắng ngàn cay một thời
Đem văn lên bán chợ trời
Chợ trời nay ở giữa đời đâu xa
Qua Hàm Rồng – nhớ Tản Đà.
In trong “ Lời ru non sông” và “ Đất nước tình yêu”
“Thơ Việt Nam đương đại”.
THỊ TRẤN VĨNH LỘC
Phần tư thế kỷ đã đi qua
Ghi nhận con đường thị trấn ta
Thành đạt vẻ vang – thế hệ trẻ
An vui khang kiện – lớp người già
Kế thừa nền tảng, tươi đời sống
Mở lối tương lai, đẹp khúc ca
Hoà nhịp đi lên cùng đất nước
“ Thông minh đô thị” hẹn thơm hoa.
19-5-2017
Cảm xúc ứng tác tại hội trường nhân ngày
kỷ niệm 25 năm thành lập thị trấn.
CẦU KIỂU
Cây cầu bao thế hệ hằng mong
Lừng lững cao dài vượt bến sông
Mấy bận lỡ đò hằng ngóng đợi
Bao phen cách trở bấy chờ chờ trông
Long dân mơ ước nay toàn nguyện
Ý Đảng thăng hoa mãi vẹn nồng
Bến cũ còn đây phà vắng bóng
Chia tay nỗi nhớ dậy xao lòng.
In trong “ Vĩnh Lộc tình yêu và nỗi nhớ”
và tuyển tập “Thơ Đường xứ Thanh – tập 1”.
THỜI GIAN I
Từng nghe: Vật đổi lại dời sao
Quả thực, thời gian có phép màu
Núi đá - ngàn đời bay biến mất
Ao hồ - vạn thuở mọc lầu cao
Bến đò, cầu cứng vươn sừng sững
Ruộng lúa, sân gôn nhảy thượng vào
Có dỡ, có hay – ngoài ý muốn
Chi bằng cảm nhận lấy vài câu
THỜI GIAN II
Ta từng khôn lớn giữa khoai ngô
Tôi bước chân đi khắp hải hồ
Tóc bạc da mồi quay trở lại
Má hông môi thắm của em mô
Chân vờn bóng bưởi từng xông xáo
Tay vịn can(1) tre bước dậm dò
Khắc nghiệt thời gian ai có thấu
Bồi hồi nhớ lại thuở khoai ngô
(1)Can: gậy.
LÊN BÁ THƯỚC
Đường lên Bá Thước lao đao
Lội ngần Điền Lư(1) leo dốc bàn Nhào(2) tướt bơ
Đường vào Thục thấy trong thơ
Mà đường Bá Thước bây giờ là đây
Ai đem ta đến chốn này
Để cho ghẻ lở mọc đầy thân ta
Hắc lào – cù đinh – tiêm la
Sốt rét ác tỉnh rồi ra quên đời.
TRỞ LẠI BÁ THƯỚC
Đâu rồi dốc Nứa ngày xưa
Dốc Cao hết thở, bây giờ thấp hơn
Điền Lư ngầm đá rêu trơn
Gập ghềnh nước cuốn lắm cơn kinh hoàng
Nay cầu cứng vượt sang ngang
Vi vu xe lướt ta sang Bàn Đào
Quanh co khúc khuỷu lên cao
Cành Nàng sắp tới – nôn nao nỗi niềm
Bồi hồi nghe loạn nhịp tim
Những ngày khoai sắn hiện lên dập dồn.
* * *
Tranh tre nứa lá không còn
Toà ngang dãy dọc ngói son tường vàng
Trong ngoài sau trước khang trang
Khu trường mới dựng ngỡ ngàng như mơ
Trãi bao tháng đợi năm chờ
Bốn mươi năm ấy bây giờ là đây
Bốn mươi năm sáng gương thầy
Trò bao nhiêu lớp dựng xây nước nhà.
Mãi còn ngọt trái thơm hoa
Mãi còn vang rộn khúc ca cuộc đời.
Kỷ niệm 40 năm thành lập trường cấp 3
Bá Thước 1966-2006. Tháng 11-2006
In trong “Chung một mái trường và trong “ Thơ Bá Thước”
LỜI THẦY
Lời thầy lấy trong dân gian
Mà nghe thấm đượm tâm can cả đời
Hôm tiễn em lên đường nhập ngũ
Thầy năm chặt tay nói lời:
“Chúc em chân cứng đá mềm”
Ôi đá mềm chân cứng
Đã giúp em đứng vững
Trước sóng gió cuộc đời
Hơn ba mươi năm thấm thía một lời
Em trở lại là một người thành đạt
Thầy đã về hưu sống thanh thản đàng hoàng
Chia tay thầy vẫn nhỏ nhẹ dịu dàng
“ Người được lớn nhất là người biết điểm dừng”(1)
Em tạc vào lòng lời thầy dặn
Như vở mới sang trang.
(1) Dịch câu “ Nhân sinh nhất đắc trí túc hỷ”.
“TỪ ẤY” ĐI LÊN
(Kính tặng nhà thơ Tố Hữu)
“Từ ấy” ra đi rực ánh đèn
Trải bao thế hệ nức lời khen
Tuổi xanh yêu nồng nàn chân lý
Ánh sáng bừng lên giữa bóng đen.
Với Đảng đi lên không phút mỏi
Tuổi cao lý tưởng vẫn say men
Luyện rèn giúp bao tâm hồn trẻ
Mở lối giùm ai sống thấp hèn
Một lá cờ đầu cao phất mãi
Trùng trùng đội ngũ sát vai chen
Mạnh chèo vững lái kiên tâm tiến
Mỗi khúc ca xuân dậy hiệu kèn.
Tháng 1 – 1981
Hoạ bài: “ĐÊM CUỐI NĂM” CỦA TỐ HỮU
Đêm cuối năm riêng một ngọn đèn
Dở hay khôn dại những chê khen
Làm ăn hai chữ quen mà lạ
Thế cuộc nhân tình rõ trắng đen
Gỡ lối bao xưa người mọc cánh
Được mùa khoán mới đất lên men
Tự cường mới biết ai gan góc
Luồn lọt hay chi phận yếu hèn
Cách mạng mừng thêm vai gánh vác
Hư danh chừng bớt kẻ đua chen
Dòng đời cứ chảy tan bèo bọt
Thế trận lòng dân nổi hiệu kèn
Thang 01 -1981
VẤN NẠN GIAO THÔNG
Ngày ngày nghe vấn nạn giao thông
Căm giận thương đau đến quặn lòng
Giận kẽ say bia nhào nhác húc
Căm người khinh luật cuồng cuồng tông
Phóng nhanh vượt ẩu bao giờ dứt
Tang tóc đau thương cứ chất chồng
Hơn cả chiến tranh người thiệt mạng
Chung quy ý thức đúng hay không
16-6-2010
NÓI VỚI CON CHÁU
Chuyện cải cách hơn năm thập kỷ
Đến bây giờ ngẫm nghĩ còn đau
Nước mắt hoà với máu đào
Oan khiên thấu tận trời cao chín tầng.
* *
*
Đang yên ổn làm ăn thịnh vượng
Có ngờ đâu đại vướng tai ương
Rạng ngày vừa mới tinh sương
Ở đâu ập đến một phường giáo gươm
Cả gậy gộc súng trường thừng chão
Xông vào nhà sục sạo vét vơ
Chổi cùn dẻ rách không chừa
Nói chi giường tủ, trâu bò, nồi mâm
Xong mọi việc đóng sầm cánh cửa
Dán niêm phong “nhà của nông dân”
Dành cho nhà bếp một gian
Cả nhà chen chúc gian nan từ rày
Ông bị trói giật tay cánh khỉ
Họ giải đi mác dí bên hông
Cháu con lăn lóc quặn lòng
Từ nay ông sẽ vào vòng lao lung
Trước tiên họ điên khùng tra tấn
Đánh tơi bời máu bắn tường vôi
Xà nhà treo ngược chơi vơi
Tẩm dầu, châm lửa tả tơi thân già
Tiếng dãy giụa thét la rùng rợn
Họ ra đòn càng tợn càng hăng
Nổi danh tàn ác mấy thằng
Cháu con “khát nước” lăng băng – ra gì
Đó những món nợ ghi không trả
Trời công bằng đã rõ đến nay
Ông Vinh không chịu đắng cay
Tìm lên sông Thái cầu Tây trẫm mình
Ông Côn cũng quên sinh thắt cổ
Còn bao người sống có như không
Tử hình án quyết cho ông
Cả nhà choáng váng vân mồng ra sao
Bỗng quyết định trên cao ban xuống
Ông được xem xét xuống chung thân
Từ đây bố mẹ gian nan
Gánh thuê, hái củi, đốt than, đẽo cày...
Nghề hom nứa tháng ngày vất vả
Chặt cán thêu tất tả biển – rừng.
* *
*
Đang đêm trời bỗng sáng bừng
Sửa sai, ông được về cùng cháu con
Song sản nghiệp chẳng còn chi cả
Hai năm tù ông ngã bệnh luôn
Về nhà chỉ được mấy hôm
Ông mất- khi ấy tuổi tròn năm lăm
Nay nghĩ lại còn căm còn uất
Bấm chí cùng trời đất vươn lên
Nhà cao đứng vững nhờ nền
Toàn gia vinh hiển thảo hiền có căn
Nay đổi mới làm ăn tấn tới
Nhắc cháu con chớ vội lãng quên
Hãy nuôi chí lớn tâm bền
Đức dày trí sáng vươn lên với đời.
9-12-2008
Bài dịch: NGHÊNH TÂN MÃO XUÂN
1. ĐÓN XUÂN TÂN MÃO
Biết rằng xuân “khứ” lại xuân “lai”
Trãi vậy năm nay vẫn thế hoài
Việc đời chìm nổi xe lăn bánh
Sướng khổ đời người ngắn lại dài
Muốn được cao ngang tầm ngọn quế
Mong sao với tới tận cành mai
Người đời bình phấm dù hay dở
Riêng ta thành kính một lòng khai.
Cụ Cao Huy Dĩnh
2. ĐÓN XUÂN TÂN MÃO
Vẫn biết xuân “đi” xuân lại về
Ngàn đời như thế chẳng sai hề
Tắc thông thời thế đường năm tháng
Thăng giáng đời người vận bánh xe
Mong được cao sang hưởng quế toả
Vươn mình tiếp cận bóng mai che
Bao lăm thành bại tuỳ phê phán
Bày tỏ tâm thành bạn hữu nghe.
Tự dịch 17-12-2010
CA NGỢI ANH HÙNG LAO ĐỘNG
HỒ QUANG CUA
Anh hùng lao động Hồ Quang Cua
Cần mẫn ngày đêm cả bốn mùa
Thấu hiểu nghề nông cần phấn đấu
Thấm nhuần lời Bác phải thi đua.
Thương nông dân quyết làm bằng được
Yêu đất nước thề chẳng chịu thua
Hạt gạo làm ra nhất thế giới
Anh hùng xứng đáng Hồ Quang Cua.
10-4-2021
CHIA SẺ KỶ NIỆM
(Ốm nằm viện suy ngẫm)
Nằm viện dăm hôm ngẫm sự đời
“Ba loài ba đấng” cũng tình người
Trắng đen rành rẽ không bàn cãi
Tốt xấu mông lung đáng khóc cười
Thua được dại khôn đầu biến động
Chê khen hay dở cứ đầy vơi
Nhận chân hiện thực cao minh nhất
Sống khoẻ, an vui mới tuyệt vời.
13-6 Kỷ Sửu
Huy Miên xướng: TẶNG HỒ THU PHONG
Tình cờ kết bạn phải do duyên
Chẳng ngại vào thăm dẫu cách miền
Bởi chữ tầm chương tôn quý đạo
Vi câu trạch hữu trọng nhân hiền
Bọt bèo cũng mộng theo nghiên bút
Nhiều ít đều mang nợ sách đèn
Thu tiết đôi dòng xin tỏ dạ
Qua lần gặp gỡ ức trường miên.
10-8-2020
Họa: GIỮ ĐẸP CHỮ TƯƠNG ĐỒNG
Trên đời vạn sự bởi cơ duyên
Mọi lúc mọi nơi cả mọi miền
Đồng điệu tương lân hoà đạo hạnh
Đồng thanh tương ứng hợp tâm hiền
Tương phùng tương trợ thơm trang sách
Tương ngộ tương liên sáng ánh đèn
Tương đắc tương giao cho trọn vẹn
Tương đồng kỳ vọng đạt trường miên.
03-7-Tân Sửu
Bài xướng: NỖI VẤN VƯƠNG
Quản trị thư mời góp phú chương
Cùng nhau xướng hoạ thể thơ Đường
Người xưa nhớ những từng chung sức
Bạn mới khen nhiều đã góp gương
Chủ nhiệm đồng tâm tình thắm đượm
Thành viên hợp chí nghĩa tươi hường
Vì chưng đại dịch đành xa cách
Bày tỏ dăm vần nỗi vấn vương.
Huy Miên xướng 5-9-2021
Hoạ: TẶNG HUY MIÊN – NỢ CÒN VƯƠNG
Từ nghề thuỷ sản đến văn chương
Cần mẫn say mê những chặng đường
Thừa kế gia huân nâng cán bút
Luyện rèn tư chất tạo vành gương
Văn đàn tham dự vang danh tốt
Tác phẩm liên đăng tỏ sắc hường
Nôm Hán tinh thông mà nhủn nhặn
Đường xa “Trường Cửu” “nợ” còn vương.
11-9-2021
Trường Cửu: Bút danh của Nguyễn Huy Miên
In theo lời tựa tập thơ “Đất quê tôi”
NXB Hội nhà văn – của Huy Miên.
Đã đóng khung kính – khổ lớn – treo ở phòng
khách Huy Miên - Ảnh bìa sau
Bài xướng: TÌNH THẦY TRÒ
Thời gian xa cách đã dài lâu
May mắn thầy trò gặp lại nhau
Khuôn mặt trò xưa còn nhớ mãi
Những lời thầy giảng chẳng quên đâu
Mái trường lớp học bao thương nhớ
Tình nghĩa thầy trò thắm đượm sâu
Đâu phải nghề đưa đò bạc bẻo
Người đi tình nghĩa trước như sau.
Thầy Nguyễn Xuân Hưng (1935)
Nhân dịp 20-11-2021.
Hoạ: TRỌN TRƯỚC SAU
Cách trở xa thầy kể đã lâu
Duyên may kết nối được tin nhau
Gương thầy – thần tượng không sao lãng
Lời dạy – ân tình có lạt đâu
Sữa mẹ - công thầy tim khắc đậm
Quê nhà – nợ nước dạ ghi sâu
“Tôn sư trọng đạo” ngời truyền thống
Kính lễ ơn Người trọn trước sau.
Nhân dịp 20-11-2021
Bài xướng: TÌNH THƠ VẪN THẮM
Cuối tháng mười trời chuyển tiết đông
Lời thơ vẫn thắm ấm hương nồng
Tưởng rằng trăm mối đời vương nợ
Nên nỗi nhạt phai nguội lửa hồng
Gắp bạn tâm đầu trao xướng hoạ
Tìm ai tri kỷ ngỏ tương đồng
Cụng ly mĩ tửu tình giao kết
Góp khúc hoan ca bản nhạc hồng.
Đặng Kích - Bỉm Sơn
.
Hoạ: KẾT GIAO
Tôi anh giao kết giữa ngày đông
Buổi mới mà sao vẫn mặn nồng
Chắc có tiền duyên thành vướng nợ
Nên chi hậu nghĩa đắc hài lòng
“Đồng thanh tương ứng” vui thi hoạ
“ Đồng nghiệp tương lân” hợp chữ đồng
Xin hẹn từ nay trao mối kết
Thi huynh thi hữu trí , tâm hồng.
11-10- Kỷ Hợi
Bài xướng: DANH CHÍNH
(V.Hội – T.Sinh)
Danh chính hội thơ ngọn gió lành
Vẻ vang thi hữu đất quê Thanh
Qua rồi thuyền nhỏ chông chênh sóng
Đã có cờ cao rực rỡ thành
Đường luật kiêu sa tươi dáng chị
Sân chơi uyên bác thoả tình anh
Áng thơ thêm rạng nâng hào khí
Văn hiến quê mình bát ngát xanh.
Hoạ: TRƯỞNG THÀNH
(Tặng hội thơ Đường luật – Thanh Hoá)
Thi hội mười năm đón gió lành
Góp phần làm rạng rỡ quê Thanh
Hội viên phát triển thơ đua nở
Thi tập gia tăng hội trưởng thành
Với hiện tại – chân tình sắc sảo
Về tương lai – đúng mực tinh anh
Chức năng văn học nâng tầm sáng
Đường luật quê mình mãi thắm xanh.
5-9 Canh Tý – 21-10-2020
Xướng: NỖI NIỀM KIỀU – KIM
(Tái hợp)
Gột tiết hồng nhan vũng nước lầy
Sao còn sắp đặt tái duyên đây
Thân hèn đã trải điều thương xót
Đức mỏng thôi màng chuyện đắm say
Những muốn trao mình nơi cửa phật
Toan nhờ gửi phận chốn am mây
Nể lòng người cũ tình se lại
Nào có hay chi cảnh mới này
Nguyễn Huy Miên . tháng 11 – Tân Sửu
Hoạ: NỖI NIỀM KIỀU - VÂN
(Trao duyên)
Báo hiếu cam lòng dấn vũng lầy
Mối tình Kim Trọng tính sao đây
“Trâm trao” “ngọn cỏ” mong hương đượm
Tình phụ “chén thề”...”dứt máu say”
“Chắp nối” duyên em vui quạt ước
Chia ly phận chị luyến “tơ mây”
“Ngậm cười chín suối” “thân bồ liễu”
“Đứt gánh” xe tơ một LẠY này.
Tháng 11 – Tân Sửu
VHTSinh gửi mời hoạ:
BUỒN VUI CUỘC THẾ
(Đường luật trường thiên)
48 câu vần anh
Ngày 2-5-2022
Không hoạ mà cảm nhận:
“Buồn vui cuốc thế” bản trường thiên
Rừng biển vào ra khắp mọi miền
Nước biếc non xanh vui cảnh dạo
Sử vàng tâm đỏ tận tình biên
Quê hương yêu dấu tôn danh thắng
Đất nước linh thiêng chọn đức hiền
Một cách nhìn đời chân chính đạo
Người thơ tỏ rõ chí trung kiên
3-3-2022
ỨNG TÁC CUỘC GẶP MẶT LỚP 10A
(Khoá 1975-1978)
10A “gặt mặt mùa thu”
Ân tình mời cả thầy cô vui cùng
Phải đâu là chiuyện “qua sông”
Đò xưa bến cũa mặn nồng xiết bao.
8-10-2022
Lê Xuân Nhị - Bỉm Sơn xướng:
TỰ BẠCH
Lòng luôn rộng mở đón tri âm
Ngặt nỗi trần gian rất dễ lầm
“Hoạ hổ hoạ bì nan hoạ cốt
Tri nhân tri diện bất tri tâm”
Mập mờ thiện ác chân thành giả
Lẫn lộn vàn thau thú hoá cầm
Bạn hữu mơ gì so Tử - Bá
Thầm mong Khắc Hiếu với Mai Lâm.
Bài hoạ 132
ĐÁP TỰ BẠCH (Bài 1)
Trên đời phỏng được mấy tri âm
Không tỉnh đương nhiên dễ bị lầm
Hãy cứ nhìn đời cho hoạt trí
Cũng như đối diện thật minh tâm
Ắt là thiện ác rành chân – giả
Tất yếu thấp cao rõ thú – cầm
Quả đúng Lưu – Dương là quá hiếm
Thiếu gì Khắc Hiếu với Mai Lâm.
Hoạ lại: TỰ BẠCH (Bài 2)
TỰ NGẪM
Trên đời phỏng được mấy tri âm
Không tỉnh đương nhiên dễ bị lầm
Nguyễn Trãi từng “ Bồng môn đảo lý”(1)+
Xương Linh hằng “Nhất phiến băng tâm”(2)
Bao dung thiện ác rành chân – giả
Độ lượng thấp cao rõ thú – cầm
Quả đúng Lưu Dương là khó kiếm
Lòng ngay ắt hữu hảo tùng lâm.
(1) Thơ Nguyễn Trãi: - Đón Nguyễn Mộng Tuân
(2) Thơ Vương Xương Linh tiễn Tân Tiện.
TÍNH SỐ ĐỀ
Suốt ngày ông cắm cúi say mê
Tính tôán căn ke cái số đề
Khi được nở mày vui khoái trí
Phen thua nhăn mặt thảm ê chề
Trời cho trúng đít tiền qua trán
Thánh chứng ăn đầu bạc lặc lè
Có phúc có phần hay bạc phận
Làm gì còn chỗ chốn bờ đê!
14-8 Quý Tỵ
THI ĐÀN VIỆT NAM
TIẾNG THƠ VỌNG MÃI
(Khoán thủ)
Thi ca đất Việt mạch nguồn trong
Đàn nhạc thăng hoa nhịp điệu cùng
Việt lạc cánh chim không phút mỏi
Nam bằng khúc nhạc chẳng phai nồng
Tiếng lòng muôn thuở yêu trời biển
Thơ phú ngàn năm quý núi sông
“Vọng nguyệt” “Đăng Sơn” thiên bất hủ
Mãi còn tiếp nối mãi hanh thông.
15-8-2017
Câu hỏi của cháu
Ông thường kể cháu nghe
Chuyên Bu – ra – Ti – nô
Chú người gỗ trốn học
Biến thành con lừa tồ
Cháu hồn nhiên hỏi lại
Ông có học bao giờ
Mà sao ông giỏi thế?
Ông giải bày cặn kẻ
Ông học từ ngày xưa
Khi còn nhỏ như cháu
Ông miệt mài phấn đấu
Ông học đến trọn đời
Cháu mắt sáng tươi cười
Chào ông cháu đi học.
2013
ÔNG BẢO CHÁU
Cháu mang búp bê ra vườn
Trời đang nổi gió mặt đường bụi bay
Ông bảo cháu quay vào ngay
Búp bê mà ốm thì gay cháu à
Tròn xoe mắt cháu hiểu ra
Búp bê ốm trở vào nhà cháu chơi.
2009
BIỂN
(Lời tựa: Hạnh phúc lớn nhất là nhận thức
đúng hiện thực khách quan)
Biển xanh tươi đẹp trước bình minh
Cuồng nộ “biển đêm” sóng bất bình
Đáy thẳm, chôn vùi bao cốt nhục
Bờ gần, vất vưởng bấy vong linh
Khăn tang, bãi cát người thê thảm
Sóng gió, đại dương biển tuyệt tình
Trước biển suy tư lành với dữ
Đành rằng đo được biển – trời xanh.
Người ta thường ca ngợi biển: đẹp, giàu.
Đúng. Nhưng sự hung bạo của biển gây
đau thương tang tóc cho con người thì
ít ai nói đến. Các sự vật hiện tượng
khác cũng vậy.
104
Thơ gia đình Hồ Duy Diến –Dòng Đời
GỬI CỤ TÚ XƯƠNG
(Hoạ bài “Than đạo học”)
Đời cụ nay tôi hiểu lắm rồi
Cuộc đời mà đến thế thì thôi
Tám khoa thi cử dồn chân bước
Hai bữa khoai rau xếp gối ngồi
Trào phúng đấu tranh luôn sắc bút
Trữ tình lãng mạn mãi thơm xôi(1)
Quả là “Chín suối xương không nát”(Nguyễn Khuyến)
Thơ cụ soi bừng tâm trí tôi.
In trong “ Lời ru non sông”NXB Lao động
(1) Thường nhiều người tưởng Tú Xương chỉ là
nhà thơ trào phúng. Thực ra – theo cụ Nguyễn Tuân:
Thơ trữ tình lãng mạn của Tú Xương cũng tuyệt vời.
Hai mãng thơ như đôi chân để Tú Xương đứng vững
với thời gian.
CẢM NHẬN
Nhà thơ sao anh chẳng là
Lại là thầy giáo trường nhà vợ yêu
Thơ anh tôi đọc thấy điều
Giản đơn gần gủi rất yêu cuộc đời
Học anh tôi làm thơ chơi
Nhưng đâu theo kịp bởi trời không ban.
13-4-2018
Trương Trọng Chơn
ĐỌC “ TÂM SỰ TUỔI CAO” của Lê Xuân Nhị
Bỉm Sơn – CẢM NHẬN
- Tập thơ đáng học tập
- Cảm nhận về phần lục bát
Những dòng lục bát ru êm
“ Vấn vương” gởi nắng cho em “nửa đời”
“Tình hạ” “Chỉ là mơ thôi”
“Hạnh phuc” “Thu cảm” “Mẹ ơi” “Sang mùa”
“Nhớ mùa hoa cải ngày xưa”
“Trước đền Kiếp Bạc” “Tình thơ” “Thơ tình”
“...Em về đất Tổ cùng anh”
“Đợi em” “Chiếc lá” “Ăn năn” “Thơ người”
Chắt chiu chọn lọc ý lời
Đẹp “Tâm sự tuổi sáu mươi” với đời.
- Cảm nhận về phần luật Dường
Đường thơ “Tự bạch”
“Nhớ” “Bâng khuâng”
“Kỷ niệm trường xưa” “Vọng cố nhân”
“Cảm xúc mùa thu” “Niềm xúc cảm”
“Nhân du ba dội” đẹp vô ngần
5-4 Nhâm dần (5-5-2022)
CHÉP LẠI NHẬT KÝ
Đi bồi dưỡng thi văn miền Bắc
Tại Nam Đàn II
18/3/1968
Chuẩn bị
Sáng nay vừa nhận tin mừng
Tin vui trường lớp tưng bừng vui chung
Mà ta tràn ngập nỗi lòng
Ngẩn ngơ trăm mối lo mừng – ngẩn ngơ
Cháy lòng đôi nhịp mừng lo
Bâng khuâng không rõ mừng lo, lo mừng
Bồi hồi trước những tình thương
Ngẩm sâu gia cảnh lại càng xót xa
Ơn tình đồng chí mặn mà
Quyên tiền, góp gạo cho ta lên đường
Đồng chí ơi, vạn tình thương
Lòng tôi cảm kích ngẫm ơn muôn vàn!.
19/3
Rời Quỳnh Hoan
Hai giờ tạm biệt Quỳnh Hoan
Cảnh – người sao thấy tươi hơn mọi ngày
Xa rồi Lèn quát chiều nay
Chiến hào cao những cánh tay vẫy chào.
Quỳnh Ngọc
Đồng chiêm sóng lúa vờn nhau
Qua đồng Quỳnh Ngọc nhớ sao những ngày.
Quỳnh Bá
Đây rồi Quỳnh Bá vui thay
Gió reo mát rượi những ngày nhớ sao.
Quỳnh Hồng
Hồng Sơn ơi! Đẹp biết bao
Lúa reo năm tấn gọi chào ta đi.
Cầu Zát
Lòng sao bỗng nặng như chì
Dững dưng lằng lặng lầm lỳ bước chân
Cầu Zát ơi đã bao lần
Sông trào dâng nước chảy tràn đường đi
Sóng kia ngươi nghĩ những gì
Lòng ta dâng sóng gió về lạnh run
Thôi đi cho mát tâm hồn
Càng nung ý chí hãy còn ngày mai.
Hoặc
Cầu Zát ơi nghĩ suy gì
Đường vui phố rộn ta đi kẻo chiều
Mỹ kia tàn phá bao nhiêu
Thì đời ta vẫn quý yêu tháng ngày.
Quỳnh Giang
Chuyện vui nở rộ đường dài
Đường ray thẳng tắp đây rồi Quỳnh Giang.
Cẩm Bào
Vui nghe tiếng búa rộn ràng
Lòng anh chiến sỹ cầu đường chiều nay
Dựng cầu nhịp hát hăng say
Dáng anh lồng lộng búa quai nhịp nhàng
Đẹp thay cô gái mở đường
Ca vui tay lựa phím đàn vui ca.
Ga Yên Lý
Lặng nhìn bãi nát nhà ga
Bỗng vui có tiếng goòng ra rúc còi
Mỹ kia tàn phá tơi bời
Ga ta vẫn sống, tiếng còi vẫn ngân.
Diễn Hồng
Chiều buông đêm xuống chợ Dàn
Ngồi ăn cơm nắm bên đàng nghỉ chân
Từ tổng hợp “Ba đảm đang”
Có ô tô chẳng chở hàng vào xuôi
Được đi chao sướng sướng ôi!
Xe đi vun vút lòng vui gió lồng.
Diễn Xuân
Trong đêm qua xã Diễn Hồng
Diễn Xuân xe đậu mà lòng tiếc ngơ.
Diễn Quảng
Bước đi trong bóng đêm mờ
Cầu phao Diễn Quảng Mỹ vừa ném bom
Có người chết lẫn bị thương
Cửa nhà đổ nát đau thương xé lòng
Qua cầu còn hãy ngoái trông
Người đi nườm nượp dòng sông dịu hiền.
Đường 7
Đường só 7 rực ánh đèn
Xe ta rầm rập đi tiền tuyến xa
Bên đường vui rộn lời ca
Đoàn quân đánh Mỹ đang giờ nghỉ chân.
Diễn Tháp (tối 19/3)
Tìm vào tổng hợp Diễn Xuân
Bún khô buổi tối chỉ ăn gọi là
Đường lên chợ Bông còn xa
Lần vào quán trọ kiếm nhà nghỉ ngơi.
20/3- Diễn Tháp
Trăng mờ đêm lạnh sương rơi
Kính chào Diễn Tháp xa rồi đêm nay
Hòn Lèn ngạo nghễ chân mây
Đường ta mở lối hàng cây vươn dài.
Sơn Thành
Sơn Thành chợ Bông đây rồi
Phương đông chưa thấy ánh mai đỏ hừng
Lại vô xóm nhỏ tạm dừng
Sáng ra cơm nước lên đường tiếp đi.
Kia nhà thờ đá uy nghi
Hỏi sang Phương Tích đường đi Ú Trù
Núi non mờ ảo sương mù
Đường đi trăm ngã cơ hồ đèo truông
Qua bao bãi vắng rừng hoang
Qua bao xóm núi nông trang tưng bừng.
Truông Băng
Đến đây khe suối núi rừng
Gò cao bãi cát một vùng bao la
Truông Băng dốc ngược mái nhà
Non trưa đến dốc vượt qua xế chiều
Đường cong rắn lượn ngoằn ngoèo
Rực trời nắng đốt ta trèo Truông Băng
Truông Băng dô hụi băng truông
Mồ hôi đẫm áo chân chồn mắt hoa.
Nam Thanh
Tình quê bát ngát đậm đà
Bà con hợp tác tăng gia bên đường
Chùa Nam Thanh vút hàng dương
Cổng chùa còn hãy nguyên sương lân rồng
Gió reo vi vút hàng thông
Tỉnh hơi khách lạ đàn ong bay vù
Vườn cây reo gió vi vu
Chùm hoa mít trắng hương đưa ngát lừng
Gốc thông ghế đá hai hàng
Bóng râm khách lạ mơ màng ngắm hoa
Phơ phơ tóc bạc cụ già
Mời vô uống nước, đậm đà chè xanh
Chữ hồng “THƯ VIỆN NAM THANH”
Chùa xưa nay đã trở thành “Viện thư”.
Thị trấn Nam Đàn
Nắng soi loáng mái chèo đưa
Nắng tươi bát ngát đôi bờ sông lam
Reo vui thị trấn Nam Đàn
Người xe tấp nập rộn ràng ngược xuôi
Ven đê khoai lạc xanh ngời
Núi dài sông rộng đất trời bao la.
Đò Vạn Rú
Qua Nam Đàn mới reo vui
Đây đò Vạn Rú đầy rồi “Sông xanh”
Trãi qua ngày rưỡi bộ hành
Chín mươi cây số Nam Hoành đến đây
“Bạn đường ai tỉnh ai say?” (Tố Hữu)
Qua đò lòng nhẹ như bay lưng trời
Hỡi người đồng chí ta ơi
Có hay vất vả xa xôi hành trình
Hãy đem tất cả nhiệt tình
Say sưa học tập quên mình - say sưa.
124 câu
CẢM NGHĨ VỀ 990 NĂM
DANH XƯNG XỨ THANH
Danh xưng Thanh Hoá ngót ngàn năm
Trãi Lý – Trần – Lê thật vẻ vang
Tống khứ Xiêm quân trên cửa Hới
Xua tan Minh tặc giữa Đông Quan
Đánh Tây, đuổi Nhật cao minh trí
Chống Mỹ ngăn Tàu vững quyết tâm
Đổi mới đi lên cùng đất nước
Xây nên “kiểu mẫu” dưới trời Nam.
Mồng 5 tháng giêng Kỷ Hợi
Phỏng dịch bài chữ Hán
“Thanh Hoá danh xưng cảm tác” – trang 113
ĐỌC “ GIỮ LỐI XƯA” của Huy Miên
CÓ MỘT CHỮ TÌNH
“ Giữ lối xưa” đượm chữ tình
Tâm tài hoà quện lung linh sắc màu
Tình phụ - mẫu ân đức cao
Tình cha con lại dạt dào tin yêu
Vợ chồng nói ít thắm nhiều
Hướng về các cháu đủ điều chăm lo.
Trung thu Quý Mão
MỪNG THẦY NGUYỄN XUÂN HƯNG
ĐẠI THỌ TUỔI 90
Đại thọ mừng thầy tuổi chín mươi
Tự hào: Công sức góp xây đời
Học trò thành đạt, ân tình nặng
Con cháu hiển vinh, phúc lộc dày
Bạn hữu xa gần cùng quý mến
Họ hàng thân thích thảy hoà vui
Cây cao bóng cả xanh màu mới
Mong đạt hơn trăm hưởng thọ trời.
Đón xuân Giáp Thìn 2024
TÂM SỰ GIÁP THÌN
Ất Hợi năm nay lên chín mươi
Nhờ trời cây lá còn xanh tươi
Cảm ơn những tấm lòng mừng thọ!
Mong sống khoẻ vui với mọi người.
Nguyễn Xuân Hưng
(Thầy sinh ngày 28-12-1935 âm lịch - Ất Hợi).
HOẠ BÀI “Tâm sự giáp thìn”
Của thầy giáo Nguyễn Xuân Hưng
CHỮ NGƯỜI VIẾT HOA(1)
Bài 1:
Đại thọ mừng thầy tuổi chín mươi
Theo dòng đổi mới mãi xanh tươi
Trời ban – chân quý cao niên thọ
Trên thọ, đức tâm: đẹp chữ NGƯỜI.
(1) Theo ý của Mác – xim – Gooc – ky.
Bài 2:
TUỔI THỌ VÀ SỰ NGHIỆP
Mừng thầy thêm chục đạt mười mươi
Đổi mới cây cao vẫn tốt tươi
Chân quý trời ban cao tuổi hạc
Cao sao bằng sự nghiệp trồng người.
13-12- Quý Mão
VHTS xướng: NHỚ MỘT NỬA
Quên nên ham nhớ nhớ không tròn
Quên tuổi thiếu thời mạng suýt tom
Quên lúc thủng quần đi lủng lẳng
Quên khi lép bụng gánh lom khom
Quên văn bút trả lờ mờ ngõ
Quên võ gân già lúng túng non
Quên chuyện buồn vui trong thế sự
Quên bao mơ ước thuở xuân khòm
Đón xuân Giáp Thìn
Hoạ: NHỚ CHÚ ÚT
Nhớ quên quên nhớ khó mà tròn
Nhớ thuở khoai rau gầy tóp tom
Nhớ lúc lên rừng chân vững bước
Nhớ thời mất ruộng lưng không khom
Nhớ ngày đi học xin tương tế
Nhớ bữa con thi được gưởi dòm
Nhớ hết được đâu, đời vạn mối
Nhớ nhòn đọng lại giấc mơ khòm.
19-12- Quỹ Mão
THƠ KHÔNG BÁN
Sao phải đem thơ bán hỡi trời
Tìm người tâm đắc thiếu gì nơi
Tỏ bày ý nguyện hân hoan đón
Chia sẻ tâm tư phấn khởi mời
“Cơm áo không đùa...” nên gắng sức
“ Vịn thơ đứng dây...” khỏi tàn hơi
Chăm lo gia quyến đường muôn nẻo
Thơ để tri âm đẹp cuộc đời.
“Văn chương Việt Nam” quyển 19 – trang 55
THÚ QUÊ
Sổ lồng con sáo đã bay xa
Nghe khướu vui khoe lúc thưởng trà
Chắp chới bồ câu chào nắng sớm
Là đà mòng két đón chiều tà
Kêu ran chim chích chao lui tới
Thấp thoáng chào mào đảo lại qua
Ngắm vịt lặn hồ xao sóng nước
Thăm cò ấp trứng sát hiên nhà.
“Văn chương Việt Nam” quyển 20 – trang 56
NGHĨ VỀ NHẬT KÝ TRONG TÙ
“Nhật ký trong tù” bi tráng ca
Tâm hồn, ý chí vị “cha già”
Tình yêu nhân loại ngời chân thiện
Hiện thực Trung Hoa rõ chính tà
“Tự hoạ chân dung” trong sáng ngọc
“Trữ tình – chất thép” thắm tươi hoa
“Ngọn đèn toả rạng” cho con cháu
Bảo vật muôn đời của quốc gia.
Dựa theo giáo trình về “ Nhật ký trong tù” và ý thơ
Hoàng Trung Thông.
Ngày 01-10-2012 Thủ tướng chính phủ ra quyết định
công nhận “ Nhật ký trong tù” là bảo vật quốc gia.
ĐI NHẬP HỌC
(Tặng 2 cháu Phúc – Lộc)
Ông đi nhập học ngày xưa
Năm ngày cuốc bộ nắng mưa dãi dầu
Trường Vinh đóng tận rừng sâu
Tránh bom đạn Mỹ quản nào gian nan
Rồi theo dòng chảy thời gian
Mẹ cháu nhập học mở trang sách đời
Xe ca đưa đến tận nơi
Mọi điều vượt hẳn cái thời của ông.
Trải qua tháng đợi ngày trông
Cháu Phúc nhập học thoả lòng mẹ cha
Vui chung nội, ngoại ông bà
Thuê xe dịch vụ cả nhà cùng đi.
* *
*
Thoi đưa lại đến mùa thi
Lộc đậu đại học còn chi vui bằng
Ô tô nhà sẵn, đàng hoàng
Lộc đi nhập học rộn ràng toàn gia.
Diễn giải: 12 câu trên làm năm 2020 – Phúc đi nhập
học. 4 câu tiếp nối làm năm 2025 – Lộc đi nhập học.
Tấm lòng
Ra trường năm mươi năm
Các em cùng thành đạt,
Nay trở về gặp mặt
Và tri ân thầy cô.
Biết Hội Cựu giáo chức
Của các thầy đông vui.
Hội “Sau thời cầm phấn”
Vẫn chăm lo cho đời.
Biết các thầy xuất bản
Sách “Chung một mái trường”
Chan chứa tình yêu thương
Các em rất cảm động
Rồi bàn nhau tình nguyện
Tài trợ Hội các thầy,
Coi là điều hân hạnh
Truyền lửa cho tương lai.
Cây tươi xanh ngày trước
Đơm quả ngọt hôm nay
Chữ “Tôn sư trọng đạo”
Đẹp tấm lòng không phai!
02/9/2025
CA NGỢI CỰU CHIẾN BINH
DOANH NHÂN TRẦN XUÂN LÂM
Có hạt giống nẩy mầm tươi lá
Trên đất cằn sỏi đá, diệu kỳ
Xuất thân trong cảnh hàn vi
Ông Lâm tạo dựng bước đi tuyệt vời.
Nhỏ thất học một thời lam lũ
Tuổi trưởng thành hội đủ lực – tâm.
Lên đường ra trận vào Nam
Xông pha chiến đấu đạn bom chẳng sờn.
Sau cuộc chiến là thương binh nhẹ
Ông trở về đất mẹ làm ăn
Buổi đầu lập nghiệp gian nan
Biết bao vất vả khó khăn dập dồn
Lập doanh nghiệp khi còn trứng nước
Vượt đói nghèo từng bước đi lên
Lính cụ Hồ ý chí bền
Lo cho đồng đội mọi miền gần xa
Cựu chiến binh “một nhà” đùm bọc
Khẳng định cao tầm vóc doanh nhân
Chữ tầm kết với chữ tâm
Bỉm Sơn có Trịnh Xuân Lâm Đức - Tài!
Có 2 học sinh từ nơi khác chuyển về do
dính vào ma tuý:
Một ở Đắc Lắc: Em Tuấn Anh
Một ở Hà Nội: Em Đức Hải
Ở môi trường mới: Trung tâm GDTX
Vĩnh Lộc. Các em cai nghiện thành công.
Bài thơ “Sơ tán” dựa vào sự việc này
SƠ TÁN
Nhớ xưa bom đạn một thời
Cha phải sơ tán về nơi bản làng
Giặc tan, trở lại yên hàn
Xây dựng thành phố đàng hoàng hôm nay
Sinh con khôn lớn tháng ngày
Ai đem “chết trắng” về đây rập rình
Mong con được sống yên lành
Lại cho “sơ tán” như mình ngày xưa
Mới hay kết quả bất ngờ
Đẩy lùi ma tuý con nhờ quê hương
In trong tạp chí Công đoàn Thanh Hoá,
số 50 tháng 10-2001, trang 56.
Tiếp theo phần I: THƠ NHỚ LẠI
1- Chuẩn bị đi tập huấn thi học sinh
giỏi miền Bắc
Lên đường tập huấn để dự thi
Tăng đưa áo ấm bảo mang đi
Bạn lo cho ta từng cơn rét
Từ khi nắng rực cả bốn bề.
Tăng : Bạn học cùng nhà trọ - người Quỳnh Diễn
2. Bữa ăn ngày trọ học
Nước cơm với muối chấm rau khoai
Bền gan phấn đấu đặng tháng ngày
Ăn thế không tiên thì cũng phật
Nhìn nhau bấm bụng đợi ngày mai.
3. Thăm bạn bị thương vì bom Mỹ
do máy bay oanh tạc
Ngoài trời mưa rả rích
Mây đen kịt gió gào
Khóm cây xanh lả lướt
Trong gió đập lao xao
Anh nhìn em nghẹn nói
Nước mắt cứ ứ trào
Căm thù quân giặc Mỹ
Gây bao nỗi thương đau
(Chép theo trí nhớ của bạn bị thương).
Tiếp theo phần II: PHẦN XƯỚNG HOẠ
Huy Miên xướng: CÂY BƯỞI TRƯỚC SÂN
( Tặng thầy Hồ Duy Diến)
Thầy tôi trồng bưởi mát sân nhà
Quả chín đang còn lứa mới ra
Hoa trắng nõn nà bầy bướm lượn
Nhuỵ vàng óng ả lũ ong sa
Ngạt ngào vị ngọt khi ăn trái
Thoang thoảng mùi thơm lúc thưởng trà
Thấm thoát xuân qua hè sẽ đến
Trung thu hái xuống lễn ông bà.
Kỷ Hợi niên- 2019
Nguyên bảm chữ nôm trang 41
Duy Diến hoạ: CÂY BƯỞI NHÀ TÔI
Cây bưởi trước sân đẹp cảnh nhà
Hoàng liên hoa trái kế nhau ra
Bóng râm toả đón anh em tới
Hương ngát lan đưa ong bướm sa
Vị ngọt chân tình khi hái quả
Mùi thơm thiện ý lúc pha trà
Bốn mùa thu hoạch cho con cháu
Trọn vẹn tình ông với nghĩa bà.
Nguyên bản chữ nôm trang 136
Đây là 2 bản phiên âm quốc ngữ. Nguyên cả 2
bản viết bằng chữ nôm (bài xướng phóng to,
đóng khung kính treo ở phòng khách). Ảnh trang bìa cuối
PHẦN VI: THƠ CHỮ HÁN
ĐƯỜNG LUẬT &XƯỚNG HỌA
NGHINH TÂN MÃO XUÂN
Nguyên tác:
迎辛卯春
辛卯新春將到來
欢然萬物对春諧
和平幸福漣天角
親愛结团徧海街
節到和鳴鷄燕雀
春來合笑菊桃梅
歌声處處迎春曉
恭祝大家福夀開
庚寅孟冬
孫适高輝潁
89年壽66党歲
同喜太原
敬寄:詩友胡缅
請和
Phiên âm
Nghinh Tân Mão xuân
Tân mão tân xuân tương đáo lai
Hoan nhiên vạn vật đối như hài
Hòa bình hạnh phúc liên thiên giác
Thân ái kết đoàn biến hải nhai
Tiết đáo hòa minh kê yến tước
Xuân lai hợp tiếu cúc đào mai
Ca thanh xứ xứ nghinh xuân hiểu
Cung chúc đại gia phúc thọ khai
Canh Dần mạnh đông .
Tôn quát –Cao Huy Dĩnh
họa: 和
迎辛卯春
知道春殘春再來
以經萬代對如諧
升沉世事車輪軸
否泰人間歲月街
百力尚高應樹桂
壹心接近老枝梅
少多人世能評品
唯我真誠心寸開
庚寅年十一月初十日
Họa
Nghênh Tân mão xuân
Tri đạo xuân tàn xuân tái lai
Dĩ kinh vạn vật đối như hài
Thăng trầm thế sự xa luân trục
Bỉ thái nhân gian tuế nguyệt nhai
Bách lực thượng cao ưng thụ quế
Nhất tâm tiếp cận lão chi mai
Thiểu đa nhân thế năng bình phẩm
Duy ngã chân thành tâm thốn khai.
Xướng thi: TÂN MÃO CẢM TÁC
唱詩
辛卯感作
八十九年為大壽
鬢蕭齒折智惟明
詩坛常到交流伴
樂会还之唱和經
四快衰微成四苦
弎尊昇進达三精
不知壽歲存多少
乐世欢然兴百靈
辛卯新春
孙适-高輝潁
敬寄:忘年友:胡惟缅
請和
Bài xướng:
Tân Mão cảm tác
Bát thập cửu niên vi đại thọ
Mấn tiêu xỉ chiết trí quang minh
Thi đàn thường đáo giao lưu bạn
Nhạc hội hoàn chi xướng họa kinh
Tứ khoái suy vi thành tứ khổ
Tam tôn thăng tiến đạt tam tinh
Bất tri thọ tuế tồn đa thiểu
Lạc thế hoan nhiên hưng bách linh.
Cao Huy Dĩnh
Bài họa:
Tân mão xuân cảm tác
Lục thập lục kim thời vị thọ
Lực hoàn cường tráng trí duy minh
Chuyên thâm địa lý hòa phong thủy
Thường khán tử vi cộng dịch kinh
Trạch nhật hiếu tang ,cải táng chuẩn
Định thời hỉ sự tân gia tinh
Khách lai viễn cận đô chu đáo
Lạc giả hoan nhiên phụng bách linh.
CUNG CHÚC CAO TÔN ĐẠI THỌ
恭祝高尊大壽
恭祝高尊為大壽
力還康健智心明
用工作事成規範
斳敏修詩達典經
親爱同胞無限感
文章詞句貴乎精
結交詩友忘年廣
鶴命歡然興百靈.
130
Thơ gia đình Hồ Duy Diến –Dòng Đời
CUNG CHÚC CAO TÔN ĐẠI THỌ
Cung chúc Cao tôn vi đại thọ
lực hoàn khang kiện trí tâm minh
Dụng công tác sự thành quy phạm
Cần mẫn tu thi đạt điển kinh
Thân ái đồng bào vô hạn cảm
Văn chương từ cú quý hồ tinh
Kết giao thi hữu vong niên quảng
Hạc mệnh hoan nhiên hưng bách linh.
NAM KHA MỘNG
Nguyên tác:
南柯夢
南柯槐樹夢中央,
富貴于枌想永祥.
公主結婚成貴婿
槐安任職謝尊王
賢妻死了哀狂腹
險陣敗亡痛段腸
“世上功名都是夢”(1)
南柯夢比象黃梁
Phiên âm: Nam kha mộng
Nam kha hòe thụ mộng trung ương
Phú quý Vu Phần tưởng vĩnh tường
Công chúa kết hôn thành quý tế
Hòe An nhậm chức tạ tôn vương
Hiền thê tử liễu, ai cuồng phúc
Hiểm trận bại vong, thống đoạn trường
“ Thế thượng công danh đô thị mộng”(1)
Nam Kha mộng thử tượng Hoàng Lương.
Dịch nghĩa:
GIẤC MỘNG NAM KHA
Trong giấc mộng ở Cành nam cây Hòe
Thuần Vu Phần tưởng được phú quý lâu bền.
Kết hôn với công chúa thành phò mã
Nhậm chức quan ở Hòe An, rất biết ơn nhà vua
(Thế rồi). vợ chết đau đớn điên cuồng
Lại thua trận khổ sở như đứt ruột
(Mới hiểu) Công danh ở đời chỉ là một giấc mộng
Mộng Nam kha cũng giống mộng Hoàng Lương.
Dịch thơ:
Giấc mộng Nam kha
Ngẫm trong hòe mộng Nam kha
Vu Phần phú quý hóa ra đoạn trường
Duyên cùng công chúa uyên ương
Hòe An nhận chức tạ ơn bệ rồng
Vợ hiền mất xiết đau lòng
Tướng quân thất trận tột cùng xót xa
Công danh là mộng tỉnh ra
Hoàng Lương và giấc Nam Kha tương đồng.
22/ 1/ 2022
(1) Thơ của Lê Thánh Tông , đề ở động Hồ Công.
* Tích Truyện:Trong giấc mộng đêm hè, chàng Vu Phần thế nào lạc bước đến nước Hoè An. Bỗng nhiên anh được nhà vua xứ này sủng ái hết mức, đem gả cho cô công chúa xinh đẹp bậc nhất. Ngay sau đó, Vu Phần lại được phong làm Nam Kha Thái thú. Đang là một kẻ nghèo khó, chàng ta ngây ngất với phận may từ trên trời rơi xuống. Suốt ngày Vu Phần đi ra đi vào, hết ngắm nàng công chúa lộng lẫy đến lang thang chiêm ngưỡng thành quách bề thế, kẻ ra người vào tấp nập trong kinh thành. Nhưng sự đời lại không xuôi chèo mát mái cho cặp uyên ương. Chàng và nàng đang hưởng vinh hoa phú quý thì có giặc, vua bèn sai Thuần Vu Phần cầm quân ra trận. Khốn nỗi, chàng ta đâu có giỏi việc binh đao, đánh mấy trận quân sĩ đều thua to, bỏ chạy tán loạn. Thêm vào đó, công chúa lại bị chết, quả là “hoạ vô đơn chí” (điều rủi ro, bất hạnh không chỉ có một). Đất nước bị xâm chiếm, con gái yêu bị chết, nhà vua đâm ra ngờ vực Vu Phần mà đuổi chàng về nước. Sự tình quả là đau xót!
Đang mơ tới lúc gặp tai ương thì Thuần Vu Phần giật mình tỉnh giấc. Anh bỗng thấy mình đang nằm dưới gốc cây hoè và cách đó không xa về phía nam là một tổ kiến bự với hàng vạn chú kiến vàng đang chạy tứ tung. Vu Phần toát mồ hôi và chép miệng: “Than ôi! Giữa mộng mơ và đời thực sao mà cách xa đến thế!”.
Câu chuyện đầy tính ngụ ngôn kia được người đời sau lưu truyền để hàm chỉ một sự kiện nào đó, nghe có vẻ cao siêu, đẹp đẽ nhưng thực chất là không thực tế, viển vông... Từ tích này mà trong dân gian có thành ngữ giấc mộng Nam Kha hay giấc mộng hoè, giấc hoè với nghĩa là “giấc mơ đẹp, nhưng chỉ là giấc mơ hão huyền, không có thực”:
Giấc Nam Kha khéo bất bình
Bừng con mắt dậy thấy mình tay không (Truyện Kiều) Tác giả:
4/ 1/ 2026
Hồ Duy Diến
Trình bày chữ Hán Nôm: Nguyễn Huy Miên
ÔNG VÀ CHÁU (công bằng)
Các cháu tranh nhau ông
Ông bế cả hai đứa
Đi tùng dinh mấy vòng
Chúng cười như nắc nẻ.
* *
*
Tay mỏi cũng như không
Báo người cao tuổi số 189 (2341) ngày 27/11/2018
Bản quốc ngữ trang 125
HỒ BÁ BÁ
Nguyên tác chữ Hán
胡伯伯
胡伯人生好至圓
深情碩德海和天
憂民愛國恒忘我
進入它堅格命船0
(和胡志明的[元宵]詩品)
Phiên âm: HỒ BÁ BÁ
Hồ Bá nhân sinh hảo chí viên
Thâm tình thạc đức hải hòa thiên
Ưu dân ái quốc hằng vong ngã
Tiến nhập đà kiên cách mạng thuyền.
( Họa Hồ Chí Minh đích[Nguyên tiêu] thi phẩm)
Dịch Nghĩa: Bác Hồ
Cuộc đời của bác thật vẹn tròn
Tình sâu đức lớn như trời biển
Chỉ biết quên mình vì yêu nước thương dân
Vững lái đưa con thuyền cách mạng tiến lên.
Cảm dịch thơ: Bác Hồ
Muôn phần tròn vẹn bác Hồ ơi
Đức lớn tình sâu sánh biển trời
Yêu nước thương nòi quên sức lực
Đưa thuyền Cách mạng vũng vàng bơi.
( Nguyễn Huy Miên dịch )
Bài xướng: Xuân mới
Xuân mới đã sang rạng đất trời
Trời mây sáng đẹp nắng hơi hơi
Hơi lay nắng nhẹ cây rung ngọn
Ngọn khẽ đang đưa giáng nghịch chơi
Chơi chốn phật tiên du khách nguyệt
Nguyệt cùng non nước dựng xây đời
Đời vui Xuân mới vui thêm tuổi
Tuổi thọ cao dần đại thụ tươi.
Cao Huy Dĩnh
Bài họa:
Mất núi đá thêm sân gôn
(thể liên hoàn hướng tâm)
Về quê núi mất phải kêu trời
Trời chứng ngàn năm núi bốc hơi
Hơi bay đá núi thành đường sá
Sá kể sân gôn phục vụ chơi
Chơi để cho bao người thất nghiệp
Nghiệp nông muôn thưở phải đi đời
Đời muốn phục hồi lo làm lại
Lại làm cho cuộc sống xanh tươi.
TẶNG PHONG NHÂN HỘI
Nguyên tác chữ Hán
贈風人會
風人詩會祝長年
因為心專重德賢
賦對用功成准范
佛臺孫敬得相聯
継乘傳統修真教
開啟將來習紙田
世道光輝同步入
未完美好到明天 .
己亥年八月弍十五日
Phiên âm: Tặng Phong Nhân hội
Phong Nhân thi hội chúc trường niên
Nhân vị tâm chuyên trọng đức hiền
Phú đối dụng công thành chuẩn phạm
Phật đài tôn kính đắc tương liên
Kế thừa truyền thống tu chân giáo
Khai khải tương lai tập chỉ điền
Thế đạo quang huy đồng bộ nhập
Vị hoàn mỹ hảo đáo minh thiên.
Kỉ Hợi niên bát nguyệt chấp ngũ nhật
(Ngày 25/ 8/ năm Kỉ Hợi 2019)
THANH HÓA DANH XƯNG CẢM TÁC
清化名稱感作
清化名稱的處清
千年人傑地灵賡,
占軍送去沉江口
明賊消亡失守城 .
逐日抗西高勇氣
制中打美偉威名
更新進入同民族
樣本興修遂伯情 .
壬寅正月弍十七日
作者 :胡惟缅
THANH HÓA DANH XƯNG CẢM TÁC
( Họa thơ “Đáo xứ Thanh” của Ngọc Loan)
Thanh hóa danh xưng đích xứ thanh
Thiên niên nhân kiệt địa linh canh
Chiêm quân tống khứ trầm giang khẩu
Minh tặc tiêu vong thất thủ thành
Trục Nhật kháng Tây cao dũng khí
Chế Trung đả Mỹ vĩ uy danh
Canh tân tiến nhập đồng dân tộc
Dạng bản hưng tu toại bá tình.
Nhâm Dần chính nguyệt nhị thập nhất nhật – 2022
Bài xướng: Đáo xứ Thanh
Nguyên tác chữ Hán
到處清
壹日春台到處清
銜𧏵昔點固金城
𠻅衝炸雨山玄活
砲艦魚雷海笛賡
帝氣藍山存永世
富田厚祿鑿雄名
天街地角皆相遇
盛景真心滿至情0
作者 :阮玉鵉
ĐÁO XỨ THANH
Nhất nhật Xuân đài đáo xứ Thanh
Hàm Rồng tích điểm cố kim thành
Bom xung tạc vũ sơn huyền hoạt
Bác hạm ngư lôi hải địch canh
Đế khí Lam Sơn tồn vĩnh thế
Phú Điền Hậu Lộc tạc hùng danh
Thiên nhai địa giác giai tương ngộ
Thịnh cảnh chân tâm mãn chí tình.
Tác giả Nguyễn Ngọc Loan- Hải Phòng.
Thơ gia đình Hồ Duy Diến –Dòng Đời
Nhân chủ tịch nước Trương Tấn Sang hội kiến với chủ tịch Tập Cận Bình: Thống nhất các vấn đề cơ bản về quan hệ Việt Trung, tôi làm bài tứ tuyệt chữ Hán họa bài Từ “ Vị nữ dân binh đề chiếu” của Mao chủ tịch:
HI VỌNG HÒA TÍN TÂM
希望和信心
中越兵軍要砲槍
安寧疆域練操場
不同南海亦東海
了解和談不武裝0
癸巳年七月初二日
Bài họa:
Hy vọng hòa tín tâm
Trung- Việt binh quân yếu pháo thương
An ninh cương vực luyện thao trường
Bất đồng Nam Hải diệc Đông Hải
Liễu giải hòa đàm bất vũ trang
Ngày 2 tháng 7 năm Quý Tỵ - 2013
Vị nữ dân binh đề chiếu
Táp sảnh anh thư ngũ xích thương
Thự quang sơ chiếu diễn binh trường
Trung Hoa nhi nữ đa kỳ chí
Bất ái hồng trang ái vũ trang.
Độc “ Cảm dịch Nguyễn Du Hán tự thi” cảm tác
Nguyên tác chữ hán
讀[感譯阮攸漢字詩]感作
胡先生譯阮侯詩
心知昇花甚妙琦
原作保全意肆准
繙文刱造樂言宜
用功句字成佳品
钽割心思得受知
仙景青軒安遂願
如兄做達果然希0
Phiên âm
Độc “ Cảm dịch Nguyễn Du Hán tự thi” cảm tác
Hồ tiên sinh dịch Nguyễn Hầu thi
Tâm trí thăng hoa thậm diệu kỳ
Nguyên tác bảo toàn ý tứ chuẩn
Phiên văn sáng tạo nhạc ngôn nghi
Dụng công cú tự thành giai phẩm
Đản cát tâm tư đắc thọ tri
Tiên cảnh Thanh Hiên an toại nguyện
Như huynh tố đạt quả nhiên hy.
TRỌN ĐỜI ĐẠO THẦY TRÒ
Kính tặng thầy Nguyễn Xuân Hưng
Thầy trò cách biệt sáu mươi năm
Trong sáng đôi đường bởi chữ TÂM
Thầy dặn trò đừng hoang sức quá
Trò vâng lời tạc dạ tình thâm
Thầy cho sách quý và phương thuốc
Trò nhận ân cao luyện đức cần
Chung thuỷ thầy trò trọn đạo nghĩa
Trò lên chín chục thầy hơn trăm!
12/11/2025
