Trang

Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2026

THANH KỲ KHẢ ÁI




      Bức đại thạch tự “Thanh Kỳ Khả Ái” trên núi Xuân Đài, thuộc xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Lộc (nay là xã Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa). Xung quanh tác giả của 4 chữ này có nhiều ý kiến khác nhau, cả trước và nay, cả Tây và Ta. Để hiểu rõ vấn đề này và đi đến thống nhất, tôi xin cung cấp thông tin như sau.

      Tại núi Xuân Đài có chùa Du Anh, còn gọi là chùa Thông, ngôi chùa được tương truyền là nơi tu hành của một công chúa đời Trần. Chùa cũ đã bị phá hủy, dấu tích chỉ còn tấm bia bằng đá, văn bia do Hoàng Giáp Phùng Khắc Khoan soạn vào năm 1605. Từ chùa Du Anh lên động Hồ Công khoảng 700m, khoảng giũa đường có có phiến đá cao khoảng gần 2m, khắc 4 đại tự “Thanh Kỳ Khả Ái”.

    Về tác giả của 4 đại tự này đã có nhiều ý kiến khác nhau. Sách Hoàng Việt thi văn tuyển của Bùi Huy Bích (1744 – 1818) cho rằng đây là bút tích của chúa Trịnh Tùng (1548 – 1623). Một số nhà nghiên cứu cho rằng  đây là bút tích của Trạng Nguyên Lương Thế Vinh (1442 - ?) trong một lần tháp tùng vua Lê Thánh Tông về Lam Kinh bái yết sơn lăng đã ghé qua đây và dâng bút để vua đề 4 chữ trên. Trong tác phẩm Tỉnh Thanh Hóa, học giả người Pháp H. Le Breton khẳng định kèm theo bức ảnh chụp đây là những chữ khắc trên đá theo lệnh của vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497).

      Trong cuốn sách: Những bút tích Hán – Nôm hiện còn ở các hang động vách đá núi xứ Thanh, hai tác giả Võ Hồng Phi và Hương Nao được NXB Thanh Hóa phát hành năm 2018 đã làm rõ tác giả của 4 đại tự này. Năm 1996, trong chuyến khảo sát bút tích chữ Hán đề trước cửa động Hồ Công, hai tác giả đã dịch một bút tích như sau:

  Phiên âm:

      “Ngã Ái Châu hưng vương chi địa, sơn xuyên đa kỳ ái. Tạc nhân bái yết Sơn lăng, viên phỏng tiên nham nhận cổ xát,  vân bình phiêu diêu khung lung chân thị Hồ Công nhất đại thắng, khái hứng thành thất ngôn chấp luật nhất thủ, đặc thư: Ngọc Hồ” nhị tự, “Thanh kỳ khả ái” tứ tự, mệnh khắc vu thạch vân.

      Tằng tằng nham kính chuyển bàn vu

      Cao xứ hàm nha ngọc nhất Hồ

      Thạch hóa cựu thiềm châu ảnh tán

      Đan dư chân tượng tuyết nhan cù

      Vân tung tiêu hốt hành tiên tích

      Nhất quật an bài đại tạo lô

      Phúc địa cổ lai đa thắng tích

      Hà lao điểm xuyết “Võng Xuyên” đồ.

          Nhật Nam nguyên chủ đề

          Canh Dần tiểu xuân. Thần Cao Bác phụng tả.

    Dịch nghĩa và dịch thơ:

        Châu Ái ta là đất phát vương, núi sông nhiều nơi kỳ lạ đáng yêu. Hôm qua, ta nhân đi bái yết Sơn lăng, đến thăm núi tiên, xem các bài thơ. Khói mây trải đều, nhà đá khum khum, thật là một nơi Hồ thiên đại nhất thắng, bỗng cao hứng làm một bài thơ thất ngôn thể Đường luật. Đặc biệt, viết hai chữ “Ngọc Hồ” và bốn chữ “Thanh Kỳ Khả Ái”, sai khắc vào đá.

     Trập trùng nẻo đá lượn quanh co

     Đỉnh núi nhô cao một Ngọc Hồ

     Đá hóa cóc già châu tỏa sáng

     Son phai tượng cũ tuyết loang mờ

     Bóng mây chấp chới hình tiên bước

     Hang nắng lung linh dáng hỏa lò

     Đất phúc xưa nay bao thắng tích

     Ngọc chi tô điểm “Võng Xuyên đồ”.

     Nhật Nam nguyên chủ (Trịnh Sâm) đề

     Đầu Xuân Canh Dần, bề tôi Cao Bác phụng ghi

     Nhờ bút tích này nên đã xác định được chắc chắn 4 đại tự “Thanh Kỳ Khả Ái” và 2 đại tự “Ngọc Hồ” trên núi Xuân Đài và động Hồ Công là của chúa Trịnh Sâm.

   Nghĩa của 4  đại tự “Thanh Kỳ Khả Ái” có thể dịch: “Thanh tú kỳ lạ”, “Màu xanh kỳ lạ đáng yêu” (như tác giả dịch sách: Hoàng Văn thi văn tuyển) hoặc “Xứ Thanh kỳ lạ đáng yêu”. Nhưng theo tôi, khi đứng giữa đất trời xứ Thanh, thốt lên “Thanh Kỳ Khả Ái” đã trở thành một lời cảm thán khái quát đầy đủ về bản sắc xứ Thanh. Đó là một vùng đất hội tụ vẻ đẹp trong sáng, mang tính độc đáo nổi bật có sức hấp dẫn sâu sắc đối với con người, nơi vẻ đẹp tự nhiên, chiều sâu lịch sử và tâm thế con người hòa quyện với nhau. Vì vậy, dịch: “Xứ Thanh kỳ lạ đáng yêu” là thỏa đáng nhất..

Nguồn: facebook Ngo Hoai Chung 

Tuy nhiên:
Bốn chữ đại tự “Thanh Kỳ Khả Ái” (青奇可愛) do Trịnh Sâm đề trên đá ở khu Động Hồ Công có thể hiểu theo nghĩa Hán–Việt như sau:
* Thanh (青): xanh, trong, thanh tú
* Kỳ (奇): kỳ lạ, kỳ thú
* Khả (可): đáng, có thể
* Ái (愛): yêu mến, yêu thích
Gộp lại, câu này thường được dịch thoát ý là:
“Phong cảnh xanh tươi kỳ thú, đáng yêu mến.”
hoặc
“Cảnh đẹp thanh kỳ khiến người ta yêu thích.”
Đây là lời ca ngợi vẻ đẹp sơn thủy và đá núi độc đáo của vùng động Hồ Công – nơi nổi tiếng với cảnh quan đá vôi hiểm trở, cổ kính của xứ Thanh.
Theo truyền tụng địa phương, khi đi tuần du qua vùng này, chúa Trịnh Sâm thấy cảnh núi đá kỳ vĩ nên đã cho khắc bốn chữ ấy lên tảng đá bên đường lên động. Vì vậy, đây vừa là bút tích lịch sử vừa là một dạng “đề danh thắng cảnh” theo phong cách văn nhân thời Lê–Trịnh.
Còn nếu - Hiểu theo nghĩa “Xứ Thanh kỳ thú đáng yêu” thì không sai hoàn toàn, nhưng đó là cách diễn ý rộng, chứ không phải nghĩa trực tiếp sát chữ của cụm “Thanh Kỳ Khả Ái”.
Vì trong Hán văn:
* Thanh (青) ở đây thường là “xanh”, “thanh tú”, “trong trẻo”
chứ không phải chắc chắn là “Thanh Hóa”.
* Nếu muốn chỉ địa danh Thanh Hóa, người xưa thường dùng:
* Thanh Hoa (清華 / 清化)
* hoặc “Thanh địa”, “Ái Châu”…
Cho nên xét về ngữ pháp Hán văn cổ, cụm:
青奇可愛
đọc là “Thanh kỳ khả ái”
hợp lý nhất vẫn là:
“Cảnh xanh kỳ thú, đáng yêu mến.”
Tuy nhiên, vì bốn chữ này được khắc ngay tại thắng cảnh của xứ Thanh nên người đời sau liên hệ và diễn giải thành:
“Xứ Thanh kỳ thú đáng yêu”
thì đó là một cách gắn nghĩa văn hóa – địa phương, nghe rất có tình và hợp bối cảnh, nhưng không phải nghĩa gốc chặt chẽ của từng chữ Hán.
Nói ngắn gọn:
* Dịch sát chữ: “Phong cảnh thanh kỳ đáng yêu.”
* Diễn ý theo địa phương: “Xứ Thanh kỳ thú đáng yêu.”
* Cách thứ hai là phóng dịch, không phải sai hẳn, nhưng không chuẩn bằng cách thứ nhất về mặt Hán tự học.

Theo ChatGPT

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét